1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng lý thuyết hỗn loạn trong việc nghiên cứu tính ổn định của chuổi cung ứng(suuply chain) trong quản lý doanh nghiệp tại vn

150 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA --- NGUYỄN ANH MINH ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT HỖN LOẠN TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA CHUỖI CUNG ỨNG SUPPLY CHAIN TRONG QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP T

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-

NGUYỄN ANH MINH

ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT HỖN LOẠN

TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU

TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA CHUỖI CUNG ỨNG

(SUPPLY CHAIN)

TRONG QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP TẠI VN

(CASE STUDY : CÔNG TY TNHH TM TÍCH AN)

Chuyên ngành : QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP Mã số ngành : 12.00.00

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Tp HỒ CHÍ MINH, tháng 11 năm 2005

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS Bùi Thị Minh Hằng

TS Võ Văn Huy

Cán bộ chấm nhận xét 1 :

Cán bộ chấm nhận xét 2 :

Luận văn được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, Ngày ……… tháng ……… năm 2005

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ và tên học viên : NGUYỄN ANH MINH Phái : NAM Ngày, tháng, năm sinh : 10 – 12 – 1964 Nơi sinh : Sài gòn Chuyên ngành : QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP MSHV : 01703402

TÊN ĐỀ TÀI : Ứng dụng lý thuyết hỗn loạn trong việc nghiên cứu tính ổn định của chuỗi cung ứng (supply chain) trong Quản lý Doanh nghiệp tại VN (Case Study : Công ty TNHH TM Tích An)

II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG : Hoàn thành các nội dung chính sau :

(1) Giới thiệu đề tài

(2) Cơ sở lý thuyết

(3) Mô hình và kết quả mô phỏng

(4) Ứng dụng thực tiễn (case study)

(5) Kết luận

III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : Ngày 20 tháng 01 năm 2005

IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : Ngày 25 tháng 11 năm 2005 V- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : TS Bùi Thị Minh Hằng

TS Võ Văn Huy

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM NGÀNH BỘ MÔN QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

Ngày …… tháng …… năm 200…

Trang 4

i

Xin trân trọng gởi lời cảm ơn đến :

Các Thầy Cô trong Khoa Quản lý Công nghiệp- Trường Đại học Bách

Khoa Thành phố Hồ Chí Minh- những người đã truyền đạt cho Tôi

nhiều kiến thức bổ ích về Quản trị mang tính ứng dụng cao

Tiến sĩ Bùi Thị Minh Hằng, Tiến sĩ Võ Văn Huy-Cán bộ hướng dẫn

đề tài-đã tận tình hướng dẫn phương pháp, đồng thời giúp Tôi định

hướng và tạo điều kiện để Tôi đề đạt Luận văn lên Hội đồng xét duyệt

Các tác giả-Tập thể và cá nhân của những tài liệu tham khảo Tôi đã

sử dụng trong đề tài này đã giúp cho Tôi mở rộng kiến thức, tiết kiệm

thời gian do kiến thức và kinh nghiệm của họ

Lãnh đạo Công ty, các đơn vị liên quan và đồng nghiệp đã hỗ trợ và

cung cấp thông tin cho đề tài

Gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ, hỗ trợ, khuyến khích, động

viên tinh thần để Tôi hoàn thành đề tài này

Tháng 11-2005

Nguyễn Anh Minh

Trang 5

ii

Tóm tắt

Các hệ thống sử dụng trong chuỗi cung ứng từ lâu đã được công nhận là có thể dẫn đến những nhiễu loạn trong nhu cầu và tồn kho khi các đơn đặt hàng di chuyển qua hệ thống Sự không chắc chắn sinh ra có thể làm chậm trễ việc giao hàng, hủy đơn đặt hàng và trông chờ vào sự tăng lượng tồn kho để làm giảm các ảnh hưởng này Bất chấp những nỗ lực tốt nhất của tổ chức nhằm ổn định các động thái đã sinh ra, ngành công nghiệp vẫn phải trãi qua một mức độ cao của sự không chắc chắn Thất bại trong việc giảm đáng kể sự không chắc chắn thông qua các tiếp cận truyền thống có thể được giải thích một phần bởi lý thuyết hỗn loạn Đề tài này xác định sự hỗn loạn tiền định và chứng minh rằng các chuỗi cung ứng có thể biểu lộ một số đặc tính chủ yếu của hệ thống hỗn loạn, cụ thể là : sự hỗn loạn biểu lộ độ nhạy với các điều kiện ban đầu,; có những vùng ổn định; sinh ra các khuôn mẫu; làm mất giá trị của tầm nhìn đơn giản hoá, và làm hỏng sự chính xác của máy vi tính Trong đề tài này, chúng tôi cũng báo cáo về một case study (nghiên cứu tình huống) từ ngành thực phẩm và tập trung vào để phân tích nguyên nhân có liên quan gây ra và kết hợp các biện pháp đối phó với hiện tượng hỗn loạn trong chuỗi cung ứng Đồng thời đề tài cũng bàn đến các áp dụng lý thuyết hỗn loạn vào việc quản lý chuỗi cung ứng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Tóm tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các hình vi

Danh mục các bảng vii

Chương 1 : Mở đầu 01

1.1 Giới thiệu 02

1.2 Cơ sở hình thành đề tài 03

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 04

1.4 Phạm vi của đề tài 04

1.5 Phương pháp nghiên cứu 04

1.6 Bố cục luận văn 05

Chương 2 : Cơ sở lý thuyết 07

2.1 Một số định nghĩa 08

2.2 Lý thuyết hỗn loạn - những gợi ý cho quản lý chuỗi cung ứng 12

2.2.1 Lý thuyết hỗn loạn 12

2.2.2 Lý thuyết hỗn loạn - những gợi ý cho quản lý chuỗi cung ứng 21

2.3 Mô hình hoá chuỗi cung ứng động thái hệ thống 23

2.4 Phương pháp mô phỏng 24

2.5 Phương pháp Case study (nghiên cứu tình huống) 26

Chương 3 : Mô hình và kết quả mô phỏng 33

3.1 Mô hình 34

3.2 Kết quả mô phỏng 36

3.3 Phân tích kết quả mô phỏng 37

3.3.1 Tìm kiếm sự hỗn loạn 37

iii

Trang 7

3.3.2 Loại bỏ sự hỗn loạn 43

3.3.3 Áp dụng quản lý 44

Chương 4 : Ư Ùng dụng thực tiễn (case study) 48

4.1 Chọn tình huống 49

4.2 Mô tả tình huống 51

4.3 Thu thập và phân tích dữ liệu của tình huống 54

4.3.1 Bước 1 54

4.3.2 Bước 2 55

4.3.3 Bước 3 55

4.4 Kết quả phân tích dữ liệu của tình huống 56

4.4.1 Tình huống cho thấy hiện tượng hỗn loạn 56

4.4.2 Các đặc tính của sự hỗn loạn 57

4.4.3 Xác định các nguyên nhân gốc 69

4.4.4 Thăm dò tiềm năng của các biện pháp đối phó được chọn 70 4.5 Bàn luận 72

4.5.1 Hiện tượng hỗn loạn trong chuỗi cung ứng 72

4.5.2 Nguyên nhân gốc của các ảnh hưởng hỗn loạn trong chuỗi cung ứng 73

4.5.3 Các biện pháp đối phó làm giảm bớt sự hỗn loạn trong chuỗi cung ứng 73

4.5.4 Các ứng dụng quản lý 74

Chương 5 : Kết luận 76

5.1 Kết luận 77

5.2 Ý nghĩa của đề tài 78

5.3 Hạn chế của đề tài 77

5.4 Kiến nghị 78

Trang 8

Phụ lục : 80

1 Các phương trình trong mô hình mô phỏng 81

2 Mô hình mô phỏng 85

3 Kết quả mô phỏng 87

4 Bảng tiêu chí lựa chọn đối tượng tham gia phỏng vấn 108

5 Dàn bài phỏng vấn 109

6 Dàn bài hội thảo 111

7 Giản đồ nhân quả về nguyên nhân gốc của ảnh hưởng hỗn loạn 114

8 Danh sách Khách Hàng 115

9 Danh mục hàng hoá 120

10 Danh sách các đối tượng được phỏng vấn 122

11 Biên bản phỏng vấn lãnh đạo thuộc nhóm nhà phân phối 123

12 Biên bản phỏng vấn nhóm nhà bán sỉ và lẻ 129

13 Biên bản hội thảo về các nguyên nhân gây nên sự hỗn loạn trong chuỗi cung ứng và các biện pháp đối phó đã thực hiện 135

