Các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở trường Cao đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc Các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở trường Cao đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc Các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở trường Cao đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
-
ĐẶNG NGỌC SƠN
CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT – ĐỨC VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHUYÊN SÂU: QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS PHAN VĂN KHA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian qua để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi con được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô trong Khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Hà nội Đặc biệt là sự thường xuyên quan tâm, góp ý giúp đỡ tận tình của thầy giáo GS TS Phan Văn Kha, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi luận văn Nhân dịp nay tôi xin bày tỏ lời cảm
ơn chân thành tới thầy giáo GS.TS Phan Văn Kha đã tạo điều kiện dành thời gian, công sức để sửa chữa, bổ sung từng trang bản thảo của luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy cô giáo trong Khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Hà Nội, các giảng viên ở các Viện Nghiên cứu giáo dục Việt Nam cung cấp cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp… để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và đề tài luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và tập thể cán bộ, Giáo viên, Công nhân viên Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc đã tận tình giúp
đỡ tôi cung cấp số liệu, tài liệu, tham gia đóng góp những ý kiến quý bấu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Dù đã rất cố gắng trong qua trình hoàn thành luận văn, nhưng do thời gian cũng như bản thân còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong các Thầy, Cô giáo trong hội đồng chấm luận văn hoàn thiện và đạt kết quả tốt hơn
Hà nội, tháng 01 năm 2013
Tác giả
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những lời mà tôi đã viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ Hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên
Hà Nội, tháng 01 năm 2013
Đặng Ngọc Sơn
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WTO NXB THCN CNH HĐH LĐTBXH ĐNGV CBGV-NV CĐN
GD&ĐT
GV HSSV UBND CNVC CNKT TCN SCN
Cán bộ giáo viên – Nhân viên Cao đẳng nghề
Giáo dục và đào tạo Giáo viên
Học sinh, sinh viên
Ủy Ban nhân dân Công nhân viên chức Công nhân kỹ thuật Trung cấp nghề
Sơ cấp nghề Giáo viên dạy nghề
Trang 6MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu. 5
3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu. 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Dự kiến cấu chúc luận văn: gồm các phần sau: 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 8
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 8
1.2 Trường Cao đẳng nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân 10
1.3 Khái niệm cơ bản về phát triển đội ngũ giáo viên 13
1.4 Vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên các trường Cao đẳng nghề 22
1.4.1 Vai trò 22
1.4.2 Nhiệm vụ của giáo viên các trường cao đẳng nghề 25
1.5 Phát triển đội ngũ giáo viên theo hướng chuẩn hóa 26
1.5.1 Tiêu chuẩn của giáo viên dạy nghề 26
1.5.2 Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề 26
1.5.3 Tuyển và sử dụng giáo viên cao đẳng nghề 27
1.5.4 Môi trường làm việc của giáo viên 31
1.5.5 Các chính sách tạo động lực phát triển đội ngũ giáo viên 33
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng tới phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề 33
1.6.1 Những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 33
1.6.2 Những tiến bộ khoa học, kỹ thuật và phát triển thế giới nghề nghiệp 35
1.6.3 Hội nhập quốc tế 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT – ĐỨC VĨNH PHÚC 39
2.1 Một số nét khái quát về Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc 39
2.1.1 Tổng quan về Nhà trường 39
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ 40
2.1.3 Tổ chức bộ máy 40
2.1.4 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo 43
2.1.5 Quy mô và các ngành nghề đào tạo 43
2.1.6 Kết quả đào tạo 45
2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy nghề của Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc 45
2.2.1 Số lượng và cơ cấu 45
2.2.2 Cơ cấu theo độ tuổi và thâm niên công tác 47
2.2.4 Chất lượng đội ngũ giáo viên 49
2.3 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề của Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc 61
Trang 72.32 Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên 65
a Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 65
2.3.3 Tuyển dụng, bố trí, sắp xếp và sử dụng đội ngũ giáo viên 72
2.3.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của giáo viên dạy nghề 75
2.3.5 Xây dựng và tổ chức thực hiện chế độ, chính sách đôi với ĐNGV 76
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ 86
GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ Ở TRƯỜNG CÁO ĐẲNG NGHỀ 86
VIỆT – ĐỨC VĨNH PHÚC 86
3.1 Định hướng phát triển ĐNGV dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc: 86
3.2 Nguyên tắc xây dựng các giải pháp phát triển ĐNGV dạy nghề ở Trường Cao đăng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc 86
3.3 Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc 88
3.3.1 Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên 88
3.3.2 Đổi mới qúa trình tuyển dụng, bố trí, sắp xếp lại đội ngũ giáo viên của từng Khoa nghề; nâng cao hiệu quả sử dụng ĐNGV hiện có 91
3.3.3 Xây dựng đội ngũ giáo viên đầu đàn 95
3.3.4 Tăng cường đổi mới công tác bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên dạy nghề 96
3.3.5 Tăng cường các điều kiện đảm bảo cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của đội ngũ giáo viên 118
3.3.6 Cơ chế, chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên dạy nghề làm việc tại Trường 119
3.4 Khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 122
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 125
1 Kết luận: 125
2 Kiến nghị 126
DANH MỤC VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO 127
PHỤ LỤC 131
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới của đất nước hơn 20 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, chúng ta đã đúc rút được những bài học kinh nghiệm quý bấu, tạo tiền đề để tiếp tục được đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa Đặc biệt, nước
ta đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) Điều này sẽ cho phép chúng ta có được sự bình đẳng với các nước trên thế giới trong giao lưu thương mại cũng như hợp tác phát triển Mặc du vậy, nhìn tổng thể, chất lượng phát triển kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn kém Năng suất lao động chung của nền kinh tế còn tăng chậm và thấp hơn so với nhiều nước trên khu vực Thể chế kinh tế thị trường chưa đồng
bộ, thị trường lao động còn manh mún chưa có những giải pháp đồng bộ để đảm bảo phát triển giữa cung và cầu lao động
Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế trí thức, tạo nền tảng để nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, trang 186) Để đáp ứng yêu cầu này của nền kinh tế, Đảng ta đã đề ra nhiều giải pháp để thực hiện, trong đó
có các giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo
Đào tạo nghề ở nước ta sau một thời gian dài chưa được chú ý đúng mức,
đã phục hồi và phát triển, đã đóng góp tích cực vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tuy vậy, nhìn tổng thể, dạy nghề cần phải tiếp tục đổi mới để đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, đáp ứng yêu cầu của qúa trình hội nhập kinh tế thế giới
Giáo dục và đào tạo được coi là nền tảng và động lực cuả sự nghiệng CNH – HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Văn kiện đại hội Đảng đã nhấn mạnh đến việc mở rộng quy mô dạy nghề, bảo đảm tốc độ tăng nhanh hơn đào tạo đại học ( quy mô dạy nghề dài hạn tăng 17% năm) Tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Đào tạo, trong đó có đào
Trang 9tạo nghề phải đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế nói chung và từng ngành kinh tế, từng lĩnh vực kinh tế nói riêng về quy mô, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp, dạy và học; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị đưa giáo dục và đào tạo nước ta tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới
- Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khảng định: “Mở rộng quy mô dạy nghề và THCN, bảo đảm tốc tộ tăng nhanh hơn đào tạo dại học, cao đẳng; quy mô tuyển sinh dạy nghề tăng 15% năm” {11,tr 207}
- Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, nhu cầu về lao động
kỹ thuật, đặc biệt là lao động trình độ cao phục vụ việc phát triển nền kinh tế rất lớn, đòi hỏi lĩnh vực giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp phải đổi mới mạnh mẽ; vai trò của giáo dục nghề nghiệp càng được coi trọng
- Tại điều 6 Luật dạy nghề đã quy định: “Dạy nghề có 3 trình độ đào tạo
là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề Dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên”{15, tr 2}, điều này đã và đang tạo ra những căn bản trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp của Hệ thống giáo dục quốc dân
- Trong quá trình phát triển giáo dục đào tạo, đội ngũ giáo viên giữ vị trí
vô cùng quan trọng; đây là lực lượng quyết định, đảm bảo chất lượng và sự phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo Nghị quyết TW2 khóa VIII đã chỉ rõ:
“Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh” {12, tr 8}
- Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010 đã chỉ rõ “ Phát triển đội ngũ giáo viên đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục ” { 8, tr 13}
- Dự thảo lần thứ 15 Chiến lược phát triển Giáo dục Việt Nam 2009 –
Trang 10trong số các giải pháp mang tính đột phá trong giai đoạn từ nay đến năm 2020” {7, tr 16}
- Năm 2006, Bộ LĐ TBXH đã phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới Trường Cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm
