Với mong muốn nghiên cứu thực trạng sử dụng thước đo HQHĐtrong các DN và ảnh hưởng của các yếu tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ trong các DNSXVN, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: "Cá
Trang 1CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Đo lường và đánh giá là một chức năng quan trọng của quản trị doanh
nghiệp Theo Needly (1999) "nếu không đo lường được thì không quản trị
được" Đo lường bằng cái gì thì nhận được cái đó (Kaplan, 1991) Như vậy, có
thể nói đo lường và đánh giá ảnh hưởng đến hành vi của các nhà quản trị trong
doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến HQHĐ ngắn hạn cũng như dài hạn của
doanh nghiệp Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá có vai trò quan trọng trong định
hướng hoạt động của các nhà quản trị và các bộ phận trong doanh nghiệp Các
nhà quản trị thường bị tác động bởi các thước đo HQHĐ và thường tập trung
vào những khía cạnh và hoạt động được đánh giá
Trong điều kiện toàn cầu hóa và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
nước cũng như với các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng tăng, nhu cầu nâng
cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển
trên thị trường ngày càng trở nên cấp thiết Muốn hoạt động kinh doanh hiệu
quả và cạnh tranh thắng lợi, các doanh nghiệp phải được đầu tư về vốn, công
nghệ hiện đại và được quản trị theo phương pháp hiện đại với sự hỗ trợ của hệ
thống thước đo phù hợp phục vụ cho đánh giá HQHĐ Với mong muốn nghiên
cứu thực trạng sử dụng thước đo HQHĐtrong các DN và ảnh hưởng của các
yếu tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ trong các DNSXVN, tác giả chọn
nghiên cứu đề tài: "Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các thước đo hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất Việt Nam" cho luận án của mình
1.2 Mục tiêu, phạm vi, câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là nghiên cứu tình trạng sử
dụng các thước đo HQHĐ trong các DNSX và ảnh hưởng của một số yếu tố
đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ của các doanh nghiệp này
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm:
1 Nghiên cứu thực trạng sử dụng các thước đo HQHĐ
2 Xác định ảnh hưởng của một số nhân tố đến mức độ sử dụng các thước đo
HQHĐ của các DNSX Việt Nam
3 Đề xuất và khuyến nghị một số giải pháp góp phần thúc đẩy và hoàn thiện hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án sẽ lựa chọn các DNSX để nghiên cứu thực trạng các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh và ảnh hưởng của các yếu tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ trong các DN này Các DNSX sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên với quy mô khác nhau Do điều kiện khó khăn về nguồn lực, luận án sẽ tập trung nghiên cứu các DNSXVN trên địa bàn một số địa phương xung quanh
Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu như đã trình bày ở trên, luận án sử dụng câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng các thước đo HQHĐở mức độ nào? (2) Các nhân tố trong mô hình nghiên cứu có ảnh hưởng như thế nào đến mức
độ sử dụng các thước đo HQHĐ trong các doanh nghiệp Việt Nam?
(3) Các khuyến nghị và giải pháp nào cần thiết để góp phần thúc đẩy và hoàn thiện
hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam?
1.3 Kết cấu của luận án
Luận án này được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân
tố đến việc sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Chương 3 Xây dựng giả thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ của các DNSXVN
Chương 5 Thảo luận kết quả nghiên cứu, khuyến nghị và kết luận
Trang 2CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA
CÁC NHÂN TỐ ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC THƯỚC ĐO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 2.1 Hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp
2.1.1 Vai trò của đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh là vấn đề được quan tâm của mỗi nhà quản trị Để
đánh giá được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp người ta phải đo lường
được chúng Một hệ thống đo lường HQHĐ là một tập hợp các thước đo được