Tài liệu tham khảo 137

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Trang

Hình 1 : Mô hình Chuỗi cung ứng phụ gia thực phẩm 33 Hình 2 : Mô hình mô phỏng chuỗi cung ứng phụ gia thực phẩm 34 Hình 3 : Ảnh hưởng của sự thay đổi của các điều kiện đầu vào lên các mức tồn kho 36 Hình 4 : Ảnh hưởng của sự thay đổi của các điều kiện đầu vào lên hàng hóa trên đường về 37 Hình 5 : Ảnh hưởng của sự thay đổi của các điều kiện đầu vào lên đơn hàng bị ùn tắc chưa giải quyết 37 Hình 6 : Ảnh hưởng của sự thay đổi của độ lệch chuẩn nhiễu lên

đơn hàng bị ùn tắc chưa giải quyết 38 Hình 7 : Mô hình Chuỗi cung ứng phụ gia thực phẩm của Công ty

Tích An 51 Hình 8 : Đồ thị mức tồn kho từ tháng 3/2003 đến tháng 10/2005 66

vi

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1 : Tình hình hoạt động của Công ty TNHH TM Tích An 48

Bảng 2 : Chi phí tồn kho phát sinh 57

Bảng 3 : Chi phí xử lý hàng quá hạn sử dụng 59

Bảng 4 : Lượng tồn kho hàng hoá 61

vii

Trang 11

1

Chương 1 Giới thiệu đề tài

1.1 Giới thiệu 1.2 Cơ sở hình thành đề tài 1.3 Mục tiêu

1.4 Phạm vi 1.5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

1.1 Giới thiệu :

Những năm gần đây, một cụm từ khá mới xuất hiện : “supply chain” hay “chuỗi cung ứng” đã trở nên đề tài thu hút khá nhiều người quan tâm nhất là đối với nhiều Doanh nghiệp Việt nam Đây là một công cụ khá hữu hiệu góp nhiều lợi ích cho các Nhà quản lý Doanh nghiệp cải thiện hiệu năng và khả năng đáp ứng của tổ chức của mình Ưu điểm của chuỗi cung ứng là giúp Doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp

Công cụ này đã được vận dụng khá thành công ở các tổ chức kinh doanh trên thế giới (nhất là ở các nước phát triển), khá nhiều Công ty sau khi sử dụng công cụ này đã tăng hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp lên một cách đáng kể Tuy nhiên, khi đưa công cụ này áp dụng vào các công ty ở Việt nam thì gặp khá nhiều trở ngại (rào cản) :

a) Thiếu cơ sở hạ tầng

b) Điều kiện kinh tế xã hội

c) Nhận thức của con người (nhất là cấp lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức)

Chính các rào cản này làm giảm một phần khả năng áp dụng của công cụ này vào thực tế Doanh nghiệp tại Việt nam

Đề tài sẽ đưa ra những bằng chứng về khả năng ứng dụng của công cụ này vào một Doanh nghiệp Việt nam, xem xét về những yếu tố phù hợp hay không phù hợp của mô hình chuỗi cung ứng có sẵn khi áp dụng vào thực tế tại Doanh nghiệp

Trang 13

1.2 Cơ sở hình thành đề tài :

Công ty TNHH TM Tích An được thành lập từ tháng 05 năm 2003 với chức năng : mua bán nguyên liệu và phụ gia trong ngành thực phẩm, thức ăn gia súc và công nghiệp

Công ty tương đối ổn định về mặt kinh doanh, có nhiều ưu điểm về nhân sự và về quan hệ với các đối tác (nhà cung cấp và khách hàng)

Hàng hóa của công ty được mua từ các nhà cung cấp nổi tiếng ở nước ngoài (ADM-USA, Palsgaard-Denmark, Keivit-Netherlands, …)

Khách hàng của Công ty là các đơn vị sản xuất thực phẩm dinh dưỡng (sữa, nước uống dinh dưỡng, …), bánh kẹo, nước giải khát, dược phẩm, mì ăn liền, thức ăn gia súc, … và cả một số công ty thương mại

Là Công ty thương mại mới thành lập hơn 02 năm, công ty gặp nhiều khó khăn trong khả năng đáp ứng nhu cầu của Khách hàng (vấn đề thiếu hàng, hàng về chậm, … ) Ngoài ra vấn đề tồn kho là một vấn đề đáng quan tâm vì liên quan đến khả năng đáp ứng và chi phí lưu kho

Sau khi học về chuỗi cung ứng trong chương trình Cao học quản trị Doanh nghiệp của Khóa 14, cùng với các tài liệu và kiến thức thu thập được về chuỗi cung ứng, Tôi nhận thấy công cụ này có thể là một công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề trên của Doanh nghiệp Với niềm tin về bản thân và kiến thức đã được học cộng với nhu cầu bức thiết của Doanh nghiệp và nhất là sự động viên và hướng dẫn của các Thầy Cô trong Khoa Quản lý Công nghiệp của Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM, Tôi bắt tay thực hiện đề tài này Mong Quý Thầy Cô, bạn bè và đồng nghiệp hỗ trợ cho Tôi hoàn thành tốt đề tài này

Trang 14

1.3 Mục tiêu :

Nhằm khảo sát ảnh hưởng của các biến điều kiện ban đầu lên sự ổn định của một chuỗi cung ứng thông qua lý thuyết hỗn loạn (“chaos theory”)

Mô hình hóa và mô phỏng một hệ thống thực nhằm tìm kiếm sự hỗn loạn và loại bỏ chúng

Thực hiện một case study (nghiên cứu tình huống) nhằm xác nhận sự hỗn loạn trong chuỗi cung ứng cùng các đặc tính của nó, tìm nguyên nhân gây nên sự hỗn loạn trong một chuỗi cung ứng và những biện pháp đã được thực hiện để đối phó

Đưa ra định hướng thực hiện các bước tiếp theo để Doanh nghiệp

tiếp tục phát triển theo con đường ứng dụng chuỗi cung ứng

1.4 Phạm vi :

Do đây là đề tài loại ứng dụng nên phạm vi nghiên cứu khá hẹp, gồm Công ty TNHH TM Tích An và các đơn vị có liên quan trong chuỗi cung ứng

1.5 Phương pháp :

Đề tài sử dụng 02 phương pháp nghiên cứu để thực hiện :

a) Mô phỏng mô hình và phân tích động thái phi tuyến :

Đề tài sẽ mô phỏng lại mô hình có sẵn với những điều chỉnh phù hợp với điều kiện của Doanh nghiệp Việt nam nhằm kiểm

Trang 15

nghiệm các giả thuyết trên thông qua phương pháp phân tích động thái phi tuyến

b) Minh họa bằng Case study (nghiên cứu tình huống) :

Đề tài sẽ dùng phương pháp nghiên cứu tình huống để khảo sát chuỗi cung ứng của Công ty TNHH TM Tích An nhằm minh họa cho mô hình đã trình bày ở trên

Vì hiện nay, chuỗi cung ứng đã được ứng dụng nhiều ở các nước phát triển, nhưng ở Việt nam thì việc áp dụng còn rất hạn chế Khi áp dụng vào Doanh nghiệp Việt nam, những đặc thù, hoạt động của Doanh nghiệp sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của việc áp dụng Do đó, việc chọn tập trung vào một chuỗi cung ứng của Doanh nghiệp để khảo sát là hợp lý Ngoài ra, khi chọn chuỗi cung ứng của Doanh nghiệp này để khảo sát, người thực hiện đề tài sẽ phải thử nghiệm lại với các lý thuyết của chuỗi cung ứng để xác nhận lại sự phù hợp