2020 đã chỉ rõ: “Phát triển ĐNGV đủ về số lượng có phẩm chất đạo đức, đạt chuẩn về trình độ; đến năm 2010 đảm bảo tỷ lệ giáo viên/học sinh đạt khoảng 1/20, có 100% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo, 10% giáo viên có trình độ sau đại học; đến năm 2020: 30% giaó viên có trình độ sau đại học”{2,tr4}
- Để giáo dục và Đào tạo góp phần quan trọng phát triển nguồn nhân lực, Đại hội XI đề ra quan điểm: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục và đào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sông, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lạp nghiệp Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học”
- Với những quan điểm trên, nhằm biến mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước thành hiện thực, một trong những khâu then chốt là xây dựng, phát triển tốt đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ; đây không chỉ là nhiệm vụ mang tính cấp thiết trước mắt mà còn là nhiệm vụ chiến lược lâu dài của tất cả các cơ sở giáo dục đào tạo trong hệ thống giáo dục đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và lĩnh vực nghề nghiệp nói riêng
- Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc (tiền thân là trung tâm nghiệp vụ xây dựng là đơn vị trực thuộc Sở xây dựng được thành lập từ năm
1998 tại đồi son Thị xã Vĩnh yên)
- Tháng 5 năm 1999 chuyển thành Trường Đào tạo nghề Vĩnh phúc trực thuộc vào Sở LĐTBXH
- Tháng 1 năm 2007 Trường được nâng cấp lên thành Trường Trung cấp
Trang 11nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
- Tháng 12 năm 2007 Bộ LĐTBXH đã có Quyết định thành lập Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc trực thuộc vào UBND tỉnh trên cơ sở đó Nhà trường sẽ thực hiện chuyển từ hình thức Đào tạo: hệ dài hạn, ngắn hạn sang đào tạo theo 3 cấp trình độ: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề
- Mặc dù đã được nâng cấp Trường Cao đẳng nghề, song thực trạng số lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên, đặc biệt là công tác phát triển đội ngũ giáo viên của Trường còn nhiều bất cập; thể hiện rõ nhất là: đội ngũ giáo viên dạy nghề của Trường còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng và cơ cấu chưa hợp lý,
ở một số nghề chưa có giáo viên đầu đàn, thiếu giáo viên có trình độ và tay nghề giỏi; đại đa số giáo viên hoặc là chỉ dạy được lý thuyết hoặc là chỉ dạy được thực hành, số giáo viên có khả năng dạy tích hợp cả lý thuyết và thực hành không nhiều Trong vòng 5 năm trở lại đây giáo viên của Trường ít được bồi dưỡng nâng cao, ít được tiếp cận với kỹ thuật, công nghệ tiên tiến Nhìn chung đối chiếu những quy định của Luật dạy nghề và điều lệ Trường Cao đẳng nghề
số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên hiện tại của Trường chưa đáp ứng được những yêu cầu về chuẩn đội ngũ giáo viên của một Trường Cao đẳng nghề
- Hiện nay đội ngũ CBGV - NV của Trường là 220 người, trong đó có
165 giáo viên cơ hữu theo trình độ đào tạo Chính vì vậy, để đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển dạy nghề, đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề đến năm 2020 đảm bảo chất lượng,
số lượng, đồng bộ về cơ cấu ngành nghề đào tạo, đạt chuẩn về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng nghề vững vàng, việc bồi dưỡng giáo viên nghề góp hiệu quả là nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục và đào tạo nước ta
- Nhiệm vụ đặt ra cho công tác đào tạo nghề những trách nhiệm nặng nề, trong đó có trách nhiệm xây dựng nguồn nhân lực cho CNH – HĐH, đào tạo được đội ngũ nhân lực có trình độ cao, nắm vững và ứng dụng các trí thức trong thực tiễn, đổi mới và chuyển giao công nghệ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp hóa
Trang 12ta phải xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề có tâm huyết, trách nhiệm, có năng lực đáp ứng với nhu cầu đào tạo, trước những yêu cầu cao của
xã hội, của sự nghiệp hóa – công nghiệp hóa đất nước, họ lại có những điểm không đồng đều trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng nghề, khả năng nghiên cứu còn yếu
- Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc được thành lập hơn 10 năm nay Trong quá trình hình thành và phát triển, trường đã có được những thành tích đáng kể, đã tạo được nhiều công nhân, kỹ thuật viên của các ngành
Cơ khí, Động lực, Điện – Điện tử, Tin học, Kinh tế - Xây dựng góp phần đáng
kể vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhà trường có nhiệm
vụ phải xây dựng một đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, có trình độ tay nghề, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, sáng tạo và làm chủ trên mọi lĩnh vực công tác Với lý do như vậy việc bồi dưỡng và nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên của Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc là tất yếu khách quan và cấp thiết vì vậy việc nghiên cứu đề tài “ Các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc” là cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên các Trường Cao đẳng nghề
3.1.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
3.1.3 Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 13- Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Thu thập, phân tích và tổng hợp các văn bản, tư liệu để từ đó xây dựng cơ
sở lý luận cho việc nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Thu thập số liệu về phát triển
ĐNGV dạy nghề của Trường qua một số giai đoạn để rút kinh nghiệm, từ đó đề xuất những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp mmột số cán bộ, giáo viên
ở Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc để lấy ý kiến về thực trạng phát triển ĐNGV dạy nghề của trường
- Phương pháp điều tra: Khảo sát bằng phiếu điều tra, phiếu hỏi
- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động quản lý đào tạo nói
chung và phát triển ĐNGV dạy nghề nói riêng (từ khoa đến toàn trường), làm cơ
sở cho việc đánh giá thực trạng ĐNGV của Trường
5.3 Phương pháp thống kê xử lý số liệu:
Xử lý thông tin đã thu thập được thông qua việc sàng lọc thông tin, xem xét độ tin cậy của thông tin
Trang 146 Dự kiến cấu chúc luận văn: gồm các phần sau:
Trang 15CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Thực tiễn giáo dục ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã khẳng định một trong những điều kiện cơ bản nhất để nâng cao chất lượng giáo dục là b ả o đ ả m chất lượng của GV Hơn nữa, s ự cộng tác gi ữa GV và tính xã hội, tập thể trong lao đ ộng sư phạm đã được khẳng định như một đặc tính của nghề dạy học trong xã hội hiện đại Vì thế, vấn
đề xây dựng và phát triển ĐNGV t r o n g m ỗ i đ ơ n v ị n h à t r ư ờ n g , c ơ
s ở đ à o t ạ o đã sớm được đề cập trong các nghiên cứu lý luận nhằm chỉ đạo thực tiễn hoạt động giáo dục Các kết quả nghiên cứu ngày càng làm phong phú thêm kho tàng lý luận về xây dựng và phát triển ĐNGV Đặc biệt, từ những
năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, khi các khái niệm “vốn con người” và
“nguồn lực con người” xuất hiện và thịnh hành trên toàn thế giới (xuất hiện
cuối thập niên 60 bởi nhà kinh tế học người Mỹ Theodor Schoulz, sau đó thịnh hành vào những năm 70, 80 với sự phát triển tiếp nối của nhà kinh tế người Mỹ nhận giải Nobel kinh tế năm 1992 Gary Backer [4]), dường như mọi nghiên cứu đều hướng về vấn đề “phát triển nguồn nhân lực” Con người được khẳng định
là vốn quý của quốc gia: “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, mạnh khỏe và sáng tạo”
Từ đó, vấn đề phát triển ĐNGV được giải quyết với tư cách là phát triển nguồn
nhân lực của một ngành, một lĩnh vực
Ở Việt Nam, việc vận dụng các quan điểm chỉ đạo của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, kết hợp với kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của thế giới nhằm làm sáng tỏ những vấn đề
Trang 16phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực như: “Quản trị nhân sự” [30];
“Phát triển nguồn lực giáo dục đại học Việt Nam” [14]; “Một số suy nghĩ về quản lý đội ngũ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học” [51], “Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn lực” [44] Mỗi
công trình nghiên cứu đề cập đến những phía cạnh khác nhau, nhưng đều nhấn mạnh một điểm là: khẳng định vai trò của nguồn nhân lực trong sự phát triển XH; thống nhất cơ bản với những nghiên cứu của thế giới về nội dung quản
lý, về phát triển nguồn nhân lực và đề xuất sự vận dụng với những giải pháp rất sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam
Ở những thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX, đã có những công trình nghiên cứu
về lý luận giáo dục; xuất hiện ngày càng nhiều các bài viết đăng trên các tạp chí, tập san, báo ngành Nhưng vấn đề lý luận về khoa học quản lý giáo dục, trong đó có quản lý phát triển ĐNGV chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống Trong giai đoạn này có một số tác giả đề cập đến như: Phạm Minh Hạc
(1986, Một số vấn đề về Giáo dục và Khoa học giáo dục, NXB Giáo dục); Nguyễn Kỳ (1987, Mấy vấn đề về quản lý giáo dục, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 34); Đinh Quang Báo (2005, Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, NXB Giáo dục);
Trong những năm gần đây, ngoài những công trình nghiên cứu nêu trên, những luận văn thạc sĩ gần đây được công bố cũng đã đề xuất được những giải pháp khả thi về quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên ở từng cấp
học, bậc học, tại những địa bàn cụ thể như: “Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng đến năm 2010” (2002) của Dương Đức Hùng,“Thực trạng và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giảng viên trong Đại học quốc gia Hà Nội” (2002) của Phạm Văn Thuần, “Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Phú Yên”(2006) của Lê Đạt Sơn, v.v
Như vậy, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên hiện nay đã thu hút
Trang 17được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học Các công trình nghiên cứu đã đạt những thành tựu ban đầu trong việc góp phần cải tiến, hoàn thiện hơn công tác quản lý giáo dục của đất nước và của từng cơ sở giáo dục cụ thể Tuy nhiên, vấn đề quản lý phát triển ĐNGV dạy nghề tại các trường dạy nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc vẫn chưa được quan tâm thực hiện nghiên cứu đầy đủ, đặc biệt là ở trường CĐN Việt - Đức Vĩnh Phúc Đó chính là nội dung chính mà đề tài luận văn này cần được nghiên cứu để làm sáng tỏ.
