Lý thuyết sư phạm tương tác và ứng dụng trong dạy học môn học công nghệ trong trường trung học cơ sở và trung học phổ thông Hai Bà Trưng Lý thuyết sư phạm tương tác và ứng dụng trong dạy học môn học công nghệ trong trường trung học cơ sở và trung học phổ thông Hai Bà Trưng luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN HIẾN
LÝ THUYẾT SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC VÀ ỨNG DỤNG TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HAI BÀ TRƯNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHUYÊN SÂU : QUẢN LÝ VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN HIẾN
Lí THUYẾT SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC VÀ ỨNG DỤNG
TRONG DẠY HỌC MễN CễNG NGHỆ TRONG TRƯỜNG
T RUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THễNG HAI BÀ TRƯNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
CHUYấN NGÀNH: Lí LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHUYấN SÂU: QUẢN Lí VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ
Cỏn bộ hướng dẫn: Gs.Ts Nguyễn Xuõn Lạc
Hà Nội – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Lý luận và
phương pháp dạy học; chuyên sâu Quản lý và đào tạo nghề tại trường Đại học
Bách Khoa Hà Nội, tác giả đã làm việc nghiêm túc với sự nỗ lực của bản thân; và
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ phía thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp
và gia đình
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Viện Đào tạo sau đại học, Viện sư phạm kỹ thuật, Gs hướng dẫn Nguyễn Xuân Lạc và các thầy cô trường ĐH Bách Khoa Hà Nội đã giảng dạy và giúp đỡ trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tác giả xin gửi lời biết ơn, cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện về thời gian, vật chất để tác giả hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 16 tháng 12 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Văn Hiến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung luận văn là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn đầy đủ
Luận văn này cho đến nay vẫn chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo
vệ luận văn thạc sĩ nào trên toàn quốc cũng như nước ngoài và cho đến nay chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về pháp lý những gì mà tôi cam đoan
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Một trong những mục tiêu quan trọng của cải cách giáo dục phổ thông là đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh Để thực hiện mục tiêu này, trong thời gian qua ngành giáo dục đã có nhiều nỗ lực xây dựng lại chương trình theo hướng cập nhật
và giảm tải, áp dụng phương pháp giáo dục chủ động với triết lý lấy người học làm trung tâm, biên soạn lại sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy để đảm bảo chuyển tải được những nội dung mới và thực hiện được theo phương pháp mới
Trong suốt chủ trương nói trên cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ nói chung và công nghệ thông tin nói riêng trong giai đoạn hiện nay, môn Công nghệ được xem là một môn học bắt buộc giảng dạy ở bậc trung học phổ thông Tuy nhiên việc giảng dạy môn học này như thế nào cho hiệu quả trong khi chính ngành công nghệ thông tin lại đang phát triển như vũ bão lại luôn là một câu hỏi lớn
Để nâng cao chất lượng dạy - học môn học này, một trong những nội dung quan trọng là đổi mới phương pháp giảng dạy và vận dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học Đề học sinh dễ tiếp thu, hiểu và hứng thú với môn học; việc sử dụng bài giảng điện tử tương tác đang được nhiều người quan tâm
Ở trường THCS&THPT Hai bà Trưng thời gian gần đây cũng đã có nhiều môn học sử dụng công nghệ thông tin, giáo án điện tử và bảng thông minh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và đã thu được nhiều kết quả cao hơn Tuy nhiên, môn Công nghệ trong trường trung học phổ thông mặc dù có nhiều thay đổi trong công tác giảng dạy nhưng cũng chưa nhiều giáo viên sử dụng giáo án và bài giảng điện tử tương tác, áp dụng công nghệ thông tin và phương pháp dạy học tương tác trong quá trình dạy học
Xuất phát từ những lí do đó tôi chọn đề tài "Lý thuyết Sư phạm tương tác
và ứng dụng trong dạy học môn Công nghệ trong trường THCS & THPT Hai
Bà Trưng "
2 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu, xây dựng bài giảng điện tử tương tác giảng dạy môn Công nghệ trong các trường trung học, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng dạy - học đối với môn học này
Trang 7Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Dạy học tương tác môn Công nghệ trong trường trung học
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu, xây dựng bài giảng điện tử
tương tác giảng dạy môn Công nghệ trong các trường trung học, áp dụng để giảng dạy tại trường THCS&THPT Hai bà Trưng
3 Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu lý luận về dạy học tương tác, cơ sở lý luận của việc xây dựng và
sử dụng bài giảng điện tử tương tác trong dạy học
Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình môn Công nghệ dành cho bậc Trung học
Nghiên cứu, xây dựng Hệ thống bài giảng điện tử tương tác giảng dạy môn Công nghệ trong trường trung học phổ thông, áp dụng để giảng dạy tại trường trung học phổ thông
Tiến hành thực nghiệm sư phạm Xử lý kết quả thực nghiệm để xác định tính khả thi và hiệu quả của đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu các vấn đề lý luận (lý luận dạy học liên quan đến phương pháp dạy học, tâm lý học, giáo dục học ) thông qua các kết quả đã công bố có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu thông qua nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên, sách và tài liệu tham khảo của môn Công nghệ lớp 11, 12
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu nội dung kiến thức môn học, thông qua thực tế giảng dạy để tiến hành xây dựng Hệ thống bài giảng điện tử tương tác và kiểm nghiệm việc sử dụng
Hệ thống này khi giảng dạy môn Công nghệ trong trường trung học phổ thông
Thực nghiệm sư phạm: kiểm tra, đánh giá khả năng sử dụng Hệ thống bài giảng điện tử tương tác giảng dạy môn Công nghệ trong trường trung học phổ thông
Phương pháp toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thực nghiệm
Trang 85 Giả thuyết khoa học
Ứng dụng Hệ thống bài giảng điện tử tương tác giảng dạy môn Công nghệ trong trường trung học phổ thông bám sát lý luận về dạy học tương tác áp dụng công nghệ thông tin và nếu vận dụng tốt hệ thống đó thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Công nghệ trong trường phổ thông nói chung và trường THCS&THPT Hai bà Trưng nói riêng, đồng thời góp phần xây dựng và bổ sung vào ngân hàng bài giảng điện tử tương tác áp dụng để giảng dạy môn Công nghệ trong các trường phổ thông nói chung
6 Điểm mới của luận văn
Xây dựng Hệ thống bài giảng điện tử tương tác giảng dạy môn Công nghệ trong trường trung học phổ thông bám sát lý luận về việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học tương tác, nhằm giúp cho việc giảng dạy môn học này có hiệu quả hơn
