1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bài giảng điện tử cho môn học PLC S7 300 ứng dụng mô phỏng bằng WINCC và PLCSIM

93 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu bài giảng điện tử cho môn học PLC S7 300 ứng dụng mô phỏng bằng WINCC và PLCSIM Nghiên cứu bài giảng điện tử cho môn học PLC S7 300 ứng dụng mô phỏng bằng WINCC và PLCSIM Nghiên cứu bài giảng điện tử cho môn học PLC S7 300 ứng dụng mô phỏng bằng WINCC và PLCSIM luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học

Chuyên sâu: Sư phạm kỹ thuật điện

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

V Ũ THANH TUYẾN

“NGHIÊN CỨU BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CHO MÔN HỌC PLC S7-300 ỨNG

DỤNG MÔ PHỎNG BẰNG S7 –PLCSIM TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN HÀ NỘI ”

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT

Chuyên ngành: Phương pháp và lý luận giảng dạy

Chuy ên sâu : Sư phạm Kỹ thuật Điện

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

PGS TS Ph ạm Văn Bình

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận

v ăn thạc sĩ chuyên ngành Phương pháp lý luận giảng dạy, chuyên sâu Sư phạm kĩ thu ật điện với đề tài: “Nghiên cứu bài giảng điện tử cho môn học PLC S7-300 ứng

dụng mô phỏng bằng S7- PLCSIM, tại Trường Cao đẳng nghề cơ điện Hà Nội”

Tôi xin trân tr ọng bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo và đặc biệt

là th ầy cô giáo trong khoa, những người đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ và định

h ướng cho tôi trong quá trình h ọc tập và nghiên cứu khoa học

Tôi xin trân trọng cảm ơn ban giám hiệu và các thầy cô giáo trong Khoa Điện trường Cao đẳng nghề cơ điện Hà Nội đã cung cấp những số liệu cần thiết giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu đề tài trên

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS.Phạm Văn Bình, người đã định hướng, chỉ bảo và dìu dắt tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Tôi xin bày t ỏ lòng biết ơn đến các tập thể, cá nhân, bạn bè và người thân

đã chỉ bảo, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Hà N ội, ngày 13 tháng 10 năm 2010

Tác gi ả luận văn

Vũ Thanh Tuyến

Trang 4

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng và bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn

gốc

Hà N ội, ngày 13 tháng 10 năm 2010

Ng ười viết cam đoan

Vũ Thanh Tuyến

Trang 5

DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT

3 TT NCGD&BGGV Trung tâm nghiên cứu giáo dục & bồi

dưỡng giáo viên

7 CNTT & TT Công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 6

DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ MINH HOẠ

Hình 1.1 B ản chất của công nghệ dạy học

Hình 1.2 Các thành phần của công nghệ dạy học

Hình 1.3 Cấu trúc bài giảng điện tử

Hình 1.4 Vị trí của phương tiện dạy học trong dạy học kĩ thuật Hình 2.1 Mạch AND

Hình 2.11 Sơ đồ phân bố các racks

Hình 2.12 Giao diện của phần mềm Ms-Powerpoint

Hình 2.13 Giao diện của phần mềm Microsoft Frontpage

Hình 3.1 Các bước thiết kế bài giảng điện tử

Hình 3.2 Giao diện trang chính

Trang 7

Hình 3.3 Giao diện mục tiêu

Hình 3.4 Giao diện nội dung mục tiêu

Hình 3.5 Giao diện xuất hiện các tiêu đề bài 1

Hình 3.6 Giao diện mục 1.1 Lệnh AND

Hình 3.7 Giao diện lệnh OR

Hình 3.8 Giao diện lệnh time

Hình 3.9 Giao diện bài tập

Hình 3.10 Giao diện sơ đồ nguyên lý

Hình 3.11 Giao diện sơ đồ đấu dây

Hình 3.12 Giao diện simatic manager – điều khiển 3 băng tải

Hình 3.13 Giao diện sử dụng ngôn ngữ LAD

Hình 3.14 Giao diện S7-PLC sim

Hình 3.15 Giao diện chạy phần mềm PLC S7-300

Hình 3.16 Giao diện chạy mô phỏng trên S7-PLCSIM khi cả 3 băng

tải đang làm việc

Hình 3.17 Giao diện mô phỏng trên S7 – PLCsim khi ấn nút dừng,

bắt đầu động cơ D3 dừng trước

Trang 8

MỤC LỤC

o0o -

Trang MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 Giả thuyết khoa học

6 Phương pháp nghiên cứu

7 Cấu trúc luận văn

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

1.1 Tổng quan

1.1.1 Vai trò của công nghệ thông tin đối với giáo dục

1.1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục

1.2 Công nghệ dạy học hiện đại

1.2.1 Công nghệ

1.2.2 Công nghệ dạy học

1.2.3 Bản chất và đặc điểm của công nghệ dạy học hiện đại

1.2.4 Các thành phần của công nghệ dạy học hiện đại

1.2.5 Tác dụng của công nghệ dạy học

1.2.6 Những điểm lưu ý về công nghệ dạy học hiện đại………

1.2.7 Bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại………

1.2.8 Một số xu thế của dạy học hiện đại………

1.3 Bài giảng điện tử………

1.3.1 Khái niệm

1

1

2

2

2

2

2

3

3

3

4

4

4

5

7

7

8

9

10

11

13

13

15

18

18

Trang 9

1.3.2 Cấu trúc cơ bản của Bài giảng điện tử

1.3.3 Các yêu cầu khi thiết kế bài giảng điện tử

1.3.4 Các yêu cầu khi sử dụng bài giảng điện tử

1.3.5 Đặc điểm bài giảng điện tử

1.3.5.1 Ưu điểm

1.3.5.2 Hạn chế

1.4 Phương tiện dạy học

1.4.1 Phương tiện

1.4.2 Đa phương tiện (Multimedia)

1.4.3 Phương tiện dạy học

1.4.4 Vai trò của phương tiện dạy học

1.4.5 Một số nguyên tắc sư phạm trong việc tạo và sử dụng phương tiện dạy học

1.4.5.1 Nguyên tắc an toàn

1.4.5.2 Nguyên tắc vừa sức

1.4.5.3 Nguyên tắc hiệu quả

1.4.6 Khả năng dạy học bằng máy tính điện tử

1.4.6.1 Các khả năng cơ bản của MTĐT

1.4.6.2 Các khả năng hỗ trợ của máy tính điện tử trong dạy học

1.4.6.3 Những mặt hạn chế của máy tính điện tử trong dạy học

1.5 Đặc điểm tâm lý của sinh viên

1.5.1 Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ của SV

1.5.2 Sự phát triển động cơ học tập của SV

1.5.3 Đời sống xúc cảm, tình cảm của SV

1.5.4 Đặc điểm về tự đánh giá, tự ý thức, tự giáo dục ở SV

1.5.5 Những nhược điểm của sinh viên………

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CHO MODULE PLC NÂNG CAO………

2.1 Tổng quan về PLC………

19

19

20

21

21

22

22

23

23

24

25

27

28

29

29

31

31

32

36

37

37

38

39

40

41

43

43

Trang 10

2.1.1 Giới thiệu về PLC

2.1.2 Phân loại………

2.1.3 Các bộ điều khiển và phạm vi ứng dụng ………

2.1.3.1 Các bộ điều khiển………

2.1.3.2 Phạm vi ứng dụng………

2.1.4 Các lĩnh vực ứng dụng PLC………

2.1.5 Các ưu điểm khi sử dụng hệ thống điều khiển với PLC………

2.1.6 Giới thiệu các ngôn ngữ lập trình………

2.2 Tổng quát về PLC S7-300………

2.2.1 Giới thiệu tổng quan về PLC S7-300………

2.2.2 Các module của PLC -300………

2.3 Phần mềm mô phỏng S7-PLCSIM………

2.4 Phân tích chung về môdule PLC nâng cao………

2.4.1 Mục tiêu chung của môn học ………

2.4.2 Chương trình môn học………

2.4.3 Đặc điểm nội dung môn học………

2.4.3.1 Tính cụ thể và trừu tượng………

2.4.3.2 Tính tổng hợp và tính tích hợp………

2.4.3.3 Tính ứng dụng - thực tiễn………

2.5 Lựa chọn phần mềm và các công cụ để xây dựng bài giảng điện tử cho modulle PLC nâng cao………

2.5.1 Ms- Powerpoint………

2.5.2 Microsoft Frontpage………

2.6 Điều kiện để sử dụng hiệu quả bài giảng điện tử Modull PLC nâng cao tại Trường Cao đẳng nghề cơ điện Hà Nội………