Riêng phương pháp nghiên cứu tình huống là phương pháp nghiên cứu định tính, là lý thuyết mới, có thể xem xét sâu hơn, sử dụng được nhiều công cụ nghiên cứu và nên sử dụng nó như là một công cụ nghiên cứu qui nạp cho phép người thực hiện đề tài giải thích cấu trúc của một hiện tượng Nó cũng là công cụ quan trọng để thử nghiệm và áp dụng lý thuyết suy diễn

1.6 Bố cục luận văn :

Luận văn gồm 05 chương :

Chương I Mở đầu Giới thiệu, cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, phạm vi, phương pháp và bố cục của luận văn

Trang 16

Chương II Trình bày Cơ sở lý thuyết về chuỗi cung ứng, sự hỗn loạn, mô hình và phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích tình huống (case study)

Chương III Trình bày về Mô hình chuỗi cung ứng, mô phỏng và các kết quả mô phỏng, đồng thời phân tích kết quả mô phỏng

Chương IV Sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống để xác nhận sự hỗn loạn trong chuỗi cung ứng cùng các đặc tính của nó, tìm nguyên nhân gốc của sự hỗn loạn và một số biện pháp đã được thực hiện để đối phó Chương V Kết luận và kiến nghị

Trang 17

Chương 2

Cơ sở lý thuyết

2.1 Một số định nghĩa

2.2 Lý thuyết hỗn loạn và những gợi ý cho quản lý chuỗi cung ứng

2.3 Mô hình hoá chuỗi cung ứng động thái hệ thống

2.4 Phương pháp mô phỏng

2.5 Phương pháp case study (nghiên cứu tình huống)

Chương 1 đã giới thiệu tổng quát về nghiên cứu với mục tiêu, phạm vi, phương pháp và bố cục của đề tài Chương 2 sẽ trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết

Trang 18

2.1 Một số định nghĩa :

Chuỗi cung ứng : là một mạng lưới những cơ sở hạ tầng và những tùy chọn phân phối nhằm thực hiện các chức năng mua nguyên liệu, biến đổi các vật liệu này thành sản phẩm trung gian hoặc thành phẩm và phân phối các thành phẩm này đến khách hàng [3]

Về cơ bản, một chuỗi cung ứng gồm 3 thành phần chính :

- Cung cấp : tập trung vào việc làm thế nào? Từ đâu? Khi nào? Nguyên liệu được mua và cung cấp cho việc sản xuất

- Sản xuất : chuyển đổi các nguyên liệu này thành sản phẩm cuối

- Phân phối : Đảm bảo các sản phẩm cuối này sẽ được đến tay khách hàng cuối thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi và bán lẻ Có thể nói chuỗi bắt đầu từ các nhà cung cấp của các nhà cung cấp cho công ty của bạn và kết thúc bởi các khách hàng của các khách hàng của công ty bạn

Quản lý chuỗi cung ứng : bao gồm hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến việc tìm nguồn hàng và mua hàng, chuyển đổi và tất cả các hoạt động quản lý hậu cần Quan trọng hơn nữa là nó bao gồm sự hợp tác và phối hợp với các đối tác có thể là các nhà cung cấp, các đơn vị trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba và khách hàng Thực chất, quản lý chuỗi cung ứng tích hợp việc quản lý cung và cầu vào nhau qua các công ty [12]

Quản lý chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp với trách nhiệm cơ bản của sự liên kết những chức năng kinh doanh và những qui trình kinh doanh với nhau qua các công ty vào trong một mô hình kinh doanh hiệu quả cao Nó bao gồm tất cả các hoạt động quản lý hậu cần đã được nêu ở trên cũng như việc điều hành sản xuất, và nó

Trang 19

điều khiển sự phối hợp các quá trình và các hoạt động với nhau thông qua việc tiếp thị, bán hàng, thiết kế sản phẩm, tài chính và công nghệ thông tin [12]

Quản lý chuỗi cung ứng là sự giám sát nguyên liệu, thông tin, và tài chính khi chúng di chuyển trong một quá trình từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, người bán buôn, người bán lẻ cho đến khách hàng Quản lý chuỗi cung ứng gồm sự kết hợp và tích hợp các dòng này cả bên trong nội bộ cũng như giữa các công ty Có thể nói rằng mục đích cuối cùng của bất cứ một hệ thống quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả nào cũng sẽ giảm bớt hàng tồn kho (với giả định rằng các sản phẩm là có sẵn khi cần) [3]

Một số ứng dụng quản lý chuỗi cung ứng dựa vào mô hình dữ liệu mở hỗ trợ cho việc chia sẻ dữ liệu nội bộ lẫn bên ngoài Dữ liệu dùng chung này có thể nằm trong những hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng hoặc kho dữ liệu tại một số vị trí hoặc các công ty khác nhau

Bằng cách chia sẻ dữ liệu “dòng lên” (với một nhà cung cấp) và

“dòng xuống” (với một khách hàng), các ứng dụng quản lý chuỗi cung ứng có tiềm năng cải thiện thời gian tiếp cận thị trường của sản phẩm, giảm chi phí và cho phép tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng quản lý tài nguyên và kế hoạch hiện thời tốt hơn cho nhu cầu tương lai [11]

Sự hỗn loạn (Chaos) [13] : thông thường sự hỗn loạn được xem xét như là một sự mất trật tự hoặc lộn xộn Tuy nhiên, trong khoa học nó mô tả một nghịch lý quan trọng về nhận thức có một ý nghĩa toán học chính xác

Trang 20

Hỗn loạn là tên của bất kỳ một trật tự nào sinh ra lộn xộn trong tâm trí của chúng ta Nhưng theo toán học, hành vi không thể dự báo một cách hiệu quả trong thời gian dài, nó gia tăng trong một hệ thống động thái tiền định do bởi độ nhạy với điều kiện ban đầu [21], [24] Một hệ thống hỗn loạn là một hệ thống tiền định khó có thể đoán trước [21] Hỗn loạn được mô tả trong luận văn này là dạng hỗn loạn tiền định

Hỗn loạn được định nghĩa như là động thái không theo chu kỳ, bị giới hạn bởi một hệ thống định trước với độ nhạy phụ thuộc vào điều kiện ban đầu và có cấu trúc không gian pha Trong đó các từ khóa được định nghĩa như sau [15]:

Không theo chu kỳ (aperiodic) : trạng thái giống nhau không bao giờ lặp lại hai lần

Giới hạn (bounded) : trên những lần lặp lại thành công, trạng thái ở một vùng xác định và không hướng về vô cực âm hoặc dương

Định trước (deterministic) : hai điểm gần nhau ban đầu sẽ bị lệch xa nhau theo thời gian

Cấu trúc không gian pha (structure in phase space) : hệ thống phi tuyến được mô tả bởi các véc-tơ đa hướng Không gian chứa các véc-tơ đa hướng này được gọi là không gian pha (không gian trạng thái)

Stacey [13 ] định nghĩa : Sự hỗn loạn giống như là một sự trật tự (một khuôn mẫu) trong một sự mất trật tự (hành vi ngẫu nhiên)

Trang 21

Giáo sư Ian Stewart [15] định nghĩa hỗn loạn đơn giản như sau : hành vi “stochastic” xảy ra trong một hệ thống định trước Stochastic có nghĩa là ngẫu nhiên hoặc vô trật tự

Hệ thống định trước được điều khiển bằng những qui luật hoặc nguyên lý chính xác không thể phá vỡ Sự hỗn loạn là định trước, được tạo ra bởi những nguyên lý cố định mà bản thân chúng không bao gồm các yếu tố cơ hội (vì lý do đó mà có từ ngữ sự hỗn loạn định trước) Vì vậy theo lý thuyết hệ thống có thể dự báo được nhưng trong thực tế do những ảnh hưởng phi tuyến của nhiều nguyên nhân làm cho hệ thống khó dự báo Hệ thống thì vô vùng nhạy với điều kiện ban đầu, do đó khi một thay đổi cực nhỏ trong một điều kiện ban đầu của biến hệ thống có thể gây nên kết quả hoàn toàn khác [20]