Thông qua thực nghiệm, có thể đưa Hệ thống bài giảng điện tử tương tác giảng dạy môn Công nghệ trong trường trung học phổ thông áp dụng khi giảng dạy môn Công nghệ
7 C ấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 4 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bài giảng tương tác trong dạy học
Chương II: Thực trạng Giảng dạy môn "Công nghệ" tại trường THCS&THPT Hai bà Trưng
Chương III: Xây dựng Hệ thống bài giảng tương tác giảng dạy môn Công nghệ trong trường trung học phổ thông, áp dụng để giảng dạy tại trường THCS&THPT Hai bà Trưng
Chương IV: Thực nghiệm sư phạm
Trang 9CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG TƯƠNG TÁC
TRONG DẠY HỌC
1.1 Cơ sở lí luận của dạy học tương tác
Cơ sở khoa học của Lí luận Sư phạm tương tác được trình bày mới đây trong [1] đòi hỏi phải phát biểu đúng đắn và đầy đủ hơn một số khái niệm và kiến giải về
Lý luận và Công nghệ dạy học tương tác trong [3] Đó là mục đích của các phần I
và II của bài báo này Phần III bàn về Dạy học tương tác ảo Hình học họa hình và
Vẽ kỹ thuật (HHHH&VKT) tại các trường cao đẳng nghề và đại học công nghệ hiện nay
1.1.1 Lý luận dạy học tương tác
theo tiếp cận khoa học thần kinh [1], coi quá trình dạy học là quá trình tương tác
đặc thù giữa bộ ba tác nhân – người học, người dạy và môi trường – trong đó,
người học là trung tâm, người dạy là người hướng dẫn, giúp đỡ và môi trường có
ảnh hưởng tất yếu
Những khái niệm và nguyên lí cơ bản của Lí luận dạy học tương tác được
thể hiện qua các bộ ba sau đây :
a, Bộ ba tác nhân (3E)
1) Người học (étudiant)
Chú ý rằng, môi trường ở đây được hiểu một cách biện chứng Thông thường thì đó là tất cả những gì tồn tại khách quan (trong tự nhiên, xã hội và tư duy) ngoài
bộ đôi người học và người dạy, trong đó gần gũi nhất là nhà trường (với phương tiện dạy và học,…), gia đình và xã hội (với thể chế giáo dục, đào tạo,…) Tuy nhiên, khi chỉ xét
b, Bộ ba thao tác (3A)
sử dụng tốt cơ chế học của não (phương pháp học)
dẫn, giúp đỡ người học sinh sôi kiến thức (và kỹ năng) Nói một cách khác,
người dạy dạy bằng cách giúp người học sử dụng tốt cơ chế học của não (phương pháp dạy)
Trang 103) Tác động (agir/affecter) – môi trường (bên trong cũng như bên ngoài người
học và người dạy) ảnh hưởng tất yếu tới hoạt động của hệ thần kinh (kích
thích hay ức chế) trong khi học và dạy
c, Bộ ba tương tác
Mỗi tác nhân trong bộ ba trên đây khi thực hiện thao tác của mình đều thể hiện một ứng xử, dẫn đến phản ứng của hai tác nhân kia (hình 1) Chẳng hạn,
người học (NH) với phương pháp học của mình ắt có những phản hồi tự nhiên
qua câu hỏi hay biểu cảm,…, dẫn đến những đáp ứng thích hợp về phương pháp diễn đạt hay minh họa,…, của người dạy (ND), hoặc có nhu cầu tham khảo tài liệu nhiều hơn và tốt hơn dẫn đến những cải thiện về môi trường (MT)
học tập như mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng phục vụ của thư viện, v.v…
Những tương tác này hầu như đương nhiên, ai cũng biết, chẳng có gì lạ với dạy học truyền thống Điều khác biệt cơ bản, theo các tác giả của bài này, là ở : 1) định hướng tương tác hiện đại, theo tiếp cận khoa học thần kinh [1] về học
Cần lưu ý rằng ngay quan niệm người học là trung tâm cũng đã có từ trước [19], nhưng cũng chỉ là những đề xuất mang tính khái quát hóa kinh nghiệm, phải đến tác phẩm [1] mới thực sự có cơ sở khoa học Đây cũng là một trong những ví dụ về “khoa học đi sau công nghệ”
2) khả năng tương tác hiện đại, theo đà phát triển của Công nghệ thông tin và
truyền thông (CNTT&TT) : có thể trong mọi lĩnh vực, vào mọi lúc, ở mọi chỗ, với mọi (mức) độ;
Chẳng hạn, với các môn khoa học tự nhiên và
công nghệ, theo phương pháp dạy học truyền
thống, thường ít có hoặc thậm chí không có
[11],[12]) trong giờ dạy lý thuyết ở giảng
đường, vì không có điều kiện (thời gian, phương
tiện,…); trong giờ thực hành (bài tập, thí
nghiệm) tuy có tương tác nhiều hơn, nhưng vẫn
trong khuôn khổ của định hướng truyền thống –
người dạy là trung tâm Gần đây, với những
phương pháp dạy học tích cực, được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, người
học là trung tâm đã ngày càng trở thành một định hướng được thừa nhận,
nhưng cũng phải đến nay, khả năng tương tác động lực lấy người học làm trung
tâm mới trở thành hiện thực, đó là nhờ có :
(1) cơ sở khoa học sư phạm tương tác [1], như đã nói ở trên;
(2) các phần mềm dạy học tương tác (cho hầu như mọi lĩnh vực : toán học tương
tác, vật lý tương tác, địa lý tương tác, ngoại ngữ tương tác, tâm lý học tương
môi trường mạng cho phép người học trực tiếp thao tác, “thử –
Hình 1
Trang 11sai” nhiều lần tùy ý, ngay tại lớp trong giờ lý thuyết cũng như lúc tự học, tùy điều kiện cụ thể về thời gian, địa điểm và mức độ,…, vì thế có thể lĩnh hội, tìm tòi,… và vận dụng kiến thức một cách hiệu quả;
(3) học chế tín chỉ cho phép người học tự quyết định lộ trình học tập thích hợp,
từ đó tự tin và thực sự có ý thức về vai trò chủ nhân trong hoạt động học;
Tương tác động lực trong giờ lên lớp lý thuyết, với người học là trung tâm, nhờ phương tiện dạy học hiện đại, là một trong những phương thức tích hợp lý
thuyết với thực hành, nâng cao hiệu quả dạy học
Ngoài tương tác quen thuộc giữa bộ ba tác nhân nói trên (bộ ba tương tác
hướng ngoại), tương tác giữa các phần tử trong một tác nhân (bộ ba tương tác hướng nội) vốn có trong dạy học truyền thống (hình 1), hiện nay cũng được
phát triển mạnh ở tầm cao hơn: giữa những người học với nhau như cộng tác nhóm (groupwork),… giữa những người dạy với nhau như cộng tác đội (teamwork),… giữa những bộ phận trong một môi trường hay giữa các môi trường với nhau như các hình thức đào tạo gắn với thị trường lao động, liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, đào tạo liên thông giữa hai trường, đào tạo trực tuyến, v.v…
e, Bộ ba ứng xử (hay hành vi) cơ bản của các tác nhân
nhân, đối với quá trình dạy học:
1) Ở người học, đó là thái độ hứng thú (động cơ), tính tích cực và tinh thần
trách nhiệm với quá trình học;
2) Ở người dạy, đó là tính kế hoạch, đầu óc tổ chức, và quan hệ cộng tác trong
quá trình dạy;
3) Ở môi trường, đó là tính thân thiện (user-friendliness) và tính thuận thích
nghi (adaptability [13]), tạo thuận lợi cho quá trình học và dạy
Trang 121.2 Công nghệ dạy học tương tác
1.2.1 Công nghệ dạy học [4]
Mục này nhắc lại một số khái niệm trong [4] cần thiết cho việc trình bày nội dung của các mục tiếp theo
1) Công nghệ dạy học là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng
dạy học, nhằm vận dụng các quy luật khách quan (như tâm lý học, giáo dục
học,…), tác động vào người học, tạo nên một nhân cách xác định
2) Tiếp cận theo quan điểm công nghệ với hai giác độ khả thi và hiệu quả được
gọi là tiếp cận công nghệ
3) Dạy học theo tiếp cận công nghệ là dạy học nhằm đạt hiệu quả tối đa theo