2.6.1 Yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị………

2.6.2 Yêu cầu đối với giảng viên

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ MINH HỌA BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CHO MODULE PLC NÂNG CAO CHO HỆ CAO ĐẲNG NGHỀ

43

44

45

45

45

45

46

46

48

48

49

54

55

55

55

56

56

56

57

57

57

59

62

62

62

63

Trang 11

3.1 Các bước thiết kế xây dựng bài giảng điện tử trên Microsoft FrontPage

3.1.1 Xác định mục tiêu của bài học

3.1.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản và trọng tâm

3.1.3 Xác định cấu trúc của bản thiết kế BGĐT

3.1.4 Tạo Web Site cho bài và các trang Web cho các mục trong bài………

3.1.5 Các lệnh hỗ trợ trong quá trình thiết kế BGĐT………

3.1.6 Thiết kế hoạt động dạy học………

3.1.7 Liên kết giữa Web Site với các trang Web và các trang Web của bản thiết kế BGĐT với các file khác………

3.1.8 Hoàn thiện và kiểm tra việc thiết kế bài giảng………

3.2 Xây dựng bài giảng điện tử cho bài điều khiển động cơ chạy tuần tự………

3.2.1 Thiết kế trang chính………

3.2.2 Thiết kế các trang của bài 1………

3.2.3 Thiết kế và chạy phần mềm PLC S7-300………

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

2 Kiến nghị

Danh mục các hình vẽ minh hoạ

Tài liệu tham khảo

63

63

63

64

64

65

66

67

67

69

69

69

75

78

78

78

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình tiến hành đổi mới PPDH, thì GV là những người tiên phong trong quá trình đổi mới đó Vì vậy GV phải luôn luôn tìm ra những “con đường” mới để giúp người học lĩnh hội được kiến thức nhánh nhất, tốt nhất Từ đó GV lại

có thể nâng cao trình độ của mình và là những tấm gương sáng cho người học

Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu đặt ra đối với

nguồn nhân lực là: Có trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, tay nghề, đặc biệt là nguồn nhân lực cao

Tự động hoá đã “ăn” sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống Cao cấp hơn, các ngành CN tự động còn phục vụ cho an ninh quốc phòng, y tế… Có lẽ, việc phát triển tự động hoá là yêu cầu không thể bàn cãi hiện nay, nhưng trên bước đường thực hiện mục tiêu này, theo các chuyên gia trong ngành, nỗi lo lớn nhất hiện nay là nguồn nhân lực, vừa thiếu lại vừa yếu Đây là vấn đề đang đặt ra với ngành giáo dục

Đảng và Nhà nước ta đã đặt giáo dục ở vị trí cao Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã xác định phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX

đã xác đinh rõ nhiệm vụ của ngành giáo dục là: “Đổi mới mạnh mẽ PPDH, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các PPDH tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học…”

Trong đổi mới PPDH theo hướng hiện đại hóa, việc phát triển và ứng dụng CNTT&TT, môi trường dạy học đa phương tiện vào quá trình dạy học là yêu cầu bắt buộc Với phương pháp học tập mới này, SV sẽ đóng vai trò trung tâm trong hoạt động dạy học Vai trò của SV đối với việc học sẽ mang tính tích cực, chủ động hơn

Trang 13

Môn học PLC (Programmable Logic Control) là môn không thể thiếu trong ngành tự động hoá, do đó là môn học bắt buộc đối với SV học ngành này Đây là môn học sử dụng sản phẩm công nghiệp, để điều khiển các máy móc thiết bị và dây chuyền sản xuất theo tiêu thuật toán điều khiển tuần tự, do đó đòi hỏi SV có tư duy cao Do đó để đào tạo được nguồn nhân lực cao đòi hỏi các trường phải có trang thiết bị dạy học trực quan Nhưng hầu hết các nhà trường không đáp ứng được Điều này, làm người học khó khăn hơn trong quá trình lĩnh hội kiến thức

Do đó để tiết học trực quan, sinh động khi giảng dạy môn PLC nói chung và PLC S7-300 nói riêng, giúp SV tiếp cận gần với thực tế và khắc phục phần nào còn

thiếu về mặt trang thiết bị Được sự đồng ý của PGS.TS Phạm Văn Bình, tôi đã lựa

chọn đề tài : “Nghiên cứu BGĐT cho môn học PLC S7-300 ứng dụng mô phỏng

b ằng S7- PLCSIM tại Trường Cao đẳng nghề cơ điện Hà Nội”

Nghiên cứu BGĐT cho môn học PLC S7-300: là nghiên cứu về BGĐT và nội dung môn học PLC S7-300 Trên cơ sở đó xây dựng BGĐT cho môn học

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cách thức xây dựng và sử dụng BGĐT trong đào tạo nghề, trên cơ sở phần mềm PLC S7-300, mô phỏng bằng S7- PLCSIM Trên cơ sở đó, tiến hành xây dựng một số BGĐT môn học PLC

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp dạy hoc, PTDH, nội dung khoa học của môn học

- Xây dựng BGĐT cho môn học PLC S7-300

Trang 14

Xây dựng BGĐT cho môn học PLC S7-300 Từ đó ứng dụng thiết kế BGĐT minh họa một số bài tập môn học PLC cơ bản trong chương trình khung hệ cao đẳng nghề

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ cơ bản sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý dạy học, PPDH, PTDH

- Tìm hiểu lý thuyết xây dựng và sử dụng BGĐT

- Phân tích nội dung, PPDH môn PLC nâng cao

- Nghiên cứu PLC S7-300 và S7 PLCSIM

- Xây dựng BGĐT cho môn học PLC nâng cao

5 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và sử dụng BGĐT cho môn PLC S7-300 theo hướng dạy học hiện đại và có mô phỏng băng PLCSIM Đáp ứng yêu cầu sư phạm thì sẽ hỗ trợ tốt hoạt động dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn PLC S7-300 ở

Trường Cao đẳng nghề cơ điện Hà Nội

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phân tích cơ sở lý luận của việc xây dựng BGĐT

- Phân tích nội dung, chương trình môn học PLC S7-300

- Phương pháp quan sát sư phạm

- Phương pháp điều tra giáo dục

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được thể hiện trong 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng BGĐT

Chương II: Nghiên cứu xây dựng BGĐT môn học PLC S7-300 tại trường

Cao đẳng nghề cơ điện Hà Nội

Chương III: Thiết kế minh hoạ BGĐT môn học PLC S7-300 cho ngành điện

công nghiệp hệ Cao đẳng nghề

Trang 15

Chương 1:

C Ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ 1.1 Tổng quan

1.1.1 Vai trò của CNTT đối với giáo dục

CNTT - đặc biệt là Internet, bắt đầu được sử dụng ở Hoa Kỳ vào năm 1995

và sau đó bắt đầu được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới Ngày nay, thật khó có thể hình dung được thế giới của chúng ta sẽ như thế nào nếu như không có các ứng dụng CNTT

Đối với ngành giáo dục cũng không phải ngoại lệ CNTT, cụ thể là Internet, được tạo ra đầu tiên nhằm mục đích quân sự và công nghiệp, sau đó mới được ứng dụng vào giáo dục Trong hệ thống giáo dục phương Tây, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác Và sự ra đời của Internet với các kết nối băng tần rộng tới tất cả các trường học, áp dụng kiến thức,

kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực

Cùng với sự bùng nổ của CNTT và truyền thông, hình thức đào tạo từ xa đã

và đang là một loại hình cần được nhân rộng nhằm tạo cơ hội cho người học có thể

tự học, nghiên cứu và trau dồi kiến thức Ngày nay SV có thể luyện thi đại học, tự học thêm kiến thức tại nhà thông qua máy tính và các phần mềm hỗ trợ cùng các trang web giành cho học tập Đối với GV ngoài tìm kiếm thông tin trên mạng cung

có thể giao bài tập cho SV qua mạng, …

Đối với Việt Nam, có thể nhiều người chưa quen thuộc với khái niệm này, song ngày nay, hình thức này đã trở thành một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống giáo dục tại nhiều nước trên thế giới Việt Nam cũng đặt mục tiêu này vào “Chiến lược phát triển giáo dục”

Như vậy việc xây dựng các bài giảng theo công nghệ mô phỏng trên cơ sở ứng dụng CNTT và các phương tiện hiện đại khác vào dạy học nhằm rút ngắn thời gian đào tạo, nâng cao chất lượng dạy học, thay đổi hình thức dạy học, đa dạng hóa

Trang 16

hình thức dạy học, tạo điều kiện cho nhiều đối tượng có thể tham gia học tập, hình thành xã hội hóa học tập