Đối với những hệ thống động thái : giả định là một đối một, các quan hệ nhân quả là tuyệt đối trong hầu hết các lý luận của con người Đối với hệ thống hỗn loạn, một sự thay đổi rất nhỏ ở các điều kiện có thể gây nên một thay đổi rất lớn tại đầu ra của hệ thống Đồng thời một sự thay đổi thật sự ở các điều kiện có thể bị giảm đi và không gây nên ảnh hưởng đáng kể tại đầu ra của hệ thống

Bình thường chúng ta nghĩ rằng một hệ thống tiền định thì hoàn toàn có thể đoán trước và đây là chân lý toán học Theo định nghĩa, một hệ thống tiền định là một trạng thái của một sự việc ở một thời gian hoàn toàn có thể xác định trạng thái của nó trong tất cả thời tương lai Tuy nhiên, sự hỗn loạn không phải là một mâu thuẫn toán học, nó là mâu thuẫn nhận thức với hệ quả thực tế Câu hỏi thực tế là làm thế nào có thể dự đoán chính xác trong một khoảng thời gian cho trước với một lượng thông tin nhất định Lý do mà một hệ thống tiền định khó

Trang 22

có thể đoán trước là điều xảy ra trong tương lai lại rất nhạy với trạng thái hiện thời của nó Thuộc tính này, được gọi là “độ nhạy với điều kiện ban đầu” đã được mô tả trong hiệu ứng con bướm (Butterfly Effect) : khả năng xảy ra một cơn bão lớn ở nước Anh chỉ vì một cánh bướm dao động tại Trung Quốc

Phương pháp kỹ thuật để mô tả độ nhạy là thông qua sự trệch ra khỏi quỹ đạo của hệ thống Việc dự đoán mức độ chính xác của nhu cầu trong nhiều trường hợp thực tế có vẻ như không thể nào đạt được [21]

Nghịch lý của sự hỗn loạn tấn công vào gốc rễ của những khái niệm khoa học truyền thống thường gợi ý rằng kiến thức ngày càng tăng sẽ dẫn đến khả năng dự đoán trước [21]

Sự hỗn loạn không phải là nguồn duy nhất của tính không thể đoán trước của một hành vi hệ thống Dựa trên các khái niệm, có ba nguồn làm giảm khả năng dự báo Một là ảnh hưởng của các nhiễu ngẫu nhiên, hai là ảnh hưởng của môi trường lên hệ thống và ba là thiếu kiến thức về điều kiện ban đầu Điều thứ ba là một vấn đề liên quan với nghiên cứu về sự hỗn loạn [21]

2.2 Lý thuyết hỗn loạn và những gợi ý cho quản lý chuỗi cung ứng

2.2.1 Lý thuyết hỗn loạn :

Lý thuyết hỗn loạn là sự nghiên cứu các hệ thống động thái, phi tuyến, phức tạp và tiền định [24]

Lý thuyết hỗn loạn là một lý thuyết định tính [23] hữu dụng cho việc phân tích quản trị và ra quyết định

Trang 23

Lý thuyết “hỗn loạn” (động thái phi tuyến) và các mô hình liên quan của lý thuyết lượng tử và luận lý “mờ” đã được đoán trước như là

“khoa học quản trị mới” [20]

Lý thuyết “hỗn loạn” tương tự như lý thuyết phức tạp và đã được sử dụng để mô tả và giải thích tất cả các loại hiện tượng tự nhiên và nhân tạo như : mẫu thời tiết, giá cổ phiếu, chứng bệnh rối loạn nhịp tim và sự tắt nghẽn giao thông [23] Mặc dù tương đương với sự phức tạp nhưng nó cũng bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống đơn giản

Các nhà toán học đã phát hiện ra rằng hệ thống phản hồi phi tuyến có khuynh hướng hỗn loạn Thông tin được phản hồi sẽ ảnh hưởng đến đầu ra của hệ thống vào thời kỳ kế tiếp của thời gian

Jay Forrester [4] đã định nghĩa một hệ thống phản hồi như sau :

“một hệ thống phản hồi thông tin tồn tại khi môi trường dẫn đến một quyết định mà kết quả trong hành động lại ảnh hưởng đến môi trường và vì thế lại ảnh hưởng tiếp đến quyết định trong tương lai”

Quá trình là liên tục và kết quả mới sẽ dẫn đến quyết định mới giữ cho hệ thống chuyển động liên tục Tất cả các hệ thống quản lý hậu cần và chuỗi cung ứng được tạo nên từ một chuỗi các vòng điều khiển phản hồi Đây chính là cách mà hệ thống kinh doanh vận hành,

đa số các vòng phản hồi là phi tuyến

Những phần tử cơ bản khác của lý thuyết hỗn loạn : Những đề xướng của lý thuyết hỗn loạn khẳng định đã bộc lộ các nguồn ẩn giấu tính không chính xác Theo những lý thuyết gia về sự hỗn loạn, nó xuất phát từ một hiện tượng gọi là “sự phi tuyến” Sự phi tuyến có nghĩa là kết quả không tương ứng với nguyên nhân

Trang 24

Nhà bình luận khác gọi sự hỗn loạn là “ một sự tiến hoá theo thời gian với độ nhạy phụ thuộc vào các điều kiện ban đầu” [28]

Bernstein [28] nói rằng “phương thức luôn ở trạng thái dòng Ý tưởng của một khuôn mẫu không tồn tại trong lý thuyết hỗn loạn Nó mang bản chất đồng thời của nguyên nhân và kết quả vào tận cùng luận lý của nó bằng việc loại bỏ khái niệm về tính không liên tục Kiel [24 ] nói rằng hành vi hỗn loạn xuất hiện bên trong các thông số xác định Một hệ thống phi tuyến trong một pha hỗn loạn không trở lại những hành vi nối tiếp có thể nhận biết trước đây Nói một cách ngắn gọn, hành vi hỗn loạn có vẻ khá ngẫu nhiên và không theo khuôn mẫu

Lý thuyết hỗn loạn dựa vào tiền đề : tồn tại một mối quan hệ phi tuyến giữa nguyên nhân và kết quả, với ngụ ý rằng những nguyên nhân nhỏ nhặt có thể dẫn đến những kết quả lớn làm cho nó khó dự đoán hậu quả của một thay đổi Trong ngữ cảnh những doanh nghiệp vận hành trong môi trường hỗn loạn và khó dự báo, các nguyên lý của lý thuyết hỗn loạn có thể có giá trị rất cao, gồm:

a) Từ những phương trình thông thường, có thể nhận được những kết quả hoàn toàn ngẫu nhiên

b) Có một thứ tự ưu tiên mà trong đó dữ liệu có vẻ là hoàn toàn ngẫu nhiên

Trong môi trường kinh doanh hỗn loạn, con người có khuynh hướng tự nhiên là tìm những mẫu quá khứ để dự báo cho tương lai và ý tưởng này cũng được mở rộng cho việc ra quyết định quản lý [4] Tuy nhiên, thành công hạn chế trong dự báo xu hướng thời tiết và thị

Trang 25

trường cổ phiếu cho thấy những mẫu quá khứ không phải là luôn đáng tin cậy khi chỉ đạo tương lai

Trong quá khứ, hoạch định chiến lược giúp doanh nghiệp ra những quyết định lớn, quan trọng và khó đảo ngược về nơi mà công ty tập trung năng lượng và nguồn lực dựa vào sự hiểu biết của họ về điều

gì xảy ra trong tương lai Trừ phi điều đó không hoạt động trong sự thiết lập của hôm nay

Sự hoạch định giả thiết rằng các mối quan hệ là tuyến tính giữa các biến, và có thể ngoại suy những mẫu quá khứ đó vào trong tương lai Do vậy để giải quyết vấn đề hoạch định, tất cả mọi người phải thực hiện, đo lường và ngoại suy Và nếu vấn đề này là một vấn đề quan trọng thì tất cả mọi người phải thực hiện nhiều hơn, cần đo lường nhiều hơn và ngoại suy chi tiết hơn Nếu hệ thống này không hoạt động, nó sẽ làm tê liệt doanh nghiệp, và khi có kết quả thì đã quá muộn và dù sao đi nữa kết quả cũng sẽ bị sai [4]