1.2 Trường Cao đẳng nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo dục nghề nghiệp, theo nghĩa rộng, bao gồm việc đào tạo các nghề trong đó có cả các nghề phi sản xuất và ở mọi bậc đào tạo kể cả đại học Theo nghĩa hẹp, đào tạo nghề nói đến đào tạo cán bộ cho những nghề kỹ thuật sản xuất Còn thuật ngữ “giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp” (đào tạo nghề) thuộc hệ thống đào tạo những công nhân lành nghề Nội dung quan trọng nhất là việc dạy thực hành (dạy sản xuất) Đào tạo nghề là quá trình hoạt động có mục đích nhằm hình thành và phát triển hệ thống những kiến thức, kỹ năng, thái độ để gúp người học có năng lực hành nghề và thích ứng với thị trường lao động
Theo quy định tại Chương II Luật giáo dục năm 2005, Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm 4 loại hình giáo dục sau: Giáo dục mầm non; Giáo dục phổ thông (gồm: Giáo dục tiểu học, Giáo dục trung học cơ sở, Giáo dục trung học phổ thông); Giáo dục nghề nghiệp (gồm: trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề); Giáo dục đại học (gồm: Đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ
và tiến sĩ)
Theo Luật Giáo dục hiện hành, giáo dục nghề nghiệp bao gồm TCCN và đào tạo nghề với ba trình độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng Như vậy hệ thống giáo dục nghề nghiệp của ta có hai loại trường trung cấp và hai loại trường cao đẳng với mục tiêu đào tạo gần như nhau Về quản lý hệ thống, lại có tới hai cơ quan
Trang 18ngành và các địa phương đều quản lý trực tiếp một số trường trực thuộc
Trường CĐN là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, có mục tiêu đào tạo công nhân kỹ thuật trình độ cao đẳng và trung cấp nghề Với bằng cao đẳng nghề hay trung cấp nghề, học sinh có thể ra hành nghề ngày hoặc có thể thi vào các trường đại học có chuyên ngành đào tạo tương ứng
Theo Điều 6 và Điều 7 của Điều lệ trường CĐN quy định nhiệm vụ và quyền hạn trường CĐN như sau:
- Nhiệm vụ:
+ Tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động
+ Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo
+ Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề
+ Tổ chức các hoạt động dạy và học; thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ LĐ, TB&XH
+ Tuyển dụng, quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên của trường
đủ về số lượng; phù hợp với ngành nghề, quy mô và trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật
+ Tổ chức NCKH; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; thực hiện sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khoa học, kỹ thuật theo quy định của pháp luật
+ Tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễn phí cho người học nghề
+ Tổ chức cho người học nghề tham quan, thực tập tại doanh nghiệp + Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề
Trang 19+ Tổ chức cho giáo viên, cán bộ, nhân viên và người học nghề tham gia các hoạt động xã hội
+ Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy nghề, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào dạy nghề và hoạt động tài chính
+ Đưa nội dung giảng dạy về ngôn ngữ, phong tục tập quán, pháp luật có liên quan của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật có liên quan của Việt Nam vào chương trình dạy nghề khi tổ chức dạy nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội
+ Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính của trường theo quy định của pháp luật
+ Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
- Quyền hạn:
+ Được chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường phù hợp với chiến lược phát triển dạy nghề và quy hoạch phát triển mạng lưới các trường cao đẳng nghề
+ Được huy động, nhận tài trợ, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động dạy nghề
+ Quyết định thành lập các đơn vị trực thuộc trường theo cơ cấu tổ chức
đã được phê duyệt trong Điều lệ của trường; quyết định bổ nhiệm các chức vụ
từ cấp trưởng phòng, khoa và tương đương trở xuống
+ Được thành lập doanh nghiệp và tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật
+ Phối hợp với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong hoạt động dạy nghề về lập kế hoạch dạy nghề, xây dựng chương trình, giáo trình dạy nghề, tổ chức thực tập nghề Liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh
tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao
Trang 20+ Sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của trường, chi cho các hoạt động dạy nghề và bổ sung nguồn tài chính của trường
+ Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất; được hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao theo đơn đặt hàng; được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng theo quy định của pháp luật
+ Thực hiện các quyền tự chủ khác theo quy định của pháp luật
1.3 Khái niệm cơ bản về phát triển đội ngũ giáo viên
1.3.1 Giáo viên và đội ngũ giáo viên
a Giáo viên
Để hiểu một cách thông thường thì giáo viên là những người dạy học, Do
đó khái niệm được dùng phổ biến trong đời sống xã hội và trong các văn bản pháp quy của Nhà nước Một số khái niệm liên quan đến giáo viên được định nghĩa như sau:
- Giáo viên: Là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương
- Giảng viên: Là người làm công tác giảng dạy ở bậc đại học hoặc cao đẳng
Như vậy có thể hiểu “Giáo viên” là tên gọi chung của tất cả mọi người làm công tác giảng dạy ở các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Luật giáo dục ở nước ta đã có một chương về Nhà giáo, trong đó Nhà giáo
là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác Nhà giáo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ( bao gồm THCN và dạy nghề) được gọi là Giáo viên Nhà giáo ở các cơ sở giáo dục Cao đẳng và Đại học được gọi là giảng viên {19}
b Đội ngũ giáo viên
Khi đề cập đến khái niệm đội ngũ GV, một số tác giả nước ngoài đã nêu lên quan niệm: “Đội ngũ GV là những chuyên gia trong lĩnh vực GD, họ nắm tri thức và hiểu biết dạy học và GD như thế nào và có khả năng cống hiến toàn
Trang 21bộ tài năng và sức lực của họ cho GD” [44]
Có thể hiểu: Đội ngũ GV là tập hợp những người làm nghề dạy học được
tổ chức thành một tập thể sư phạm, cùng chung lý tưởng, mục đích, có nhiệm vụ thực hiện mục tiêu GD đã được đề ra Tập thể này làm việc theo kế hoạch thống nhất và gắn bó với nhau thông qua lợi ích vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của pháp luật và được hưởng quyền lợi theo Luật Giáo dục và các luật khác được Nhà nước quy định
Như vậy, đội ngũ GV không phải là một tập hợp thuần túy những GV là
một tập thể sư phạm có tổ chức, có kỷ cương chặt chẽ, có cơ cấu đồng bộ Mỗi
thành viên trong đó phải đáp ứng những yêu cầu nhất định về chuyên môn, năng lực, phẩm chất theo luật định Việc quản lý đội ngũ GV nếu có hiệu quả sẽ làm tăng thêm sức mạnh của đội ngũ này trong hoạt động đạt đến mục tiêu của
tổ chức
Chất lượng của GV quyết định chất lượng giáo dục Khi giải bài toán chất lượng đội ngũ GV, không thể dùng phép cộng toán học chất lượng của từng giảng viên mà phải chỉ ra được những yếu tố quyết định trên quan điểm hài hòa giữa lượng và chất Lượng thể hiện ở quy mô, số lượng, cơ cấu của đội ngũ GV; chất được thể hiện ở khả năng chuyển hóa sức mạnh của đội ngũ
