Là một bộ phận của GCCN Việt Nam, trong những năm qua, đội ngũcông nhân các khu công nghiệp MĐNB đã có sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, góp phần quan trọng phát tr
Trang 1Tạ Việt Hùng và TS Mẫn Văn Mai Các số liệu, tư liệu sử dụng trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng
Tác giả luận án
Chu Minh Quốc
Trang 21.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước có liên
1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu chủ yếu của các công trình
khoa học đã tổng quan và những vấn đề đặt ra luận án tiếp
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ Ý THỨC BẢO VỆ LỢI ÍCH
DÂN TỘC CỦA CÔNG NHÂN KHU CÔNG NGHIỆP MIỀN
2.3. Những yếu tố tác động đến ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của
công nhân khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ hiện nay 61
Chương 3 THỰC TRẠNG Ý THỨC BẢO VỆ LỢI ÍCH DÂN TỘC CỦA
CÔNG NHÂN KHU CÔNG NGHIỆP MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
3.1. Thực trạng ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu
công nghiệp miền Đông Nam Bộ hiện nay 743.2. Nguyên nhân ưu điểm, hạn chế trong ý thức bảo vệ lợi ích dân
tộc của công nhân khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ hiện
Chương 4 YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG
CAO Ý THỨC BẢO VỆ LỢI ÍCH DÂN TỘC CHO CÔNG NHÂN KHU CÔNG NGHIỆP MIỀN ĐÔNG
4.1 Yêu cầu nâng cao ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân
khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ hiện nay 1164.2 Một số giải pháp cơ bản nâng cao ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc
của công nhân khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ hiện nay 124
DẠNH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 161
Trang 3PHỤ LỤC 177
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Đối với mỗi dân tộc trên thế giới, lợi ích dân tộc luôn có vai trò vô cùngquan trọng, là điều kiện, tiền đề để dân tộc tồn tại và phát triển Do vậy, bảo vệlợi ích dân tộc luôn là nhiệm vụ chiến lược, “trọng yếu thường xuyên” của mọidân tộc Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ, bảo vệ lợi ích dân tộc là một nhiệm vụquan trọng hàng đầu trong bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc XHCNcủa GCCN, đồng thời là vấn đề có tính nguyên tắc trong đường lối, chính sáchcủa Đảng Cộng sản và Nhà nước XHCN V.I.Lênin đã khẳng định: “Một cuộccách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ” [83, tr.145], bởi lẽ thành quả củacuộc cách mạng vô sản chính là lợi ích cốt lõi của dân tộc XHCN
Ở Việt Nam, trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch HồChí Minh luôn khẳng định, bảo vệ lợi ích dân tộc là mục tiêu cao nhất củacách mạng Việt Nam, đồng thời là cơ sở để đoàn kết và phát huy sức mạnhkhối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Một trong nămbài học kinh nghiệm Đảng ta rút ra khi tổng kết 30 năm đổi mới là: “phải đặtlợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết” [52, tr.69] Văn kiện Đại hội XII,Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộctrên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế” [52, tr.153]; tronghội nhập và mở rộng quan hệ quốc tế, mọi tổ chức, cá nhân không đượcphép xem nhẹ lợi ích dân tộc, trái lại phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết,trước hết và phải bảo vệ cho được lợi ích đó trong mọi hoàn cảnh Do vậy,
để bảo vệ lợi ích dân tộc thì một trong những vấn đề cần quan tâm là nângcao ý thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nhất là củaGCCN Việt Nam - giai cấp đại biểu cho lợi ích dân tộc
Là một bộ phận của GCCN Việt Nam, trong những năm qua, đội ngũcông nhân các khu công nghiệp MĐNB đã có sự phát triển nhanh chóng cả về
số lượng và chất lượng, góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội và bảo
vệ lợi ích dân tộc ở khu vực MĐNB Một trong những động lực thúc đẩy công
Trang 6nhân khu công nghiệp MĐNB hành động chính là ý thức bảo vệ lợi ích dântộc của người công nhân Nó không những nâng cao tinh thần cảnh giác cáchmạng, ý chí quyết tâm bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân mà còn địnhhướng, điều chỉnh hành vi của họ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lợi ích dântộc Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm là cơ bản, ý thức bảo vệ lợi ích dântộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB còn những hạn chế nhất định Một
bộ phận công nhân mơ hồ, ít quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội của đấtnước, nhất là các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật củaNhà nước về bảo vệ lợi ích dân tộc; còn có những hoài nghi, dao động, thiếutin tưởng vào khả năng bảo vệ lợi ích dân tộc của đất nước; có lối sống thựcdụng, tâm lý sùng ngoại, vun vén lợi ích cá nhân, coi nhẹ lợi ích dân tộc; dễ bịcác thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng, kích động, lôi kéo,dẫn đến có những hành động biểu tình, đình công tự phát, trái pháp luật, đậpphá tài sản doanh nghiệp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của bản thâncông nhân, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích dân tộc…
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực đang có sự biến đổi nhanh chóng,phức tạp và tiềm ẩn nhiều yếu tố biến động khó lường, cùng với đó là sự nổi lêncủa chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong quan hệ quốctế; sự tùy thuộc, đan cài lợi ích lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc càng trở nênphổ biến,… đã làm cho việc bảo vệ lợi ích dân tộc càng trở nên khó khăn, phứctạp hơn bao giờ hết Tình hình đó đặt ra yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi hệ thống chínhtrị các cấp trên địa bàn MĐNB phải quan tâm chăm lo, đảm bảo lợi ích của côngnhân, xây dựng đội ngũ công nhân vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là phải nângcao ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB đápứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới hiện nay
Từ lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ hiện nay” làm đề tài luận án
tiến sĩ Đây là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn hiện nay
Trang 72 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về ý thức bảo vệlợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB, luận án xác định yêucầu và giải pháp cơ bản nâng cao ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhânkhu công nghiệp MĐNB hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, tổng quan những công trình nghiên cứu ở nước ngoài và
trong nước có liên quan đến đề tài luận án, từ đó xác định những vấn đề luận
án cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết
Thứ hai, làm rõ một số vấn đề lý luận về ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc
của công nhân khu công nghiệp MĐNB
Thứ ba, đánh giá thực trạng ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân
khu công nghiệp MĐNB và chỉ rõ những vấn đề đặt ra từ thực trạng ý thức bảo
vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB hiện nay
Thứ tư, xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp cơ bản nâng cao ý thức
bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu
Ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: nghiên cứu nhận thức, thái độ, tình cảm, niềm tin, ý chí quyết
tâm, hành động bảo vệ lợi ích dân tộc (quốc gia dân tộc) của công nhân khu côngnghiệp MĐNB
Về không gian: tập trung điều tra khảo sát thực trạng ý thức bảo vệ lợi
ích dân tộc của công nhân các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai (khu côngnghiệp Amata và Tam Phước), tỉnh Bình Dương (khu công nghiệp Sóng Thần1,2), Thành phố Hồ Chí Minh (khu công nghiệp Tân Tạo, Bình Chiểu)
Trang 8Về thời gian: các số liệu, tư liệu phục vụ điều tra, khảo sát từ năm 2013
(khi ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25-10-2013 của Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tìnhhình mới) đến nay
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận, thực tiễn của luận án
Cơ sở lý luận: luận án dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ lợi íchdân tộc, bảo vệ Tổ quốc XHCN, xây dựng GCCN Việt Nam trong tình hìnhmới
Cơ sở thực tiễn: thực trạng ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân
khu công nghiệp MĐNB hiện nay qua các tài liệu báo cáo, tổng kết của các tổchức trong hệ thống chính trị các tỉnh MĐNB, tổ chức Đảng, đoàn thể trongcác doanh nghiệp; Liên đoàn Lao động, Ban quản lý các khu công nghiệpMĐNB; kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan và kếtquả khảo sát thực tế, điều tra xã hội học của tác giả
Phương pháp nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, đề tài sử dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu củakhoa học xã hội và nhân văn, trong đó chủ yếu dựa vào phương pháp lôgic -lịch sử, hệ thống cấu trúc, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học và phươngpháp chuyên gia để thực hiện mục tiêu nghiên cứu
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học
Đưa ra quan niệm, chỉ rõ nội dung biểu hiện và phân tích các yếu tố tácđộng đến ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệpMĐNB hiện nay
Trang 9Đánh giá thực trạng ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khucông nghiệp MĐNB thời gian qua, chỉ rõ nguyên nhân và xác định những vấn
đề cần tập trung giải quyết để nâng cao ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của côngnhân khu công nghiệp MĐNB thời gian tới
Xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp cơ bản nâng cao ý thức bảo vệlợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án góp phần làm sáng tỏ, bổ sung,phát triển một số vấn đề lý luận và thực tiễn về ý thức bảo vệ lợi ích dân tộccủa công nhân khu công nghiệp MĐNB; cung cấp những luận cứ khoa họccho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trực tiếp là cấp ủy đảng, chính quyền, các tổchức chính trị - xã hội các tỉnh, thành phố trên địa bàn MĐNB đề ra nhữngchủ trương, giải pháp nhằm nâng cao ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của côngnhân khu công nghiệp MĐNB trong tình hình mới Luận án có thể sử dụnglàm tài liệu tham khảo, phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và họctập trong các học viện, nhà trường Quân đội
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận và kiến nghị, danhmục các công trình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tàiluận án, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước có liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến
William J Clinton (1997), “Chiến lược an ninh quốc gia Sự cam kết và mở rộng” [36] Cuốn sách đã mô tả chi tiết Chiến lược “Cam kết và mở rộng” của
chính quyền Tổng thống Mỹ Bill Clinton Cuốn sách cũng cho thấy trong bản báocáo chiến lược an ninh quốc gia này, những lợi ích quốc gia sống còn của nước Mỹbao gồm: bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và nhân dân Mỹ; ngăn chặn sự nổi lên của cácliên minh thù địch hay bá quyền khu vực; bảo đảm tiếp cận không hạn chế đối vớinhững thị trường chủ chốt, nguồn cung cấp năng lượng và các nguồn lực chiếnlược; răn đe và đánh bại khi cần thiết các cuộc xâm lược chống đồng minh và bạn
bè của Mỹ; bảo đảm tự do hàng hải, đường biển, vũ trụ và những đường giao thônghuyết mạch khi cần thiết Qua nội dung cuốn sách ta có thể thấy rằng, chủ quyền,lãnh thổ luôn là lợi ích cốt lõi, hàng đầu của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới
V.A.Vasllép (2012), “Lợi ích xã hội: Sự thống nhất và tính đa dạng”
[163] Trong cuốn sách tác giả cho rằng: lợi ích xã hội có thể được xem như
là nguyên nhân kích thích bên trong, là hoạt động định hướng của chủ thể (cánhân, nhóm xã hội, giai cấp nhà nước) để đáp ứng nhu cầu Bản chất của lợi
Trang 11ích xã hội là sự cần thiết phải thực hiện nhu cầu đó thông qua việc chủ thểtham gia khách quan vào các quan hệ xã hội; lợi ích xã hội bao gồm nhu cầunhận thức của chủ thể và sự cần thiết phải đáp ứng nhu cầu đó, những điềukiện xã hội của cuộc sống, và sự lựa chọn thực tiễn cụ thể cho phép chủ thểthực hiện nhu cầu Tác giả phân tích tính biện chứng giữa lợi ích và nhu cầucho ta thấy tính đa dạng nhu cầu của con người, thông qua nhu cầu thấy đượclợi ích của con người Cũng như nhu cầu, lợi ích của con người là đa dạng.Chúng có thể được chia thành các nhóm, việc phân tích bản chất của lợi ích
xã hội có lợi ích cá nhân Nhận thức và sự thống nhất các lợi ích đa dạng cóthể dựa trên cơ sở hoạt động tự do của các chủ thể xã hội Điều đó tạo ra trong
xã hội một sự phân hoá tự nhiên về cơ cấu xã hội và lợi ích Tính thống nhấtlợi ích không chỉ nằm trong sự thống nhất có mâu thuẫn của lợi ích đa dạng,
mà còn ở khả năng của loại hình hoạt động sống mới…
Joseph S.Nye, JR (1999), “Xác định lại lợi ích quốc gia” [119] Trong bàibáo tác giả cho rằng, lợi ích quốc gia, dân tộc là một khái niệm rất khó giải thích,
nó được dùng để mô tả cũng như quyết định chính sách đối ngoại Tác giả chỉ rõ,trong nền dân chủ, lợi ích quốc gia đơn giản chỉ là một loạt ưu tiên chung trongvấn đề quan hệ với phần còn lại của thế giới Và lợi ích quốc gia rộng hơn so vớicác lợi ích chiến lược - một phần lợi ích quốc gia Theo tác giả, để giải quyết lợiích quốc gia, các nhà chiến lược khuyên rằng: lợi ích phải được xác định trongmối quan hệ với quyền lực Tuy nhiên, theo tác giả, cho đến nay việc xác địnhlợi ích quốc gia vẫn chưa có sự thống nhất trong giới nghiên cứu
Lưu Trang (2009), “Lợi ích quốc gia của Trung Quốc trong quan hệ vớiASEAN” [153] Bài báo chỉ ra rằng, với vị trí địa chiến lược vô cùng quantrọng, Đông Nam Á đã trở thành mục tiêu hàng đầu để Trung Quốc thực hiệnngoại giao với các nước láng giềng Đông Á Từ thập kỷ 90 thế kỷ 20 đến nay,Trung Quốc từng bước áp dụng chiến lược ngoại giao khu vực chủ động tíchcực, tham gia và thúc đẩy hợp tác khu vực Đông Á Do lợi ích chung khôngngừng tăng lên và những nỗ lực không mệt mỏi của cả hai bên, quan hệ giữaTrung Quốc và ASEAN được phát triển toàn diện Theo đó, tác giả quan niệm
Trang 12rằng: lợi ích quốc gia là nhu cầu để một nước sinh tồn và phát triển, là “tất cảnhững gì đáp ứng được nhu cầu vật chất và tinh thần cho toàn thể nhân dân,nhà nước, dân tộc” [153, tr.18] Lợi ích cốt lõi của Trung Quốc đó là ổn địnhchính trị, xây dựng toàn diện xã hội khá giả, sự ổn định cục diện lâu dài củachính trị và đời sống xã hội Phát triển kinh tế là cơ sở, là tiền đề để thực hiệntoàn diện mục tiêu chiến lược vì lợi ích quốc gia của Trung Quốc.