sử dụng để định lượng cả hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động (Neely et al
(1995) Do vậy, đo lường và đánh giá kết quả hoạt đông gắn bó hữu cơ với
nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau Nếu không đo lường được kết quả hoạt động
thì không thể đánh giá được HQHĐ Ngược lại, nếu doanh nghiệp không đánh
giá HQHĐ thì cũng không đặt ra nhu cầu phải đo lường HQHĐ Đo lường
HQHĐ là một chức năng quan trọng của quản trị Nếu không đánh giá được thì
cũng không cải thiện được (Agrawal, 2006) Đo lường HQHĐ cũng giúp cho
các nhà quản trị biết được tình trạng hoạt động của doanh nghiệp và dự đoán sự
thành công của doanh nghiệp trong tương lai
2.1.2 Các loại thước đo hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp
Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trước năm 1980, các thước đo
HQHĐ được sử dụng chủ yếu là các thước đo tài chính Các thước đo này dựa
trên các dữ liệu do hệ thống kế toán cung cấp Tuomela, (2005) cho rằng các chỉ
tiêu tài chính là khách quan, tin cậy, có thể kiểm chứng và ít tốn kém hơn khi sử
dụng (Tuomela, 2005) Tuy nhiên các tác giả khác như Kaplan & Norton (1992,
1996); Chenhall (1997); Perera, Harrison & Poole (1997); Ittner, Larcker &
Rajan (1997); Ittner & Larcker (1998); Otley, (1999) Banker, Potter &
Srinivasan (2000) đều chỉ ra hạn chế của các thước đo tài chính Đo lường
HQHĐ dựa trên các thước đo tài chính được coi là không phù hợp với những
thay đổi gần đây về môi trường kinh doanh, đặc biệt liên quan đến các công nghệ
mới và cạnh tranh gia tăng (Kaplan và Norton, 1992)
Nhằm khắc phục những hạn chế của các thước đo HQHĐ dựa trên tài
chính, từ sau năm 1980 nhiều thước đo phi tài chính đã được phát triển và sử
dụng Các thước đo phi tài chính là những chỉ số tốt hơn về hiệu quả tài chính
trong tương lai so với các thước đo kế toán, và chúng có giá trị trong việc đánh giá và thúc đẩy sự hoàn thiện của nhà quản trị (Banker và cộng sự, 2000) Các
hệ thống đo lường HQHĐ này được Neely (1999) gọi là các hệ thống đo lường HQHĐ hiện đại (sau năm 1980) để phân biệt với các hệ thống đo lường HQHĐ chủ yếu dựa vào các thước đo tài chính được gọi là các hệ thống đo lường HQHĐ truyền thống (trước 1980) (Neely, 1999)
2.1.3 Yêu cầu và nguyên tắc xây dựng hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp
Hệ thống đo lường HQHĐ là công cụ quan trọng hỗ trợ cho các nhà quản trị trong quá trình quản trị hiệu quả, kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp và tạo động lực cho người lao động Do tầm quan trọng và ảnh hưởng của đo lường HQHĐ đến hiệu quả quản trị và hoạt động của doanh nghiệp, hệ thống đo lường HQHĐ phải được xây dựng dựa trên các yêu cầu và nguyên tắc nhất định Nhiều nhà nghiên cứu đã nêu ra các yêu cầu cần phải đạt được của một hệ thống đo lường HQHĐ (nghiên cứu của Gomes và cộng sự (2004), Neely (1998))
2.1.4 Các mô hình đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp
Các mô hình đo lường HQHĐ cung cấp sự đánh giá cân bằng giữa các loại thước đo và tích hợp với chiến lược của doanh nghiệp Một số mô hình tiêu biểu bao gồm:
- Mô hình ma trận đánh giá hiệu suất của Keegan, Eiler và Jones (1989)
- Mô hình Kim tự tháp SMART của Lynch và Cross (1991);
- Mô hình kết quả và yếu tố quyết định (Result and Determinants Framework) của Fitzgerald và cộng sự (1991)
- Mô hình câu hỏi đánh giá hiệu quả (Performance Measurement Questionnaire) của Dixon và cộng sự (1990)
- Mô hình Lăng kính hiệu quả của Neely (2001)
- Mô hình Bảng điểm cân bằng của Kaplan và Norton (1992) Đặc điểm chung của các mô hình này là đều có sự kết hợp giữa các chỉ tiêu tài chính với các chỉ tiêu phi tài chính và gắn với chiến lược Nổi bật trong
số các mô hình trên là mô hình Bảng điểm cân bằng (Balance Scorecard) đánh giá hiệu quả dưới nhiều khía cạnh khác nhau của Kaplan và Norton (Bourne, 2003).Bảng điểm cân bằng đã thoát khỏi khuôn khổ các chỉ tiêu tài chính truyền thống, sử dụng cân bằng các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính để đánh giá
Trang 3nguyên nhân dẫn đến sự thành công của chiến lược Kể từ khi được giới thiệu
đến nay, bảng điểm cân bằng đã được nhiều doanh nghiệp đón nhận, áp dụng và
đã đem lại thành công cho các doanh nghiệp
2.2 Tổng quan nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử
dụng các thước đo hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp
2.2.1 Các công trình nghiên cứu về mức độ sử dụng các thước đo hiệu
quả hoạt động
Mặc dù không có nhiều công trình nghiên cứu riêng mức độ sử dụng các
thước đo HQHĐ,nhưng các nghiên cứu liên quan đến mức độ sử dụng và tầm
quan trọng của các thước đo HQHĐ như là một thành phần của KTQT lại khá
phổ biến Nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998), phát triển từ mô
hình nghiên cứu của De Meyer (1989) và Miller (1992) Trong nghiên cứu này,
hệ thống đo lường HQHĐ là một trong 5 thành phần của hệ thống KTQT: hạch
toán chi phí (product costing), lập kế hoạch (Planning practices), hỗ trợ ra quyết
định (decision support), đo lường HQHĐ (Perfomance evaluation practices), và
hỗ trợ chiến lược (Strategically-focused techniques) Nghiên cứu chỉ ra được
mức độ áp dụng cũng như những lợi ích thu được từ việc áp dụng các thước đo
HQHĐ của các DN quy mô lớn của Úc nhưng Chenhall và Langfield-Smith
(1998) không chỉ ra được những nhân tố nào có ảnh hưởng đến mức độ áp dụng
các thước đo HQHĐ cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ
áp dụng các thước đo HQHĐ trong các DN Ngoài ra còn cái các nghiên cứu
vềmức độ sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động của các tác
giả:Abdel-Kader và Luther (2006; 2008), Ahmad và Mohamed Zabri (2012), Ahmad và
cộng sự (2015), Pierce và O’Dea (1998), Hoque (2004), Kennerley và Neely
(2002), Abdel-Maksoud et al (2005; 2008), Tymon et al (1998), Speckbacher
(2003), Abernethy et al (2004), Abernethy & Bouwens (2005), Ismail (2007),
Trần Quốc Việt (2013), Vũ Thị Sen (2018) Xiao và các cộng sự (2006),
Nishimura (2003), Sulaiman và cộng sự (2004), Hyvonen
(2005),Abdel-Maksoud và Abdel-Kader (2005; 2007), Gosselin (2005), Gomes và cộng sự
(2011), Bhimani và Langfield-Smith (2007), Abdel-Maksoud và Abdel-Kader
(2007),
2.2.2 Các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc
sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động
Một trong những công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến ảnh hưởng
của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ là của Zaman và cộng sự (2016) Đóng góp lớn của nghiên cứu này là tổng hợp được các công trình nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ Ngoài ra, các nghiên cứu đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các chỉ tiêu đo lường HQHĐ như nghiên cứu của các tác giả: Amat và cộng sự (1994), Halma và Laats (2002), Sulaiman (2003), Anderson
và Larnen (1999), Wu, Boateng và Drury (2007), Abdel-Kader và Luther (2008), Subasinghe và A T Fonseka (2010), Abdel và cộng sự (2011), Ahmad Amah (2012), Lee, C, L & Yang, H J (2011), Doan Ngoc Phi Anh (2012), Chen và cộng sự (2014), Sulaiman và cộng sự (2015), Blau (1970), Chenhall and Langfield-Smith (1998), Pierce và O’Dea (1998), Mohamed Basheikh và Abdel-Maksoud (2005), Lillis và van Veen-Dirks (2008), Trần Ngọc Hùng (2016), Thái Anh Tuấn (2019)
2.2.3 Kết luận rút ra từ các công trình nghiên cứu
Thứ nhất, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu để tìm nguyên nhân và lý giải sự khác nhau về việc sử dụng các công cụ KTQT Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này phần lớn được thực hiện ở các nước phát triển Tại các nước đang phát triển như Malaysia, Thái Lan, Banglades, Jordani, Sri Lanca, v.v , cũng có nhiều nghiên cứu về tình hình áp dụng các phương pháp KTQT và các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các công cụ KTQT đã được thực hiện Ở Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về sử dụng các thước đo HQHĐ và ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước
đo HQHĐtrong các doanh nghiệp Việt Nam
Thứ hai, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố với việc sử dụng các thước đo HQHĐ trên thế giới rất hạn chế và thường là một phần của nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng KTQT
Thứ ba, mặc dù đã chỉ ra được ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến sự thay đổi của các kỹ thuật KTQT và việc sử dụng KTQT trong các doanh nghiệp nhưng các nghiên cứu này không đề cập nhiều đến ảnh hưởng của các nhân tố đến sự thay đổi và việc sử dụng các thước đo HQHĐ