GV thành chất lượng giáo dục Sự chuyển hóa này chịu sự chi phối mạnh mẽ của công tác quản lý và các quan điểm của các nhà QLGD
Một đội ngũ GV mạnh phải đảm bảo: đủ số lượng, chuẩn về trình độ đào tạo, đồng bộ về cơ cấu, được sắp xếp hợp lý Trong đó, mọi GV đều phải có phẩm chất tốt; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ giỏi; sáng tạo, nhạy bén; có thái độ tích cực với nghề nghiệp; tinh thần trách nhiệm cao với thế hệ trẻ; có ý chí hoài bảo vươn lên… Để tạo ra sức mạnh của đội ngũ, ngoài sự nỗ lực của từng giảng viên, nhà quản lý phải biết tác động khôn khéo để phát huy tiềm
Trang 22Tóm lại, có thể nói chất lượng của đội ngũ GV là sự phản ánh trung thực chất lượng công tác quản lý của nhà quản lý
c Đội ngũ giảng viên cao đẳng nghề
Theo Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH ngày 29 tháng 9 năm 2010
của Bộ LĐ, TB&XH :“Giáo viên, giảng viên dạy nghề” là giáo viên dạy trình
độ sơ cấp nghề (gọi là giáo viên sơ cấp nghề), giáo viên dạy trình độ trung cấp nghề (gọi là giáo viên trung cấp nghề), giáo viên, giảng viên dạy trình độ cao đẳng nghề (gọi là giáo viên, giảng viên cao đẳng nghề)
Chức năng, nhiệm vụ của giảng viên dạy nghề:
Đội ngũ giảng viên dạy nghề trường cao đẳng nghề bao gồm những người trực tiếp giảng dạy và quản lý giáo dục Giảng viên trong trường cao đẳng, đại học được xếp ở ba ngạch sau: giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp Với mỗi ngạch đều có những qui định cụ thể về tiêu chuẩn nghiệp vụ riêng
Thông tư số 09/2008/TT-BLĐTBXH ngày 27/6/2008 của Bộ Lao Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn chế độ làm việc của giảng viên dạy
động-nghề quy định nhiệm vụ của giảng viên dạy động-nghề như sau:
+ Chuẩn bị giảng dạy: soạn giáo án, lập đề cương bài giảng, chuẩn bị
tài liệu, trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy mô đun, môn học được phân
công giảng dạy;
+ Giảng dạy mô-đun, môn học được phân công theo kế hoạch và quy định
của chương trình;
+ Hướng dẫn thực tập, thực tập kết hợp với lao động sản xuất; luyện thi
cho học sinh, sinh viên giỏi nghề tham gia Hội thi tay nghề các cấp;
+ Đánh giá kết quả học tập của học sinh, sinh viên: soạn đề thi, kiểm tra; coi thi, kiểm tra, đánh giá kết quả; chấm thi tuyển sinh, chấm thi tốt nghiệp,
đánh giá kết quả nghiên cứu của sinh viên;
Trang 23+ Biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy Góp ý kiến xây dựng chương
trình, nội dung môn học, mô-đun được phân công giảng dạy;
+ Tham gia thiết kế, xây dựng phòng học chuyên môn; thiết kế, cải tiến,
tự làm đồ dùng, trang thiết bị dạy nghề
+ Tổ chức các hoạt động giáo dục và rèn luyện học sinh, sinh viên
+ Học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ; dự giờ, trao đổi kinh nghiệm, cải
tiến phương pháp giảng dạy; tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ
+ Tham gia bồi dưỡng giáo viên theo yêu cầu phát triển chuyên môn,
nghiệp vụ của trường, khoa, bộ môn
+ Nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hoặc sáng kiến, cải tiến kỹ thuật vào dạy nghề và thực tiễn sản xuất Hướng dẫn sinh
viên tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học
+ Tham gia quản lý công tác đào tạo
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và yêu cầu của nhà trường
- Một số quy định chuẩn giảng viên dạy nghề: Quy định chuẩn GV dạy
nghề được hướng dẫn tại Điều 28 của Điều lệ trường CĐN và Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH ngày 29 tháng 9 năm 2010 của của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Quy định chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề bao gồm các tiêu chuẩn về như sau: Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; Lý lịch bản thân rõ ràng; Trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề: Giáo viên dạy lý thuyết trình độ cao đẳng nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
Trường hợp giáo viên dạy nghề không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư
Trang 24dạy nghề;
- Đặc điểm sư phạm nghề và năng lực sư phạm kỹ thuật nghề nghiệp:
Lao động sư phạm dạy nghề có mục đích đào tạo công nhân, chuẩn bị cho thế hệ trẻ những phẩm chất và năng lực cần thiết để gia nhập vào lực lượng lao động có kỹ thuật, có trình độ tay nghề, nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội ở những giai đoạn nhất định của sự phát triển đất nước Nhờ có đào tạo nghề mà
có thể đào huấn cho xã hội những lớp người công nhân lao động mới có phẩm chất và năng lực nghề nghiệp, có trình độ, tay nghề vững vàng góp phần cho sự nghiệp xây dựng đất nước
b Phát triển đội ngũ giáo viên
* khái niệm:
Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề là nhằm mục đích tăng cường hơn nữa đến sự phát triển toàn diện của người giáo viên trong hoạt động nghề nghiệp Nói cách khác là phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề là xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảon về chất lượng, đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước và ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, nhằm thực hiện có chất lượng
kế hoạch và mục tiêu
Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề là hệ thống các hoạt động (từ khâu xây dựng kế hoạch: tuyển dụng, bố trí sử dụng hợp lý, kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và thực hiện chính sách tạo động lực cho đội ngũ giáo viên dạy nghề ) nhằm chuẩn bị và cung cấp lực lượng giáo viên dạy nghề tham gia vào quá trình đào tạo đáp ứng yêu cầu của cơ sở dạy nghề phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển trong từng giai đoạn Công tác phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề cần được thực hiện theo kế hoạch cụ thể, tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ
từ các bộ phận đến lãnh đạo cao nhất trong đơn vị và được đánh giá định kỳ, thường xuyên để điều chỉnh kịp thời khi cần thiết
Trang 25Trong một cơ sở dạy nghề, sự phát triển của từng cá nhân giáo viên có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi để cho cá nhân giáo viên dạy nmghề phát triển tốt hơn
Mục tiêu của phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề là đảm bảo một đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của giảng dạy; huy động được khả năng làm việc tốt nhất của mỗi giáo viên, kích thích họ nâng cao trình độ và làm cho họ hài lòng, yên tâm công tác Tất cả các quyết định phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề đều có tác động đến giữa lãnh đạo và cá nhân thành viên của cơ sở đào tạo, làm cho nguồn lực
đó tăng lên cả về số lường và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của đơn vị Có thể khảng định vai trò của công tác phát triển đội ngũ giáo viên trong một cơ cở dạy nghề là rất quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, việc phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề phải chuyển từ chỗ bị động, lệ thuộc sang chủ động, bình đẳng
d Các mô hình phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
- Mô hình phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề từ trên xuống