Các công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân, ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của giai cấp công nhân
Maicen Nhepsi (2004), “Giai cấp công nhân vẫn là lực lượng chính trị quan trọng nhất” [115]; Trushkov (2007), “Triển vọng phát triển của giai cấp công nhân ở thế kỷ XXI” [157] Các tác giả đã chỉ ra những mâu thuẫn khách
quan, cơ bản, vốn có không thể điều hòa được trong lòng xã hội tư bản chủnghĩa, nhất là mâu thuẫn giữa GCCN với giai cấp tư sản Đây là mâu thuẫn đốikháng về mặt lợi ích không thể điều hòa được, xuất hiện ngay từ khi chủ nghĩa
tư bản ra đời Khi phân tích xã hội tư bản hiện nay, các tác giả cũng khẳng định,mâu thuẫn này không những không được giải quyết mà ngày càng trở nên gaygắt Từ đó, các tác giả tiếp tục khẳng định, trong xã hội tư bản hiện nay chỉ duynhất GCCN là giai cấp có đủ khả năng đánh đổ giai cấp tư sản Cùng với sự pháttriển của chủ nghĩa tư bản, GCCN cũng ngày càng phát triển, trở thành lực lượngchính trị - xã hội to lớn Trong quá trình phát triển của mình, GCCN tiếp tụckhẳng định bản chất cách mạng, vẫn là lực lượng tiên tiến trong xã hội Do vậy,trên cơ sở phân tích những vấn đề đặt ra đối với GCCN trước sự tác động củacác nhân tố thời đại, các tác giả khẳng định, GCCN vẫn là lực lượng chính trị -
xã hội quan trọng nhất trong thế kỷ XXI
John Russo và Sherry Lee Linkon (2005), “New working-class studies” (tạm dịch là Nghiên cứu tầng lớp lao động mới) [134] Trong nội dung cuốn
sách, các tác giả đã nghiên cứu về GCCN Mỹ - tầng lớp lao động mới, trong tất
cả sự đa dạng của giai cấp này Các nghiên cứu về tầng lớp lao động mới nàykhông chỉ là về phong trào lao động hay về công việc trong bất kỳ loại hình cụthể nào, hoặc lao động ở bất cứ nơi nào cụ thể Thay vào đó, các tác giả đã đi
Trang 13nghiên cứu, phân tích và làm rõ lịch sử nguồn gốc, đời sống và văn hoá củaGCCN; khám phá xem nó đang được phát triển như thế nào về vấn đề chính trị
và giáo dục của GCCN Mỹ Các tác giả đã phân chia GCCN Mỹ thành tầng lớplao động - công nhân, công nhân cổ xanh và công nhân trong “nền kinh tế mới”.Trên cơ sở nghiên cứu về sự biến đổi trong đời sống của tầng lớp lao động trongcác ngành truyền thống, các tác giả đã khẳng định vị trí, vai trò và tầm quantrọng của tâng lớp lao động mới - GCCN hiện đại trong “nền kinh tế mới”
Liễu Khả Bạch, Vương Mai, Diêm Xuân Chi (2008), “Vị trí và vai trò của giai cấp công nhân đương đại” [4] Trong cuốn sách này, các tác giả đã
nghiên cứu về vị trí kinh tế và quyền lợi hợp pháp của GCCN trong bối cảnhkinh tế thị trường, tình trạng và sự thay đổi của GCCN nước ngoài đương đại.Qua đó, các tác giả đã chia khái niệm về GCCN thành: GCCN đồng nghĩa vớigiai cấp vô sản theo các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác, GCCN truyềnthống và GCCN đương đại Theo các tác giả, đặc điểm lớn nhất của GCCN hiệnnay là được “trí thức hóa, trí tuệ hóa” Đặt trong mối quan hệ với sự phát triểncủa nền kinh tế tri thức, các tác giả cho rằng, trình độ tri thức của công nhânngày càng tăng lên là một tất yếu; họ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việcthúc đẩy kinh tế tri thức và phát triển sản xuất xã hội Các tác giả khẳng định,GCCN không chỉ là người sáng tạo ra của cải và giá trị xã hội chủ yếu mà còn làngười đại diện quan trọng cho lực lượng sản xuất tiên tiến, họ luôn là lực lượng
cơ bản thúc đẩy sản xuất phát triển Với vị trí và vai trò đó, các tác giả đã đề xuấtnhững giải pháp cơ bản để bảo vệ quyền lợi cơ bản, hợp pháp của công nhân, từ
đó tạo điều kiện và môi trường để họ tiếp tục phát huy vai trò to lớn của mìnhđối với sự phát triển kinh tế, xã hội
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài luận án
Các công trình nghiên cứu về lợi ích dân tộc, bảo vệ lợi ích dân tộc
Trang 14Vũ Hiền và Ngô Mạnh Lân (1995), “Vấn đề dân tộc, giai cấp và toàn nhân loại” [65] Các tác giả đã khẳng định, vấn đề dân tộc, giai cấp và nhân
loại là những vấn đề vừa có tính chiến lược, vừa có tính thời sự, do đó cần phải
có sự nhận thức và giải quyết đúng đắn các vấn đề này Theo các tác giả, “mộttrong những đặc điểm đáng chú ý nhất về thế giới hiện nay là nó chứa đựng rấtnhiều vấn đề, nhiều nghịch lý, nhiều mâu thuẫn,… nảy sinh từ các vấn đề dântộc, giai cấp và nhân loại” [65, tr.96] Các lợi ích nảy sinh từ các vấn đề dântộc, giai cấp và nhân loại có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại vớinhau Do vậy, trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng khi xem xét,đánh giá các sự vật hiện tượng, các tác giả cho rằng cần phải nhận thức đầy đủ
và giải quyết một cách hài hòa, thống nhất giữa các lợi ích giai cấp, lợi ích dântộc, lợi ích nhân loại, gắn với quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN
Nguyễn Linh Khiếu (1999), “Lợi ích động lực phát triển xã hội” [74]; Đặng Quang Định (2012), “Vai trò của lợi ích đối với sự phát triển xã hội” [54] Trong các công trình này, các tác giả đã trình bày khá rõ về vấn đề lợi
ích như: phân tích một số quan niệm về nhu cầu, lợi ích; sự hình thành lợi ích
và vai trò của lợi ích trong sự phát triển của xã hội Các tác giả cũng chỉ racác loại lợi ích khác nhau trong xã hội tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể
và mối quan hệ biện chứng giữa chúng như: lợi ích vật chất và lợi ích tinhthần; lợi ích cá nhân - lợi ích tập thể - lợi ích giai cấp - nhân loại,… Từ đó,các tác giả đi đến khẳng định: “lợi ích là một động lực giữ vai trò quan trọngtrong hoạt động của con người và trong sự phát triển xã hội” [54, tr.25]
Đàm Trọng Tùng (2016) “Bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trước mối đe dọa an ninh phi truyền thống từ năm 2001 đến năm 2015” [160] Trong
công trình nghiên cứu này, tác giả đã làm rõ tác động của an ninh phi truyềnthống đến độc lập dân tộc và quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam là:
“biến đổi khí hậu; an ninh kinh tế, tài chính; an ninh năng lượng; an ninh lươngthực; tội phạm công nghệ cao; tội phạm xuyên quốc gia” [160, tr.71] Trên cơ sởđánh giá những thành tựu, hạn chế trong bảo vệ độc lập dân tộc trước mối đe dọa
an ninh phi truyền thống, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm ứng phó có hiệu
Trang 15quả đối với vấn đề an ninh phi truyền thống ở Việt Nam; đồng thời rút ra nhữngkinh nghiệm đối với các nước đang phát triển hiện nay.
Nguyễn Duy Tiên (2020), “Tư tưởng của V.I.Lênin về bảo vệ lợi ích quốc gia và định hướng vận dụng ở nước ta hiện nay” [148] Trong cuốn sách này tác
giả đã phân tích, làm rõ cơ sở khoa học hình thành tư tưởng của V.I.Lênin vềbảo vệ lợi ích quốc gia; nội dung cơ bản tư tưởng của V.I.Lênin về bảo vệ lợi íchquốc; giá trị và định hướng vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin về bảo vệ lợi íchquốc gia ở nước ta hiện nay Trong đó đáng chú ý là định hướng: xác định vàthực thi đầy đủ, toàn diện nội dung tư tưởng của V.I.Lênin về bảo vệ lợi ích quốcgia [148, tr.169]; nắm chắc, xử lý tốt tác động của các nhân tố và sự biến độngcủa nó để thực thi bảo vệ lợi ích quốc gia ở Việt Nam hiện nay [148, tr.155]
Lê Văn Quang (2005), “Tư duy mới về độc lập chủ quyền quốc gia - dântộc và bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia - dân tộc trong thời đại toàn cầu hoá,khu vực hoá và hội nhập kinh tế quốc tế” [123] Trong bài viết, tác giả đã phântích, luận giải tác động của quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế, làm cho một số vấn đề của chủ quyền quốc gia bị suy giảm do sự chiphối của luật pháp quốc tế, lợi ích kinh tế, chính trị trong quan hệ quốc tế; vốnđầu tư nước ngoài, thông tin, con người đã vượt biên xâm phạm sâu vào nội địa,thậm chí vào mạch máu của nền kinh tế, vào tâm tư, lối sống của người dântrong nước; nhiều tài sản, đất đai đã thuộc quyền sở hữu của người nước ngoài
Vì vậy, cần phải đổi mới tư duy, nhận thức lại, rõ về lợi ích quốc gia - dân tộc vàbảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Phạm Thanh Hà (2005), “Độc lập dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay” [63] Bài viết đã chỉ ra, độc lập dân tộc luôn là một mục tiêu hàng đầu
của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới, đặc biệt là của các dân tộc nhỏ, yếu Tácgiả khẳng định: “độc lập dân tộc vừa là một giá trị tinh thần vừa là một giá trị vậtchất Một dân tộc có được vị thế bình đẳng trên trường quốc tế hay không, mọicông dân của một dân tộc có được cuộc sống hạnh phúc, ấm no hay không, phụ thuộc rất nhiều vào việc dân tộc đó có độc lập hay không” [63, tr.22] Theo
Trang 16tác giả, độc lập dân tộc biểu hiện trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế,văn hóa - xã hội, an ninh và quốc phòng Ở mỗi giai đoạn lịch sử, vấn đề này cónhững biểu hiện riêng, nhưng cũng phải đảm bảo được những nội dung của nó,chủ yếu là quyền dân tộc tự quyết, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.Độc lập dân tộc luôn là một nội dung cốt lõi của lợi ích dân tộc.