tiêu chí qui định, nhờ tận dụng phương tiện, phương pháp và kĩ năng cho phép
Các nguyên tắc dạy học theo tiếp cận công nghệ là :
của quan hệ giữa lí luận khoa học và thực tiễn công nghệ, giữa tư duy khoa học
thể), giữa kiến thức lí luận và kĩ năng thực hành;
cách
giữa làm được và làm tốt (theo tiêu chí hiệu quả đề ra) để không dừng lại ở làm được mà luôn cố gắng làm tốt, thông qua tương quan phương tiện, phương pháp
và kĩ năng;
nghệ, với phương tiện và phương pháp qui định,…) và tính độc lập sáng tạo
(trong kĩ năng thực hiện, …);
Dạy học theo tiếp cận công nghệ không chỉ thích hợp với các môn khoa học tự nhiên và công nghệ, mà thích hợp với bất kì môn học nào có liên quan tới ứng
dụng của khoa học vào thực tiễn và cần quan tâm tới sự khác biệt giữa biết và làm,
làm được và làm tốt
1.2.2 Công nghệ dạy học tương tác
1) Định nghĩa
tác, trong đó tương tác bằng phương tiện số 3 lấy người học làm trung tâm là
phương thức dạy học phổ biến
hình thức vốn có về phương tiện, phương pháp và kỹ năng tương tác trong công nghệ dạy học truyền thống (như thí nghiệm, thảo luận,…), nhưng có những khác
biệt cả về nội dung, hình thức và nhất là về chất lượng, do định hướng tương tác
hiện đại và phương tiện tương tác hiện đại dẫn đến (như thí nghiệm ảo, thảo luận
trực tuyến,…)
Trang 13Do sự xuất hiện ngày càng phong phú và đa dạng của các phương tiện dạy học
mới, để tiện cho việc trình bày các kết quả lý thuyết và thực hành dưới đây, các tác giả đề xuất phân loại phương tiện dạy học hiện nay theo những tiêu chí chủ yếu sau
(1) theo lịch sử :
– phương tiện dạy học truyền thống (vd : bảng đen, tranh ảnh,…)
– phương tiện dạy học hiện đại (vd : bảng tương tác, máy tính, mạng)
(2) theo nội dung (dạy học) :
– phương tiện dạy học lý thuyết (vd : mô hình tinh thể, sách điện tử)
– ph ương tiện dạy học thực hành (vd : máy đo, buồng lái mô phỏng,…)
(3) theo phương pháp (nghiên cứu) :
– phương tiện quan sát (vd : phương tiện nghe nhìn,…)
– phương tiện thí nghiệm (vd : phòng thí nghiệm ảo,…)
(4) theo mục đích :
– phương tiện lưu trữ học liệu (vd : bài giảng điện tử,…)
– phương tiện kiểm tra đánh giá (vd : phần mềm trắc nghiệm,…)
(5) theo sản phẩm :
– phương tiện thật (vd : mẫu sản phẩm thật)
– phương tiện mô phỏng (mô hình và thực nghiệm trên mô hình,…)
(6) theo chất liệu :
– phương tiện cứng (vd : phần cứng, file cứng,…)
– phương tiện mềm (vd : phần mềm, file mềm,…)
(7) theo tín hiệu :
– phương tiện số (vd : máy tính số, mô hình số,…)
– phương tiện tương tự (vd : máy tính tương tự, mô hình tương tự,…)
(8) theo lập trình :
– phương tiện tương tác tham biến (tùy biến nhập tố,…)
– phương tiện tương tác hằng định (đóng, mở ; chạy, dừng,…)
(9) theo bối cảnh :
– phương tiện dạy học giáp mặt
– phương tiện dạy học trực tuyến
(10) theo giác quan :
– phương tiện thực (vd : máy thực, tương tác thực,…)
– phương tiện ảo (vd : máy ảo, tương tác ảo,…)
Riêng với phương tiện tương tác số, còn có thể phân loại theo hình thức giao tiếp
người – máy, như :
(1) theo nhập tố :
– dạng dòng lệnh
– dạng tiếng nói
– dạng hộp chọn
– dạng con trượt (slider)
– dạng cảm ứng
(2) theo điều hoạt :
– dạng kéo thả
Trang 14– dạng ẩn hiện
– dạng biến đổi
Giao diện WIMP, điều hoạt trực tiếp kiểu kéo – thả và nhập tham biến qua con trượt (slider) hoặc hộp chọn, là những hình thức tương tác thường gặp ở các phần mềm có tính tương tác cao hiện nay, như GeoGebra, Cabri3D,
là dạy học tương tác giáp mặt hoặc trực tuyến bằng phương tiện số, với tương tác
tham biến và điều hoạt WIMP theo ý đồ của người dạy và người học
Phương tiện số lẽ tất nhiên không phải là phương tiện tương tác ảo duy nhất
trong công nghệ dạy học hiện đại Các phương tiện khác như các thiết bị tương tự
và tương tự – số cũng rất phổ biến, tuy nhiên, trong sự phát triển nhanh đến chóng
mặt của CNTT&TT nói chung, phương tiện số đóng vai trò chủ đạo Dưới đây giới
thiệu hai trong số những phương tiện thông dụng hiện nay là phần mềm dạy học
tương tác và bảng tương tác
Nhờ các ngôn ngữ lập trình thích hợp, những phương tiện dạy học kiểu trò chơi
tương tác (trò chơi số, trò chơi nghiêm túc [20],[21]), ngày càng đa dạng, tiện dụng
và hấp dẫn, cho phép tạo dựng và thực hiện tức thì những thao tác ảo “giống như
thật” trên đối tượng khảo sát Những phương tiện này rất có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn trong Lý luận và Công nghệ dạy học tương tác :
a) động lực hóa (hoạt hóa, tích cực hóa) quá trình dạy học,
b) nâng cao hiệu quả học tập (học và hành),
c) phát huy tư duy sáng tạo
Kết luận (c) không hiển nhiên như hai kết luận đầu (a,b), vì có người cho rằng phần mềm tương tác, cũng như trò chơi điện tử, gồm toàn những thứ đã lập trình sẵn thì không còn chỗ cho sáng tạo
Sự thực không phải như vậy
Với dạy học, như đã biết, một trong những cách phát triển tính tích cực và tư duy sáng tạo ở người học là xây dựng tiến trình dạy học phỏng theo tiến trình tìm
ra tri thức tương ứng trong nghiên cứu khoa học Con đường khái quát hóa các kết quả thực nghiệm để xây dựng lý thuyết khoa học cho một mô hình nào đó của thế
giới khách quan như trong Vật lý, Hóa học,…(thuộc hệ phương pháp quy nạp
[16]) là một ví dụ về tiến trình này Những thí nghiệm và thực hành ảo được thực hiện với phần mềm dạy học tương tác giúp tái hiện tiến trình đó một cách dễ dàng, sinh động
Con đường khác, xây dựng lý thuyết khoa học bằng phương pháp tiên đề như trong Hình học Ơclit, Cơ học Niutơn, Đại số logic,…, (thuộc hệ phương pháp suy
diễn [16]) giờ đây có thể thấy cũng không khác gì con đường quen thuộc trong thế
giới trò chơi, ở đó có những đồ chơi (những khái niệm không định nghĩa) và những luật chơi (những tiên đề không chứng minh); người ta đã rất thành công và vẫn đang tiếp tục tìm tòi, sáng tạo ra tất cả những gì mà hệ tiên đề hay bộ đồ chơi
và luật chơi cho phép Các phần mềm toán học tương tác như GeoGebra, Cabri3D
Trang 15Trong Tâm lý học sáng tạo [13, t.28] có đề cập mối liên hệ giữa trò chơi với sự
sáng tạo và nhấn mạnh : trò chơi là một tập tính động vật, là sự thăm dò những cái
có thể và học tập Ai không chơi thì người đó đã thu hẹp trường tri giác và sáng
tạo của họ
Phần mềm (trò chơi) tương tác rất thuận lợi cho việc thực hành để hiểu và nhớ,
thử tạo tình huống và tập tìm giải pháp để quen dần với sáng tạo bằng phương
pháp thử – sai (với số lần tùy ý !), do đó không những chỉ gợi mở mà còn xúc tiến hiện thực hóa tư duy sáng tạo
(2) Bảng tương tác
Có thể phân các loại bảng tương tác hiện nay làm hai loại chính :
Bảng tương tác loại 1 là loại bảng đóng vai trò màn hình thứ hai của máy tính, chỉ