Cách tiếp cận truyền thống thích hợp trong một thế giới ổn định, có thể dự báo được ở mức 1 không chắc chắn Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang sống trong một trạng thái không chắc chắn mức 4 Và trong một môi trường như vậy, người ta không bao giờ có thể đo lường đủ chính xác để dự báo một cách có ý nghĩa Việc hoạch định chiến lược dài hạn rất tốt ở mức không chắc chắn 1 hoặc 2, nhưng chắc chắn là không phải ở mức 4

Chiến lược kinh doanh dài hạn chỉ có thể hoạch định được nếu mỗi hoạt động của doanh nghiệp có một số giới hạn kết quả có thể dự báo được [4]

Trang 26

Nhưng hoạch định không phải là khái niệm hoàn toàn không cần thiết Nhu cầu hoạch định vẫn tồn tại, đặc biệt là trong ngắn hạn, nơi mà cần phải dự báo, hoạch định và điều khiển các thao tác hằng ngày Khi việc hoạch định không thể thực hiện, tốt hơn là nên quản lý sự không chắc chắn

Một trong những vấn đề lâu dài đối mặt với lĩnh vực quản lý đó là thiếu công cụ lý thuyết có sẵn để mô tả và dự đoán hành vi của các doanh nghiệp và ngành công nghiệp Tương tự, thật gần như không thể dự đoán tác động gia nhập của một đối thủ mới hoặc công nghệ mới vào một ngành công nghiệp Vấn đề cơ bản là ngành công nghiệp tiến triển trong một phương cách động thái theo thời gian như kết quả của những tương tác phức tạp giữa các doanh nghiệp, chính phủ, người lao động, khách hàng, cơ quan tài chính và những phần tử khác trong môi trường Những mô hình lý thuyết hiện có thường có khuynh hướng thừa nhận các mối quan hệ tuyến tính đơn một cách tương đối mà không có sự phản hồi Thực vậy, nhiều lý thuyết chiến lược đã cố gắng phân loại các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp và mô tả các chiến lược thích hợp cho mỗi nhóm (ví dụ : ma trận nhóm cố vấn Boston phân loại sự phân bổ nguồn lực, phân loại Barlett về chiến lược quốc tế, …) Mặc dù các mô hình này dựa vào những mẫu tái diễn đều đặn được chúng ta công nhận trong thế giới thực tế, thường cũng có khá nhiều ngoại lệ cho các mô hình để có nhiều giá trị dự báo

Lý thuyết hỗn loạn là sự nghiên cứu các hệ thống động thái phi tuyến, hứa hẹn là một khung nhận thức hữu ích hoá giải tính không thể đoán trước quan trọng của các ngành công nghiệp với việc nảy ra các mẫu phân biệt [2] Về mặt toán học, các hệ thống hỗn loạn được biểu

Trang 27

thị bằng những phương trình vi phân không thể giải được Để vượt qua vấn đề này, các nhà nghiên cứu thường mô hình hoá hệ thống như những phương trình riêng biệt, chỉ rõ trạng thái của hệ thống ở tại thời điểm cho trước Có thể sử dụng mô phỏng máy tính để nhìn thấy hệ thống tiến triển ra sao theo thời gian

Một trong những thành tựu chính của lý thuyết hỗn loạn là khả năng giải thích làm thế nào mà một tập hợp các quan hệ tiền định đơn giản có thể sản sinh ra các kết quả không thể dự báo Các hệ thống hỗn loạn không bao giờ quay trở lại cùng một trạng thái chính xác, tuy nhiên các kết quả được giới hạn và tạo ra những mẫu gồm những hằng số toán học [4] Đó là sự hứa hẹn tìm ra một cấu trúc và thứ tự cơ bản đằng sau những sự kiện phức tạp

Các đặc tính của hệ thống hỗn loạn : [15]

Có năm đặc tính chính của hệ thống hỗn loạn liên đới với việc quản lý chuỗi cung ứng :

 Sự hỗn loạn biểu lộ tính nhạy với điều kiện ban đầu : đặc tính về độ nhạy là khái niệm trung tâm của lý thuyết hỗn loạn Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng độ nhạy không biểu thị hỗn loạn một cách tất yếu (ví dụ như hiệu ứng con bướm)

Sự hỗn loạn cũng có những vùng ổn định : hệ thống hỗn loạn thường liên quan với hành vi không theo chu kỳ Hành vi không theo chu kỳ được đặc trưng bởi sự nhiễu loạn không đều đặn (bất qui tắc) hoặc không theo sự tăng lên của hàm mũ hoặc không di chuyển theo trật tự có sẵn Những sự hỗn loạn này không bao giờ lặp lại cùng một trạng thái hai lần Đó là một hành vi không theo chu kỳ và cũng không “stochastic” Khi thay

Trang 28

đổi một thông số sẽ làm cho hệ thống hỗn loạn có thể được điều khiển để tạo ra hành vi đều đặn hơn

Sự hỗn loạn tạo ra các khuôn mẫu : mặc dù sinh ra dữ liệu có vẻ ngẫu nhiên, nhưng hệ thống hỗn loạn lại tạo ra các khuôn mẫu trong dữ liệu Các khuôn mẫu này không bao giờ lặp lại, nhưng có các tính chất đặc trưng Chúng ta không thể dự báo chính xác hành vi của hệ thống hỗn loạn, nhưng bằng cách hiểu biết các khuôn mẫu được tạo ra ta có thể thực hiện một số mức độ dự báo Người ta có thể dự báo được bản chất định tính của các khuôn mẫu phát ra và giới hạn định lượng trong đó các khuôn mẫu sẽ chuyển động

Sự hỗn loạn làm mất hiệu lực của tư duy tuyến tính : tư duy tuyến tính chứng tỏ rằng một hệ thống hoặc một vấn đề phức tạp có thể được giảm xuống thành dạng đơn giản hơn cho mục đích phân tích Và rồi người ta tin rằng việc phân tích các phần riêng biệt sẽ tạo ra một sự thấu hiểu chính xác các hành động của toàn hệ thống Phương pháp luận này của sự đơn giản hóa thường cũng được ứng dụng để cải tiến hệ thống chuỗi cung ứng Trong tư duy tuyến tính, quá trình phân tích vấn đề từ tình hình hiện tại so với mục tiêu đi đến quyết định để giải quyết vấn đề là một quá trình tuyến tính, trong đó nó phản ảnh quá trình tư duy hàm chứa 3 giả định về sự vận động của thế giới chung quanh : quan hệ nhân quả một chiều, nguyên nhân nằm ở bên ngoài và sự độc lập giữa các nguyên nhân [9].Việc tối ưu hóa các đơn vị riêng biệt (ví dụ như : sản xuất, mua hàng và phân phối) được tin là để tạo ra kết quả tốt trong việc tối ưu hóa

Trang 29

hệ thống toàn thể Tuy nhiên, qua nghiên cứu, Goldratt và Cox [15] tuyên bố : “tổng các tối ưu cục bộ sẽ không bằng được tối

ưu tổng thể”

Sự hỗn loạn làm giảm sự chính xác của chương trình vi tính : ngay cả những phương trình đơn giản cũng có thể hỗn loạn và điều này có thể có một ảnh hưởng ấn tượng trên việc nắm được sự chính xác của chương trình vi tính Điều này tạo nên một sự tranh cãi chủ yếu về tác động của sự hỗn loạn lên hệ thống máy

vi tính Một chương trình đồng nhất chạy trên hai loại máy vi tính khác nhau hoặc những phần mềm tiêu chuẩn khác nhau thực hiện cùng những phép tính toán có thể sinh ra các kết quả khác nhau đáng kể

Lý thuyết hỗn loạn là một môn khoa học tiên tiến tập trung vào việc nghiên cứu các hệ thống phi tuyến Để hiểu rõ lý thuyết hỗn loạn, trước hết chúng ta phải hiểu thấu gốc rễ của nó : những thuật ngữ “hệ thống” và “phi tuyến” [24]

Thuật ngữ đầu tiên “hệ thống” : có thể được định nghĩa như là sự hiểu biết về các mối quan hệ giữa những điều có tương tác với nhau Một khía cạnh quan trọng khác liên quan với hệ thống đó là các hệ thống có thể mô hình hoá