Trần Nam Tiến (2013), “Lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại củaViệt Nam thời kỳ đổi mới” [151] Theo tác giả, “lợi ích quốc gia (State’sInterest) là một trong những khái niệm cơ bản trong quan hệ quốc tế, là nhân tốhết sức quan trọng trong việc xác định chính sách đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào
và cũng là công cụ không thể thiếu để phân tích chính sách đối ngoại của quốc gia”;
“lợi ích quốc gia bao gồm các mục tiêu chiến lược, đôi khi cả các công cụ thực hiệnmục tiêu, mà quốc gia theo đuổi trên trường quốc tế” [151, tr.23] Tác giả đã tậptrung nhìn lại quá trình xác định lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại củaViệt Nam thời kỳ đổi mới (1986) cho đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI(2011), từ đó rút ra những đặc điểm, luận giải khoa học, góp phần phác thảo một
số đường nét cơ bản chính sách đối ngoại của Việt Nam nhằm bảo vệ lợi íchquốc gia dân tộc trong giai đoạn mới
Trần Hữu Tiến (2014), “Lợi ích dân tộc” [149] Trong bài viết tác giả đãđưa ra quan niệm về lợi ích dân tộc và cho rằng, các dân tộc trên thế giới đều coilợi ích căn bản nhất của dân tộc là tổ quốc độc lập, thống nhất, giàu mạnh, lãnhthổ toàn vẹn (bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa),nhân dân làm chủ đối với tổ quốc mình; lợi ích dân tộc không bất biến mà thayđổi theo hoàn cảnh cụ thể, có những yếu tố mang giá trị lâu dài, vĩnh cửu, cónhững yếu tố chỉ tồn tại trong giai đoạn lịch sử nhất định Và trong mỗi thời kỳtồn tại, phát triển của dân tộc, có một hoặc một số lợi ích dân tộc nổi bật lên Lợiích dân tộc và bảo vệ lợi ích dân tộc luôn mang tính giai cấp Do địa vị, lợi íchkhác nhau nên thái độ xử lý vấn đề lợi ích dân tộc của các giai cấp, các chínhđảng, không giống nhau, nhất là khi lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp, lợi ích phenhóm mâu thuẫn nhau… Lợi ích căn bản của dân tộc Việt Nam hiện nay là thực
Trang 17hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,nhân dân ấm no, tự do, hạnh phúc [149, tr.99].
Đoàn Văn Khái (2015), “Về lợi ích dân tộc và phương thức thực hiện theo
tư tưởng Hồ Chí Minh” [73] Bài viết đã khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi
ích dân tộc và các phương thức thực hiện lợi ích dân tộc của Việt Nam trong quan
hệ quốc tế Theo tác giả, trên phương diện quốc gia dân tộc, Chủ tịch Hồ ChíMinh nhìn nhận lợi ích dân tộc trước hết là độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹnlãnh thổ, hòa bình, thống nhất đất nước cho dân tộc Việt Nam và tự do, hạnh phúccho nhân dân Trên phương diện quốc tế, Hồ Chí Minh nhấn mạnh quyền dân tộc,trong đó có quyền bình đẳng, quyền độc lập, tự chủ, tự do thực sự, quyền toàn vẹnlãnh thổ, thống nhất đất nước, quyền được sống trong hòa bình, quyền tự quyếtcủa dân tộc Đồng thời, luận giải rõ nội dung, phương thức bảo vệ lợi ích dân tộctheo Hồ Chí Minh và Đảng ta trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt là quan tâmlợi ích dân tộc trong sự phát triển trường tồn của mình
Trần Việt Quân (2015), “Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ và thực hiệnchủ quyền quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa” [126]; Nguyễn Hoàng Giáp(2009), “Bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá” [59];.Các tác giả đã hệ thống lại quan điểm của Đảng ta về bảo vệ và thực hiện chủquyền quốc gia trong sự nghiệp đổi mới Đó là: bảo vệ nền độc lập dân tộc gắnliền với CNXH; bảo vệ và thực hiện chủ quyền quốc gia luôn phải đi đôi vớiphát triển kinh tế - xã hội; bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia và nền độc lậpdân tộc trên cơ sở tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; bảo vệ chủ quyềnquốc gia trong bối cảnh mới cần phải coi lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêucủa công tác đối ngoại; bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc trên cơ sở gìn giữ vàphát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trên cơ sở đó, các tác giả khẳng định, để bảo
vệ độc lập chủ quyền quốc gia trong hội nhập quốc tế đòi hỏi không lệ thuộcvào bất cứ nước nào, đối tác nào, thị trường nào, không đẩy đối tác vào tình thếphải lựa chọn giữa ta với các nước khác, kiên quyết không để rơi vào tình trạngphải đối đầu, bị cô lập Trên cơ sở phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá,
Trang 18cần có nhận thức rõ về đối tác, đối tượng, tiếp tục tương tác tích cực giữa đốitác trong quan hệ đối với nước ta, tạo được thế đan xen lợi ích.
Trần Vi Dân (2020), “Lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam trong bốicảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế” [42] Trong bài viết, tác giả tiến hànhluận giải nội hàm vấn đề lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam trong bốicảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay Theo tác giả, “lợi ích quốc gia -dân tộc bao gồm lợi ích về kinh tế, về chính trị, về văn hóa - xã hội, về quốcphòng - an ninh, về đối ngoại Trong đó, lợi ích kinh tế là trung tâm tâm củamọi lợi ích được hình thành từ các quá trình kinh tế, công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Lợi ích chính trịgắn liền với sự ổn định, vững mạnh và sự lãnh đạo, quản lý, vận hành hiệulực, hiệu quả của thể chế chính trị được xác lập trong Hiến pháp Lợi ích vănhóa góp phần tạo ra những giá trị làm nền tảng tinh thần của xã hội Lợi íchquốc phòng - an ninh, đối ngoại gắn với độc lập, chủ quyền, thống nhất, toànvẹn lãnh thổ, sự ổn định chính trị và môi trường hòa bình, ổn định của đấtnước là cơ sở, nền tảng để bảo vệ và phát huy, phát triển, mở rộng lợi ích kinh
tế, chính trị, văn hóa - xã hội” [42, tr.1042]
Các công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân, ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của giai cấp công nhân
Phan Thanh Khôi (2003), “Ý thức chính trị của công nhân trong một số doanh nghiệp ở Hà Nội hiện nay” [76] Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra
biểu hiện ý thức chính trị của GCCN nước ta hiện nay được thể hiện rõ nhấtthông qua nhận thức và thái độ của người công nhân Trên cơ sở luận giải ý thứcchính trị của GCCN và thực trạng ý thức chính trị của công nhân các doanhnghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Hà Nội; tác giảđưa ra những dự báo xu hướng biến động về ý thức chính trị của công nhântrong hai loại doanh nghiệp trên là sẽ có thêm những sắc thái biểu hiện, sẽ đượcnâng cao một bước, từ đó tác giả đưa ra sáu giải pháp nhằm nâng cao ý thứcchính trị của công nhân, trong đó có đề cập đến nội dung đổi mới công tác giáo
Trang 19dục chính trị, tư tưởng cho công nhân của các cấp uỷ đảng, tổ chức Công đoàntrên địa bàn và doanh nghiệp, đồng thời nhấn mạnh cần tăng cường công táctuyên truyền, phổ biến pháp luật, giúp công nhân nhận thức rõ quyền lợi, nghĩa
vụ của mình, nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động, ý thức chấp hành phápluật của nhà nước và những nội quy làm việc tại doanh nghiệp
Phạm Tất Thắng (2008), “Nâng cao ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam trong điều kiện hiện nay” [143] Tác giả cho rằng, từ khi tiến
hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến nay,GCCN nước ta, bên cạnh những điểm mạnh là chủ yếu thì vẫn còn một bộphận công nhân chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của giai cấp mình; một
số công nhân không nhận thức rõ về vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn trongviệc bảo vệ lợi ích của mình Một bộ phận không nhỏ công nhân thờ ơ bàngquan trước tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước và sự biếnđổi nhanh chóng của thế giới hiện nay, kể cả của các nước trong khu vực Một
số khác ít quan tâm và kém hiểu biết về lịch sử cũng như truyền thống dân tộc,thiếu tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối vớicông cuộc đổi mới đất nước, vào tương lai, tiền đồ của dân tộc Dựa trên thựctrạng và những nguyên nhân đó, tác giả đưa ra một số định hướng và giải pháp
cơ bản để nâng cao ý thức chính trị của GCCN nước ta trong thời kỳ mới
Đặng Ngọc Tùng (chủ biên, 2008), “Xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
[162] Các tác giả trong công trình trên tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu, giới thiệumột số vấn đề lý luận về GCCN, các quan điểm về GCCN, sứ mệnh lịch sử củaGCCN Việt Nam; chỉ ra những nhân tố tác động đến quá trình biến đổi GCCNViệt Nam Các tác giả của công trình đã đánh giá chung về GCCN Việt Namtrong những năm đổi mới, thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Qua đó nêulên quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng GCCNViệt Nam trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trang 20Nguyễn Văn Nhật (chủ biên, 2010), “Xây dựng và phát triển đời sống
văn hoá của giai cấp công nhân Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [114] Các tác giả đã đi sâu phân tích, trình bày cơ sở lý luận, phương
pháp luận nghiên cứu về văn hoá và đời sống văn hoá của GCCN Mặc dùchưa nhấn mạnh tác động của kinh tế thị trường đến nhận thức, tình cảm, thái