có tác dụng hiển thị, với kích thước lớn và độ phân giải cao để trình diễn trước đông đảo khán giả như lớp học, hội trường, Về nguyên tắc có thể chế tạo những màn hình máy tính khổ lớn để làm việc đó, nhưng như thế giá thành sẽ rất cao, vì vậy đã có nhiều giải pháp công nghệ khác nhau với giá thành chấp nhận được như phối hợp máy tính (có phần mềm tương tác), máy chiếu (số), thiết bị siêu âm (hay hồng ngoại) chuyên dùng và chuột không dây (dạng bút hay que trỏ),…nhằm biến các bảng thông thường (hay tường nhà) thành màn hiển thị khổ lớn Đây là loại bảng tương tác thường thấy Hiện nay, công nghệ TV LED đã rất phát triển, với kết nối HDMI và chuột không dây, việc dùng TV LED khổ lớn làm màn hình thứ hai cho máy tính (mà không cần dùng máy chiếu) để dạy học hoặc trình diễn, là phương án rất khả thi và hiệu quả
Bảng tương tác loại 2 là loại bảng ngoài tác dụng hiển thị nói trên còn có tác
dụng như một bảng điện tử, cho phép viết, vẽ,…(như trên bảng đen thông thường)
và lưu kết quả vào máy tính để tiếp tục xử lý Loại bảng này thực chất là một bảng
cảm ứng được tạo thành từ bảng loại 1 nhờ một hộp chiếu chuyên dùng, kết hợp
với bút kỹ thuật số vừa là chuột không dây vừa là bút viết cảm ứng, cho phép dạy học tương tác hoàn toàn bằng “phấn bảng điện tử”
Bảng tương tác loại 3 là loại bảng điện tử tích hợp hai loại bảng điện tử kể trên
Nó được sử dụng như một smartphone khổ lớn Nguời dùng có thể dùng tay, bút hay bất kỳ vật dụng gì để tương tác, thay thế hoàn toàn bảng phấn
Trang 16Hình 2: Bảng điện tử tương tác thông minh
Sử dụng phần mềm IQ Board với các tính năng, công cụ mới như nhận dạng chữ viết tay, chụp hình theo nhu cầu người dùng, ghi lại toàn bộ thao tác của người dùng và phát lại, khả năng gây chú ý trong bài giảng, che phủ nội dung bài giảng theo mọi vị trí, làm thay việc của 1 màn trình chiếu Powerpoint… Giúp học sinh nhanh chóng tiếp thu bài học thông qua các công cụ và đối tượng trực quan trong môn học,tạo hứng thú khi tiếp nhận thông tin Bài giảng tích hợp hoàn toàn với các thiết bị Voting System-Hệ thống phát biểu, đánh giá trắc nghiệm
Nguồn tài nguyên không bị hạn chế khi được tích hợp hơn 500MB các đối tượng cho hơn 30 môn học Tài nguyên đó có thể được tạo ra từ quá trình giảng dạy, được chia sẻ thông qua Internet, các thiết bị lưu trữ phổ thông như USB, CD, Memory Card Có đầy đủ các công cụ đồ họa, văn bản, viết tay, chụp ảnh, ghi lại thao tác, chuyển đổi qua lại giữa các định dạng đa phương tiện, tạo siêu liên kết giữa các đối tượng
1.2.3 Phương pháp dạy học tương tác
Phương pháp dạy học tương tác là phương pháp vận dụng bộ ba nguyên lý (cũng là bộ ba nguyên tắc) sư phạm tương tác với sự hỗ trợ của những phương tiện
Trang 17tương tác thích hợp sao cho quá trình dạy học về cơ bản là quá trình học bằng làm (learning by doing) của người học Nói một cách khác, đó là phương pháp :
- dạy học với người học là trung tâm (do đó các phương pháp dạy học nêu và giải
quyết vấn đề, cộng tác nhóm, dự án, v.v…, với bối cảnh giáp mặt hoặc/và trực
tuyến, là những phương pháp phổ biến),
- dạy học tích hợp lý thuyết với thực hành, theo tiếp cận công nghệ ([4] học bằng
làm , không chỉ làm được mà còn làm tốt), ở đây thực hành và làm đều có thể là
ảo hoặc/và thật, tùy điều kiện cụ thể cho phép; nói chung, trong môi trường
CNTT&TT hiện nay, các phương tiện tương tác ảo, dưới dạng trò chơi số (trò
chơi nghiêm túc) là phương tiện dạy học phổ biến
1.2.4 Kỹ năng dạy học tương tác
Kỹ năng dạy học tương tác là kỹ năng vận dụng một cách hiệu quả lý luận, phương tiện và phương pháp dạy học tương tác Như đã nói ở trên, quá trình dạy học tương tác về cơ bản là quá trình học bằng làm, nên kỹ năng dạy học tương tác
cũng giống như kỹ năng dạy học thực hành, đòi hỏi người dạy phải miệng nói tay
làm thành thạo Nhất là với các phần mềm tương tác kiểu trò chơi, người học có thể “thử - sai” tùy ý để tự tạo tình huống, dò tìm giải pháp, và có thể nêu những câu hỏi mà người dạy, nếu thiếu kinh nghiệm hoặc thiếu năng lực ứng tác, không thể giải đáp được
1.2.5 Dạy học tương tác ảo
Dạy học tương tác ảo là dạy học bằng phương tiện mô phỏng, tương tác tham biến với giao diện thân thiện (thường là máy tính số với giao diện WIMP
quen thuộc, hoặc thiết bị chuyên dùng như buồng lái mô phỏng, máy CNC, ) để
được kết quả thực (nếu kết quả mong đợi là các số đo, các quan hệ dưới dạng biểu thức hay đồ thị) hoặc kết quả mô phỏng (nếu kết quả mong đợi là các thực thể)
Dạy học tương tác ảo là ứng dụng công nghệ dạy học tương tác (phần II)
trong việc dạy và học môn, với những hình thức khác nhau như giáp mặt hoặc trực tuyến, có hướng dẫn hoặc tự học, cộng tác nhóm hoặc cá biệt, v.v…Có thể thấy dù với hình thức nào thì hiện nay sử dụng máy tính với phần mềm tương tác tham biến, bảng tương tác và mạng truyền thông vẫn là phương án thích hợp
Ở Việt Nam, thí nghiệm và thực hành ảo trong dạy học giáp mặt môn Vật lý
đã được biết đến qua một số công trình tiêu biểu trong nước như [17],[18],[19] và
những phần mềm tương tác ngoại nhập như …Dạy học tương tác ảo trực tuyến
các môn khoa học tự nhiên và công nghệ chỉ mới được biết đến trong vài năm gần đây nhờ những phần mềm tương tác ngoại nhập
Như đã nêu trong [17] và phần II trên đây, mô hình hóa và mô phỏng, tiếp
cận công nghệ, kỹ năng thực hành,… là những định hướng có tính nguyên tắc của
dạy học
Dưới đây là một số ví dụ minh họa về những phần mềm có thể dùng trong
dạy và học tương tác vào mọi lúc, ở mọi chỗ, với mọi mức độ
Trang 181.3 Bài giảng điện tử
1.3.1 Khái niệm bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hóa, do giáo viên điều khiển
thông qua môi trường multimedia mà máy vi tính tạo ra
Bài giảng điện tử không phải chỉ đơn thuần là các kiến thức để HS ghi vào
vở, mà đó là toàn bộ hoạt động dạy và học Bài giảng điện tử là nơi tất cả các tình huống sẽ xảy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức của HS Bài giảng điện tử càng không phải là công cụ thay thế bảng đen mà nó phải đóng vai trò định hướng trong tất cả các hoạt động trên lớp
Các đơn vị của bài học đều phải được Multimedia hóa (đa phương tiện hóa) Trong môi trường đa phương tiện, thông tin được biểu diễn dưới dạng: Văn bản, hình ảnh, đồ họa, hoạt hình, âm thanh, video…
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của GV trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được Multimedia hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tử chính là bản thiết kế bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử
Mục đích của bài giảng điện tử:
- Giúp GV triển khai và thực hiện đúng kế hoạch học tập
- Giúp người học hiểu bài học nhanh, chính xác hơn, sinh động hơn
- Đề cao khả năng tự học nhờ bài giảng điện tử, đáp ứng tính cá thể trong học tập
- Bài giảng điện tử có thể sử dụng dạy học giáp mặt hoặc có thể dạy học từ
xa qua mạng Internet hoặc mạng LAN, WAN
1.3.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử
Quy trình xây dựng bài giảng điện tử gồm 6 bước
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Khi thiết kế bài giảng điện tử, có hai loại mục tiêu cần được xác định rõ ràng
và chặt chẽ, đó là mục tiêu của môn học và mục tiêu của từng bài Mục tiêu môn học được chia thành các mục tiêu nhỏ, chính là mục tiêu của các chương, các bài Khi hoàn thành tất cả các mục tiêu nhỏ thì mục tiêu lớn của cả môn học cũng được