Thuật ngữ thứ hai “phi tuyến” : trước đây, đa số các mô hình đều được phân tích cứ như thể chúng là những hệ thống tuyến tính Khi những mô hình toán được vẽ ở dạng đồ thị kết quả xuất hiện như là một đường thẳng Những hệ thống tuyến tính dễ xác định và đơn giản khi làm việc với chúng do chúng rất dễ đoán trước

Trang 30

Từ quan trọng khác được sử dụng nhiều lần là “phức tạp” Yếu tố xác định nào làm cho một hệ thống phức tạp hơn một hệ thống khác? Sự phức tạp của hệ thống được xác định bởi sự phức tạp của mô hình cần thiết để dự đoán hiệu quả hành vi của hệ thống

Vì rất phụ thuộc vào điều kiện ban đầu, nguyên tắc chung đối với các hệ thống phức tạp là người ta không thể tạo ra một mô hình dự báo đúng các kết quả Tuy nhiên, người ta có thể tạo ra những mô hình mô phỏng các quá trình mà hệ thống thông qua đó tạo ra các mô hình Một hệ thống hỗn loạn có các đặc tính xác định đơn giản sau :

a) Các hệ thống hỗn loạn là tiền định, điều này có nghĩa là chúng có một số phương trình xác định nào đó điều khiển hành vi của chúng

b) Các hệ thống hỗn loạn nhạy với điều kiện ban đầu Thậm chí một sự thay đổi rất nhỏ ở điểm bắt đầu cũng có thể dẫn tới những kết quả khác nhau đáng kể

Các hệ thống hỗn loạn không phải là ngẫu nhiên, cũng không phải là lộn xộn Hệ thống thực sự ngẫu nhiên không phải là hỗn loạn, sự hỗn loạn có một ý nghĩa về thứ tự và ám ngữ

Những đề xuất của lý thuyết hỗn loạn cho thấy hiệu quả của nó ở khắp nơi, hướng vào tính chất phổ quát của hệ thống phức tạp, động thái trong thế giới xã hội và sự giống nhau giữa những mẫu phát sinh bởi những hệ thống phi tuyến được mô phỏng và chuỗi thời gian thực của thị trường chứng khoán hoặc giá cả hàng hoá Từ một viễn cảnh lý thuyết, lý thuyết hỗn loạn thích hợp với mô hình hiện đại

Trang 31

Dù rất hấp dẫn, nhưng ứng dụng của lý thuyết hỗn loạn vào khoa học xã hội vẫn còn ở mức sơ khởi và lại được kỳ vọng quá cao [2] Mặc dù hiện tượng cuộc sống thực tế có thể giống với những mẫu tạo ra từ những hệ thống phi tuyến đơn giản, điều đó không có nghĩa là chúng ta có thể dễ dàng mô hình hoá và dự báo hiện tượng này; gần như không thể thu thập được một tập hợp dữ liệu và xác định hệ thống các mối quan hệ sinh ra nó

Lý thuyết hỗn loạn có lẽ tốt hơn nên được nhìn nhận như một sự mở rộng của lý thuyết hệ thống [2] vào lĩnh vực động thái học phi tuyến hơn là một sự thay đổi mô hình tổng thể

Hệ thống vật lý và xã hội khác nhau về nguồn gốc của tính không thể dự báo Trong thế giới vật lý, tính không thể dự báo xuất hiện do nhiều sự lặp lại, sự phi tuyến và sự không có khả năng xác định những điều kiện khởi đầu của chúng ta với sự chính xác vô hạn Trong thế giới xã hội, việc xác định những điều kiện khởi đầu kém chính xác hơn nhiều và sự định rõ bản thân cấu trúc hệ thống cũng kém chính xác hơn nhiều Một khác nhau cuối cùng đó là hệ thống vật lý được định hình bằng các qui luật tự nhiên không đổi, trong khi đó hệ thống xã hội tùy thuộc vào sự can thiệp của cá nhân và tổ chức Tuy vậy, những mô hình hỗn loạn có thể sử dụng để gợi ý cách mà người ta có thể xen vào để đạt được những mục đích nhất định, ví dụ như làm giảm bớt tính bất ổn của chuỗi cung ứng để cải thiện hiệu quả

2.2.2 Lý thuyết hỗn loạn : những gợi ý cho quản lý chuỗi cung ứng

Tác giả Richard D Wilding [15] (Cranfield University) trong bài báo : “Lý thuyết hỗn loạn : những gợi ý cho quản lý chuỗi cung ứng”

Trang 32

(Chaos theory : Implications for Supply chain management) đã đưa ra một số gợi ý chính trong quản lý điều hành trong một hệ thống hỗn loạn:

a) Có thể xảy ra những thay đổi ấn tượng không mong đợi Cao điểm hỗn loạn trong nhu cầu có thể xảy ra, được sinh

ra bởi hệ thống và không phải do các sự kiện bên ngoài b) Rất khó hoạch định dài hạn Nếu lập kế hoạch dài hạn phải xem xét lại cơ sở toàn diện

c) Chuỗi cung ứng không đạt được trạng thái cân bằng ổn định Sự cân bằng nhỏ luôn luôn sẽ ngăn cản việc đạt được cân bằng

d) Có thể thực hiện được các dự báo ngắn hạn của các khuôn mẫu (mô hình) Tốt hơn hết là kết hợp các nguồn lực để phát triển các quá trình ra quyết định ngắn hạn hơn là dài hạn

e) Xử lý chuỗi cung ứng như là một hệ thống đầy đủ Những biến đổi nhỏ thực hiện nhằm tối ưu 1 bậc của chuỗi cung ứng có thể gây nên sự biến đổi nghiêm trọng ở những bộ phận khác trong chuỗi cung ứng Kiểm soát tồn kho và thời gian chờ có thể không luôn cải thiện việc thực thi Nó có thể gây nên sự trượt vào hỗn loạn của hệ thống

f) Máy vi tính dễ xảy ra hỗn loạn

g) Mô phỏng hệ thống và phân tích động thái phi tuyến các đầu ra chính yếu phải là một phần bắt buộc của bất kỳ một kế hoạch tái lập kỹ thuật của chuỗi cung ứng

Trang 33

h) Nên nhớ rằng nếu một mô hình đơn giản của hệ thống sinh

ra hỗn loạn thì hệ thống thực cũng sẽ gia tăng sự phức tạp lên

Một số gợi ý của bài báo trên sẽ là tiền đề cho đề tài này

2.3 Mô hình hoá chuỗi cung ứng động thái hệ thống :

Mô hình là những sự việc mà chúng ta xây dựng nên để giúp chúng ta hiểu về những sự việc đó tốt hơn Khi liên hệ với các khái niệm của thực tiễn chúng ta chỉ chọn lựa những tóm tắt để phát triển nó như những mô hình, giúp chúng ta hiểu rõ về những sự việc thực tiễn Trong những mô hình ngắn gọn, mô hình hoá là sự đơn giản hoá hoặc tóm lược thực tiễn thay vì xúc tiến sự hiểu biết Mô hình là tốt hay xấu phụ thuộc vào mức độ mà nó giúp chúng ta trong việc gia tăng kiến thức mà chúng

ta đang tìm kiếm [5]

Một mô hình đúng hoặc sai có lẽ sẽ phải phụ thuộc vào thời gian Đặc trưng hạn chế của hầu hết các mô hình mà chúng ta xây dựng chính là chúng tĩnh về bản chất Đó là những mô hình biểu thị một ảnh chụp nhanh một sồ đầu tại một điểm đặc biệt theo thời gian Nhưng thực tế thì không tĩnh, thực tế đang thay đổi không ngừng qua tương tác của chúng ta với nó, và những tương tác giữa tất cả các phần tử của chúng (thực tế là động thái về bản chất) Làm sao có thể tin rằng có thể xây dựng những mô hình tĩnh trong thực tế động thái và mong đợi chúng trợ giúp kiến thức cho chúng ta, đây chính là chức năng của mô phỏng [5]

Mô hình hoá chuỗi cung ứng động thái hệ thống là một phương pháp hứa hẹn để nghiên cứu các chuỗi cung ứng giữa các tổ chức thông