1.1.2 Ứng dụng CNTT trong giáo dục

Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg

58-CNTT mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những PPDH theo cách tiếp cận kiến tạo, PPDH theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường CNTT và truyền thông Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua

mạng, dạy học qua cầu truyền hình Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho SV nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho SV các phương pháp học chủ động Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của SV Như vậy, việc chuyển từ “lấy GV làm trung tâm” sang “lấy SV làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn

Ứng dụng CNTT được thể hiện cụ thể:

Ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH: Triển khai áp dụng CNTT trong dạy

và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học; xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục Phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng internet của người học; tạo điều kiện để người

Trang 17

học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; xóa bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại Khuyến khích GV, giảng viên soạn bài trình chiếu, BGĐT và giáo án trên máy tính Khuyến khích GV, giảng viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy qua website của các cơ sở GD và ÐT và qua Diễn đàn giáo dục trên website bộ Triển khai mạnh mẽ công nghệ học điện tử (e-Learning) Tổ chức cho GV, giảng viên soạn BGĐT e-Learning trực tuyến; tổ chức các khóa học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựa chọn cơ hội học tập cho người học

Ứng dụng CNTT trong điều hành quản lý giáo dục: Ðiều tra, khảo sát hiện

trạng, xác định nhu cầu và nhiệm vụ về CNTT trong các cơ quan quản lý giáo dục

và cơ sở giáo dục trên toàn quốc, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch ứng dụng CNTT dài hạn của ngành Ứng dụng CNTT để triển khai thực hiện cải cách hành chính và Chính phủ điện tử, thực hiện việc chuyển phát công văn, tài liệu qua mạng Tin học hóa công tác quản lý ở các cấp quản lý giáo dục (Bộ, sở, phòng) và ở các cơ sở giáo dục Xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục và thống kê giáo dục thông qua việc tích hợp cơ sở dữ liệu từ các cơ sở giáo dục đến các cấp quản lý giáo dục Các

cơ sở giáo dục và đào tạo nghiên cứu khai thác và sử dụng kết quả phân tích dữ liệu thi tốt nghiệp trung học phổ thông và thi tuyển sinh đại học, cao đẳng do Bộ GD và

ÐT cung cấp hằng năm trong công tác quản lý giáo dục của địa phương, đánh giá công tác của từng hội đồng coi thi, chấm thi

Để ứng dụng hiệu quả CNTT trong giáo dục thì đòi hỏi đầu tiên là phải nâng cao trình độ tin học cho GV và các cán bộ quản lý giáo dục, cơ sở vật chất về CNTT

& TT phải được trang bị đầy đủ

Tiếp tục triển khai giảng dạy môn tin học trong nhà trường theo chương trình

đã ban hành Tổ chức xây dựng chương trình học tin học ứng dụng theo các mô-đun kiến thức để có thể áp dụng cho nhiều cấp học một cách mềm dẻo, thiết thực, cập nhật nội dung công nghệ mới Tích cực khai thác và đưa phần mềm mã nguồn mở vào chương trình giảng dạy CNTT ở các cấp học Tăng cường sử dụng trực tiếp chương trình đào tạo và tài liệu bằng tiếng Anh trong giảng dạy các môn CNTT

Trang 18

Xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng, chuẩn kiến thức và kỹ năng về CNTT phù hợp từng nhóm đối tượng được bồi dưỡng là cán bộ, công chức, cán bộ quản lý giáo dục, GV, giảng viên và viên chức chuyên trách ứng dụng CNTT Triển khai phổ biến các chuẩn kiến thức và kỹ năng về CNTT của các nước tiên tiến Triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng về CNTT cho đội ngũ GV và cán bộ quản lý giáo dục

Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng CNTT trong công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ Xây dựng chương trình nghiên cứu về công nghệ giáo dục theo tinh thần áp dụng CNTT trong quá trình dạy và học

Đối với Môn học PLC S7-300 là môn học thuộc khối kiến thức nâng cao trong hệ thông kiến thức của ngành điện công nghiệp đối với hệ cao đẳng nghề Việc ứng dụng CNTT nhằm xây dựng BGĐT cho Module còn gặp nhiều khó khăn Hiện nay, việc giảng dạy Môdule này tại hầu hết các trường Cao đẳng nghề mới chỉ dừng lại ở PLC S7200 Trong khi đó thực tế đã có PLC S7400 Vì lý do trên, tôi

chọn đề tài: “Nghiên cứu BGĐT cho môn học PLC S7-300 ứng dụng mô phỏng

b ằng S7- PLCSIM tại Trường Cao đẳng nghề cơ điện Hà Nội”, với mong muốn

trường học dần tiếp cận với sản xuất và đóng góp một phần vào công cuộc đổi mới PPDH cho môn học này nói riêng và trong giáo dục nói chung

1.2 Công nghệ dạy học hiện đại

1.2.1 Công nghệ

Hiện nay đang tồn tại nhưng quan điểm khác nhau về công nghệ Song chưa sách nào đưa ra một định nghĩa chuẩn xác về công nghệ Nhìn chung có thể hiểu công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Như vậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp

đỡ giải quyết những vấn đề của con người Với tư cách là hoạt động giúp đỡ con người trong lao động sản xuất, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học và kỹ nghệ

Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết vấn đề thực tế để tạo ra các

Trang 19

dụng cụ máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn Việc tiêu chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ

Thuật ngữ công nghệ vì vậy thông thường được đặc trưng bởi các phát minh

và cải tiến sử dụng các nguyên lý và quy trình đã được khoa học phát hiện ra gần đây nhất Tuy nhiên, thậm chí cả phát minh cổ nhất như bánh xe cũng là một minh họa cho công nghệ

Theo Atlas – công nghệ, công nghệ là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, các

bí quyết, phương tiện kỹ thuật, và phương pháp được dùng để chuyển hoá các nguồn lực sử dụng trong sản xuất hoặc dịch vụ công nghiệp dịch vụ quản lý [3.tr67]

Trong phạm vi luận văn này, công nghệ được hiểu hệ thống những phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm lợi dụng quy luật khách quan (khoa học) để tác động vào một đối tượng nào đó, đạt một thành quả xác định cho con người [4.tr1]

1.2.2 Công nghệ dạy học

Theo nghĩa hẹp, công nghệ dạy học là quá trình sử dụng các phương tiện kỹ thuật và các phương tiện hỗ trợ vào việc dạy học nhằm nâng cao chất lượng học tập của SV

Theo nghĩa rộng, công nghệ dạy học là hệ thống những phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm vận dụng quy luật khách quan, tác động vào người học hình thành một nhân cách xác định [5.tr4]

Từ định nghĩa trên có thể thấy rõ dạy học được xem là một công nghệ, trước hết là vì bản chất của nó tương ứng với nội hàm của khái niệm công nghệ, không phải vì hiện tượng những quy trình công nghệ hay những ứng dụng CNTT hoặc phương tiện kỹ thuật khác… trong dạy học

Như vậy, công nghệ dạy học là như một quá trình khoa học trong đó nguồn nhân lực và vật lực được sử dụng để nâng cao hiệu quả dạy học Khi đó quá trình dạy học có thể xem như quá trình công nghệ đặc biệt, một quá trình sản xuất những sản phẩm cao cấp , tinh vi nhất (con người) Nét độc đáo của quá trình này là ở chỗ

Trang 20

SV không còn là đối tượng thụ động của quá trình tác động của GV mà họ vừa là khách thể vừa là chủ thể của quá trình dạy học.[8.tr16]

Ngày nay, quá trình dạy học không chỉ được hiểu là một quá trình công nghệ

mà nó còn phát triển lên một tầm cao mới, đó là công nghệ dạy học hiện đại Công nghệ dạy học hiện đại được hiểu là công nghệ dạy học với phương tiện, phương pháp, kỹ năng trong thời đại này - thời đại của CNTT và truyền thông Một cách văn tắt, công nghệ dạy học là công nghệ dạy học bằng máy tính.[5.tr12]

1.2.3 Bản chất và đặc điểm của công nghệ dạy học hiện đại

* Bản chất

Bản chất của công nghệ dạy học hiện đại [8.tr17] có thể được mô tả là sự kết hợp thành tựu của nhiều ngành khoa học công nghệ khác nhau trong việc tổ chức quá trình dạy học bao gồm: đầu ra, đầu vào, điều kiện phương tiện, nội dung đào tạo, phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá nhằm đạt được mục đích đào tạo với chi phí tối ưu

Đầu ra (mục tiêu) Đầu vào (HS)