Trang 19hoàn thành Mục tiêu cần xác định khi xây dựng mỗi bài giảng là kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ mà học sinh cần đạt được sau khi học xong mỗi bài học Trong dạy học hướng tập trung vào HS, mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập, chứ không phải là mục tiêu giảng dạy, tức là chỉ ra sản phẩm mà HS có được sau bài học
Bước 2: Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định nội dung trọng tâm
Có rất nhiều giáo trình, tài liệu tham khảo liên quan đến bài học với nội dung vô cùng phong phú GV không thể đưa hết tất cả nội dụng vào bài giảng, mà cần có sự chọn lọc Việc chọn lọc phải căn cứ vào mục tiêu bài học Chương trình khung là căn cứ để lựa chọn kiến thức cơ bản nhằm đảm bảo tính thống nhất của nội dụng dạy học trên cả nước
Khi thiết kế bài giảng điện tử, nội dung phải đủ để thực hiện mục tiêu không thừa, không thiếu, không gián đoạn, ngắn ngọn và súc tích GV phải kết hợp trình chiếu bài giảng với tư liệu bên ngoài, cùng với nhiều hoạt động khá trên lớp Ngoài
ra cần sắp xếp cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các phần kiến thức của bài, từ đó làm rõ trọng tâm bài giảng
Bước 3: Multimedia hóa kiến thức
Multimedia hóa kiến thức là nét đặc trưng cơ bản của bài giảng điện tử, phân biệt với các loại bài giảng truyền thống Việc multimedia hóa kiến thức được thực hiện qua các bước
1 Dữ liệu hóa thông tin bài học
2 Phân loại kiến thức được khai thác dưới dạng văn bản, hình ảnh,
âm thanh, đồ họa, video…
3 Xây dựng nguồn tư liệu1 sử dụng cho bài học, tư liệu có thể tự xây dựng bằng các phương tiện kỹ thuật số như máy quay, máy Scaner, máy ảnh, máy thu âm… Ngoài tư liệu còn có thể tìm kiếm trên Internet
4 Xử lí tư liệu thu được để nâng cao chất lượng tư liệu bằng các phần mềm chuyên dụng
5 Chọn lựa các phần mềm dạy học cần dùng cho bài học
6 Tạo liên kết đến các tư liệu Khi sử dụng các tư liệu như video, âm thanh, hình ảnh… cần đảm bảo các yêu cầu về nội dung, phương pháp, thẩm mỹ và ý đồ sư phạm
Trang 20Bước 4: Xây dựng các thư viện tư liệu
Sau khi có được đầy đủ tư liệu cần thiết, giáo viên phải sắp xếp lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lí, tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữa được các liên kết trong bài giảng đến các tệp âm thanh, phim ảnh… từ ổ đĩa này sang ổ đĩa khác hoặc từ máy này sang máy khác
Bước 5: Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
Giáo viên lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn thông dụng để tiến hành xây dựng giáo án điện tử Các phần mềm thường dùng là Microsoft Power Point, Microsoft FrontPage, Violet, …
Trước hết cần chia quá trình dạy học thành các hoạt động nhận thức cụ thể Dựa vào các hoạt động đó để định ra các slide (trong PowerPoint) hoặc các trang (trong FontPage) Sau đó xây dựng nội dung cho các slide (trang) có thể là văn bản, âm thanh, tranh ảnh, đồ họa, video clip…
Bước 6: Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
Sau khi thiết kế xong, GV phải chạy thử chương trình, kiểm tra nội dung bài giảng, kiểm ta các hiệu ứng trình diễn, kiểm tra các liên kết… nhằm tìm chỗ sai sót, chỗ chưa hợp lí để sửa chữa và hoàn thiện
1.3.3 Yêu cầu đối với bài giảng điện tử
a Yêu cầu về mục tiêu
- Mục tiều bài dạy rõ ràng, đầy đủ, đảm bảo tính chính xác, khoa học của nội dung bài giảng
- Bài học phải truyền tải đầy đủ nội dung, làm nổi bật trong tâm bài dạy
- Thực hiện đầy đủ các bước của quá trình lên lớp (từ đặt vấn đề, hình thành tri thức mới, luyên tập, hệ thống hóa, củng cố, kiểm tra)
- Phân bổ thời gian hợp lí cho từng phần
- Hệ thống câu hỏi thể hiện các mức độ yêu cầu phù hợp từng đối tượng
HS
- Qua nội dung bài soạn, khai thác tính ứng dụng thực tế và tính giáo dục cho HS
b Yêu cầu về kỹ năng trình bày Slide
- Không ghi quá nhiều chữ mà nên trình bày ngắn ngọn, cô đọng
- Mỗi Slide cần có tiêu đề
Trang 21- Chữ đủ lớn, dễ đọc, đảm bảo khi trình chiếu người ngồi cuối phòng học vẫn đọc được Font chữ nên dùng các font Unicode phổ biến, giản dị như Arial, Time New Roman, Tahoma, Venada… Với các font này, cỡ chữ tối thiểu từ 18-20pt Chữ đọc tốt nhất trong khoảng 24 – 32pt
- Màu sắc hài hòa, dễ quan sát, phân biệt ý nghĩa của các đoạn khác nhau như lời dẫn, cú pháp, đoạn mã, chú thích… Tránh sử dụng quá nhiều màu (đặc biệt là màu nền – background) sẽ tạo nên cảm giác rối loạn màu sắc Thông thường chỉ dùng khoảng 3 đến 4 màu là đủ
- Âm thanh dùng đúng lúc, cường độ vừa phải, âm thanh phù hợp với hình ảnh, nội dung bài dạy cũng như thuần phong mỹ tục
- Có slide ngăn cách khi chuyển chủ đề lớn
- Số slide không quá nhiều cũng không quá ít Thông thường chỉ từ 10-12 slide / tiết là đủ
- Có nhiều liên kết đến các bài học, bài tập, ví dụ khác Dễ dàng quay trở lại trang trước
c Yêu cầu về kỹ năng sử dụng đa phương tiện
- Bài giảng thể hiện được tính vượt trội so với bài giảng truyền thống Sử dụng hợp lý các công cụ đa phương tiện để mô phỏng các nội dung phức tạp, giúp HS dễ hiểu, củng cố, chuyên sâu kiến thức
- Có đầy đủ các tư liệu (hình ảnh, video clip, âm thanh, bản đồ, sơ đồ, số liệu, ví dụ minh họa…) phục vụ cho bài học
- Sử dụng các phần mềm thích hợp với từng nội dung được đưa vào các trang hoặc các liên kết động với các đối tượng (hình ảnh, text…) trên các trang hoặc slide khác nhau
d Yêu cầu về phương pháp
- Kết hợp các phương pháp dạy truyền thống với ứng dụng CNTT
- Phải chuẩn bị phương án dạy học bằng phấn bảng hoặc phương tiện khác
đề phòng sự cố mất điện, máy chiếu hỏng, thiết bị hỏng,… Tránh bị động
để các giờ học của HS trôi đi lãng phí
- Dạy học lấy HS làm trung tâm Có các câu hỏi để trao đổi, thảo luận, khuyến khích người học phát biểu Tránh tình trạng GV chỉ đọc nội dung slide hoặc thuyết trình từ đầu đến cuối Các câu hỏi được xây dựng nhằm kích thích tính động não của người học
- Người học có thể trình bày kết quả làm việc trên trang trình chiếu (như
có các ứng dụng phù hợp cho HS trình bày, giải thích, minh họa…)
Trang 22- Hình thức trình bày phù hợp, không có lỗi chính tả, sinh động, lôi cuốn nhưng vẫn đảm bảo hiểu quả của tiết học
e Yêu cầu về tư liệu
- Trong bài học, nên có tài liệu, nguồn trích dẫn phong phú để phục vụ cho bài học, cuối bài nên chỉ dẫn về các tài liệu, website tham khảo để người học tự chủ động tìm hiểu, tránh việc trích dẫn tràn lan trên slide và trong bài học
1.3.4 Phân biệt bài giảng điện tử vào bài giảng truyền thống
Giống nhau
- Đều là phương tiện vô cùng quan trọng mà không thể thiếu của GV khi lên lớp làm nhiệm vụ dạy học, là phương tiện bắt buộc của GV trong hoạt động dạy học
- Bản thiết kế bài giảng (điện tử hay truyền thống) đều phải thể hiện rõ hoạt động của GV, HS Nội dung bài giảng phải chính xác, phù hợp với yêu cầu và được chia thành các hoạt động cụ thể
Khác nhau
Tiêu chí Bài giảng truyền thống Bài giảng điện tử
Nội dung