Trong mô hình này, người quản lý hay người lãnh đạo của cơ sở dạy nghề ( Ban giám hiệu nhà trường) được xem như người chịu trách nhiệm chính trong mọi việc như xác định nhu cầu, thiết kế thực hiện và đánh giá các hoạt động phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề trên cơ sở chương trình, kế hoạch của nhà trường nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy nghề Theo mô hình này thì người giáo viên dạy nghề có vai tro tương dối thụ động trong việc đề xuất các nhu cầu phát triển của mình, cùng với nó, khả năng tự bồi dưỡng sẽ bị mất dần
Mô hình trên được xây dựng dựng trên quan điểm coi việc phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề là một trong những nhiệm vụ, là trách nhiệm của lãnh đạo nhà trường; các kế họach, chính sách phát triển được áp đặt từ trên xuống, không chú ý tới yêu cầu và lợi ích của cá nhân mội giáo viên Với mô hình quản
lý này khó có thể đem lại hiệu quả trong công tác phát triển giáo viên trong cơ
Trang 26- Mô hình phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề kiểu từ dưới lên:
Theo mô hình này thì trách nhiệm trong công tác phát triển ĐNGV dạy nghề thuộc về cá nhân hoặc tập thể giáo viên trên cơ sở quan điểm: Mỗi cá nhân giáo viên dạy nghề là người hiểu rõ hơn ai hết về điểm mạnh, điểm yếu và các nhu cầu của bản thân; vì vậy họ có thể xác định được các yêu cầu về phát triển nghề nghiệp và bồi dưỡng cá nhân để được hoàn thiện hơn
Mô hình này mang lại hiệu quả cao vì nó thúc đẩy được cá nhân giáo viên tham gia vào các hoạt động phát triển đội ngũ giáo viên và nó rất phù hợp với nhu cầu mỗi cá nhân; tuy nhiên ở mô hình này đòi hỏi mỗi giáo viên dạy nghề phải thực sự có ý thức gắn bó nhà trường, có trách nhiệm trong công tác phát triển và có động cơ phấn đấu thực sự; bởi vì công tác phát triển đội ngũ là do chính cá nhân giáo viên khởi xướng, cho nên sự thành công hay thất bại phụ thuộc vào chính bản thân họ
Như vậy mô hình quản lý kiểu từ dưới lên cũng chưa phải là mô hình phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề hiệu quả nhất mà chúng ta mong đợi
- Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề theo mô hình phức hợp
Mô hình này dựa trên sự hợp tác giữa cơ sở dạy nghề với các cá nhân giáo viên và cả hai phía cùng chịu trách nhiệm đối với công tác phát triển đội ngũ giáo viên Cả hai bên cùng tôn trọng những sáng kiến, nhu cầu, cùng cân nhắc
để các nhu cầu của cá nhân và của nhà trường hòa hợp, hỗ trợ nhau cùng phát triển
Mô hình này được nhiều cơ sở dạy nghề áp dụng; nó luân tạo được sự kết hợp tích cực giữa nhà trường và cá nhân giáo viên dạy nghề khi thực hiện công tác phát triển đội ngũ giáo viên; so với 2 mô hình trên mô hình này đạt được hiệu quả cao hơn
e Các thành tố của quá trình phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
- Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề:
Trang 27Trong xu thế thường xuyên phải đổi mới các loại hình dạy nghề, phù hợp với xu thế phát triển chung trong khu vực và thế giới, đồi hỏi trong các cơ sở dạy nghề phải thường xuyên bổ sung, sắp xếp, bố trí lại nguồn nhân lực (lực lượng giáo viên dạy nghề) trong đơn vị mình theo nguyên tắc đúng người, đúng việc, tạo điều kiện giúp họ thực hiện giúp họ thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hoàn thành nhiệm vụ được giao
Kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề là một công cụ cơ bản của công tác phát triển ĐNGV Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên của một cơ sở dạy nghề là một tiến trình đề ra và thực hiện các công việc về nhân sự
để đảm bảo phát triển số lượng và hoàn thiện cơ cấu đội ngũ giáo viên một cách hợp lý, đáp ứng nhu cầu của đơn vị và làm cơ sở đảm bảo việc bố trí sử dụng giáo viên có hiệu quả
-Phát triển số lượng giáo viên dạy nghề:
Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch chung của cơ sở dạy nghề, người quản lý nhân sự cần thực hiện phân tích công việc trên cơ sở phân chia các hoạt động trong kế hoạch chung thành các nhiệm vụ, công việc, phân việc (Bước công việc) một cách có hệ thống, hợp lý, cụ thể để thực hiện có hiệu quả
- Dựa vào kết quả phân tích công việc, bước công việc và tình hình sử dụng giáo viên dạy nghề thực tế tại các tổ chuyên môn và các khoa, kết hợp với việc xác định các quy mô và loại hình đào tạo trong từng giai đoạn cụ thể, nhà quản lý dự báo số lượng giáo viên dạy nghề cần thiết cho từng bộ phận tham gia vào quá trình đào tạo của từng nghề, từng lĩnh vực chuyên môn trong đơn vị; số lượng giáo viên đã dự báo (cả giáo viên cơ hữu và thỉnh giảng) được nhà quản lý tông hợp và đưa vào kế hoạh phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề của cơ sở dạy nghề; nó được xem như là dữ liệu cơ sơ quan trọng để cơ sở dạy nghề thực hiện các bước tiếp theo như: tuyển dung, bố trí, sắp xếp và sử dụng hợp lý, bồi dưỡng nâng cao chất lượng, hoàn thiện cơ chế, chính sách cho đội ngũ giáo viên dạy nghề
Trang 28Cơ cấu đội ngũ giáo viên dạy nghề phụ thuộc rất nhiều vào số ngành nghề, chuyên ngành đào tạo trong một khoa, một trường (kể cả những ngành, nghề mới được đưa vào đào tạo trong năm học) Ngoài ra có một phần phụ thuộc vào quy mô đào tạo, số lượng học sinh, sinh viên trong một giai đoạn (lưu lượng đào tạo), trong cả một năm học, cũng có khi còn phụ thuộcvào cả giai đoạn phát triển chiến lược của cơ sơ dạy nghề
Cơ cấu đội ngũ giáo viên trong một cơ sở dạy nghề có những đặc điểm,
đó là:
Thứ nhất: Về loại hình: Giáo viên dạy nghề trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp
gồm có; giáo viên dạy lý thuyết, giáo viên dạy thực hành và thời gian qua do đổi mới hình thức đào tạo theo ba cấp trình độ, chương trình dạy nghề chuyển dần
từ chương trình dạng môn học và môđun thì có thêm giáo viên dạy tích hợp giữa
lý thuyết và thực hành
Thứ hai: Về cơ cấu trình độ; trong phạm vi lĩnh vực dạy nghề quy trình trình độ
đào tạo của giáo viên dạy nghề cho từng lĩnh vực đào tạo như: giáo viên đạt trình độ cho dạy lý thuyết, dạy thực hành, dạy tích hợp giữa lý thuyết và thực hành hệ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề
Thứ ba: Cơ cấu tuổi
• Giáo viên mới vào nghề có độ tuổi từ 20 đến 21 tuổi;
• Giáo viên trẻ: tính đến 35 tuổi;
• Giáo viên trung niên: tính đến 45 tuổi;
• Giáo viên cao niên: đến 60 tuổi, nhiều giảng viên là PGS, GS làm việc đến 65 tuổi
Trong một cơ sở dạy nghề nếu xẩy ra mất cân đối về cơ cấu sẽ dẫn đến việc thừa hoặc thiếu giáo viên dạy nghề:
+ Nếu có giáo viên nhưng giáo viên đó không đạt chuẩn, không thể đảm đương được nhiệm vụ giảng dạy do trình độ có hạn, dẫn đến thừa giáo viên (nếu xét ở góc độ số lượng) và thiếu giáo viên (xét theo góc độ chất lượng, trình độ của gaío viên)
Trang 29+ Ở một số cơ sở giáo dục đào tạo do không thể bổ sung ngay, đáp ứng đủ giáo viên theo một cơ cấu hợp lý, dẫn đến thiếu giáo viên trong một bộ phận, trong một nhóm ngành, nghề; song vi kế hoạch, tiến độ đào tạo vẫn phải bố trí đội ngũ giáo viên không đạt chuẩn trình độ để tham gia giảng dạy; điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng không tốt tới chất lượng và hiệu quả đào tạo của trường
Nhằm đảm bảo sự phát triển chung của cơ sở dạy nghề, nhà quản lý cần phải nắm rõ được định hướng phát triển chung của đơn vị, thấy được xu hướng phát triển của những ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới sẽ được mở ra; xác định cho bằng được ngành, nghề mũi nhọn của đơn vị mình; trên cơ sở đó