độ chính trị của công nhân, nhưng trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạngđời sống văn hóa của GCCN Việt Nam hiện nay, các tác giả đã chỉ rõ nhữnghạn chế trong đời sống văn hóa của người công nhân, như các hoạt động sinhhoạt văn hóa tinh thần còn rất nghèo nàn, thiếu sáng tạo đã ảnh hưởng tớicông tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho công nhân; phê phán thái độ bàngquan với đời sống chính trị - xã hội và những biểu hiện tiêu cực của một bộphận công nhân trong sinh hoạt chính trị, tư tưởng…
Vũ Quang Thọ (chủ biên, 2017), “Giai cấp công nhân và Công đoàn Việt
Nam hiện nay - Thách thức và triển vọng” [146] Nội dung cuốn sách phản ánh
những kết quả hoạt động của Công đoàn Việt Nam một cách toàn diện, cả nhữngkết quả đạt được và những hạn chế, khiếm khuyết của GCCN Việt Nam tronggiai đoạn từ 2011 đến 2015 Trên cơ sở phân tích, đánh giá những nhân tố tácđộng cùng những thuận lợi, khó khăn thách thức, các tác giả đã đưa ra dự báotriển vọng của GCCN và tổ chức Công đoàn trong thời gian tới
Lê Xuân Thủy (2017), “Lợi ích của công nhân trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay” [147]; Trần Thị Bích Huệ
(2015), “Mâu thuẫn lợi ích giữa chủ doanh nghiệp và người lao động ở Việt
Nam hiện nay” [69]; Đoàn Thị Phương Diệp, Hồ Đức Hiệp (2019), “Mối
quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động giai đoan hiện nay”[43] Các công trình này đã đề cập đến một vấn đề mang tính thời sự và đang
là mối quan tâm của người lao động - vấn đề xử lý mối quan hệ lợi ích giữacông nhân và doanh nhân ở Việt Nam hiện nay Các tác giả cho rằng, hiện nay
ở nước ta, trong điều kiện tồn tại nhiều thành phần kinh tế, mâu thuẫn lợi íchgiữa người sử dụng lao động (chủ doanh nghiệp) với người lao động (công
Trang 21nhân) đang tồn tại và có lúc biểu hiện gay gắt Làm thế nào để hài hòa lợi íchgiữa các nhóm chủ thể này, hạn chế đến mức thấp nhất mâu thuẫn lợi ích nhằmtạo điều kiện cho doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển? Trên cơ sở phân tíchthực trạng mâu thuẫn lợi ích giữa chủ doanh nghiệp và người lao động ở ViệtNam hiện nay nhìn từ các cuộc đình công, các tác giả đã luận chứng một sốgiải pháp cần thiết nhằm góp phần cải thiện và tạo ra sự hài hoà trong quan hệlợi ích giữa chủ doanh nghiệp và người lao động ở Việt Nam hiện nay.
Vũ Quang Vinh (2004), “Tuyên truyền, giáo dục ý thức chính trị chocông nhân thuộc các doanh nghiệp ngoài quốc doanh” [166] Trong bài viếtnày, tác giả đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của GCCN trong cách mạng giảiphóng dân tộc, xây dựng xã hội XHCN và đề cập đến sự phát triển của GCCNnước ta trong thời kỳ mới Tác giả cho rằng, bên cạnh sự phát triển về sốlượng công nhân, chúng ta cần đặc biệt chú ý tới vấn đề tuyên truyền giáo dụccho GCCN, nhất là bộ phận công nhân ngoài quốc doanh Nội dung tuyêntruyền cần tập trung vào bốn vấn đề chính: nâng cao nhận thức về các tổ chứctrong hệ thống chính trị của đội ngũ công nhân; xây dựng niềm tin của độingũ công nhân ngoài quốc doanh vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới; nhậnthức đúng về nhu cầu và lợi ích chính trị của mình; khẳng định công nhânngoài quốc doanh cùng với công nhân, nông dân, trí thức là những lực lượngcách mạng đông đảo và quan trọng
Phan Văn Tuấn (2014), “Nâng cao ý thức chính trị, pháp luật cho giaicấp công nhân hiện nay” [159] Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra những hạnchế của GCCN Việt Nam: trình độ nhận thức chính trị, ý thức pháp luật, kỷluật lao động và tác phong công nghiệp của GCCN Việt Nam hiện nay chưatương ứng với yêu cầu về trình độ phát triển của nền kinh tế, công nghệ vàtoàn cầu hóa Đa số hiện nay là thế hệ công nhân trẻ, có trình độ văn hóa,khoa học - kỹ thuật, nhưng trình độ giác ngộ giai cấp vẫn còn nhiều khác biệt,nhận thức chính trị còn nhiều hạn chế, bất cập và không cơ bản Mặt khác,GCCN Việt Nam ra đời và phát triển ở một nước nông nghiệp lạc hậu; tâm lý,
Trang 22thói quen và tác phong lao động gắn liền với nền sản xuất nhỏ còn in đậmtrong đội ngũ công nhân, do đó tác phong công nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luậtcòn hạn chế Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp đồng bộ để công tác giáo dụcnâng cao nhận thức chính trị, ý thức kỷ luật, kỷ luật lao động và tác phongcông nghiệp của GCCN Việt Nam thực sự đạt hiệu quả.
Nguyễn An Ninh (2020), “Những nhận thức mới về giai cấp công nhânhiện nay” [118] Trong bài viết, tác giả đã phân tích một cách toàn diện vềthực trạng, số lượng, cơ cấu, tiêu chí đánh giá GCCN; chỉ ra các, các yếu tố
đa dạng, phong phú, đan xen nhiều chiều đang tác động đến giai cấp côngnhân hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số nhận thức mới về giaicấp công nhân hiện nay Theo tác giả, “Quan tâm đến lợi ích chính đáng củangười lao động, kết hợp hài hòa lợi ích của người lao động với lợi ích của tậpthể và lợi ích của xã hội , vừa là tư duy kinh tế phù hợp, vừa là sự thể hiệntính chất XHCN trong phát triển” [118, tr.67]
Các công trình nghiên cứu về công nhân, ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ
Lưu Văn Sùng (chủ biên, 2007), “Đình công của công nhân: Thực trạng và những giải pháp xử lý ở tỉnh Đồng Nai” [137] Các tác giả đã tập
trung chỉ rõ đặc điểm tình hình, một số yếu tố tác động đến tư tưởng của côngnhân Đồng Nai như thành phần xuất thân rất đa dạng và phức tạp, điều kiệnsinh hoạt còn nhiều khó khăn… Đây là những nguyên nhân trực tiếp làm nảysinh tình trạng đình công của công nhân hiện nay Các tác giả đã đi sâu phântích, đánh giá diễn biến tình hình đình công, chỉ ra những nguyên nhân nảysinh và thực chất mẫu thuẫn của đình công, trên cơ sở đó, đề xuất những giảipháp giải quyết đình công ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
Nguyễn Đăng Thành (chủ biên, 2007), “Góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam từ thực trạng công nhân thành phố Hồ Chí Minh”
[140] Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã tiến hành khảo sátthực tiễn, phân tích thực trạng công nhân Thành phố Hồ Chí Minh về đặc
Trang 23điểm, vai trò và vị trí của đội ngũ công nhân trong công cuộc phát triển hiệnnay; thực trạng, những vấn đề đặt ra và xu hướng biến đổi của đội ngũ côngnhân; đưa ra 3 quan điểm và 5 nhóm giải pháp nhằm phát huy vai trò của độingũ công nhân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới là: xác định rõnhững chủ thể của quá trình phát triển nhận thức về công nghiệp hoá, tiếptục đổi mới nhận thức về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và pháttriển đội ngũ công nhân; tập trung giải quyết một số vấn đề bức xúc trongquan hệ lao động của đội ngũ công nhân; tiếp tục đa dạng hoá cơ cấu pháttriển số lượng gắn với tăng cường quản lý để nâng cao chất lượng đội ngũcông nhân; tiếp tục xây dựng, kiện toàn các tổ chức nghề nghiệp, chính trị -
xã hội, văn hoá để phát huy vai trò của đội ngũ công nhân; tiếp tục xâydựng, hoàn thiện điều kiện, môi trường an sinh xã hội cho đội ngũ côngnhân Trong cuốn sách, các tác giả đã đề xuất 4 nhóm kiến nghị để góp phầnxây dựng GCCN Việt Nam hiện nay
Nguyễn Khánh Vân (2002), “Xu hướng biến đổi của giai cấp công nhân
ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” [164]; Trần Thị Như Quỳnh (2011), “Công nhân trí thức ở thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [133]; Vũ Thị Mai Oanh (2015), “Xây dựng giai cấp công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [120] Trong các luận án này, các tác giả đã tập
trung phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về đội ngũ công nhânThành phố Hồ Chí Minh; tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng xây dựng độingũ công nhân Thành phố Hồ Chí Minh và xu hướng biến đổi của đội ngũcông nhân nơi đây thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; chỉ rõ nguyên nhân
và những vấn đề đặt ra đối với đội ngũ công nhân ở thành phố này hiện nay Từ
đó, xác định phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng độingũ công nhân Thành phố Hồ Chí Minh, nhất là bộ phận công nhân trí thứcthời gian tới, đáp ứng được yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Trang 24Vũ Trung Kiên (2019), “Hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ hiện nay”
[77] Trong luận án, tác giả đã nêu ra các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tácgiáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp; phân tíchthực trạng hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân cáckhu công nghiệp MĐNB hiện nay và đề xuất 6 nhóm giải pháp có tính khả thi
để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân cáckhu công nghiệp MĐNB, đặc biệt là giải pháp nắm vững đặc điểm của côngnhân các khu công nghiệp MĐNB để lựa chọn nội dung phù hợp và quan tâmchăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người công nhân, xâydựng môi trường xã hội lành mạnh…
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu chủ yếu của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu chủ yếu của các công trình khoa học đã tổng quan
Một là, các công trình đã luận giải, làm rõ nhiều khía cạnh khác nhau về lợi ích, lợi ích dân tộc, bảo vệ lợi ích dân tộc Việt Nam.