Điều kiện

PT dạy học Nội dung đào tạo

Hệ thống phương pháp

Tiêu chuẩn đánh giá

Đạt mục đích đào tạo với chi phí tối ưu

Hình 1.1: Bản chất của công nghệ dạy học

Trang 21

* Đặc điểm

Công nghệ dạy học hiện đại có những đặc điểm [8.tr18,19] sau:

- Tính hiện đại: Thường xuyên áp dụng cập nhật vào thực tiễn dạy học những đổi mới về giáo dục một cách có căn cứ khoa học

- Tối ưu hóa: chi phí ít nhất về thời gian và sức lực

- Tính tích hợp: Sử dụng thành tựu của nhiều khoa học vào việc đào tạo

- Tính lặp lại kết quả: Cùng một quá trình đào tạo phải đạt được những kết quả mong muốn gần giống nhau (trình độ SV ra trường phải đạt được một ngưỡng nào đó gần như nhau)

- Tính phương tiện: Sử dụng phương tiện truyền thông và đồ dùng dạy học

- Tính khách quan: có các tiêu chí đánh giá kết quả học tập rõ ràng, khách quan, kịp thời về định lượng và cả định tính

- Hệ thống hóa: Chương trình hóa hoạt động từ lúc thăm dò nhu cầu xã hội, tuyển sinh, học tập đều được tiến hành theo những quy trình

1.2.4 Các thành phần của công nghệ dạy học hiện đại

Công nghệ dạy học bao gồm 4 thành phần cơ bản: thiết bị, con người, thông tin, quản lý [8.tr19]

Hình 1.2: Các thành phần của công nghệ dạy học

- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa thiết bị: bao gồm các phương tiện vật chất như thiết bị trường học, đồ dùng dạy học, xưởng trường…Đó là phần vật chất, phần cứng của công nghệ dạy học, giúp tăng cường năng lực hoạt động giáo dục

Trang 22

- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa con người: bao gồm năng lực công nghệ dạy học của thầy giáo và SV Cụ thể là các kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, sáng tạo, khả năng lãnh đạo,… Phần này phụ thuộc vào trình độ học vấn, vốn kinh nghiêm nghề nghiệp và lòng say mê với nghề

- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa thông tin: bao gồm tri thức giáo khoa đã được thể thức hóa thành tri thức tiền dạy học nghĩa là được sắp xếp theo một quy trình có thể diễn tả các lý thuyết, toát lên phương pháp nhận Thông tin giúp cho con người rút ngắn thời gian tiếp nhận, xử lý và tái tạo hiệu quả Thông tin phải luôn được bổ sung và cập nhật trong quá trình nhận thức

- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa tổ chức: Bao gồm các hoạt động thể chế, quyền hạn và mối liên hệ trong quá trình điều khiển Chức năng của tổ chức

là phối hợp tốt ba khâu ở trên của công nghệ dạy học

1.2.5 Tác dụng của công nghệ dạy học

- Về công nghệ dạy và học nói chung: tác dụng của các giác quan trong việc

tiếp nhận và lưu giữ tri thức Công nghệ nói chung là một hợp phần của môi trường, người dạy, người học, có tác dụng hỗ trợ các tương tác trong quá trình dạy và học Công nghệ giúp tối đa hoá thời gian mà việc học tập thật sự diễn ra, tối thiểu hoá các lao động cấp thấp, tạo thuận lợi cho các mối quan hệ tương tác Để hiểu rõ hơn vai trò của công nghệ và PTDH, sau đây xin dẫn vài số liệu thống kê nêu tác dụng của các loại giác quan trong quá trình thu nhận và lưu giữ tri thức Tỷ lệ trung bình

về vai trò của các giác quan trong việc thu nhận tri thức như sau:

Trang 23

để hỗ trợ việc dạy và học

- Đối với công nghệ mới, vấn đề sử dụng chúng vào quá trình dạy và học lại

có tầm quan trọng lớn hơn Trước việc khối lượng thông tin tăng nhanh theo hàm

mũ, chỉ nhờ cũng công nghệ mới đó mới có thể nhanh chóng chọn nhập và xử lý thông tin để biến thành tri thức Ngoài ra, cần qua công nghệ mới làm cho thế hệ trẻ nhanh chóng hình thành phong cách văn hoá mới

* Ưu điểm:

- Nâng cao năng suất và hiệu quả của dạy học Với sự hỗ trợ của máy tính giúp giảm thiểu được thời gian ghi chép mà thay vào đó là trao đổi thảo luận các vấn đề liên quan đến bài dạy, thêm vào đó khi sử dụng máy tính bài giảng sẽ trở nên sinh động hơn nhờ có các hình ảnh, các biểu đồ, các đoạn phim, các thí nghiệm có thể tương tác được,…

- Cho phép cá thể hóa giáo dục: người học có thể học mọi lúc mọi nơi, mỗi người học có thể học theo kế hoạch học tập của riêng mình

- Tăng cường bình đẳng trong giáo dục: bình đẳng trong quan hệ thầy trò Giảm thiểu tình trạng thầy giảng bài ở trên, học trò ở dưới cắm cúi ghi chép mà chưa hiểu hết nội dung mình ghi Người học đóng vai trò trung tâm, chủ thể của quá trình dạy học, GV đóng vai trò định hướng, giúp người học đi đúng quỹ đạo

- Góp phần làm phong phú và hoàn thiện hơn cơ sở khoa học của dạy học, tạo cho nó những nền tảng khoa học vững chắc

Trang 24

* Nhược điểm:

- Phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất và con người

- Chỉ áp dụng cho một số môn học cụ thể

1.2.6 Những điểm lưu ý về công nghệ dạy học hiện đại

Một công nghệ (phương tiện, phương pháp, kỹ năng) dạy học chỉ có tác dụng tốt khi được sử dụng theo quan điểm công nghệ và quan điểm hệ thống [5.tr7]:

* Theo quan điểm công nghệ

- Phải có phương tiện (máy tính, máy chiếu,…) thích hợp và điều kiện vận hành tương ứng

- Người dạy có tay nghề (kiến thức, phương pháp và kỹ năng về tin học cũng như chuyên môn,…) đủ để làm chủ quá trình dạy học như ứng tác linh hoạt khi phát hiện thiếu hoặc thừa thời gian dạy học so với kế hoạch đã định

- Người học phải có học liệu thích hợp và biết ứng xử ngang tầm với những thuận lợi do công nghệ hiện đại đem lại

* Theo quan điểm hệ thống

Công nghệ dạy học hiện đại là một hệ thống con trong hệ thống công nghệ dạy học nói chung, vì thế phải được sử dụng trong mối tương quan với công nghệ dạy học truyền thống, theo phương châm đúng lúc, đúng chỗ và đúng độ (trình độ, mức độ…), đảm bảo cho quá trình dạy học không chỉ khả thi mà còn hiệu quả

1.2.7 Bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại

Từ trước tới nay các GV thường quen soạn bài (chuẩn bị giáo án) như sau [5]:

* Phần chữ:

GV sáng tác một phần dựa vào học vấn và kinh nghiệm dạy học của mình, phần còn lại thường được biên soạn theo tài liệu tham khảo như sách, báo, bài giảng (thông thường chiếm tỷ lệ khá lớn) với phương tiện thông dụng là giấy, bút,… một

số người có dùng phương tiện sao chụp,…

Trang 25

* Phần hình:

GV sáng tác một phần theo khả năng của mình, phần còn lại được biên soạn theo tài liệu tham khảo (thông thường chiếm tỉ lệ khá lớn) với phương tiện thông dụng như giấy, bút, một số người có dùng các thiết bị can, in, sao, chụp,… các phương tiện nghe nhìn như tranh treo, phim, băng hình,… không phải là thành phần trực tiếp của bài soạn, thường được phối hợp trên lớp

Một bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại (công nghệ dạy học bằng máy tính) còn gọi là BGĐT, cần đáp ứng đồng thời hai yêu cầu cơ bản sau:

- Là một bài giảng giáp mặt đạt chuẩn mực sư phạm

- Là một bài giảng từ xa qua mạng (LAN, WAN,…) người học có thể tái hiện đầy đủ những gì GV cung cấp

Chuẩn mực sư phạm được hiểu là những tiêu chí, yêu cầu cơ bản, đảm bảo cho quá trình dạy học và quá trình này thực hiện hai hoạt động tương tác: dạy của thầy và học của trò khả thi (dạy được và học được) và hiệu quả (dạy tốt và học tốt)

Khi soạn bài trên máy tính (PC) để dạy học giáp mặt hoặc từ xa qua mạng, bài soạn của GV phải ở dạng sẵn sàng cho việc trình chiếu trên lớp và tải lên mạng,

vì thế mỗi GV ít nhất phải làm được các việc sau:

* Phần chữ:

Tùy theo khả năng, GV có thể sáng tác một phần gõ thành file văn bản trong

PC, dưới dạng các trang web có đặc trưng của bài giảng giáp mặt, nhờ Ms FrontPage (dùng font Unicode) hoặc các phần mềm khác, như Mm Dreamweaver MX… Phần còn lại được biên soạn theo tài liệu tham khảo

- Nều tài liệu tham khảo là ấn phẩm, thường dùng máy quét (scanner) và lưu dưới dạng file pdf Nếu muốn biến thành file văn bản biên soạn được thì phải dùng các phần mềm nhận dạng (OCR), ví dụ: VnDOCR (Vietnamese Document Optical character Recognition), OmniPage,…(thực hành phòng thí nghiệm công nghệ dạy học)

- Nếu tài liệu tham khảo là các CDROM: với các file văn bản không hỗ trợ copy vào PC phải chụp (capture) bằng phần mềm thích hợp Kinh nghiệm cho thấy

Trang 26

có thể dùng Snaglt, HyperSnap,… rồi chuyển ảnh thành file văn bản bằng OCR (OmniPage,…)

* Phần hình tĩnh:

GV tùy khả năng có thể sáng tác một phần bằng công cụ Drawing trong Ms Office, Paint trong Windows hoặc các phần mềm đồ họa khác như Ms visio, Mathcad, Multisim, SolidWorks,… lưu dưới dạng ảnh thích hợp cho web như gif hoặc jpeg Phần còn lại được biên soạn theo tài liệu tham khảo:

- Nếu tài liệu tham khảo là các ấn phẩm: sử dụng máy quét ảnh

- Nếu tài liệu tham khảo là CDROM, copy vào PC nếu có thể, nếu không thì chụp bằng các phần mềm như Snaglt,…(thực hành PTN CNDH)

* Phần hình động:

GV tùy khả năng có thể sáng tác một phần bằng các phần mềm hoạt hình sẵn

có trong PC như PowerPoint, hoặc cài đặt thêm như Mathcad, Flash, SolidWorks,…Các file hoạt hình có thể chuyển thành file gif, avi, hoặc mpg bằng các phần mềm GIF MovieGear, MPEG Encoder,… (thực hành PTNCNDH) Phần còn lại biên soạn theo tài liệu tham khảo

- Nếu tài liệu tham khảo là CDROM: copy vào PC nếu được hỗ trợ, nếu không thì cho chạy và chớp thành phim AVI bằng các phần mềm như Snaglt, HyperSnagDX, ScreenCam,… sau đó tách phim thành chuỗi frames bằng phần mềm thích hợp, để biên soạn lại hình ảnh và văn bản theo ý muốn (thực hành PTNCNDH)

- Nếu tài liệu tham khảo là băng hình,… thì cần cài đặt bản mạch chuyển đổi tương tự - số như VideoMagic chẳng hạn và các phần mềm tương ứng

1.2.8 Một số xu thế của dạy học hiện đại

* Xu thế tổng quát của dạy học hiện đại

Các quá trình hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa sẽ là những xu thế tổng quát trong dạy học hiện đại, kể cả chính quy và không chính quy trong vài ba thập kỷ tới Nội dung của hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa chắc chắn được định hướng vào các mục tiêu nhân văn, dân chủ và phát triển bền vững Không chỉ có vấn đề tăng cường

Trang 27

các yếu tố khoa học - công nghệ trong việc khai thác sử dụng các nguồn lực giáo dục, trong việc quản lý, điều hành hay đánh giá dạy học, trong phát triển chương trình và phương pháp, trong công nghệ dạy học mà điều cốt lõi nhất chính là sự phát triển của người học nói riêng và của con người nói chung

Học tập thường xuyên và học tập suốt đời là xu thế chung của dạy học hiện đại Những xu thế triển vọng nhất trong dạy học và giáo dục không thể không chịu

những ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển nhu cầu của con người, trước hết là những nhu cầu gắn liền với học vấn, tri thức, tay nghề, sự thành đạt về mặt xã hội, hạnh phúc cá nhân trong đời sống cộng đồng đa dạng

Trong điều kiện xã hội học tập và nền kinh tế tri thức ngày càng mở rộng, nhu cầu học vấn được nâng lên rõ ràng, đa dạng hơn, và đặc biệt có tính chất chọn lọc hơn Người ta không chỉ đơn giản là cần học, muốn học, thấy bức bách rằng phải học, mà quan trong hơn rằng phải học như thế nào, học chính xác cái gì, học vào những lúc nào và học đến mức độ nào thì đủ để hiểu biết, để làm việc, để chung sống và để làm người

Học thường xuyên và học suốt đời là xu thế chung trong nhu cầu học tập của con người, đồng thời cũng là đòi hỏi khách quan của thời đại đối với dạy học trong những thập niên tới Chương trình và học chế nhà trường ngày càng đáp ứng cao hơn nhu cầu học thường xuyên, học suốt đời

* Một số xu thế của dạy học hiện đại

Chương trình dạy học hiện đại không chỉ còn cứng nhắc như hiện nay mà nó

có những phần cơ bản, cốt lõi và chuẩn mực bắt buộc (phần cứng) đòi hỏi 100% SV phải nắm vững và phần tự chọn, linh hoạt (phần mềm) thích ứng với từng trình độ người học, tạo điều kiện, cơ hội giúp người học tiếp thu dễ dàng Phần tự chọn này

có thể chia nhiều mức khác nhau, cũng sẽ tương ứng mức yêu cầu lượng SV nắm được vấn đề khác nhau, có thể 80%, 60%,… hoặc thậm chí là 20% Với phần kiến thức này, GV chỉ cần giảng sơ qua, đưa ra câu hỏi gợi mở để SV động não suy nghĩ,

từ đó đúc rút được kiến thức cho mình

Trang 28

Phát triển chương trình và PPDH được cấu trúc đa dạng hơn, phong phú hơn,

mở rộng các lĩnh vực học tập (học theo bài, theo modul, theo chủ đề, theo dự án,…) đáp ứng nhu cầu học tập của mỗi cá nhân là cần gì học nấy, phải chuyên sâu về vấn

để đang nghiên cứu, chứ không phải học dàn trải, cái gì cũng học, cái gì cũng biết một ít nhưng không biết gì sâu

Phát triển các phương tiện công nghệ cao trong truyền thông, giao tiếp, giáo dục, sinh hoạt và môi trường thông tin toàn cầu hóa tạo điều kiện đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu học tập của con người Học tập từ xa sẽ là một xu thế mạnh mẽ trong dạy học Cần phải phát triển các chương trình học tự chọn, chuyển sang đào tạo, dạy học theo tín chỉ học phần, theo modul,…

Những PPDH triển vọng nhất chính là những phương pháp dựa vào người học và hoạt động của người học, đó chính là PPDH lấy người học làm trung tâm

Xu hướng tăng cường sự tương tác, hợp tác và cạnh tranh, tham gia và chia

sẻ trong các quan hệ giữa người dạy và người học, giữa người học với nhau, giữa cá nhân và nhóm, giữa nhóm với tập thể lớp

Tăng cường sử dụng CNTT, điện tử, kỹ thuật số,… trong thiết kế và tổ chức quá trình dạy học là xu thế mạnh mẽ trong hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa phần lớn tài liệu học tập và giảng dạy được thiết kế và tổ chức bằng cả hai dạng văn bản in truyền thống (giáo khoa, giáo trình,…) và văn bản điện tử (BGĐT, sách điện tử,…) Chúng được sử dụng song song, bổ sung cho nhau để tăng cường hiệu quả và chất lượng thông tin, đa dạng hóa các hình thức học tập, phù hợp với chế độ học tập của

cá nhân và học độc lập

Toàn cầu hóa kinh tế dẫn tới hội nhập, do đó dẫn tới xu thế quốc tế hóa văn bằng chứng chỉ, kỹ thuật thiết kế và cấu trúc chương trình dạy học, công nghệ đo lường và đánh giá dạy học, đòi hỏi quốc tế hóa trong lĩnh vực chuẩn học vấn, chuẩn

kỹ năng của nhiều lĩnh vực học tập

Trang 29

1.3 B ài giảng điện tử

1.3.1 Khái niệm

Trong những năm gần đây, máy vi tính dược sử dụng rộng rãi trong nhà trường với tư cách là PTDH với nhiều loại phần mềm được thiết kế dưới các quan điểm khác nhau Hình thức sử dụng máy vi tính vào dạy học rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, BGĐT là một hình thức sử dụng phổ biến hiện nay BGĐT (BGĐT)

có thể được viết dưới bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào tuỳ theo trình độ CNTT của người, có thể sử dụng phần mềm trình diễn sẵn như Frontpage, Publisher, PowerPoint Trong đó thiết kế BGĐT trên Microsoft PowerPoint là đơn giản nhất