Trang 4Thứ tư, tại Việt Nam, mặc dù đã có 2 nghiên cứu về ảnh hưởng của các
nhân tố đến áp dụng KTQT của Trần Ngọc Hùng và Thái Anh Tuấn nhưng
chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các
thước đo HQHĐ trong các doanh nghiệp Việt Nam Do vậy, đây là khoảng
trống để luận án nghiên cứu mối quan hệ của các nhân tố đến việc sử dụng các
thước đo HQHĐ trong các doanh nghiệp Việt Nam
2.3 Các lý thuyết nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử
dụng thước đo hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp
2.3.1 Lý thuyết ngẫu nhiên
Mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng về môi trường hoạt động,
mục tiêu kinh doanh, văn hóa tổ chức và chiến lược hoạt động, v.v… Do vậy,
để phù hợp với mục tiêu, văn hóa và các yếu tố thành công, mỗi doanh nghiệp
cần có hệ thống KTQT riêng cũng như hệ thống đo lường HQHĐ riêng phù hợp
với đặc điểm của doanh nghiệp Do đó tác giả sử dụng lý thuyết ngẫu nhiên là
nền tảng cho nghiên cứu của mình
2.3.2 Lý thuyết về sự phát tán đổi mới
Lý thuyết về sự phát tán đổi mới là một trong những lý thuyết khoa học
xã hội lâu đời nhất Lý thuyết này giải thích cách thức một ý tưởng hoặc sản
phẩm có được sức mạnh phát tán hoặc được một cộng đồng cụ thể hay hệ thống
xã hội chấp nhận theo thời gian
2.3.3 Lý thuyết các bên liên quan
Hoạt động của doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến chủ sở hữu, người
lao động mà còn ảnh hưởng và gắn liền với lợi ích của nhiều đối tượng lý
thuyết các bên liên quan được coi như một cơ sở để giải thích việc việc sử
dụng/không sử dụng một thước đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Lý
thuyết này cũng là cơ sở để giải thích việc đưa sự ủng hộ của nhà quản trị cao
nhất đối với đo lường hiệu quả hoạt động là một biến độc lập vào mô hình
nghiên cứu
CHƯƠNG 3:
XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 3.1 Thiết kế nghiên cứu
Theo Hair và cộng sự (2007), thiết kế nghiên cứu cung cấp thông tin phù hợp nhất để giải quyết các câu hỏi hay giả thuyết nghiên cứu Để trả lời các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu, cần phải có ba thiết kế nghiên cứu riêng biệt: nghiên cứu khám phá; nghiên cứu mô tả; và nghiên cứu quan hệ nhân quả (Hair và cộng
sự, 2014)
Nghiên cứu khám phá sử dụng phương pháp định tính để khám phá các nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ trong các DN Nghiên cứu mô tả dùng để trả lời câu hỏi về thực trạng sử dụng các thước đo HQHĐ trong các DN Để trả lời câu hỏi về ảnh hưởng của các nhân tố đến mức
độ sử dụng các thước đo HQHĐ trong các DN, các dữ liệu mô tả cũng được thu thập phục vụ cho phân tích và nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa các nhân
tố trong mô hình với mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ
3.1.1 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu các chuyên gia để lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến mức
độ sử dụng chỉ tiêu đánh giá trong mô hình nghiên cứu
Tóm tắt kết quả thảo luận với các chuyên gia về các biến độc lập được lựa chọn trong mô hình như sau:
Bảng 3.1 Tóm tắt kết quả thảo luận lựa chọn biến độc lập
Mô hình dự kiến Kết quả thảo luận
với chuyên gia Biến độc lập Nghiên cứu gốc
Quy mô doanh nghiệp
Piercer & O’Dea (1998), Williams và Seaman (2001), Xiao (2006), Abdel-Kader và Luther (2008), Ahmad (2012), Halbouni (2014), Al-Omiri và Drury (2007), Karanja (2013), v.v…
Chấp nhận
Áp lực cạnh tranh Bruns và Kaplan (1991), Wijewardena, H và De
Zoysa, A (1999), Luther và Longden (2001), Chenhall (2003), của Doan Ngoc Phi Anh (2012),
Chấp nhận
Trang 5Mô hình dự kiến Kết quả thảo luận
với chuyên gia Biến độc lập Nghiên cứu gốc
Ahmad (2012)
Mức độ phân
quyền
Doan Ngoc Phi Anh (2012), Ahmad (2012) Điều chỉnh thành Sự phân
quyền Cấu trúc doanh
nghiệp
Grover (1993), Lee & Yang (2011) Chấp nhận
Thời gian hoạt
động
Doan Ngoc Phi Anh (2012), Karanja (2013) Loại bỏ
Sự tham gia của
NQT cao nhất vào
đo lường HQHĐ
Premkumar, (1995), Brown (2004), Ahmad
(2012)
Điều chỉnh thành sự ủng
hộ của NQT cao nhất với
đo lường HQHĐ Bằng cấp chuyên
môn của nhân viên
kế toán
Halma và Laats (2002); Al-Omiri (2003) và
Ismail và King (2007), Allahyari và Ramazani
(2011), Ahmad (2012), Doan Ngoc Phi Anh
(2102), Halbouni (2014)