dự báo được số lượng giáo viên dạy nghề tương ứng với trình độ chuyên môn cần thiết cho từng môn học, môđun, cho từng nghề, từng Tổ bộ môn và Khoa; đánh giá được cơ cấu đội ngũ giáo viên dạy nghề thực tại và dự báo cơ cấu giáo viên sẽ tuyển dụng để có những giải pháp hoàn thiện cơ cấu đội n gũ giáo viên dạy nghề một cách hợp lý trong cơ sở của mình, đáp ứng được chiến lược phát triển chung của Nhà trường theo từng giai đoạn, kể cả ngắn hạn và dài hạn
1.4 Vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên các trường Cao đẳng nghề
1.4.1 Vai trò
Đội ngũ giáo viên là yếu tố hàng đầu, là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo, đảm bảo chất lượng, hiệu quả giáo dục nói chung và quá trình dạy học nói riêng
Sau những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn đánh giá cao công lao
và vai trò của các nhà giáo đối với sự phát triển của sự nghiệp giáo dục đào tạo
và dành nhiều danh hiệu cao quý để tôn vinh cho nhà giáo và nghề dạy học, ban hành nhiều chính sách, chế độ đãi ngộ nhằm nâng cao đời sống cho người giáo viên; luôn khơi dậy và phát huy truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, “uống nước nhớ nguồn” một truyền thống gắn liền với nền văn hóa lâu đời của dân tộc ta
Khi nói tới vai trò của các nhà giáo, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã
khảng định: “Đội ngũ giáo viên là lực lượng cốt cán biến các mục tiêu giáo dục
Trang 30cần phải coi trọng sự nghiệp giáo dục đào tạo và bồi dưỡng thầy giáo, tạo mọi điều kiện thuận lợi để thầy giáo đảm đương được sứ mạnh lịch sử vinh quang đó”{39, tr2}
Trong quá trình dạy học, vai trò của người giáo viên trong các Trường cao đẳng nghề luôn được đề cao, nó được xem như là một chất xúc tác cho sự phát triển năng lực tư duy sáng tạo của người học
Theo quan điểm lý luận dạy học, người giáo viên có 4 vai trò quan trọng
đó là:
Vai trò thứ nhất: “Người thiết kế”
Người thầy giáo là người thiết kế, xây dựng nội dung giảng dạy, tạo ra các tình huống có vấn đề để học sinh tự giác đảm nhận nhiệm vụ học tập
Cũng như những “Kiến trúc sư” xây dựng, trong biên soạn bài giảng người giáo viên cần đặc biệt quan tâm đến sự phụ hợp giữa các mục tiêu của nhà trường, mục tiêu của từng bài học và các quá trình phát triển đang diễn ra trong từng đối tượng người học Nếu người thầy thiết kế được một bài lên lớp, soạn được một nội dung bài giảng trong đó có sử dụng kheo léo các phương pháp với những câu hỏi và bài tập ứng dụng nhằm phát triển trí tưởng tượng, trí tò mò, sự say mê tìm yòi cách mới của người học thì giờ học đó có rất nhiều khả năng thành công; điều này hoàn toàn giống như nhà kiến trúc sư kết hợp ý tưởng kiến trúc với những nguyên tắc thiết kế và tính toán chi tiết, kết cấu công trình để có được một bản vẽ thiết kế đầy đủ thì chắc chắn sẽ thành công lên công trình đẹp
và bền vững
Vai trò thứ hai: “Người tổ chức”
Trong mỗi giờ học, người giáo viên chính là người tổ chức, điều khiển mội hoạt động của học sinh, hướng dẫn cho người học làm việc, hoạt động, tìm tòi phát hiện chân lý khoa học Lớp học phải trở thành một tập thể, một cộng đồng, một tổ chức thu nhỏ; trong đó có sự hợp tác học tập của tất cả các thành viên, sao cho mỗi thành viên được thể hiện, phát huy được trí tuệ, năng lực và trách nhiệm, nhiệt tình, sáng tạo trong học tập, kết hợp hài hòa việc học bạn với
Trang 31học thầy Trong giờ học giáo viên sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tổ chức, khám phá, phát hiện cái mới; tạo cho họ hứng thú say mê, hiểu kỹ, nhớ lâu những trí thức khoa học, có được những kiến thức, hình thành những kỹ năng, thái độ phù hợp với từng mục tiêu, nội dung của bài
Vai trò thứ ba: “Người cổ vũ”
Trong quá trình dạy học, người thầy cần đánh giá cao sức sáng tạo của mỗi người học và tạo mọi điều kiện cổ vũ động viên họ làm nảy sinh những tư duy, sáng tạo mới trong suất quá trình học tập Nếu chỉ thiên về đánh giá hành vi phục tùng người thầy thì người học cảm thấy sự cố gắng tìm tòi, phát hiện cái mới của mình là vô ích; Người học sẽ làm những điều mà người thầy mong muôn và để rơi vào tình trạng thụ động, trái lại người thầy luôn có thái độ cởi
mở, trân trọng sự sáng tạo đó của học sinh thì sẽ tác động khuyến khích các em rất lớn Trong mỗi giờ học, bằng những ánh mắt trìu mếm, nụ cười, cử chỉ khích
lệ, người thầy đã tạo cho các em một tâm lý hưng phấn, thoải mái, yên tâm trong suất quá trình học tập; chính thái độ của người thầy là niềm cổ vũ, động viên, tạo điều kiện cho các em có được thái độ học tập đúng mực, luân tích cực, sáng tạo trong quá trình học tập
Như vậy vai trò cổ vũ của người thầy sẽ là động cơ, kích thích và phát huy được khả năng sáng tạo, tích cực của người học trong thời gian diên ra quá trình dạy học
Vai trò thứ tư: “Người đánh giá”
Chỉ có người thầy mới đánh giá được tầm quan trọng, xác nhận kiến thức học sinh thu nhận được và tổng hợp, phân loại, sắp xếp kiến thức đó thành một chuỗi trí thức của học sinh Thầy giáo phải có đủ trình độ, năng lực để nhận ra cái đọc đáo, đnhs giá đúng trí thực sáng tạo, kỹ năng của học sinh; thông qua việc đánh giá khách quan kết quả học tập sẽ khích lệ, động viên người học, tìm cho họ nhữnh mặt ưu điểm để phát huy và chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục; nếu đánh giá thiếu khách quan, không công bằng sẽ kìm hãn, tạo sự ức
Trang 32chế trong người học, khi đó sẽ tạo ra những tác động tiêu cực cho quá trình học tập
Trong quá trình dạy học, người giáo viên cần xác định rõ vị trí, vai trò của mình, luôn luôn đề cao nhân cách người học, xem việc hoàn thiện nhân cách cho người học là mục tiêu quan trọng trong quá trình dạy học; ngừơi giáo viên cần xem xét nhìn nhận các tình huống cụ thể; tùy từng nội dung bài giảng, môđun bài giảng, đối tượng người học mà coi trọng việc thể hiện hoặc bỏ qua vai trò nào, biết cách phối hợp thể hiện các vai tro trên một cách hợp lý, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học trong nhà trường
1.4.2 Nhiệm vụ của giáo viên các trường cao đẳng nghề
Nhiệm vụ của Nhà giáo được quy định tại điều 72 của luật giáo dục, đó là:
- Giáo dục, giảng dạy theo much tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy
đủ và có trách nhiệm chương trình giáo dục;
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường;
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;
- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình
độ, chính trị, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học
- Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật {14; tr 57}
Trong khi nền giáo dục nước ta đang có những bước tiến, bước chuyển biến thực sự, tham gia vào quá trình hội nhập sâu rộng vào nền giáo dục trong khu vực và toàn thế giới, vai trò cuả người giáo viên đã có sự thay đổi căn bản
so với giai đoạn trước Khi xã hội càng quan tâm và đề cao vai trò của những người làm công tác giáo dục thì đòi hỏi người giáo viên cần không ngừng phấn đấu, học tập, tu dưỡng, và rèn luyện để có nhân cách chuẩn mực, mô phạm, luôn
là những hình ảnh đẹp, tấm gương sáng cho thế hệ noi theo
Trang 33Như vậy: Bên cạch việc không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng cao trình