Gồm các tri thức, kiến thức được diễn đạt dưới dạng văn bản là chủ yếu, đôi khi có sử dụng mô hình, sơ đồ, hình vẽ
để minh họa
Bao gồm toàn bộ tri thức, kiến thức được cô đọng và được diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau như: hình ảnh, âm thanh, văn bản, video clip…
Kế hoạch
Được thể hiện trên giáo án viết tay của GV và đa số chỉ dừng lại với những gợi ý trong sách giáo khoa
Được xây dựng bởi chương trình trên máy tính, trong đó các hoạt động của HS và GV thể hiện qua các liên kết nhằm kết nối các mục với nhau, giữa các bài, giữa lý thuyết và thực hành, giữa kiến thức cơ bản và mở rộng
Trang 23Phương tiện Phấn, bảng, biểu đồ, bản đồ… Máy tính, phần mềm dạy học,
Internet, máy chiếu…
Đánh giá
kiểm tra
Câu hỏi nhanh sau khi kết thúc bài học, câu hỏi trong sách giáo khoa, câu hỏi trắc nghiệm… tuy nhiên khó có thể công bố kết quả tức thời, chính xác cho tất cả học sinh
Gồm câu hỏi trắc nghiệm khách quan được chương trình hóa và cho biết câu trả lời ngày sau khi hoàn thành Từ
đó GV có thể kiểm tra, đánh giá các sai sót, ưu, nhược điểm của HS để kịp thời điều chỉnh trong quá trình dạy học
1.3.5.Các yêu cầu sử dụng bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử vừa sử dụng giảng dạy giáp đạt chuẩn mực sư phạm, đồng thời cũng có thể dạy học từ xa qua mạng LAN, qua Internet hay tự học của HS dưới sự định hướng của GV Khi sử dụng cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Kết hợp các phương pháp, phương tiện dạy học khác nhau nhằm phát huy tối đa tính tự giác, tích cực của người học
- Khi giảng dạy, GV đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo nhằm giúp HS tìm tòi tri thức, hình thành kỹ năng tự học, tự nghiên cứu Giảm thời gian truyền đạt lý thuyết, tăng thời gian củng cố, làm bài tập, thực hành
- Phải đảm bảo phù hợp với lời giảng, sự trình diễn của GV và sự theo dõi của HS Bài giảng điện tử không phải là đoạn phim chỉ trình chiếu một chiều mà trong quá trình dạy GV vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy đặt vấn đề, vẫn có thảo luận của HS
1.46 Sự phù hợp của việc ứng dụng CNTT vào xây dựng bài giảng điện tử tương tác
Việc xây dựng bài giảng điện tử theo công nghệ dạy học tương tác giữa người với máy hiện nay là một xu hướng đúng đắn được cả xã hội quan tâm, được
Bộ giáo dục chỉ đạo sát sao tới tất cả các cơ sở đào đạo trên cả nước Nó phù hợp với sự phát triển chung và phù hợp với việc ứng dụng CNTT vào giáo dục trên toàn thế giới
Xây dựng bài giảng điện tử cùng phương pháp dạy học tương tác là một bước tiền đề tốt cho người học được tiếp cận, được thao tác từ trong phòng thí
Trang 24nghiệm, hệ thống máy ảo trước khi bước vào thực tế, đặc biệt là trong các ngành nghề nhạy cảm, đòi hỏi cơ sở kỹ thuật cao như: ngành Y, kiến trúc, chế tạo máy…
Tiểu kết chương 1
Trong phần đầu của luận văn, tác giả nghiên cứu và đã trình bày được một
số luận điểm, căn cứ của sư phạm tương tác Cụ thể đã thể hiện được các nội dung:
học và môi trường và bộ ba thao tác Học, giúp đỡ, tác động tới quá trình dạy và học
người học, người dạy – người dạy, tương tác người – máy
yêu cầu đối với bài giảng điện tử
Từ các cơ sở lí luận trên, tác giả tiến hành tìm hiểu hiện trạng tại môn Công nghệ và thực trạng giảng dạy tại trường THCS&THPT Hai bà Trưng, từ đó tiến hành xây dựng bài giảng điện tử tương tác cho một số bài làm cơ sở thực tiễn cho luận văn ở chương 2 và 3 của luận văn này
Trang 25CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN CÔNG NGHỆ TẠI TRƯỜNG THCS&THPT HAI BÀ
TRƯNG 2.1 Giới thiệu về trường THCS&THPT Hai bà Trưng
Giới thiệu về trường THCS&THPT Hai Bà Trưng
Trường THCS Hai Bà Trưng tiền thân là trường cấp 2 chuyên Mê linh, huyện Mê linh, tỉnh Vĩnh phú, được thành lập năm 1992, đến nay vừa tròn 21 tuổi
Trường THPT Hai Bà Trưng tiền thân là trường THPT bán công Phúc Yên B, được thành lập năm 1993, đến nay cũng bước sang tuổi 20 Hai cấp học này nếu tòn tại độc lập với nhau, ở hai địa điểm khác nhau do hai Ban giám hiệu điều hành thì không có điều gì phải giải thích Thế nhưng hiện tại hai cấp học này đang cùng tồn tại mô hình trường liên cấp THCS & THPT thuộc hệ công lập điều này ít thấy
Bảng 2.1: Bảng quy mô số lớp và số học sinh từng khối (Nguồn BGH)
Hiện nay đội ngũ giáo viên là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển toàn diện phấn đấu trở thành trường học thân thiện của nhà trường Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt huyết, không ngừng trao dồi, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn Tính đến tháng 8 năm 2013 nhà trường có 63 cán bộ giáo viên
Trang 26Cơ cấu tổ chức của trường THCS&THPT Hai bà Trưng
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức trường THCS&THPT Hai bà Trưng
Cơ cấu thành phần trường THCS&THPT Hai bà Trưng
Tổ
Sinh vật Hoá học Thể dục Công Nghệ
Tổ
Mỹ Thuật
Âm nhạc Ngoại ngữ
Hiệu trưởng
Phó hiệu trưởng Phụ trách cấp 2 Phó hiệu trưởng Phụ trách cấp 3
Trang 27C ơ cấu chuyên môn
độ sư phạm cho giáo viên
2 2 Thực trạng cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên tin học
Trường THCS&THPT Hai bà Trưng đã từng bước tiếp cận và ứng dụng những thành tựu của CNTT vào nhiều lĩnh vực Trong đó được sự quan tâm và đầu
tư của trường cùng các cấp ngành liên quan, nhà trường đã được trang bị các cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy cơ bản hoàn thiện, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được hết các tiêu chí đổi mới trong dạy – học Cụ thể về cơ sở vật chất nhà trường như sau:
Phòng học phổ thông: 26 phòng
Phòng học chuyên đề: 08 phòng (có trang bị máy chiếu Projector)
Phòng thực hành tin: 02 phòng với 80 máy tính kết nối mạng LAN
Trang 28Phòng họp hội đồng: 01 phòng (có trang bị máy chiếu)
Phòng học có máy chiếu Projector: 10 phòng
Phòng học có bảng tương tác: 5 phòng
Phần mềm giảng dạy: MS Power Point, MS Word, Snapit, Maker Media… Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Công nghệ gồm 6 người, trong đó hai cử nhân Vật lý, một giáo viên đang theo học khóa học thạc sĩ của trường ĐH Bách Khoa Hà Nội và hai giáo viên dạy Sinh học, một người học sư phạm kỹ thuật nông nghiệp
- Biết được cấu trúc môn học Công nghệ
- Hiểu biết được các triển vọng của sự phát triển công nghệ và khoa học kỹ thuật
Trang 29- Làm quen được với một số thuật môn học của môn Công nghệ như: Vẽ
Kỹ thuật, gia công cơ khí, động cơ đốt trong, kỹ thuật điên tử, kỹ thuật điện…
- Biết ảnh hưởng của Công nghệ với sự phát triển của xã hội
Về kĩ năng
- Nhập môn vẽ kĩ thuật, lập bản vẽ kỹ thuật
- Hình thành khái niệm và biết một số phương pháp gia công cơ khí đơn giản
- Hiểu biết nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong
- Đọc, nhận biết các linh kiện điện tử và một số mạch điện tử đơn giản
Thái độ
- Tư duy khoa học
- Tác phong công nghiệp (làm việc theo chuẩn mực công việc……
- Có thái độ hiểu biết, hành vi đúng đắn về tác dụng, ích lợi của Công nghệ trong đời sống, xã hội