Trang 34

qua việc mô hình hoá hình thức là động thái hệ thống Động thái ngành công nghiệp của Frerester [1] từ 1961 và “beer games” nổi tiếng đã được phát triển dựa trên nghiên cứu này qua nhiều thập niên vượt quá sự hiểu biết của chúng ta về hiệu ứng khuếch đại trong chuỗi cung ứng

Về phương pháp luận, động thái hệ thống luôn luôn nhấn mạnh vào các hành vi trái với mong đợi của các hệ thống động thái phức tạp Đó là do bởi sự tương tác rắc rối giữa nhiều nhân tố tương hỗ và sự phi tuyến của các quan hệ của chúng, hành vi động thái của hệ thống phức tạp thực tế trở nên khó dự đoán từ một sự mô tả cấu trúc tĩnh của chúng

Do vậy, mô hình hoá và phân tích mô phỏng là thiết yếu đối với thiết kế chính sách thiết thực

2.4 Phương pháp mô phỏng :

a) Hệ thống : một hệ thống tồn tại và vận hành trong không gian và

theo thời gian [5]

b) Mô hình : là những biểu diễn toán học của một quá trình (biểu đồ chu

kỳ hoạt động, biểu đồ tiến trình, các thuật toán, … là những ví dụ của mô hình) Là một biểu thị đơn giản hoá của một hệ thống tại một số điểm riêng biệt theo không gian và thời gian thay vì xúc tiến sự hiểu biết về hệ thống thực [5]

Một mô hình chứa những thành phần chính của hệ thống đang được nghiên cứu Những mô hình tốt nhất được bắt nguồn từ việc lập mô hình phân rã các quá trình phức tạp thành một chuỗi các phần đơn giản Có nhiều mô hình là lối thoát hiệu quả cho thị trường ngày nay Tất cả các mô hình toán là những hệ thống “bắt chước” trong đó chúng biểu lộ một phần của thực tiễn

Trang 35

c) Mô phỏng : Là một sự vận dụng mô hình mà trong phương thức như

vậy nó sẽ vận hành đúng theo không gian và thời gian để cô đọng đủ cho con người thu nhận các tương tác mà không có gì khác rõ ràng vì sự tách biệt của chúng về không gian và thời gian Mô hình hoá và mô phỏng là một môn học đối với sự gia tăng một mức hiểu biết về tương tác của những phần tử của một hệ thống và của hệ thống như một tổng thể Mức độ hiểu biết có thể phát triển thông qua môn học này là ngẫu nhiên có thễ đạt được thông qua bất kỹ một môn học khác [5]

Một hệ thống sẽ duy trì sự tồn tại của nó thông qua sự tương tác của các bộ phận trong nó Do tất cả các mô hình là sự đơn giản hoá của thực tiễn nên luôn luôn có sự đánh đổi về mức độ chi tiết được đưa vào mô hình Nếu quá ít chi tiết thì rủi ro trong việc bỏ sót những tương tác có liên quan và kết quả là mô hình sẽ không nâng cao kiến thức Nhưng nếu quá nhiều chi tiết được đưa vào thì mô hình sẽ trở nên hết sức phức tạp và không giúp ích gì cho việc nâng cao kiến thức [5]

Một mô phỏng thường tham chiếu một phiên bản máy tính hoá của mô hình chạy theo thời gian để nghiên cứu về những liên quan của những tương tác xác định Người ta phát triển một mô hình, mô phỏng nó, học hỏi từ mô phỏng, xét duyệt lại mô hình và tiếp tục lặp đi lặp lại cho đến khi phát triển được một mức độ đồng nhất của kiến thức

Ta có thể học nhiều về mô hình và mô phỏng thông qua việc đọc sách và bàn luận với người khác Kỹ năng và năng khiếu trong phát triển mô hình và thực hiện mô phỏng chỉ tăng lên thông qua việc xây dựng các mô hình và mô phỏng chúng [5]

Có thể thực hiện nhiều hình thái khác nhau từ bảng tính đến các biểu diễn ba chiều của sự vật dịch chuyển trong không gian Một mô

Trang 36

phỏng có thể là “stochastic” hoặc tiền định, quan trọng là người thiết kế mô hình hiểu rõ sự khác nhau giữa hai loại mô phỏng này

Mô phỏng “stochastic” sẽ mô hình hoá một số thành phần xác suất (không chắc chắn) trong một hệ thống của một quá trình Đầu ra đặc trưng của nó là các điều kiện bị giới hạn (giới hạn trên và dưới) và mức độ của sự chắc chắn Nếu một mô hình là

“stochastic” nó cần phải cung cấp những giới hạn tin cậy để người sử dụng sau cùng hiểu rằng quá trình đang được nghiên cứu cẩn thận có những thành phần ngẫu nhiên

Mô phỏng tiền định cũng có thể cho đầu ra không chắc chắn, là lời cảnh báo của mô phỏng cung cấp mà không nói rõ giả định của họ

Trong quá trình đơn giản hoá, bạn cần một mô hình hoặc một mô phỏng và bạn có thể biểu thị nó như một biểu hiện thực tế trên một màn hình vi tính hoặc như một quan hệ toán học

Khi bạn mong muốn biết rõ hơn về bất kỳ một hiện tượng, hoặc khi hiện tượng trở nên phức tạp hơn, bạn cần những phương trình phức tạp hơn nhiều, lập chương trình chi tiết hơn nhiều và bạn kết thúc với một mô phỏng vi tính hoá rất khó có thể hiểu thấu được

2.5 Phương pháp case study (nghiên cứu tình huống) :

Nghiên cứu tình huống xem xét việc thu thập và biểu thị thông tin chi tiết về một người tham dự riêng biệt hoặc một nhóm nhỏ, gồm một số chủ thể Đây là một dạng của nghiên cứu mô tả định tính, nghiên cứu tình huống có vẻ mạnh ở một cá nhân hay nhóm nhỏ, rút ra kết luận trong phạm vi người tham dự và chỉ trong ngữ cảnh riêng biệt đó Các nhà nghiên cứu không tập trung vào việc khám phá vũ trụ, sự thật khái quát,

Trang 37

cũng không tìm kiếm những quan hệ nhân quả đặc trưng Thay vào đó họ nhấn mạnh vào việc trình bày và mô tả [22]

Nghiên cứu tình huống là một yêu cầu thực tế nghiên cứu một hiện tượng đương thời trong một ngữ cảnh cuộc sống thực tế, đặc biệt là khi biên giới giữa hiện tượng và ngữ cảnh không rõ ràng Sự quan trọng của nghiên cứu tình huống trong nghiên cứu tổ chức và môn hệ thống thông tin đã được công nhận [17]

Theo Yin [17] “Một nhân tố cơ bản đối với một tình huống đơn là khi nó biểu thị tình huống tiêu chuẩn trong việc kiểm tra một lý thuyết đã được công thức hoá tốt (trong tình huống của chúng ta nó là lý thuyết ứng dụng)

Phương pháp nghiên cứu tình huống là phương pháp nghiên cứu định tính, là lý thuyết mới, có thể xem xét sâu hơn, sử dụng được nhiều công cụ nghiên cứu và nên sử dụng nó như là một công cụ nghiên cứu qui nạp cho phép người thực hiện đề tài giải thích cấu trúc của một hiện tượng Nó cũng là công cụ quan trọng để thử nghiệm và áp dụng lý thuyết suy diễn

Tầm quan trọng của nghiên cứu tình huống trong các môn học nghiên cứu tổ chức và hệ thống thông tin đã được thừa nhận Trong khi nghiên cứu tình huống thường được kết hợp với truyền thống trình diễn thì một số lại được thực hiện từ truyền thống thực chứng

Theo Yin [17] “ một cơ sở hợp lý đối với một tình huống đơn là khi nó biểu thị một tình huống then chốt trong việc kiểm định một lý thuyết đã được trình bày rất rõ ràng và chính xác.(như lý thuyết ứng dụng, …) Tình huống đơn có thể được sử dùng để xác định một xác nhận lý thuyết là đúng đắn hoặc tập hợp một số khả năng thay thế của các diễn giải khác