Tuy nhiện chúng ta phải hiểu bải giảng điện tử là gi? Vấn đề này đang được rất nhiều nhà sư phạm quan tâm và đưa ra các khái niệm khác nhau, nhưng hiện nay

vân chưa thống nhất

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Công Triêm - Giám đốc TT NCGD & BDGV, ĐSVP Huế: BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do GV điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra

Theo cách hiểu này, BGĐT là một hình thức tổ chức dạy học Trong khi đó, hình thức tổ chức dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy học có thời gian và địa điểm nhất định, với các phương pháp, PTDH cụ thể nhằm giải quyết các nhiệm

vụ dạy học Đặc biệt trong dạy nghề, không đơn thuần chỉ là bài giảng lý thuyết mà

là bài giảng tích hợp Trong bài giảng tích hợp, thời gian dành cho lý thuyết chỉ 45’ hoặc 1 giờ, còn lại là thời gian thực hành Do vậy BGĐT không thể hiểu là một hình thức tổ chức dạy học

Theo tôi BGĐT là một chương trình có ứng dụng CNTT, hỗ trợ cho hoạt động dạy và học Sự hỗ trợ này tạo điều kiện để GV có thể tổ chức và điều khiển tốt hoạt động nhận thức của SV, để SV phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo

Trang 30

1.3.2 Cấu trúc cơ bản của BGĐT

Khi thiết kế BGĐT co thể thực hiện theo cấu trúc cơ bản [12] sau:

Trong BGĐT nên phân thành nhiều mục nhỏ khác nhau Trong mục, có thể tách thành các mục nhỏ hơn…(chúng ta có thể hình dung một cấu trúc cây các mô đun) Việc phân chia thành các mục nhỏ như vậy sẽ đem lại nhiều lợi điểm:

Thuận lợi cho GV trong quá trình giảng dạy, chỉ ra mối liên hệ giữa các phần kiến thức với nhau (bài học có mấy phần, mỗi phần có mấy ý, nội dung cụ thể từng

ý, mối liên hệ giữa các ý đó) và thuận lợi hơn trong việc hệ thống hóa kiến thức đã học cho SV

Đối với SV thì cũng sẽ dễ dàng tiếp thu các thành phần kiến thức

1.3.3 Các yêu cầu khi thiết kế BGĐT

Để soạn được BGĐT đạt được mục tiêu đặt ra và phù hợp yêu cầu dạy học thì khi soạn bài, người GV phải chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:

- Nội dung: chỉ đưa những nội dung kiến thức trong tâm của bài Các kiến thức liên quan GV có thể cung cấp cho SV bằng tài liệu phát tay hoặc cung cấp cho

SV giáo trình để họ nghiên cứu trước Điều này sẽ giúp cho SV học được ý chính, phát huy tính tự học và biết khai triển nội dung theo ý chính

Trang 31

- Cấu trúc: Đảm bảo tính logic Nội dung bài phải được chia nhỏ giúp SV dễ tiếp thu và nội dung trước phải làm tiền đề cho nội dung sau Phải tạo được sự liên kết giữa các phần nội dung, điều này giúp GV tổng kết bài và khi cần giải thích lại cho SV sẽ dễ dàng và không mất thời gian

- PPDH: BGĐT phải khai thác triệt để các PPDH đa dạng và nhiều chiều, đặc biệt tính tích cực của SV

- Tính sư phạm: hình ảnh, cỡ chữ, phông nền không tương thích, thậm chí trong một slide có quá nhiều chữ làm cho SV chỉ chú tâm đọc chữ mà không còn nghe giảng viên nói gì Hoặc khi có giáo án trình chiếu thì chỉ sử dụng một cách giảng là thuyết trình bảng chiếu mà không áp dụng nhiều phương pháp khác, tất nhiên lúc đó kết quả không cao

Từ sự nhìn nhận như trên, tôi xin nêu ra một số việc cần làm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học thông qua giáo án điện tử: không đưa toàn bộ nội dung cần trình bày lên màn chiếu, không tạo hiệu ứng lòe loẹt, nhấp nháy liên tục làm cho người đọc mỏi mắt và khó chịu và cuối cùng phải xác định xây dựng giáo án điện tử để giảng viên dạy học chứ không phải để cho SV đọc giáo án khi trình chiếu, còn giảng viên chỉ là kỹ thuật viên bấm máy

- Công nghệ: kết hợp được các phần mềm mô phỏng để tạo giúp SV dễ hiệu các nội dung mang tích chất trừu tượng Đặc biệt phải khai thác được “kênh hình”,

chỉ khi khai thác được vấn đề này thì BGĐT mới có hiệu quả

1.3.4 Các yêu cầu khi sử dụng BGĐT

Khi sử dụng BGĐT không ít GV đã lợi dụng quá làm mất tính tích cực của

nó Vì vậy khi sử dụng cần chú ý các yêu cầu:

- Kết hợp các phương pháp, PTDH để phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo của người học, nó có khác ý nghĩa dạy học bằng phương pháp truyền thống kết hợp phương tiện hiện đại

- Việc trình chiếu của GV phải kết hợp với tự nghiên cứu có hướng dẫn, thảo luận nhóm GV phải thực sự đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo trong quá trình dạy học nhằm giúp SV tìm tòi tri thức, hình thành cho họ kỹ năng tự học,

Trang 32

tự nghiên cứu Giảm thời gian truyền đạt tri thức lý thuyết, tăng thời gian thực hành luyện tập

- Phải đảm bảo phù hợp giữa lời giảng, sự trình diễn của GV và sự theo dõi của SV BGĐT không phải là đoạn phim chỉ trình chiếu một chiều mà trong quá trình giảng dạy GV vẫn sử dụng các phương pháp giảng dạy đặt vấn đề, SV thảo luận, SV trả lời, mô phỏng, làm nhóm Sau khi giải quyết xong vấn đề, một kiến thức nào đó, thay vì phải ghi bài lên bảng thì GV lại cho hiện kiến thức cần ghi ra,

để một khoảng thời gian cho SV ghi bài

- Màn hình của BGĐT phải chia thành 4 phần: Phần trên cùng chứa tiêu đề của bài giảng xuất hiện từ đầu tới cuối giờ học Phần bên trái là các đề mục của bài giảng Phần bên phải chiếm phần lớn diện tích của màn hình là nơi lần lượt xuất hiện nội dung bài giảng theo đúng kịch bản của quá trình dạy học Phần dưới cùng

là nơi để viết giải thích các cụm từ chuyên dụng hoặc thông tin chi tiết hơn chú thích cho một vấn đề nào đây Như vậy, với cách thiết kế trên thì BGĐT đóng vai trò chủ đạo, vừa là bảng ghi bài vừa là nơi trình chiếu các ví dụ mô phỏng trong bài học

1.3.5 Đặc điểm bài giảng điện tử

1.3.5 1 Ưu điểm

- Ở mỗi tiết học có sử dụng BGĐT, SV được tiếp thu một lượng lớn kiến thức và hình ảnh trực quan sinh động

- Sử dụng BGĐT, GV có thể thực hiện đầy đủ các kênh chữ, kênh hình, kênh

tiếng trong quá trình dạy học, qua đó không chỉ rèn luyện cho SV các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết mà còn quan sát và cảm nhận được các sự kiện, hiện tượng

- Các tiết học có sử dụng BGĐT trở nên hấp dẫn, lôi cuốn, sinh động hơn

SV hứng thú, tích cực hơn trong giờ học

- Sử dụng BGĐT, GV có thể tiết kiệm được thời gian lên lớp, thay vì trước đây GV phải mất nhiều thời gian viết bảng hay mất thời gian để treo tranh, ảnh hay các thao tác hoạt động thí nghiệm, thì nay chỉ bằng một cái click chuột, bài giảng

đã hiện ra và SV có thể theo dõi bài giảng bằng những hình ảnh sống động và

Trang 33

những đoạn phim minh họa ngắn gọn, xúc tích SV có nhiều thời gian hơn để thảo luận về những vấn đề liên quan đến bài học

- BGĐT có thể lưu lại giúp cho việc chỉnh sửa, bổ sung, cập nhật hoá kiến thức ở bất kì đoạn nào, mục nào một cách dễ dàng