Đổi thành sự hiểu biết của nhân viên kế toán về
đo lường HQHĐ
3.1.2 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
Quy mô DN có thể ảnh hưởng quan trọng đến cách thức tổ chức và sử
dụng các thước đo HQHĐ
Giả thuyết H 1-1 Quy mô công ty có ảnh hưởng tích cực đến mức độ sử
dụng các thước đo HQHĐ
Cạnh tranh trên thị trường buộc các DN phải chú ý đến HQHĐ để duy trì
lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ
Giả thuyết H 1-2 : Áp lực cạnh tranh có ảnh hưởng tích cực đến mức độ sử
dụng các thước đo HQHĐ
Phân quyền ra quyết định làm phát sinh nhu cầu về thông tin để ra quyết
định và đánh giá HQHĐ Mối quan hệ giữa phân quyền và việc sử dụng các
thước đo HQHĐ đã được một số học giả nghiên cứu trước đó và cho ra kết quả
nghiên cứu cũng rất khác nhau
Giả thuyết H 1-3 : Sự phân quyền trong các doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ
Các nghiên cứu của Abernethy et al., (2004); Langfield-Smith (1997); Luft và Shields (2003) cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc doanh nghiệp và mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ
Giả thuyết H 1-4 Cấu trúc doanh nghiệp khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ
Sự hiểu biết của NQT cao nhất về đo lường HQHĐ có thể là một nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ Các NQT cần thông tin
để đánh giá, khen thưởng và ra quyết định làm phát sinh nhu cầu phải sử dụng các thước đo HQHĐ để đáp ứng được nhu cầu này
Giả thuyết H 1-5 Sự ủng hộ của NQT cao nhất có ảnh hưởng tích cực đến mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ
Sự hiểu biết của nhân viên kế toán về đo lường HQHĐ có thể là một nhân
tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các thước đo HQHĐ Các nhân viên kế toán được đào tạo tốt, có hiểu biết đầy đủ về đo lường HQHĐ, hiểu biết về vai trò và ảnh hưởng của mỗi thước đo đến hành vi của các nhà quản trị và sự thành công của doanh nghiệp
Giả thuyết H 1-6 Sự hiểu biết của nhân viên kế toán về đo lường HQHĐ có ảnh hưởng tích cực đến mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ
3.1.3 Mô hình nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết ngẫu nhiên, lý thuyết về sự phát tán đổi mới và lý thuyết các bên liên quan, luận án đưa ra mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ trong các DNSXVN như sau:
Trang 6Tác giả phát triển từ Ahmad, 2012, Doan, 2012
Trong mô hình nghiên cứu này, biến phụ thuộc là mức độ sử dụng các
thước đo HQHĐ trong các DN
Biến độc lập trong mô hình này là các yếu tố có thể có ảnh hưởng đến
mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ trong các DN Các biến độc lập bao gồm:
• Áp lực cạnh tranh
• Phân quyền
• Cấu trúc doanh nghiệp
• Sự ủng hộ của NQT cao nhất đối với đo lường HQHĐ
• Sự hiểu biết của nhân viên kế toán về đo lường HQHĐ
• Quy mô DN (biến kiểm soát)
Phương trình phản ánh mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ
thuộc dự kiến như sau:
Yi =β0 + β1X1 + β2X2 + βnXn+ ɛ
Trong đó:
Y: Mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ
β0: Hằng số
βi: Hệ số ảnh hưởng của biến độc lập i vào biến phụ thuộc i
Xi: Mức độ ảnh hưởng của biến độc lập i vào biến phụ thuộc i
ɛ: Ảnh hưởng của các nhân tố không được nghiên cứu
3.2 Phương pháp chọn mẫu
3.2.1 Đối tượng chọn mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu
Đối tượng chọn mẫu là các DNSXVN Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, các doanh nghiệp được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, xung quanh Hà Nội
Phiếu khảo sát được sử dụng để thu thập các dữ liệu phục vụ cho mô tả và kiểm định các giả thuyết Các phiếu khảo sát được đưa đến trực tiếp tại công ty, gửi qua bưu điện hoặc khảo sát online thông qua website tại địa chỉ https://docs.google.com/forms Để tiện cho thu thập và xử lý dữ liệu, các phiếu khảo sát bằng giấy sau khi được trả lời cũng được điều tra viên nhập vào form trên ứng dụng tại địa chỉ https://docs.google.com/forms
3.2.2 Cỡ mẫu
Luận án đặt mục tiêu thu thập được từ 140-160 phiếu khảo sát Mẫu khảo sát sẽ bao gồm các DN khác nhau về quy mô, hình thức tổ chức và thành phần
sở hữu Để thu thập đủ số mẫu cần thiết cho nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện Với số lượng khoảng 450 phiếu gửi đi, tác giả