Trang 38

có thể sẽ thích hợp hơn Trong phương pháp này, một tình huống đơn có thể biểu thị một sự góp phần đáng kể vào kiến thức và vào việc xây dựng lý thuyết Một tình huống như vậy có thể giúp ta tái tập trung vào nghiên cứu tương lai trong một lãnh vực tổng thể”

Những nỗ lực gần đây để định nghĩa nghiên cứu tình huống dựa trên các phân biệt giữa nghiên cứu số nhỏ đối lại với số các trường hợp của một hiện tượng Như vậy nghiên cứu tình huống trở nên đặc trưng như là những nghiên cứu “n nhỏ”, tương phản với các nghiên cứu thống kê “N lớn”

Tình huống được định nghĩa như là một trường hợp của một nhóm các sự kiện (George 1979)

Như vậy nghiên cứu tình huống là một khái niệm được xác định rõ của một biến cố quá khứ được các nhà nghiên cứu chọn để phân tích

Mục tiêu của nghiên cứu tình huống là cung cấp các ranh giới và những câu hỏi mới cho những nghiên cứu thêm nữa F.H.Giddings-một nhà lý luận xã hội đầu thế kỷ đã so sánh phương pháp thống kê và nghiên cứu tình huống như sau : “về cơ bản, thống kê liên quan với sự phân bố của một đặc điểm riêng biệt hoặc một số nhỏ đặc điểm, do vậy nghiên cứu tình huống liên quan đến sự thay đổi tổng thể của đặc điểm trong một trường hợp riêng

Nghiên cứu tình huống gồm 6 bước [25]:

1 Xác định và định nghĩa các câu hỏi nghiên cứu : thiết lập một nghiên cứu chắc chắn tập trung vào những điều mà nhà nghiên cứu có thể tham chiếu qua những nguồn nghiên cứu một hiện tượng hay qua đối tượng phức tạp Nhà nghiên cứu thiết lập định hướng cho nghiên cứu bằng cách lập ra những

Trang 39

câu hỏi về tình trạng hoặc vấn đề được nghiên cứu và xác định mục đích của nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu tình huống thường là một chương trình, một tổng thể, một người hay một nhóm … Các nhà nghiên cứu đánh giá đối tượng của nghiên cứu tình huống theo chiều sâu, sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thay đổi tạo ra dữ kiện và tạo điều kiện để biết rõ các tình huống và trả lời các câu hỏi nghiên cứu Các câu hỏi thường bắt đầu bằng “làm thế nào?” (How) hoặc “tại sao?” (Why)

2 Chọn các tình huống, xác định dữ liệu thu thập và kỹ thuật phân tích : Nghiên cứu tình huống có thể gồm nghiên cứu một ngành công nghiệp riêng hoặc một doanh nghiệp tham gia trong ngành công nghiệp này Loại nghiên cứu tình huống này gồm 2 mức phân tích và tăng độ phức tạp của lượng dữ liệu thu thập và phân tích

Các công cụ thu thập dữ liệu có thể gồm : điều tra (survey), phỏng vấn, xem xét tài liệu, quan sát, … Nhà nghiên cứu phải sử dụng các công cụ thu thập dữ liệu được thiết kế có hệ thống và đúng đắn trong việc thu thập các sự kiện Nhà nghiên cứu phải đảm bảo rằng nghiên cứu được cấu trúc tốt để bảo đảm độ giá trị cấu trúc, độ giá trị nội tại, độ giá trị ngoại vi và độ tin cậy [17]

 Độ giá trị cấu trúc : yêu cầu nhà nghiên cứu phải sử dụng các đo lường đúng cho những khái niệm được nghiên cứu

Trang 40

 Độ giá trị nội tại (đặc biệt quan trọng đối với những nghiên cứu nhân quả hoặc giải thích) : minh hoạ những điều kiện này dẫn đến những điều kiện khác và yêu cầu sử dụng nhiều mẫu sự kiện từ nhiều nguồn không bị trùng lắp

 Độ giá trị ngoại vi : phản ảnh việc có hoặc không có những phát hiện được tổng quát hoá Càng nhiều nơi chốn, con người và các qui trình của nghiên cứu tình huống có thể giữ vững được và vẫn cho ra cùng những phát hiện thì càng có nhiều giá trị ngoại vi

 Độ tin cậy : liên quan đến sự ổn định, chính xác và đúng đắn của việc đo lường thiết kế nghiên cứu tình huống để dẫn chứng và đảm bảo rằng các qui trình được tài liệu hoá tốt và có thể lặp đi lặp lại với cùng các kết quả

3 Chuẩn bị thu thập dữ liệu : vì nghiên cứu tình huống sinh ra một lượng lớn dữ kiện từ nhiều nguồn, nên tổ chức dữ liệu có hệ thống là một việc làm rất quan trọng nhằm ngăn ngừa cho nhà nghiên cứu bị mất tập trung vào những câu hỏi và mục dích nghiên cứu ban đầu Nhà nghiên cứu chuẩn bị cơ sở dữ liệu kết hợp với việc phân loại , sắp xếp, lưu trữ và truy lục dữ liệu để phân tích Sau khi các nghiên cứu viên được huấn luyện, bước chuẩn bị trước là để chọn một nơi thử nghiệm và giới thiệu thử sử dụng mỗi phương pháp thu thập dữ liệu để các lãnh vực trong đề tài nghiên cứu có thể không

bị trùng lắp và đúng đắn Nhà nghiên cứu cần tham gia vào

Ngày đăng: 09/02/2021, 15:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[20] Website http://en.wikipedia.org/wiki/Chaos_theory [21] Website http://necsi.org/guide/concepts/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://en.wikipedia.org/wiki/Chaos_theory" [21] Website
[23] Website http://www.exploratorium.edu/complexity/lexicon/chaos.html[24]Website http://www.imho.com/grae/chaos/chaos.htmlChaos Theory : A Brief Introduction Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.exploratorium.edu/complexity/lexicon/chaos.html"[24] Website "http://www.imho.com/grae/chaos/chaos.html
[25] Website http://fiat.gslis.utexas.edu/~ssoy/usesusers/1391dlb.html (1997) The Case Study as a research method Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://fiat.gslis.utexas.edu/~ssoy/usesusers/1391dlb.html
[26] Website http://www.jhu.edu/ Chaos and Fractals.Department of Physics and Astronomy at the Johns Hopkins University Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.jhu.edu/
[28] Website http://library.thinkquest.org/3493/noframes/chaos.html Chaos Theory Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://library.thinkquest.org/3493/noframes/chaos.html
[5] Gene Bellinger (2004) http://www.systems-thinking.org Link
[31] Website http://www.indiainfoline.com/bisc/sys7.html Link
[1] Craig W. Kirkwood (1998) System Dynamics Methods : A Quick Introduction Khác
[2] David Levy (1994) Chaos theory and Stragery : Theory, Application, and Managerial Implications.University of Massachusetts – Boston Khác
[3] Dimitris N-Chorafas (2001) Integrating ERP, CRM, Supply chain management and smart materiels.Library of congress cataloging - in - Publication Data Khác
[4] F. David Peat (2005) Non-Linear Dynamics (Chaos Theory) and Its Implications for Policy Planning Khác
[6] Hau L. Lee, V.Padmanabhan and Seungjin Whang (1997) The Bullwhip Effect in Supply Chains.Sloan Management Review Khác
[7] Henk Akkermans and Bart Vos (2003) Amplication in Service Supply Chains : An Exploratory Case Study From The Telecom Industry.Eindhoven University of Technology Khác
[8] Henk Akkermans (2001) Emergent Supply Networks: System Dynamics Simulation of Adaptive Supply Agents.Eindhoven University of Technology Khác
[9] Huy Võ Văn (2004) Mô phỏng Kinh Doanh.Tài liệu môn học – Trường Đại học Bách Khoa Khác
[11] Marshall L. Fisher (1997) What is the right supply chain for product?Havard business review Khác
[12] Michael Hugos (2003). Essentials of supply chain management.John Wiley & son. Inc Khác
[13] Mike Andrews (1996) Introduction to Chaos Theory Khác
[14] Peter Bradley (2001) Supply chain Management Review Khác
[16] Sterman, J.D. (2000). Business Dynamics : Systems Thinking and Modeling for A Complex World.McGraw-Hill, New York, NY Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w