1.3.5 2 Hạn chế

- Khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là cơ sở vật chất, trang thiết bị nghe nhìn, PTDH Hiện nay, nhiều trường không đủ phòng học cho SV thì lấy đâu ra phòng dành cho multimedia, kinh phí đầu tư lại luôn thiếu Để có 1 phòng học multimedia đơn giản, cũng phải tốn cả trăm triệu đồng Chưa kể việc nếu cả trường chỉ có một phòng multimadia thì việc thực hiện ứng dụng CNTT vào giảng dạy nhiều khi chỉ mang tính hình thức

- Để việc thiết kế và giảng dạy BGĐT có hiệu quả, đòi hỏi GV phải có kiến thức sâu về tin học, ứng dụng tốt hơn các phần mềm công cụ Điều này là quá mới

mẻ với đại đa số GV hiện nay

- Hơn nữa, muốn "click" chuột trong một tiết học thì GV phải vất vả gấp nhiều lần so với cách dạy truyền thống Ngoài kiến thức căn bản về tin học, sử dụng thành thạo các phần mềm, người GV cần phải có niềm đam mê thực sự với việc thiết kế vốn đòi hỏi sự sáng tạo, sự nhạy bén, tính thẩm mỹ để săn tìm tư liệu từ nhiều nguồn

Ví dụ: Để có một hình ảnh lễ hội đua voi ở Tây Nguyên trong BGĐT môn Tiếng Việt lớp 3, người GV phải tìm từ hàng chục đĩa VCD về các lễ hội hoặc hàng chục trang Web hỗ trợ download video chỉ để sử dụng vài giây hình ảnh cần thiết Ngoài ra cần phải kể đến các công đoạn cắt phim, cắt nhạc, chụp hình, tạo chữ nổi, làm khung, để phần trình diễn thêm sinh động, hấp dẫn

- Một hạn chế nữa trong việc sử dụng BGĐT là: để một BGĐT thực sự có hiệu quả, người GV cần phải đảm bảo sao cho BGĐT đó vừa là một giáo án vừa là một loại hình thiết bị dạy học hiện đại, sao cho BGĐT đó vừa sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn nhưng lại không được lạm dụng CNTT trong quá trình dạy học Để làm được điều này là rất khó đối với mỗi GV hiện nay

Trang 34

Vì vậy, vấn đề được đặt ra đối với các chuyên gia, các cấp quản lí giáo dục hiện nay là phải xây dựng được tiêu chí đánh giá một BGĐT như thế nào cho có hiệu quả để đạt được là tiết dạy học tích cực có ứng dụng CNTT

Nhìn chung, BGĐT không thể thay thế việc soạn giáo án truyền thống hay thay thế hẳn thao tác sử dụng phấn trắng, bảng đen, trình bày miệng của GV trong quá trình lên lớp BGĐT được quan niệm như là phương tiện kĩ thuật hỗ trợ, giúp

Phương tiện là một cấu trúc chứa đựng và thể hiện các tín hiệu nhằm chuyển giao nội dung nhất định giữa người gửi và người nhận bằng hệ thống các tín hiệu thông qua các giác quan cảm nhận của con người

1.4.2 Đa phương tiện (Multimedia)

Năm 1994, Charles B Wang, chuyên gia máy tính, xem Đa phương tiện là

“một trong những từ gây nhiều bàn cãi” Đa phương tiện thực sự là một thuật ngữ cho việc kết hợp các khả năng trong công nghệ Đa phương tiện liên kết với máy tính cá nhân các chức năng kết nối các yếu tố như văn bản, đồ họa, âm thanh, hình ảnh tĩnh và động sử dụng trong đào tạo hay thông tin Nói một cách ngắn gọn, theo Robert S Tannenbaum, đó là việc trình bày có tương tác với máy tính bao gồm ít nhất hai trong số các yếu tố: văn bản, âm thanh, hình ảnh đồ họa tĩnh, đồ họa động

và cả sự chuyển động

Theo Fenrich (1997): “Multimedia là sự tích hợp lý thú giữa phần cứng và phần mềm máy tính, cho phép tích hợp các tài nguyên video, audio, hoạt hình đồ họa và trắc nghiệm để xây dựng và thực hiện một trình diễn kết quả nhờ một máy tính có cấu hình thích hợp”

Trang 35

Theo (Philip,1997): “Multimedia đặc trưng bởi sự hiện diện của văn bản hình ảnh, âm thanh, mô phỏng và video được tổ chức chặt chẽ trong một chương trình máy tính.”

Đa phương tiện được hiểu nôm na là sự tổ hợp của nhiều phương tiện Khi nói đến đa phương tiện, người ta thường nói đến máy tính, đến CNTT Đa phương tiện còn được hiểu là một tổ hợp các công nghê dựa trên nền tảng máy tính để tạo cho người dùng khả năng truy nhập và thao tác những văn bản, âm thanh và hình ảnh Đa phương tiện trong dạy học là sự kết hợp các đối tượng mang thông tin khác nhau (văn bản, âm thanh, hình ảnh) thành một hệ thống nhất để truyền thông tin giữa thầy và trò [7.trang 25]

Ứng dụng Multimedia trong dạy học là yếu tố của quá trình nâng cao chất lượng dạy học Multimedia là sự phối hợp một cách có tính toán những phương tiện truyền thống khác nhau trong dạy học (như âm thanh, đồ họa, phim ảnh, video,…) cũng như các phương tiện tương tự nhờ máy tính để thực hiện mục tiêu dạy học

Sự tích hợp của văn bản (Test), hình ảnh (Image), âm thanh (Sound), hình động (animation) và phim (video)… trong phương tiện được sử dụng đã tạo nên tính hiệu quả của multimedia trong dạy học, tạo ra môi trường, phương tiện và điều kiện thuận lợi cho người dạy và người học nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học

Ứng dụng Multimedia trong dạy học không phủ nhận hoặc giảm nhẹ vai trò người dạy mà phải làm tăng hiệu quả vai trò của người dạy trong tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động nhận thức của người học

1.4.3 P hương tiện dạy học

Như chúng ta đã biết, quá trình dạy học gồm có hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó diễn ra quá trình tái sản xuất những kinh nghiệm xã hội của nhân loại Cũng như bất kỳ một quá trình sản xuất nào, quá trình dạy học cũng phải sử dụng những phương tiện lao động nhất định Phương tiện lao động sư phạm rất đa dạng

Nó bao gồm những phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ Ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu PTDH vật chất với ý nghĩa là công cụ lao động của người dạy và người học và được nói gọn là PTDH Song, khi đề cập đến các

Trang 36

PTDH với cách sử dụng chúng thì phần nào đã nói đến phương tiện thực hành Từ cách hiểu PTDH như vậy, có thể đi tới định nghĩa của nó như sau:

PTDH là tập hợp những đối tượng vật chất được người dạy sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học,

là phương tiện nhận thức của người học, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm

vụ dạy học.[7.tr7]

1.4.4 Vai trò của phương tiện dạy học

Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu Hiện nay các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục - đào tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng qui mô, nâng cao tính tích cực trong dạy học và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan, trong đó phương tiện dạy

và học là một thành tố quan trọng

Vị trí PTDH của phương tiện trong dạy học kỹ thuật: PTDH đóng một vai trò quan trọng trong dạy học, đặc biệt là trong dạy học kỹ thuật Sơ đồ vị trí của PTDH trong dạy học kỹ thuật [8.tr30] đã cho ta thấy, dạy học có các yếu tố bên trong là

hoạt động thống nhất của mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và các yếu

tố bên ngoài là điều kiện về con người, văn hóa, xã hội Nội dung bài giảng là yếu

tố quyết định cấu trúc của PTDH PPDH và phương tiện có quan hệ chặt chẽ với nhau, phương pháp khác nhau thì phải chọn phương tiện khác nhau Việc sử dụng PTDH hợp lý giúp cho PPDH phát huy hơn nữa hiệu quả của nó

Trang 37

Tác động đến văn hóa

xã hội

Tác động đến con người

Phương tiệnPhương pháp

Trường

Dạy học

Lĩnh vực điều kiện

Lĩnh vực quyết định

Hình 1.4: Vị trí của phương tiện dạy học trong dạy học kỹ thuật

- Trong tài liệu nhập môn công nghệ dạy học hiện đại [6.tr8] định nghĩa “quá trình dạy học là một quá trình xã hội Về hình thức, đó là quá trình hoạt động tương tác giữa người dạy (hoạt động dạy) và người học (hoạt động học)” Từ định nghĩa quá trình dạy học, chúng ta nhận thấy rằng hoạt động dạy là hoạt động tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của SV, mà một trong những nhiệm vụ tổ chức điều khiển nhận thức đó của GV là việc tổ chức, điều khiển quá trình tri giác cảm tính

những hiện tượng hoặc đối tượng được nghiên cứu của SV Song, những hiện tượng, đối tượng đó không phải bao giờ cũng được hiện ra một cách trực tiếp ở ngay phòng học Trong trường hợp đó PTDH tạo khả năng tái hiện chúng một cách gián tiếp thông qua hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, mô hình v.v Nhờ chúng mà tạo nên trong ý thức của người SV những hình ảnh trực quan cảm tính của những hiện tượng và sự vật Nhiệm vụ của dạy học là làm sao để từ những hình ảnh trực quan

cảm tính dẫn SV hiểu bản chất của hiện tượng hoặc sự vật Việc chuyển hoá đó có liên hệ với tư duy trừu tượng, với việc đưa vào và sử dụng những khái niệm trừu tượng Với điều đó, những hình ảnh trực quan đảm bảo mối liên hệ thường xuyên