độ kiến thức chuyên môn, sử dụng thuần thục các phương pháp dạy học mới, người giáo viên phải không ngừng tu dưỡng, ren luyện để hoàn thiện nhân cách của bản thân, đổi mới cách nghĩ, cách dạy và thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh hoạt động của mình nhằm phát huy tốt vai trò, nhiệm vụ của một nhà giáo, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học, đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ mới
1.5 Phát triển đội ngũ giáo viên theo hướng chuẩn hóa
1.5.1 Tiêu chuẩn của giáo viên dạy nghề
- Giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tayu nghề cao;
- Giáo viên dạy lý thuyết trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, có tay nghề cao;
- Giáo viên dạy lý thuyết trình độ cao đẳng nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành gtrở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, có tay nghề cao;
- Trường hợp giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chúng chỉ sư phạm dạy nghề {5, tr 15}
1.5.2 Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề
Để nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên dạy nghề trong một cơ sở dạy nghề, cần thực hiện một số cấp độ học tập: đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng:
Đào tạo là một quá trình dạy và học có tổ chức, theo những mục tiêu, nội dung, chương trình và điều kiẹn nhát định của đơn vị tổ chức đào tạo Đây là quá trình trang bị kiến thức, trình dộ, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, phẩm chất đạo
Trang 34cũng có khả năng trở thành người lao động thực thụ, có kỹ thuật, có kỷ luật, tác phng công nghiệp Sau khi hoàn thành khóa học, người học được cấp bằng, chứng chỉ tuiương ứng
Đào tạo lại: Sau khi đã được đào tạo để có một nghề, một chuyên môn
nhất định, người giáo viên dạy nghề có thể phải tham gia một quá trình đào tạo mới để đạt một trình độ cao hơn, mới về chất, về một nghề hoặc một môn mới
Bồi dưỡng: Là việc bồi bổ, làm tăng thêm trình độ hiện có Khi tham gia
các khoa bồi dưỡng này, người giáo viên dạy nghề sẽ được bồi bổ kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm để làm việc được tốt hơn
Một số hình thức chủ yếu để đào tạo bồi dưỡng ĐNGV dạy nghề, đó là:
- Bồi dưỡng tập trung ngắn hạn chủ yếu trong dịp hè;
- Bồi dưỡng theo chuyên đề tại các trường bồi dưỡng, trường sư phạm;
- Bồi dưỡng theo các dự án trong nước và quốc tế;
- Đào tạo bồi dưỡng khi tham gia các lớp đào tạo chuyền giao công nghệ, khi doanh nghiệp đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh
- Đào tạo nâng cao trình độ trên chuẩn
Việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Mục tiêu cuối cùng của việc đào tạo, bồi dưỡng là nâng caop năng lực của giáo viên dạy nghề trong việc tổ chức dạy học và khơi dậy tiềm năng của người học;
- Việc đào tạo được tiến hành tại nhà trường, trung tâm, đôi khi ở cộng đồng Các cơ sở đào tạo trên phải luôn có trách nhiệm với việc đào tạo, bồi dưỡng đó;
- Việc đào tạo, bồi dưỡng phải trên cơ sở tự nguyện của mỗi giáo viên;
- Cả giáo viên đào tạo và giáo viên được đào tạo bồi dưỡng đều phải nỗ lực trong việc nhận thức, lập kế hoạch và quá trình tiến hành đào tạo, bồi dưỡng;
- Quá trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên bao gồm cả giám sát, kiểm tra, đánh
giá Việc đánh giá phải được tiến hành trước, trong và sau đào tạo, bồi dưỡng
1.5.3 Tuyển và sử dụng giáo viên cao đẳng nghề
* Tuyển dụng, tuyển chọn đội ngũ giáo viên dạy nghề
Trang 35+ Tuyển dụng giáo viên dạy nghề: là cách dùng các biện pháp để thu hút những giáo viên có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng ký nộp đơn tìm việc tại cơ sở dạyn nghề để có nguôn cho bước tuyển chọn đạt được kết quả cao
Việc tuyển dụng giáo viên được tiến hành ngay sau khi phân tích công việc, cơ cấu được nhân sựcủa từng bộ phận và cơ sở đào tạo Các bước tuyển dụngn thư sau:
-Thực hiện giải quyết vấn đề thiếu giáo viên: Tăng thêm giờ làm việc cho những giáo viên hiện có; hợp đồng công việc tạm thời với giáo viên thỉnh giảng
- Tiến hành thông báo đăng tin tuyển dụng trong nội bộ, thông báo đến các cơ sở đào tạo, đến các trung tâm tư vấn giới thiệu việc làm, hoặc đến các cơ
sở đào tạo khác có nguồn giáo viên dư thừa Ngày nay người ta thường đăng tin trên các phương tiện thông tin như báo chí, ti vi, trên Internet
+ Tuyển chọn giáo viên dạy nghề: là quá trình sử dụng hững phương pháp nhằm lựa chọn, quyết định xem trong số những giáo viên được tuyển dụngai? Là người có đủ tiêu chuẩn làm việc trong cơ sở dạy nghề hay không?
Quá trình này được tiến hành theo các bước: tiếp đón , nhận đơn; phỏng vấn sơ khopửi; kiểm tra kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ; trắc nghiệm; khám sức khỏe; xác định danh sách các ứng viên đáp ứng yêu cầu và cuối cùng
là quyết định tuyển dụng chọn chính thức Sau mỗi bước trên, ứng viên nào không đáp ứng yêu cầu thì khước từ ngay, như thế sẽ tốt cho cả cơ sở dạy nghề
và ứng viên
Cần chuẩn bị và thực hiện tuyển chọn theo các bước sau:
- Công tác chuẩn bị tuyển chọn: Trước hết cần xác định được những tiêu
chuẩn, các phương pháp, kỹ thuật tuyển chọn; người làm công tác tuyển chọn cần được tập huấn về lý thuyết nhất là các kiến thức, kỹ năng, thái độ để tuyển chọn; cần rất quan tâm đến việc làm trắc nghiệm; tuân thủ những yêu cầu đảm
Trang 36bảo việc tuyển chọn được khách quan, công băng với mọi người tham gia tuyên chọn
- Các phương pháp tuyển chọn:
+ Phỏng vấn sơ khởi: Chú ý quan sát ứng viên, tìm hiểu xem hoàn cảnh,
khả năng, nguyện vọng và thái độ của họ có phù hợp với đơn vị không,
+ Trắc nghiệm: thông thường phải kết hợp với các chuyên gia để thực
hiện trắc nghiệm về kiến thức chung (văn hóa, kiến thức liên quan đến ngành nghề); trắc nghiệm về quá trình tâm lý như tri giác (khả năng quan sát), trí nhớ (hình tượng,lôgic), sự chú ý (tập chung, di chuyển ); trắc nghiệm về nghiệp vụ
sư phạm
Sau khi thực hiện tuyển dụng, tuyển chọn giáo viên dạy nghề, ta cần quan tâm tới việc tạo điều kiện để những giáo viên mới đó sơm thích ứng với môi trường làm việc; giúp họ có được những chuyển biến, những thay đổi nhất định
để phù hợp với hoàn cảnh, môi trường sống, điều kiện làm việc của cơ sở dạy nghề Điều này cũng giúp họ vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu, nhanh chóng hòa nhập với môi trường mới; có được những thông tin về công việc, về
tổ chức để định hướng cho các hoạt động và công việc được thuận lợi tránh được những sai sót không cần thiết
Để thực hiện được những yêu cầu trên cần thực hiện bổ sung các bước công việc sau:
- Giới thiệu chung về cơ sở dạy nghề của mình: Giúp họ hiểu rõ hơn về cơ
sở gắn nơi họ sẽ gắn bó và công tác sau này; những thông tin cần giới thiệu bao gồm cả thuận lợi và khó khăn, những định hướng phát triển của cơ sơ dạy nghề, những thông tin liên quan đến bộ phận họ sẽ được Nhà trường bố trí vào giảng dạy
- Làm quên về chuyên môn: giới thiệu, làm quên về cơ cấu tổ chức, quá
trình và phương hướng hoạt động của tổ, nhóm, làm quen với công viẹc của tổ chuyênm môn, với hệ thống công việc chuyên môn Bước công việc này cần phân công một giáo viên có kinh nghiệm giúp đỡ
Trang 37- Tập sự: Cần phân công cho giáo viên dạy nghề mới đi dự giờ (kiến tập)
đọc sách, theo dõi, ghi chép, báo cáo, soạn gaío án thử Những việc này cũng cần có một số giáo viên có kinh nghiệm kèm cặp, theo dõi, giúp đỡ