hy vọng nhận được từ 150 đến 200 phiếu trả lời
3.3 Trình tự nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ được thực hiện theo trình tự sau:
Bước 1 Nghiên cứu tài liệu Bước 2 Xác định các biến độc lập và xây dựng phiếu khảo sát Bước 3 Gửi phiếu khảo sát kiểm định thử
Bước 4 Điều chỉnh phiếu khảo sát, tiến hành khảo sát chính thức Bước 5 Làm sạch dữ liệu
Bước 6 Phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20 và SmartPLS 3
Trang 7CHƯƠNG 4:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ
ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC THƯỚC ĐO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC DNSXVN 4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Số phiếu phát ra và gửi qua bưu điện, email (link và bản mềm phiếu khảo
sát), thông qua các điều tra viên đến doanh nghiệp gặp kế toán trưởng, trưởng
phòng hoặc nhân viên kế toán để phỏng vấn và điền vào phiếu khảo sát là gần 450
phiếu Số phiếu thu về là 171 phiếu, số phiếu sử dụng được sau khi làm sạch là
153 phiếu Tỷ lệ hồi đáp đạt gần 38,0% Tỷ lệ phiếu sử dụng được trên tổng số
phiếu thu về là 89,4%
4.2 Kết quả khảo sát tình hình và mức độ sử dụng các thước đo hiệu
quả hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam
Sử dụng chức năng phân tích tần suất của phần mềm SPSS20 để thực
hiện thống kê mô tả thực trạng áp dụng các thước đo HQHĐ trong các
DNSXVN Kết quả cho thấy các doanh nghiệp sản xuất quan tâm nhiều hơn
đến năng suất lao động, thời gian sản xuất, tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận
nhưng ít chú ý đến số lượng sản phẩm bị trả lại, số lần hỏng máy, tỷ lệ nhân
viên bỏ việc và các thông tin liên quan đến tai nạn lao động
4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các biến độc lập đến mức độ sử dụng
các thước đo hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam
Kiểm tra các tiêu chí của mô hình cho thấy các mô hình đều đạt độ tin cậy
đồng nhất nội bộ, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt cần thiết để đánh giá ảnh
hưởng của các biến độc lập lên biến phụ thuộc Chạy Boostrap cho từng mô
hình bằng phần mềm SmartPSL 3 cho kết quả như sau:
Mô hình 1
Mô hình này đánh giá ảnh hưởng của các biến ngẫu nhiên với mức độ sử
dụng các thước đo tài chính gồm Tỷ lệ tăng doanh thu; Dòng tiền; Tỷ lệ tăng
trưởng lợi nhuận; Lợi nhuận thực tế/dự toán; Lợi tức đầu tư (ROI); Lợi nhuận
trên tài sản (ROA) và Lợi nhuận trên vốn CSH (ROE)
Bảng 4.20 Hệ số Beta và P-value của mô hình 1 Giả
thuyết Mối quan hệ
Hệ số Beta
P Values Kết quả
H1-1 Quy mô -> Tài chính -0,013 0,827 Bác bỏ
H1-2 Cạnh tranh -> Tài chính 0,146 0,046 Chấp nhận
H1-3 Phân quyền -> Tài chính 0,272 0,010 Chấp nhận
H1-4 Chặt chẽ -> Tài chính 0,076 0,356 Bác bỏ
H1-5 Linh hoạt -> Tài chính 0,256 0,009 Chấp nhận
H1-6 HB & UH -> Tài chính 0,405 0,000 Chấp nhận
Mô hình lý thuyết PLS-SEM về ảnh hưởng của các biến độc lập đến mức
độ sử dụng các thước đo tài chính trong các DNSXVN:
F1 = 0,405X6 + 0,272X3 + 0,226X5+ 0,146X2
Trong đó:
F1: Mức độ sử dụng các thước đo tài chính
X2: Cạnh tranh
X3: Phân quyền
X5: Cấu trúc linh hoạt
X6: Sự hiểu biết và ủng hộ
Mô hình 2
Mô hình 2 kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến độc lập với mức độ sử dụng các thước đo khía cạnh khách hàng gồm: Tỷ lệ hài lòng của khách hàng; Số lượng khiếu nại của khách hàng; Tỷ lệ giao hàng đúng hạn; Số lượng khách hàng mới và Tỷ lệ doanh thu từ khách hàng mới
Bảng 4.21 Hệ số Beta và P-value của mô hình 2 Giả
thuyết Mối quan hệ
Hệ số Beta
P Values Kết quả
H1-7 Quy mô -> Khách hàng -0,157 0,116 Bác bỏ
H1-8 Cạnh tranh -> Khách hàng 0,263 0,001 Chấp nhận
H1-9 Phân quyền -> Khách hàng 0,138 0,138 Bác bỏ
H1-10 Chặt chẽ -> Khách hàng 0,192 0,023 Chấp nhận
H1-11 Linh hoạt -> Khách hàng 0,176 0,069 Bác bỏ
H1-12 HB & UH -> Khách hàng 0,418 0,000 Chấp nhận
Nguồn: Phân tích của tác giả bằng phần mềm SmartPLS 3
Trang 8Mô hình lý thuyết PLS-SEM về ảnh hưởng của các biến độc lập đến mức
độ sử dụng các thước đo khía cạnh khách hàng trong các DNSXVN là:
F2 = 0,418X6 + 0,263X2 + 0,192X4
Trong đó:
F2: Mức độ sử dụng các thước đo khía cạnh khách hàng
X2: Cạnh tranh
X4: Cấu trúc chặt chẽ
X6: Sự hiểu biết và ủng hộ
Mô hình 3
Mô hình 3 kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến độc lập