- Rèn luyện tính kiên trì, khả năng tư duy, sáng tạo trong học tập, chuẩn mực, chính xác trong suy nghĩ và hành động, say mê môn học, cẩn thận trong công việc, hợp tác tốt với bạn bè
2.3 3 Đặc điểm môn Công nghệ
Môn Công nghệ cung cấp các kiến thức khái niệm cơ bản và một số kĩ năng ban đầu về cho người học trong chương trình cấp THPT Chương trình Công nghệ được xây dựng dựa trên kết quả thí điểm triển khai chương trình và sách giáo khoa,
ý kiến các hội đồng thẩm định, ý kiến đóng góp của các sở, trường, GV môn tin học, Công nghệ của một số trường có thí điểm
Hiện nay tại các địa phương, cơ sở vật chất còn thiếu, số lượng máy tính có thể chưa đủ, kết nối Internet còn hạn chế Đặc biệt đội ngũ GV còn thiếu cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên chương trình Công nghệ được xây dựng theo chuẩn đã có đánh giá về các yếu tố thực tế, đặc thù môn học và sự khác nhau về trình độ tin học ở các vùng miền khác nhau
Đặc thù của bộ môn công nghệ là đi theo chương trình của từng khối lớp với nhiều phân môn khác nhau: may mặc, nấu ăn, trang trí (công nghệ 6), trồng trọt, chăn nuôi (công nghệ 7) kỹ thuật điện, cơ khí (công nghệ 8,9), trồng trọt, chăn nuôi (công nghệ 10), Vẽ kĩ thuật, cơ khi, động cơ đốt trong (11), kỹ thuật điện, điện tử
Trang 30(công nghệ 12) Do có liên quan trực tiếp đến cuộc sống nên các lĩnh vực này rất gần gũi với con người, phục vụ nhu cầu cơ bản hàng ngày cho con người Không như các bộ môn khác, tài liệu tham khảo của bộ môn công nghệ phải nói rất phong phú và đa dạng Ngoài sách báo, internet… học sinh có thể học hỏi trực tiếp từ ông
bà, bố mẹ, anh chị trong gia đình thông qua các công việc hàng ngày như chuẩn bị bữa ăn, chăm sóc cây trồng, vật nuôi, sửa chữa điện Tuy nhiên, do độ tuổi học sinh THCS chưa chọn được hệ thống thông tin hoàn chỉnh nên vai trò hướng dẫn của GV rất cần thiết để giúp các em có định hướng đúng đắn khi chọn lựa thông tin Từ đó các em chủ động để tự ghi chép nội dung bài học mà không cần GV phải đọc từng câu, từng chữ theo kiểu đọc - chép như trước đây
Giáo viên làm việc
Muốn học sinh thực hiện được yêu cầu, GV phải vạch được cho mình một
kế hoạch cụ thể trong bài giảng, cụ thể thông qua các bước sau: Xác định trọng tâm bài học Đây là công việc cần thiết vì giúp quá trình dạy và học diễn ra thuận lợi, đúng trọng điểm không chệch hướng Ví dụ: Trọng tâm kiến thức của bài 10 là lợi ích của việc giữ gìn nhà ở sạch sẽ, ngăn nắp Chuẩn bị đồ dùng dạy học Đồ dùng dạy học phù hợp nội dung bài giảng sẽ trở thành phương tiện truyền tải thông tin hiệu quả, đó là nguyên tắc bất di bất dịch Ngoài ra, đồ dùng dạy học có thể thay thế được một bài diễn giải dài dòng, tiết kiệm thời gian và sức lực cho GV đứng lớp; đồng thời giúp học sinh hình tượng và hệ thống vấn đề cụ thể, nhanh chóng rõ ràng Ví dụ: GV đưa một bức tranh ngôi nhà ngăn nắp với ngôi nhà rất lộn xộn, thiếu vệ sinh để các em tự so sánh mà không cần phải nói nhiều Xây dựng hệ thống câu hỏi và các tình huống có vấn đề hợp lý Quá trình dạy học diễn ra chủ yếu dựa trên các câu hỏi Câu hỏi là nền tảng xây nên ngôi nhà kiến thức Câu hỏi ngắn gọn gắn liền với thực tế được đặt ra đúng lúc, vừa sức sẽ giúp học sinh dễ hiểu và giải quyết nhanh, hợp lý Tổng kết các câu trả lời đúng với yêu cầu sao cho ngắn gọn, đầy đủ, cô đọng và mang tính đúc kết GV mời học sinh nhắc lại song song với quá trình tự ghi bài Như vậy vừa giúp các em ôn bài tại chỗ vừa hệ thống hóa kiến thức Tuyên dương, khen thưởng những học sinh tích cực, trả lời hay
Trang 31nhằm động viên tinh thần và gây không khí học tập sôi nổi, sinh động Nêu những nhiệm vụ học sinh cần làm để chuẩn bị cho tiết học kế tiếp
… Và Học sinh cũng hoạt động
Các em học sinh phải thực hiện các bước sau: Chuẩn bị bài học trước khi đến lớp Đọc sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, trả lời câu hỏi, sưu tầm tranh ảnh, xem bài cũ Gạch dưới, ghi chú những vấn đề chưa rõ, cần giải quyết Những thông tin thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau có thể mâu thuẫn, chưa phù hợp thực
tế nên học sinh có thể ghi chú để giải quyết ngay tại lớp Nhờ đó các em nắm được bài học tốt hơn, sâu sắc hơn Tập trung cao độ: mắt quan sát, tai lắng nghe, suy nghĩ tích cực, tham gia trả lời câu hỏi, có thể giải quyết độc lập hoặc theo nhóm các vấn đề do thầy cô và các bạn đưa ra Đây là cách để học sinh có thể tự rút tỉa kiến thức và ghi chép một cách chọn lọc nhất Ghi nhận nội dung bài học: Không nên đi theo lối cũ là GV đọc học sinh chép mà chỉ hướng dẫn tổng kết từng phần thông qua hoạt động Vì thế các em phải quan sát lắng nghe, suy nghĩ ghi nhận ngay từng phần của bài học Nhận xét tinh thần học tập của bản thân và các bạn Học sinh có thể tuyên dương hoặc phê bình tinh thần làm việc của các thành viên khác Đây là cách để các em tự đánh giá và nhìn lại mình
2.4 Thực trạng giảng dạy môn Công nghệ tại trường THCS&THPT Hai bà Trưng
Qua thực tế và khảo sát GV dạy môn Công nghệ tại trường THCS&THPT Hai bà Trưng; Tác giả nhận thấy việc dạy học hiện nay đơn thuần diễn ra như sau:
Đối với bài học lý thuyết: Hầu hết các tiết dạy lí thuyết đều tiến hành trên
lớp học truyền thống và một phần nhỏ các bài học lí thuyết dạy trên lớp học có sử dụng máy chiếu Projector, sử dụng bài giảng thuyết trình Powerpoint vào giảng dạy Trong đó tác giả nhận thấy có những tương tác nhất định như tương tác giữa giáo viên và học sinh; GV đặt các câu hỏi dạng như em hiểu như thế nào về vấn đề,
em có nhận xét gì về vấn đề, em hãy so sánh giữa 2 vấn đề nào đó, Em hãy quan
Trang 32sát hình rồi cho biết…? Học sinh tìm hiểu trong sách giáo khoa, hình ảnh sau đó trả lời câu hỏi
Đối với bài học thực hành: Trong giai đoạn đầu, hầu hết các giáo viên sử
dụng phương pháp thuyết trình nêu vấn đề, sau đó chia nhóm và HS thực hiện những nội dung đã có trong sách Giáo viên ít hoặc không có cơ hội hướng dẫn, thực hiện mẫu cho HS quan sát Ở đây tác giả nhận thấy, đã có sự tương tác giữa người – máy Tuy nhiên sự tương tác này chưa thực sự hiệu quả, chưa có sợi dây liên kết giữa GV và HS Khi HS gặp phải những vướng mắc trong thực hành có thể hỏi GV hướng dẫn, tuy nhiên rất ít khi GV có thể cùng lúc hỗ trợ cho cả một lớp trong thời gian ngắn HS phải tự mình tìm hiểu nội dung được phổ biến trong sách giáo khoa, tuy nhiên những học sinh tự tìm hiểu trong sách giáo khoa rất ít Đa số các em đọc qua loa rồi chuyển phần khác, như vậy phần thao tác thực hành của nhiều HS bị hổng, không có cơ hội làm lại
Đối với bài kiểm tra, đánh giá: Hầu hết các bài kiểm tra đánh giá được
thực hiện một chiều, học sinh làm các phần kiểm tra thông qua các câu hỏi trắc nghiệm, tự luận đơn thuần Ở đây tác giả nhận thấy có sự tương tác giữa nội dung
và kiến thức là chủ yếu
Sau đây tác giả xin trình bày ba bài giáo án thường gặp trong cấp học THPT, hai bài kiểm tra tự luận và trắc nghiệm để khẳng định thực trạng trên
Trang 33+ Phân bi ệt bản vẽ chi tiết và bản vẽ lắp?