- Giai đoạn làm việc độc lập: Giáo viên mới làm việc độc lập thực sự, dần
dần sẽ thích ứng với công việc cụ thể, có thể tự chủ trong công việc tiến tới có những sáng tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao
* Bố trí sắp sếp và sử dụng đội nghũ giáo viên dạy nghề:
Đây là công việc cần được các nhà quản lý trong cơ sở dạy nghề quan tâm thường xuyên, bởi nó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của công tác dạy nghề trong trường
+ Việc bố trí và sắp xếp đội ngũ giáo viên dạy nghề:
Bố trí sắp xếp đội ngũ giáo viên dạyn nghề phải dựa trên cơ cấu ngành nghề, số lượng học sinh vào học, số lớp học sinh taị các tổ chuyên môn, khoa nghề
Bên cạnh đó khi tiến hành bố trí sắp xếp đội ngũ giáo viên dạy nghề vào quá trình giảng dạy trong toàn trường phải chú ý đến kế hoạch tổng thể của trường, đặc biệt là kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cho giáo viên dạy nghề, sao cho vừa không làm ảnh hưởng đến quá trình đào tạo trong trường, vừa không ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng nâng cao cho đội ngũ giáo viên Trong một tổ chuyên môn, một bộ phận cần bố trí sắp xếp những giáo viên dạy nghề mới tuyển dụng xen lẫn với những giáo viên có kinh nghiệm kem cặp, giúp đỡ
Khi xẩy ra mất cân đối về số lượng và cơ cấu giáo viên dạy nghề trong cơ
sở đào tạo, cần huy động một đội ngũ giáo viên đa dạng vào quá trình giảng dạy bằng cách bố trí sắp xếp đội ngũ giáo viên cơ hữu (kể cả giáo viên kiêm nhiệm) kết hợp với huy động giáo viên thỉnh giảng từ các cơ sở đào tạo hoặc các đơn vị sản xuất khác
+ Việc sử dụng đội ngũ giáo viên dạy nghề:
- Đối với những giáo viên dạy nghề mới tuyển dụng:
Trang 38Sau khi hoàn thành giai đoạn tập sự và giai đoạn làm việc độc lập ban đầu, cần bố trí họ tham gia giảng dạy dưới sự theo dõi, giúp đỡ của một số giáo viên dạy nghề có kinh nghiệm trong khoảng thời gian từ 6 đến 1 năm
Định kỳ cần cần yêu cầu những giáo viên này báo cáo kết quả thực hiện kèm theo những khó khăn, vướng mắc, những đề xuất kiến nghị của họ đối với lãnh đạo trường, khó khăn, vướng mắc, những đề xuất kiến nghị của họ đối với lãnh đạo trường, với đồng nghiệp để có cơ sở xem xét khả năng và chiều hướng phát triển của giáo viên trong tươnmg lai
- Đối với những giáo viên đã làm việc lâu năm:
Đầy là lực lượng lao động chính trong các cơ sở dạy nghề; trong từng thời
kỳ, từng giai đoạn phát triển của trường, cần phải phân loại ra thành một số nhóm: bố trí công việc cho từng nhóm phù hợp với nhiệm vụ của từng kghoa;
+ Nhóm thứ nhất: có thể bố trí chuyên thực hiện giảng dạy các ngành
nghề mũi nhọn, những ngành nghề đặc thù, số giáo viên dạy nghề này sẽ bồi dưỡng để họ trở thành lực lượng đầu đàn, nòng cốt trong trường;
+ Nhóm thứ hai: sẽ tham gia giảng dạy ở nhiều ngành nghề, có thể giai
đoạn này giảng dạy ở bộ phận này, thời gian sau sẽ bố trí ở bộ phận khác, lực lượng này sẽ là lực lượng chủ yếu, đảm đương phần lớn giờ giảng của các lớp trong trường;
+ Nhóm thứ ba: Nhóm này có năng lực còn hạn chế, chỉ có thể bố trí
giảng dạy ở một số ngành nghề, ở một số môn không quá khó Phần lớn những giáo viên dạy n ghề thuộc nhóm này sẻ phải cử đi học tập nâng cao trình độ hoặc tham gia các lớp do giáo viên có kinh nghiệm kèm cặp ngay trong trường
1.5.4 Môi trường làm việc của giáo viên
Đối với giáo viên mới nhận công tác tại trường (Những giáo sinh mới tốt nghiệp ra trường hoặc được chuyển từ nơi khác về)
Việc thích ứng môi trường sống diễn ra suất cả cuộc đời của mỗi con người Thích ứng với môi trường làm việc không chỉ đối với giáo viên mới được tuyển dụng vào nghề và còn đối với giáo viên đã nhiều năm trong nghề nhưng
Trang 39mới chuyển đến đơn vị mới Có thể xác định: Thích ứngư với môi trường làm việc là một quá trình có chuyển biến, những thay đổi nhất định để phù hợp với hoàn cảnh, môi trường sống, với điều kiện làm việc của tổ chức
Bởi vậy đối với giáo viên mới được tuyển dụng cần giúp họ nhanh chóng tiếp cận và thích ứng với mối trường làm việc trên các mặt
Giúp giáo viên mới vượt qua qua khó khăn ban đầu, khi giáo viên mới về trường cần được sự quan tâm giúp đỡ để vượt qua khó khăn, mặc cảm bỡ ngỡ ban đầu, nhanh chóng hòa nhập với môi trường mới sẽ tạo ra những ấn tượng tốt, ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý tích cực;
Giúp họ có những thông tin về công việc về tổ chức để định hướng cho các hoạt động và công việc được thuận lợi;
Tiết kiệm thời gian và tránh những sai sót không cần thiết;
Làm tất cả giúp cho giáo viên nhanh chóng và chủ động hòa nhập được với tổ chức
Các giai đoạn của chương trình thích ứng với môi trường làm việc:
Mỗi nhà trường dạy nghề, theo văn hóa tổ chức của mình, có những phương thức giúp giáo viên mới thích ứng khác nhau, tuy nhiên có thể khái quát chung như sau:
Giới thiệu chung về cơ cấu tổ chức trong nhà trưiờng:
+ Tổ chức Đảng (Đảng/Chi bộ)
+ Tổ chức công đoàn
+ Tổ chức Đoàn thanh niên
+ Các tổ chức đoàn thể khác trong trường
- Làm quen về chuyên môn
Giới thiệu làm quen với công việc của tổ chuyên môn chủ yếu là công việc chuyên môn, cơ cấu tổ chức của bộ môn, quá trình và phương hướng hoạt động của nhóm, tổ chuyên môn, nề nếp sinh hoạt nhóm/tổ bộ môn Cần phân công một giáo viên cũ có kinh nghiệm theo dõi giúp đỡ
Trang 40- Tập sự: đối với giáo viên vừa mới nhận công tác tại trường cần đi dự giờ của các đồng nghiệp, đọc sách, tìm hiểu kỹ của tổ, theo dõi ghi chép và báo cáo, soạn giáo án giảng thử Những công việc này cần có giáo viên cũ giàu kinh nghiệm theo dõi, đánh giá giúp đỡ
- Giai đoạn làm việc độc lập: Giáo viên mới làm việc độc lập thực sự, đến khi đó mới có thể gọi là hòa nhập, thích ứng công việc, thì mới có thể chủ động tích cực, tiến tới có những sáng tạo đóng góp cho tổ bộ môn và nhà trường
Đối với các giáo viên đang công tác tại trường: Nhà trường và tổ chức công đoàn lăng nghe và cải thiện điều kiện, từng bước nâng cao đời sống tinh thần của cán bộ giáo viên trong điều kiện có thể của nhà trường
1.5.5 Các chính sách tạo động lực phát triển đội ngũ giáo viên
Cơ sở dạy nghề cần có cơ chế vận dụng hợp lý các quy định về các chế độ lương, thưởng đối với đội ngũ giáo viên dạy nghề nhất là đối với giáo viên có nhiều kinh nghiệm Các quy định về chế độ đãi ngộ, lương, thưởng, xử lý vi phạm phải trên cơ sở các quy định của Nhà nước, của ngành, của cơ quan quản
lý cấp trên và được tập thể cán bộ, giáo viên nhà trường thảo luận thông qua Cần duy trì thực hiện quy chế dân chủ trong đơn vị; tạo môi trường làm việc kỷ luật, dân chủ và đoàn kết
Xây dựng quy chế hỗ trợ về lương, thưởng và điều kiện sinh hoạt khác, nhằm kịp thời khuyến khích, động viên người tốt, việc tốt, kiên quyết xử lý những vi phạm đồng thời xác định trách nhiệm, nghĩa vụ đối với cán bộ, giáo viên được đơn vị cử đi học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ
Xây dưng quy chế, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, giáo viên thuộc những chuyên ngành, vị trí công tác khó tuyển dụng và đối với những nhân tài
để làm việc đạt kết quả cao
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng tới phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
1.6.1 Những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện công nghiệp hóa nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công