với mức độ sử dụng các thước đo khía cạnh nhân viên gồm: Tỷ lệ nhân viên bỏ
việc; Chi phí đào tạo nhân viên và Sự hài lòng của nhân viên
Bảng 4.22 Hệ số Beta và P-value của mô hình 3
Giả
thuyết Mối quan hệ
Hệ số Beta
P Values Kết quả
H1-13 Quy mô -> Nhân viên -0,021 0,742 Bác bỏ
H1-14 Cạnh tranh -> Nhân viên 0,123 0,190 Bác bỏ
H1-15 Phân quyền -> Nhân viên 0,178 0,019 Chấp nhận
H1-16 Chặt chẽ -> Nhân viên 0,254 0,003 Chấp nhận
H1-17 Linh hoạt -> Nhân viên 0,215 0,024 Chấp nhận
H1-18 HB &UH -> Nhân viên 0,332 0,004 Chấp nhận
Nguồn: Phân tích của tác giả bằng phần mềm SmartPLS 3
Mô hình lý thuyết PLS-SEM về ảnh hưởng của cấu trúc doanh nghiệp
chặt chẽ đến mức độ sử dụng các thước đo khía cạnh nhân viên trong các
DNSXVN là:
F3 = 0,332X6 + 0,254X4 + 0,215X5+ 0,178X3
Trong đó:
F3: Mức độ sử dụng các thước đo khía cạnh nhân viên
X3: Phân quyền
X4: Cấu trúc chặt chẽ
X5: Cấu trúc linh hoạt
X6: Sự hiểu biết và ủng hộ
Mô hình 4
Mô hình này kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến độc lập với mức độ sử dụng các thước đo khía cạnh quy trình nội bộ gồm: Số vụ tai nạn; Số tiền bồi thường, chữa trị tai nạn; Tỷ lệ phế liệu; Năng suất lao động; Thời gian sản xuất; Thời gian ngừng việc và Số giờ/số lần hỏng máy
Bảng 4.23 Hệ số Beta và P-value của mô hình 4 Giả
thuyết Mối quan hệ
Hệ số Beta
P Values Kết quả
H1-19 Quy mô -> Nội bộ -0,024 0,670 Bác bỏ
H1-20 Cạnh tranh -> Nội bộ 0,246 0,020 Chấp nhận
H1-21 Phân quyền -> Nội bộ 0,244 0,017 Chấp nhận
H1-22 Chặt chẽ -> Nội bộ 0,228 0,007 Chấp nhận
H1-23 Linh hoạt -> Nội bộ 0,221 0,033 Chấp nhận
H1-24 HB & UH -> Nội bộ 0,164 0,241 Bác bỏ
Nguồn: Phân tích của tác giả bằng phần mềm SmartPLS 3
Mô hình lý thuyết PLS-SEM về ảnh hưởng của các biến độc lập đến mức
độ sử dụng các thước đo nội bộ trong các DNSXVN:
F4 = 0,246X2 + 0,244X3 + 0,228X4+ 0,221X5
Trong đó:
F4: Mức độ sử dụng các thước đo nội bộ
X2: Cạnh tranh
X3: Phân quyền
X4: Cấu trúc chặt chẽ
X5: Cấu trúc linh hoạt
Trang 9Mô hình 5
Mô hình 5 kiểm định giả thuyết về mối quan hệ ảnh hưởng của các biến
độc lập đến mức độ sử dụng các thước đo chất lượng sản phẩm như: Tỷ lệ sản
phẩm hỏng; Tỷ lệ sản phẩm bị trả lại; Chi phí chất lượng và Chi phí sửa chữa,
bảo hành
Bảng 4.24 Hệ số Beta và P-value của mô hình 5
Giả
thuyết Mối quan hệ
Hệ số Beta
P Values Kết quả
H1-25 Quy mô -> Chất lượng SP -0,012 0,875 Bác bỏ
H1-26 Cạnh tranh -> Chất lượng SP 0,260 0,002 Chấp nhận
H1-27 Phân quyền -> Chất lượng SP 0,226 0,006 Chấp nhận
H1-28 Chặt chẽ -> Chất lượng SP 0,224 0,004 Chấp nhận
H1-29 Linh hoạt -> Chất lượng SP 0,228 0,007 Chấp nhận
H1-30 HB & UH -> Chất lượng SP 0,264 0,000 Chấp nhận
Nguồn: Phân tích của tác giả bằng phần mềm SmartPLS 3
F5 = 0,260X2 + 0,226X3+ 0,224X4 + 0,228X5 + 0,264X6
Trong đó:
F5: Mức độ sử dụng các thước đo chất lượng
X2: Cạnh tranh
X3: Phân quyền
X4: Cấu trúc chặt chẽ
X5: Cấu trúc linh hoạt
X6: Sự hiểu biết và ủng hộ
Mô hình 6
Mô hình 6 kiểm định giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến độc lập với
mức độ sử dụng các thước đo đổi mới sản phẩm Các thước đo được lựa chọn
đại diện cho đổi mới sản phẩm là: Số lượng sản phẩm mới ra thị trường; Thời
gian sản phẩm mới ra thị trường và Tỷ lệ doanh thu từ sản phẩm mới
Bảng 4.25 Hệ số Beta và P-value của mô hình 6 Giả
thuyết Mối quan hệ
Hệ số Beta
P Values Kết quả
H1-31 Quy mô -> Đổi mới sản phẩm 0,037 0,554 Bác bỏ
H1-32 Cạnh tranh -> Đổi mới sản
H1-33 Phân quyền -> Đổi mới sản
H1-34 Chặt chẽ -> Đổi mới sản phẩm 0,233 0,007 Chấp nhận
H1-35 Linh hoạt -> Đổi mới sản phẩm 0,218 0,031 Chấp nhận
H1-36 HB & UH -> Đổi mới sản phẩm 0,353 0,001 Chấp nhận
Nguồn: Phân tích của tác giả bằng phần mềm SmartPLS 3
Mô hình lý thuyết PLS-SEM về ảnh hưởng của các biến độc lập đến mức
độ sử dụng các thước đo đổi mới sản phẩm trong các DNSXVN:
F6 = 0,164X2 + 0,233X4+ 0,218X5 + 0,353X6
Trong đó:
F6: Mức độ sử dụng các thước đo đổi mới sản phẩm
X2: Cạnh tranh
X4: Cấu trúc chặt chẽ
X5: Cấu trúc linh hoạt
X6: Sự hiểu biết và ủng hộ
Trang 10CHƯƠNG 5:
THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU,
KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 5.1 Các vấn đề nghiên cứu và kết luận
Để trả lời câu hỏi “Ảnh hưởng của một số yếu tố đến mức độ sử dụng các