+ Nêu các b ước lập bản vẽ chi tiết?
Muốn làm ra 1 cỗ máy, trước hết phải chế tạo từng chi tiết, sau đó lắp ráp thành cỗ
máy bản vẽ chi tiết và bản vẽ lắp
Hoạt động 1:( …15…phút) Tìm hiểu về bản vẽ chi tiết
ti ết
+ B ản vẽ chi tiết dùng để chế
t ạo và kiểm tra chi tiết
I.Bản vẽ chi tiết:
1.Nội dung của bản vẽ chi tiết:
+ B ản vẽ chi tiết thể hiện hình d ạng, kích thước và các yêu c ầu kĩ thuật của các chi ti ết
+ B ản vẽ chi tiết dùng để
ch ế tạo và kiểm tra chi
ti ết
2.Cách lập bản vẽ chi tiết:
+ B ước 1:bố trí các hình
bi ểu diễn và khung tên + B ước 2: vẽ mờ + B ước 3: tô đậm
Trang 34+ Trình t ự lập bản vẽ chi tiết
+ Theo 5 b ước
+ B ước 4: ghi phần chữ + B ước 5: kiểm tra, hoàn thi ện
+ B ản vẽ lắp dùng để lắp ráp các chi ti ết
+ Nêu câu hỏi và BT về nhà
RÚT KINH NGHIỆM BÀI HỌC
………
………
………
………
Trang 35CHƯƠNG II MỘT SỐ MẠCH ĐIỆN TỬ CƠ BẢN
Bài 7: KHÁI NIỆM VỀ MẠCH ĐIỆN TỬ- CHỈNH LƯU
- NGUỒN ĐIỆN MỘT CHIỀU
I Mục tiêu
Sau bài giảng này, GV phải làm cho HS:
Biết được khái niệm, phân loại mạch điện tử
Hiểu được chức năng, nguyên lí làm việc của mạch chỉnh lưu, lọc và ổn áp
II Chuẩn bị
• Nghiên cứu bài 7 SGK
• Tìm hiểu các mạch điện tử trong thực tế
• Tranh vẽ các hình 7.1; 7.2 SGK
• Tranh vẽ các thiết bị điều khiển bằng mạch điện tử
III Tiến trình dạy học
1 Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ ( 5' phút)
GV gọi HS lên bảng theo các câu hỏi
sau:
1 Định nghĩa mạch chứa IC?
GV nhận xét và cho điểm!
HS lên bảng và trả lời các câu hỏi do
GV đặt ra!
2 Hoạt động 2: Khái niệm và phân loại mạch điện tử Cái chỉnh lưu( 35 phút)
Hổ trợ của giáo viên Hoạt động của
HS thảo luận theo nhóm
HS rút ra kết luận
* Mạch khuếch đại
* Mạch tạo sóng hình sin
2 phân loại mạch điện tử
Trang 36*Mạch kĩ thuật số (Digital)
bị điện tử có thể dùng pin, acqui hoặc chỉnh lưu đổi dòng điện xoay ch iều thành dòng điện một chiều
*Mạch chỉnh lưu dùng các điốt tiếp mặt để đổi điện xoay chiều thành điện một chiều
*Có hai cách là chỉnh lưu một nữa chu kì và hai nữa chu kì
- Có nhiệm
vụ :biến đổi điện xoay chiều từ
mạng lưới
quốc gia thànhđiện
- Các cách mắc mạch chỉnh lưu : + Mạch chỉnh lưu nửa chu kì : + Mạch chỉnh lưu cả chu kì ( toàn sóng ) hình tia ( điểm giữa )
ổn định & công suất cần thiết
Trang 37
để nuôi toàn bộ các thiết bị điện
tử
2 3 4 5 6
1
- Phân tích sơ đồ trêng hình 7 -2 SGK
3 Hoạt động 3: Tổng kết bài học (5 phút )
+ GV nhắc lại nội dung chính của bài học
+ Đề nghị HS về nhà học lại bài và làm các bài tập trong SGK
………
………
………
Trang 38Tiết PPCT: 02,03 Bài 2: THÔNG TIN VÀ DỮ LIỆU
I MỤC TIÊU:
Kiến thức:
– Biết khái niệm TT, lượng TT, các dạng TT, mã hoá TT cho máy tính – Biết các dạng biểu diễn thông tin trong máy tính
– Hiểu đơn vị đo thông tin là bit và các bội của bit
– Biết mã hoá thông tin cho máy tính
– Biết các dạng biểu diễn thông tin trong máy tính
– Biết các hệ đếm cơ số 2, 16 trong biểu diễn thông tin
Kĩ năng:
– Bước đầu mã hoá được thông tin đơn giản thành dãy bit
– Học sinh hình dung rõ hơn về cách nhận biết, lưu trữ, xử lý thông tin của máy tính
Thái độ:
– Kích thích sự tìm tòi học hỏi tin học nhiều hơn
II CHUẨN BỊ:
Giáo viên: Giáo án, các tranh ảnh, tài liệu liên quan
Học sinh: SGK, vở ghi Đọc bài trước
III H OẠT ĐỘNG DẠY- HỌC:
1 Ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số lớp
2 Kiểm tra bài cũ:
H ỏi: Mục tiêu của ngành khoa học tin học là gì?
Đáp: Phát triển và sử dụng máy tính điện tử để nghiên cứu, xử
lí thông tin
Trang 393 Bài m ới
I Khái niệm thông tin
thông tin về Hoa
• Dữ liệu là thông tin đã
được đưa vào máy tính
Đặt vấn đề: Đối tượng
nghiên cứu của Tin học là thông tin và MTĐT Vậy thông tin là gì? nó được đưa vào trong máy tính ntn?
• Tổ chức các nhóm nêu một số ví dụ về thông tin
• Muốn đưa thông tin vào trong máy tính, con người phải tìm cách biểu diễn thông tin sao cho máy tính có thể nhận biết và
xử lí được
• Các nhóm thảo luận và phát biểu:
– Nhiệt độ em bé 400C cho ta biết em bé đang bị sốt
– Những đám mây đen trên bầu trời báo hiệu một cơn mưa sắp đến…
II Đơn vị đo thông tin:
• Đơn vị cơ bản để đo
lượng thông tin là bit (viết
tắt của Binary Digital)
Đó là lượng TT vừa đủ để
xác định chắc chắn một
sự kiện có hai trạng thái
và khả năng xuất hiện của
trong hai kí hiệu là 0 và 1
• Ngoài ra, người ta còn
dùng các đơn vị cơ bản
khác để đo thông tin:
III Các dạng thông tin:
• Có thể phân loại TT
thành loại số (số nguyên,
Đặt vấn đề: Muốn MT
nhận biết được một sự vật nào đó ta cần cung cấp cho nó đầy đủ TT về đối tượng này Có những TT luôn ở một trong 2 trạng thái Do vậy người ta đã nghĩ ra đơn vị bit để biểu diễn TT trong MT
• Cho HS nêu 1 số VD về các thông tin chỉ xuất hiện với 1 trong 2 trạng thái
• Hướng dẫn HS biểu diễn trạng thái dãy 8 bóng đèn bằng dãy bit, với qui ước: S=1, T=0
1B (Byte) = 8 bit – 1KB (kilo byte) = 1024
B – 1MB = 1024 KB – 1GB = 1024 MB – 1TB = 1024 GB – 1PB = 1024 TB
• HS thảo luận, đưa ra kết quả:
– công tắc bóng đèn – giới tính con người
• Các nhóm tự đưa ra trạng thái dãy bóng đèn
và dãy bit tương ứng