Trang 38

giữa tư duy với hiện tượng hoặc đối tượng nghiên cứu khi cung cấp cho tư duy tài

liệu thông tin cần thiết

Đối với GV, PTDH là trợ thủ không thể thay thế được của người GV ở giai đoạn hình thành tư duy trừu tượng cho SV Ở giai đoạn này những hình ảnh trực quan cảm tính bao giờ cũng là thành phần và tiền đề bắt buộc của tư duy Tư duy dù đạt đến mức độ cao như thế nào ít nhiều nó cũng vẫn cần đến trực quan cảm tính,

cần đến hình ảnh ở giai đoạn kết thúc sự nghiên cứu hiện tượng hoặc sự vật cần

phải chỉ cho SV sự vận dụng trong thực tiễn của nó Điều đó cũng sẽ khó đạt được

nếu thiếu sử dụng những PTDH Vì vậy, ở cả giai đoạn trực quan cảm tính, giai đoạn tư duy trừu tượng và ở cả giai đoạn giới thiệu cho SV sự vận dụng thực tiễn

những hiện tượng hoặc sự vật nghiên cứu cũng cần phải sử dụng những PTDH Đối

với người học, PTDH là công cụ nhờ nó mà họ nhận thức được thế giới xung quanh

Những điều trình bày ở trên đã nói lên vai trò và tác dụng của PTDH không chỉ trong hoạt động nhận thức của SV mà cả trong việc thực hiện những chức năng quan trọng đối với hoạt động dạy của người GV, khi làm tăng khả năng của họ như

là nhà giáo dục, như là một nguồn thông tin, nhà tổ chức và người kiểm tra, kiểm soát Trong trường hợp tổ chức vận dụng đúng đắn về mặt sư phạm, PTDH đóng vai trò như là nguồn thông tin và giải phóng người GV khỏi nhiều công việc có tính chất thuần tuý kỹ thuật trong tiết học, chẳng hạn như thông báo thông tin, để có nhiều thời gian hơn cho công tác sáng tạo trong hoạt động với SV PTDH tạo khả năng vạch ra một cách sâu sắc hơn, trình bày rõ ràng dễ hiểu, đơn giản hơn nội dung tài liệu học tập, tạo điều kiện hình thành cho họ động cơ học tập đúng đắn Như vậy, PTDH là một trong những thành phần của quá trình dạy học Nó có vai trò quyết định hiệu quả của quá trình dạy học Điều quan trọng là phải lựa chọn những phương tiện phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ trong cả quá trình dạy và học

1.4.5 Một số nguyên tắc sư phạm trong việc tạo và sử dụng PTDH

PTDH có ý nghĩa to lớn như trên đã trình bày, song không phải tự thân nó có toàn bộ ý nghĩa đó Nói cách khác là không phải cứ sử dụng PTDH là có tác dụng dạy học - giáo dục mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc người GV sử dụng nó như

Trang 39

thế nào, vào cách nghiên cứu, chế biến tài liệu dạy học với việc sử dụng phương tiện đó mà họ sẽ tiến hành

Tiết học với việc sử dụng những phương tiện kỹ thuật dạy học đó là một kiểu tiết học mới mà trong đó bắt buộc người GV phải sử dụng PPDH phù hợp với chúng Những PTDH, đặc biệt là những phương tiện kỹ thuật dạy học, làm thay đổi cấu trúc và cả nhịp điệu tiết học và kết quả dẫn tới là làm thay đổi vị trí người GV trong tiết học Đồng thời điều đó đòi hỏi trình độ lành nghề của người GV cao Hiệu quả sử dụng những PTDH càng lớn khi họ có trình độ nghiệp vụ càng cao Để sử dụng PTDH có hiệu quả, GV phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

1.4.5.1 Nguyên t ắc an toàn

Các PTKT DH thường được sử dụng với điện áp cao, cường độ ánh sáng lớn

và độ khuyếch đại âm thanh có thể lớn hơn mức cần thiết ,vì vậy cần chú ý các nội dung an toàn sau:

 An toàn v ề điện

- Những người sử dụng và bảo dưỡng PTDH cần phải có kỹ năng an toàn và

sơ cứu điện giật

- Các thiết bị nghe nhìn cần có dây cắm nguồn tiếp địa để tránh điện giật do điện áp cao rò ra vỏ thiết bị

- Cần chú ý đặc biệt những khu vực có ghi ký hiệu điện cao áp

- Không tự động mở vỏ bảo vệ thiết bị Trong trường hợp cần mở, cần rút phích cắm điện

- Khi không dùng PTKT DH trong thời gian dài cần rút phích cắm ra khỏi ổ điện

 An toàn th ị giác

- Một số PTDH (như máy chiếu qua đầu, slide ) có cường độ chiếu sáng rất

lớn có thể gấp nhiều lần cường độ ánh sáng mà mắt người có thể chịu đựng trong

thời gian ngắn Vì vậy, tránh để cho ánh sáng các phương tiện trên chiếu thẳng mắt

GV và SV trong khoảng cách gần

Trang 40

- Một số thiết bị như thiết bị chiếu vật thể (sử dụng theo nguyên tắc phản quang) có tấm phủ bảo vệ lọt sáng Khi sử dụng cần sử dụng tấm phủ và tuân thủ qui trình sử dụng

 An toàn thính giác

- Một số PTKT DH có thể có hệ thống khuyếch đại ngoài rất lớn, tuỳ theo kích thước của phòng học và vị trí học viên, cần điều chỉnh âm lượng (volume) đủ nghe Cường độ âm thanh vượt quá 55dBA (đối với phòng học, phòng hội họp)

1.4.5.3 Nguyên tắc hiệu quả

Hiệu quả sư phạm và hiệu quả kinh tế cần được cân nhắc khi sử dụng PTDH

 Định hướng hình thành kỹ năng

Ngày đăng: 09/02/2021, 17:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Công (2009), Bài tập và hướng dẫn giải lập trình PLC , Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Hưng Yên Khác
2. TS. Nguyễn Tiến Dũng, Tăng Văn Mùi (2004), Điều khiển logic lập trình PLC , NXB Thống kê Khác
3. PGS.TS. Nguyễn Quang Huỳnh , Một số vấn đề lý luận giáo dục chuyên nghiệp và đổi mới phương pháp dạy học , NXB ĐHQG Hà Nội Khác
4. GS.TS. Nguyễn Xuân Lạc, Bài giảng phương pháp luận nghiên cứu khoa học – công nghệ Khác
5. GS.TS. Nguyễn Xuân Lạc, Bài giảng Lý luận và công nghệ dạy học hiện đại. Trường Đại học Bách khoa Hà nội Khác
6. GS.TS. Nguyễn Xuân Lạc, Bài giảng nhập môn công nghệ dạy học hiện đại. Trường Đại học Bách khoa Hà nội Khác
7. Đào Thái Lai (2006), Công nghệ thông tin trong dạy học ở TH (T1), NXBGD Khác
8. TS. Lê Thanh Nhu(2004) , Bài giảng lý luận dạy học chuyên ngành kỹ thuật. Trường Đại học Bách khoa Hà nội Khác
9. Nguyễn Doãn Phước (2007), Tự động hóa với SIMATIC S7 -300, NXBKHKT Khác
10. TS. Nguyễn Ngọc Phương, Trần Thế San (2005), Hướng dẫn thiết kế mạch & Lập trình PLC, NXB Đà Nẵng Khác
11. KS.Hoàng Anh Quang, Phạm Thành Đông (2006), Tự học FrontPage 2003 trong 10 tiếng , NXB văn hóa và thông tin Khác
15. Siemens AG (1996) Simemtic STEP7 Program Design, proramming manual Khác
16. Berger (2000), Automatic with simatic, MCD Khác
17. Siemems AG (1995), S7-300 Hardware configuration and structure Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w