thước đo HQHĐ trong các DNSXVN” luận án đã cụ thể 7 giả thuyết ban đầu
thành 36 giả thuyết phản ánh mối quan hệ giữa các nhân tố và các nhóm thước
đo HQHĐ
Căn cứ kết quả phân tích PLS-SEM để kiểm định các giả thuyết phản ánh
mối quan hệ giữa các biến phụ thuộc và các biến độc lập đã cho phép bác bỏ 11
giả thuyết khẳng định Từ 25 giả thuyết khẳng định được chấp nhận và kết quả
phân tích mô hình PLS-SEM cho phép đưa ra các kết luận sau:
- Sự hiểu biết của nhân viên kế toán và sự ủng hộ của NQT cao nhất đối
với đo lường HQHĐ, cạnh tranh, phân quyền quản trị trong doanh nghiệp và
cấu trúc doanh nghiệp chặt chẽ có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến mức độ sử
dụng các thước đo tài chính của các DNSXVN
- Áp lực cạnh tranh, cấu trúc doanh nghiệp chặt chẽ và sự hiểu biết của
nhân viên kế toán và sự ủng hộ của NQT cao nhất đối với đo lường HQHĐ có
ảnh hưởng tích cực và cùng chiều đến mức độ sử dụng các thước đo khía cạnh
khách hàng của các DNSXVN
- Phân quyền quản trị trong doanh nghiệp, cấu trúc doanh nghiệp chặt
chẽ, cấu trúc doanh nghiệp linh hoạt và sự hiểu biết của nhân viên kế toán và sự
ủng hộ của NQT cao nhất đối với đo lường HQHĐ có ảnh hưởng tích cực và
cùng chiều đến mức độ sử dụng các thước đo khía cạnh nhân viên
- Áp lực cạnh tranh trên thị trường, phân quyền quản trị trong doanh
nghiệp; cấu trúc doanh nghiệp chặt chẽ và cấu trúc doanh nghiệp linh hoạt có
ảnh hưởng tích cực và cùng chiều đến mức độ sử dụng các thước đo khía cạnh
quy trình nội bộ của các DNSXVN
- Áp lực cạnh tranh trên thị trường; phân quyền quản trị trong doanh
nghiệp, cấu trúc doanh nghiệp chặt chẽ; cấu trúc doanh nghiệp linh hoạt và sự
hiểu biết của nhân viên kế toán và sự ủng hộ của NQT cao nhất đối với đo
lường HQHĐ có ảnh hưởng tích cực và cùng chiều đến mức độ sử dụng các
thước đo chất lượng sản phẩm của các DNSXVN
- Áp lực cạnh tranh trên thị trường, cấu trúc doanh nghiệp chặt chẽ, cấu trúc doanh nghiệp linh hoạt và sự hiểu biết của nhân viên kế toán và sự ủng hộ của NQT cao nhất đối với đo lường HQHĐ có ảnh hưởng tích cực và cùng chiều đến mức độ sử dụng các thước đo đổi mới sản phẩm của các DNSXVN
5.2 Các hàm ý, ý nghĩa rút ra từ nghiên cứu
Từ kết quả phân tích trên, các hàm ý, ý nghĩa và khuyến nghị được rút ra như sau:
- Các DNSX cần phải nhận thức được sự gia tăng áp lực cạnh tranh ngày cao trên thị trường và vai trò của hệ thống đo lường HQHĐ trong việc cung cấp thông tin cho việc ra quyết định, tác động đến hành vi của người được đánh giá
để chủ động đi trước một bước xây dựng hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động với các thước đo phù hợp với mục tiêu và chiến lược kinh doanh để cung cấp các chỉ báo vệ vị thế và hiệu quả hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, đối phó với sự gia tăng cạnh tranh từ các DNSX ở trong và ngoài nước
- Các DNSX cần nhận thức được lợi ích của phân quyền quản trị trong DNSX để thực hiện phân quyền mạnh mẽ giúp cho các NQT cấp cao dành nhiều thời gian và tâm huyết để xây dựng và phát triển chiến lược, các NQT cấp thấp hơn được trực tiếp điều hành hoạt động của DNSX Phân quyền quản trị mạnh mẽ trong doanh nghiệp cũng là cơ hội để các nhà quản trị cấp dưới được tham gia vào quản trị doanh nghiệp
- Trong môi trường kinh doanh bất ổn, cấu trúc linh hoạt của doanh nghiệp có nhiều ưu điểm hơn so với cấu trúc chặt chẽ Do vậy, để phát huy được
ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của mỗi loại cấu trúc, các doanh nghiệp nên áp dụng cấu trúc hỗn hợp để vừa dễ dàng thích ứng với môi trường kinh doanh bất ổn, vừa duy trì được khuôn khổ hoạt động của doanh nghiệp
- Nhằm tăng cường sự hiểu biết và ủng hộ của các NQT đối với đo lường HQHĐ, cần nâng cao nhận thức cho các NQT về vai trò, lợi ích và sự cần thiết của đo lường HQHĐ và thông tin do đo lường HQHĐ cung cấp trong quá trình
ra quyết định và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của DNSX, đồng thời tăng cường bồi dưỡng kiến thức để các NQT có thể sử dụng thành thạo thông tin do
hệ thống đo lường HQHĐ cung cấp trong quá trình ra quyết định
- Nâng cao sự hiểu biết và kiến thức của các nhân viên kế toán về kế toán quản trị nói chung và đo lường hiệu quả hoạt động nói riêng là một