Các công trình được tổng quan đã khái quát khá hệ thống những vấn đề lýluận cơ bản về lợi ích, lợi ích dân tộc, như: phân tích một số quan niệm về nhucầu, lợi ích, sự hình thành lợi ích và vai trò của lợi ích trong sự phát triển của xãhội; quan niệm, vị trí, vai trò, nội dung cấu thành lợi ích dân tộc Điểm chungcủa các công trình đã tổng quan đều cho rằng: lợi ích dân tộc là một phạm trù cónội hàm rộng, bao hàm tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự tồntại và phát triển của cộng đồng dân tộc với tư cách là quốc gia dân tộc độc lập,chủ quyền, thống nhất về lãnh thổ, thể chế kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Bảo vệ lợi ích dân tộc Việt Nam hiện nay là mục tiêu cao nhất của Đảng,Nhà nước, hệ thống chính trị, toàn dân và toàn quân ta Do vậy phải chú trọngnâng cao nhận thức đúng đắn, sâu sắc về tính cấp thiết của nhiệm vụ bảo vệ lợi
Trang 25ích dân tộc cho các chủ thể; xác định rõ vinh dự, trách nhiệm, nghĩa vụ trong bảo
vệ lợi ích dân tộc; bảo vệ lợi ích dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với bảo vệ Tổquốc Việt Nam XHCN; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạncủa các thế lực thù địch, phản động xâm phạm lợi ích dân tộc Việt Nam…
Hai là, các công trình đã đi sâu luận giải những vấn đề cơ bản về lý
luận và thực tiễn của giai cấp công nhân, nhất là về ý thức chính trị của giaicấp công nhân Việt Nam hiện nay
Các công trình đã được tổng quan, nhất là của các tác giả trong nước,
đã đi sâu phân tích, làm rõ về vị trí, vai trò, sứ mệnh lịch sử của GCCN; quanniệm ý thức chính trị và những biểu hiện ý thức chính trị của GCCN; nhữngyếu tố tác động đến ý thức chính trị của GCCN; dự báo những xu hướng nảysinh trong tư tưởng, tình cảm của GCCN trước những tác động của đời sốngkinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội; đưa ra những chủ trương, biện pháp cơ bản
để nâng cao ý thức chính trị cho GCCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.Những kết quả này này đã cung cấp thêm cho tác giả tư liệu có giá trị khoahọc để nghiên cứu ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của đội ngũ công nhân cáckhu công nghiệp MĐNB nói riêng
Ba là, các công trình đã có những đánh giá khá toàn diện về thực trạng đội ngũ công nhân các tỉnh miền Đông Nam Bộ hiện nay
Các công trình đã tiến hành đánh giá thực trạng của đội ngũ công nhânMĐNB trên các phương diện: cơ cấu ngành nghề, trình độ học vấn, tuổi đời, ýthức chính trị, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho công nhân… Từ đó, đềxuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng, phát triển đội ngũ công nhâncác tỉnh MĐNB đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trêncác nội dung: tiếp tục xây dựng, kiện toàn và phát huy vai trò của các tổ chứcchính trị - xã hội trong tuyên truyền, giáo dục, xây dựng đội ngũ công nhânMĐNB; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các điều kiện, môi trường xã hội thuậnlợi cho công nhân; nâng cao tính tích cực chính trị - xã hội của công nhân…
Trang 26Tóm lại, các công trình được tổng quan đã trực tiếp hoặc gián tiếp bàn về
vấn đề lợi ích dân tộc, bảo vệ lợi ích dân tộc Việt Nam, về GCCN, ý thức bảo vệlợi ích dân tộc của GCCN Việt Nam nói chung, công nhân khu công nghiệpMĐNB nói riêng Một mặt đã cung cấp nhiều luận cứ có giá trị khoa học để tácgiả lựa chọn kế thừa, sử dụng và tiếp tục bổ sung, phát triển trong quá trình thựchiện luận án Mặt khác, tác giả nhận thấy rằng, hiện chưa có một công trình khoahọc, luận án nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về ý thức bảo vệ lợi íchdân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB hiện nay Vì vậy, đề tài luận án
“Ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp miền Đông Nam
Bộ hiện nay” mà tác giả lựa chọn là một công trình độc lập, không trùng lặp với
bất cứ công trình khoa học, luận án nào đã được công bố
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ hiện nay
Đây là nội dung lý luận trọng tâm mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu giảiquyết Mặc dù các công trình được tổng quan đã nghiên cứu vấn đề này ở nhữngkhía cạnh nhất định về lợi ích dân tộc, bảo vệ lợi ích dân tộc; ý thức bảo vệ lợiích dân tộc của GCCN Việt Nam, ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhânkhu công nghiệp MĐNB hiện nay Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của đất nướchiện nay thì việc làm sáng tỏ những lợi ích dân tộc cốt lõi nhất cần bảo vệ là yêucầu cấp thiết đặt ra, từ đó đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo
vệ lợi ích dân tộc của mọi người dân, trong đó có công nhân khu công nghiệpMĐNB Vì vậy, luận án xác định cần tiếp tục làm rõ những biểu hiện cụ thể, trựctiếp lợi ích dân tộc Việt Nam trên các nội dung: lãnh thổ, chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội ở khu công nghiệp MĐNB; xây dựng quan niệm, phân tích luận giảicác biểu hiện ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp
Trang 27MĐNB trên các yếu tố: nhận thức, thái độ, tình cảm, niềm tin và ý chí quyết tâmbảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB hiện nay
Hai là, làm rõ những yếu tố tác động đến ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ hiện nay
Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập tới các yếu tố tácđộng đến ý thức chính trị, công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho côngnhân; đến xây dựng GCCN Việt Nam nói chung, công nhân khu công nghiệpMĐNB nói riêng đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Tuy nhiên, chưa có công trình nào khái quát và chỉ rõ những yếu
tố cụ thể tác động đến nhận thức, thái độ, tình cảm, niềm tin và hành độngcủa công nhân khu công nghiệp MĐNB trong bảo vệ lợi ích dân tộc Do vậyvấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu là phải phân tích, chỉ rõ các yếu tốnhư: môi trường làm việc của công nhân và môi trường xã hội các tỉnhMĐNB; việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước về bảo đảm lợi ích cho công nhân tại các khu công nghiệpMĐNB; công tác tuyên truyền, giáo dục công nhân các khu công nghiệp vàquá trình tự tư dưỡng, tự rèn luyện của công nhân nơi đây; quá trình toàncầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạngcông nghiệp lần thứ Tư… Các yếu tố này tác động mạnh mẽ tới nhận thức,thái độ, tình cảm, niềm tin và hành động bảo vệ lợi ích dân tộc của côngnhân khu công nghiệp MĐNB trong tình hình mới hiện nay
Ba là, đánh giá thực trạng ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ hiện nay
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về ý thức bảo vệ lợi ích dân tộccủa công nhân khu công nghiệp MĐNB; tham khảo kết quả điều tra, nghiêncứu của các tác giả trong các công trình khoa học đã tổng quan, luận án đi sâunghiên cứu ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp
Trang 28MĐNB thông qua đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ, tình cảm, niềm tin,
ý chí quyết tâm được biểu hiện thông qua hành động bảo vệ lợi ích dân tộccủa công nhân khu công nghiệp các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Thànhphố Hồ Chí Minh Mỗi khu công nghiệp lấy đại diện các doanh nghiệp điểnhình để khảo sát, đánh giá; chỉ rõ những nguyên nhân của thực trạng và xácđịnh những vấn đề đặt ra cần giải quyết để nâng cao ý thức bảo vệ lợi ích dântộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB hiện nay
Bốn là, xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp nâng cao ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ thời gian tới.
Trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của đất nước hiện nay nóichung, khu công nghiệp MĐNB nói riêng, nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến ýthức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB cầnnghiên cứu giải quyết, nhất là vấn đề giải quyết lợi ích giữa doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài với lợi ích của dân tộc; giữa lợi ích của người sử dụnglao động với lợi ích của công nhân; các thế lực thù địch, phản động đang lợidụng những khó khăn trong đời sống của công nhân để lôi kéo, mua chuộc,kích động công nhân biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội trên địa bàn MĐNB… Do vậy, việc nâng cao ý thức bảo vệ lợi íchdân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB có ý nghĩa quan trọng để địnhhướng hành động của công nhân trong bảo vệ lợi ích dân tộc Trên cơ sởnhững vấn đề đặt ra từ thực trạng ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhânkhu công nghiệp MĐNB, luận án xác định các yêu cầu và đề xuất những giảipháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khucông nghiệp MĐNB hiện nay Đây là nội dung quan trọng cần phải giảiquyết, đồng thời thể hiện mục đích chính trị - thực tiễn của toàn bộ luận án
Trang 29Kết luận chương 1
Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa họctrong và ngoài nước liên quan đến ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhânkhu công nghiệp MĐNB Các công trình này tập trung luận giải, làm rõ nhiềukhía cạnh khác nhau về lợi ích dân tộc, bảo vệ lợi ích dân tộc; về GCCN, nhất
là ý thức chính trị của GCCN; về thực trạng đội ngũ công nhân các tỉnhMĐNB Những công trình nghiên cứu đó đã góp phần quan trọng làm sáng tỏmột số vấn đề lý luận và thực tiễn về ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của côngnhân khu công nghiệp MĐNB hiện nay
Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tàiluận án, tác giả xác định những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung nghiên cứulà: làm rõ thêm những vấn đề lý luận về ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc củacông nhân khu công nghiệp MĐNB; những yếu tố tác động đến ý thức bảo vệlợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNB hiện nay; đánh giáthực trạng ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệpMĐNB hiện nay; xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp cơ bản nângcao ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc của công nhân khu công nghiệp MĐNBtrong thời gian tới
Trang 30Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ Ý THỨC BẢO VỆ LỢI ÍCH DÂN TỘC CỦA CÔNG NHÂN KHU CÔNG NGHIỆP MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 2.1 Lợi ích dân tộc Việt Nam và bảo vệ lợi ích dân tộc Việt Nam
2.1.1 Quan niệm lợi ích dân tộc và lợi ích dân tộc Việt Nam
Quan niệm lợi ích dân tộc
Lợi ích là một hiện tượng xã hội đa diện và phức tạp, tác động to lớn
đến quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người Quan niệm về lợiích đã được rất nhiều nhà tư tưởng, nhà chính trị nghiên cứu ở các góc độkhác nhau, tuy nhiên, do bị chi phối bởi lập trường giai cấp, điều kiện lịch sử,văn hóa, xã hội nên việc xem xét và giải quyết vấn đề lợi ích ở mỗi giai cấp,mỗi chế độ xã hội cũng rất khác nhau
Với thế giới quan duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã luậngiải một cách khoa học về vấn đề lợi ích Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, trong tất cả các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người từ xưađến nay, lợi ích luôn đóng vai trò quan trọng, là cái để thỏa mãn nhu cầu sốngcòn hàng ngày của con người Con người muốn sống được thì trước hết “cầnphải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa” Vì vậy,
“hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất để thỏa mãn những nhu cầu ấy” [93,tr.40] Lợi ích không chỉ là cái đáp ứng nhu cầu của con người thông qua hoạtđộng mà lợi ích còn là yếu tố trực tiếp tạo nên động lực thúc đẩy con ngườihành động nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của chính họ và toàn
xã hội C.Mác đã chỉ rõ, “tất cả cái gì mà con người đấu tranh để giành lấy, đềudính liền với lợi ích của họ” [91, tr.109] Với ý nghĩa đó, việc giải quyết vấn đềlợi ích là một trong những động lực hết sức quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ, văn
minh của nhân loại và sự đi lên của lịch sử, bởi “lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt
động của con người theo đuổi mục đích của bản thân mình” [92, tr.141]
Có rất nhiều loại lợi ích khác nhau bởi nhu cầu của con người là rấtphong phú, đa dạng, tùy thuộc vào điều kiện sống, trình độ phát triển của xã
Trang 31hội và khả năng đáp ứng các nhu cầu ấy bằng các loại lợi ích khác nhau Cólợi ích vật chất, lợi ích tinh thần; lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích vănhóa, lợi ích xã hội; có lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt; lợi ích cục bộ, lợi íchtoàn cục; lợi ích chung, lợi ích riêng; lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể Ở tầmcao hơn là lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, lợi ích nhân loại… Các lợi ích nàykhông chung chung, trừu trượng, tồn tại bên ngoài chủ thể mà luôn hiện hữu,đan xen, tác động qua lại và tồn tại gắn liền với các cá nhân, những tập đoànngười, giai cấp và những cộng đồng xã hội nhất định Tùy vào điều kiện, hoàncảnh cụ thể và các chủ thể khác nhau sẽ có các lợi ích với nhiều cấp bậc,chiều cạnh, tầng nấc khác nhau
Dân tộc là kết quả quá trình phát triển lâu dài của các cộng đồng người
trong lịch sử, từ cộng đồng thị tộc, bộ lạc đến cộng đồng bộ tộc và phát triển lêncộng đồng dân tộc Theo V.I.Lênin, ở các nước phương Tây, dân tộc hình thànhgắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Ở một số nước phương Đông, do bắtnguồn từ đặc thù của phương thức sản xuất, của hoàn cảnh, điều kiện kinh tế,chính trị và văn hóa, xã hội,… làm cho dân tộc xuất hiện trước chủ nghĩa tư bản
Hiện nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong
đó có hai nghĩa được dùng phổ biến Nghĩa thứ nhất, dân tộc là một cộng đồng
người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung nguồn gốc, đặc điểm sinhhoạt kinh tế, có tiếng nói riêng và những nét văn hóa đặc thù, có ý thức tự giáctộc người Với nghĩa này, dân tộc là tộc người trong một quốc gia đa dân tộc
Nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ người của một quốc gia (nhân dân một nước),
bao gồm một hay nhiều tộc người, có chung lãnh thổ, ngôn ngữ, chế độ chínhtrị, kinh tế, nền văn hóa, được quản lý, chỉ đạo bởi một nhà nước chung, thốngnhất Theo nghĩa này, dân tộc là quốc gia dân tộc
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung xem xét dân tộc theo nghĩa thứhai: dân tộc là cộng đồng người của một quốc gia hay dân tộc với nghĩa là quốcgia dân tộc Trong dân tộc, các thành viên gắn bó với nhau bởi những lợi íchchung về lãnh thổ, chính trị, kinh tế, văn hóa và truyền thống đấu tranh chung
Trang 32trong quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Đây là những lợi ích cơbản, cốt lõi nhất, là cơ sở và động lực phát triển của các dân tộc.
án, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ lợi ích dân tộc
Theo Từ điển Thuật ngữ Ngoại giao, lợi ích dân tộc là “lợi ích chung
của cộng đồng những người sống trên một đất nước, có chung nguồn gốc,lịch sử, phong tục tập quán và phần nhiều còn chung cả tiếng nói, chữ viết”[125, tr.63] Ở góc tiếp cận khác, tác giả Trần Hữu Tiến quan niệm: lợi ích dântộc “bao hàm trong đó tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sựtrường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia dân tộc có chủ quyền, thốngnhất, độc lập, lãnh thổ toàn vẹn; cho sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốcgia dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồngngày càng phong phú, tốt đẹp hơn…” [149, tr.97] Theo quan niệm này, lợi íchdân tộc là lợi ích chung của cộng đồng người trong một quốc gia dân tộc, baogồm tất cả những giá trị vật chất, tinh thần tạo thành điều kiện, cơ sở đảm bảocho sự tồn tại, phát triển của quốc gia dân tộc
Tiếp cận theo góc độ quan hệ quốc tế, tác giả Trần Nam Tiến cho rằng,lợi ích dân tộc là một trong những khái niệm cơ bản trong quan hệ quốc tế, lànhân tố hết sức quan trọng trong việc xác định chính sách đối ngoại của quốc
Trang 33gia “Lợi ích dân tộc bao gồm các mục tiêu chiến lược, đôi khi cả các công cụthực hiện mục tiêu mà quốc gia theo đuổi trên trường quốc tế” [151, tr.23].Còn tác giả Đoàn Văn Thắng quan niệm, “lợi ích dân tộc thể hiện ở nhu cầu,mục tiêu mà một dân tộc theo đuổi thực hiện ở trong nước cũng như trongquan hệ với các nước và tổ chức quốc tế” [144, tr.75-76] Quan niệm này đãchỉ ra vai trò của lợi ích dân tộc trong việc hoạch định chính sách đối nội,đối ngoại của chính quyền quốc gia dân tộc…
Tuy còn có sự khác nhau nhất định trong quan niệm về lợi ích dân tộcnhưng theo nghĩa chung nhất, lợi ích dân tộc là tổng hợp các điều kiện, các yếu
tố, các giá trị vật chất và tinh thần được quốc gia dân tộc coi là có lợi, có ích chothế và lực của họ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Nội dung lợi ích dân tộcvừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan do bị chi phối bởi lợi íchriêng, lợi ích giai cấp Song nhìn chung, sự sống còn và sức mạnh của một dântộc được coi là nhân tố cơ bản nhất của lợi ích dân tộc Đặc biệt, trong bối cảnhtoàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, mỗi quốc gia dân tộc khi tham gia tổchức quốc tế, khu vực và hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa đều xác định mụcđích, mục tiêu nhất định nhằm làm gia tăng và bảo vệ lợi ích dân tộc mình Đốivới các nước lớn, giới cầm quyền càng coi trọng và đề ra những chiến lược đểđảm bảo lợi ích của họ trên phạm vi toàn cầu Điều này có thể làm trỗi dậy tưtưởng dân tộc chủ nghĩa, dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền hay bất chấpluật pháp quốc tế trong quan hệ đối ngoại để thực hiện và bảo vệ mục tiêu tốithượng - “lợi ích dân tộc” của quốc gia Trong bối cảnh đó, lợi ích dân tộc chỉđược coi là thực tế, phù hợp khi có tính đến lợi ích của các quốc gia khác, cácchủ thể khác trong hệ thống quốc tế, kể cả lợi ích chung của cộng đồng quốc tế
Với cách tiếp cận trên, đồng thời kế thừa kết quả nghiên cứu của các
nhà khoa học trước, chúng tôi quan niệm: Lợi ích dân tộc là toàn bộ những cái có lợi, có ích, có giá trị về vật chất, tinh thần, là yếu tố, điều kiện cần thiết đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển bền vững của cộng đồng người sống trong một lãnh thổ nhất định, được luật pháp hóa và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
Trang 34Nội hàm của quan niệm lợi ích dân tộc bao gồm những nội dung sau:
Một là, lợi ích dân tộc mang tính khách quan, đáp ứng nhu cầu tồn tại
và phát triển của dân tộc
Lợi ích dân tộc là những cái có lợi, có ích đối với dân tộc, trong đó cónhững yếu tố thuộc về tự nhiên được cộng đồng sở hữu như đất đai, sông hồ,biển, đảo, thềm lục địa, vùng trời ; có những yếu tố thuộc về xã hội nhưtruyền thống dân tộc, độc lập, thống nhất, đoàn kết dân tộc, các quan hệ xãhội ở trong nước và những mối quan hệ quốc tế Những điều kiện tự nhiên và
xã hội đó không phải là những mong muốn, áp đặt chủ quan mà là những yếu
tố, quan hệ khách quan hình thành trong lịch sử, trên cơ sở đặc thù về điềukiện địa lý, trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của các dântộc gắn với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định
Trong mọi chế độ xã hội, lợi ích dân tộc có liên quan đến các thànhviên, cộng đồng người trong một dân tộc và là một động lực quan trọng thúcđẩy sự phát triển của dân tộc Ph.Ăngghen đã khẳng định, “chính lợi ích là cáiliên kết các thành viên của xã hội” [92, tr.183] lại với nhau và những “conngười độc lập chỉ liên hệ với người khác thông qua cái nút là lợi ích tư nhân”[92, tr.172], tức là mọi hoạt động của con người đều nhằm đến một cái chung
là lợi ích Do đó, lợi ích dân tộc luôn là nhu cầu tồn tại và phát triển của dântộc, được biểu hiện ở độc lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; sựphát triển đi lên về mọi mặt của dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất
và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; sự nâng caokhông ngừng sức mạnh tổng hợp và năng lực cạnh tranh của dân tộc trêntrường quốc tế; vị thế, uy tín và ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế của dântộc Vì vậy, “các dân tộc trên thế giới đều coi lợi ích căn bản nhất của dântộc là tổ quốc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ (bao gồmvùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa); phát triển, giàu mạnh,nhân dân làm chủ đối với tổ quốc mình” [149, tr.97]
Trang 35Hai là, lợi ích dân tộc luôn mang bản chất giai cấp, có tính nhân dân và được thể hiện trong chính sách đối nội, đối ngoại của mỗi quốc gia dân tộc
Xét tổng thể, lợi ích dân tộc trong mỗi thời đại lịch sử đều gắn với mộthình thái kinh tế - xã hội và chế độ xã hội ở mỗi quốc gia nhất định Do vậy,lợi ích dân tộc thường bị quy định bởi lợi ích của giai cấp thống trị, biểu hiệnthông qua nhà nước, luật pháp, những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội V.I.Lênin khẳng định, “phải tìm nguồn gốc của những hiện tượng xã hội
ở trong những quan hệ sản xuất, và phải quy những hiện tượng ấy vào lợi íchcủa những giai cấp nhất định” [79, tr.670] Trong xã hội tư bản, “nhiều sự thậtngày càng vạch trần ra rằng những lời dạy của thuyết kinh tế tư sản cho rằnglợi ích của tư bản và lao động là nhất trí…, là những lời giả dối” [3, tr.302].Lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, lợi ích của nhân loại sẽ thống nhất vớinhau khi giai cấp thống trị tiến bộ đại diện cho lợi ích toàn dân tộc Trongtrường hợp giai cấp thống trị xã hội phản động, suy tàn, không còn đại biểucho dân tộc nữa, không còn xứng đáng là “giai cấp dân tộc” thì lợi ích củagiai cấp thống trị sẽ đối lập với lợi ích dân tộc chân chính của đông đảo nhândân, và khi đó cuộc đấu tranh sẽ tất yếu diễn ra để giải quyết mâu thuẫn ấy
Lợi ích dân tộc mang bản chất giai cấp, đồng thời mang tính nhân dânrộng rãi, bởi lẽ, nó là một giá trị chung của cả cộng đồng dân tộc trong một quốcgia Lợi ích dân tộc có liên quan đến các thành viên, các cộng đồng người trongmột dân tộc và là một động lực thúc đẩy sự phát triển của dân tộc Vì thế tronglịch sử, vấn đề lợi ích dân tộc đã được giai cấp thống trị đại diện cho dân tộcnhận thức, luật pháp hóa, trở thành “giá trị phổ biến” trong chính sách đối nội,đối ngoại của quốc gia Tuy nhiên, việc nhận thức đúng hay không đúng, từ đó
có chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn để bảo vệ lợi ích dân tộc, thúc đẩy sựphát triển của dân tộc lại tùy thuộc vào bản chất của giai cấp thống trị xã hội
Lịch sử chứng minh rằng, trong xã hội có sự đối kháng giai cấp, do địa
vị, lợi ích khác nhau nên thái độ xử lý vấn đề lợi ích dân tộc của các giai cấp,các chính đảng không giống nhau, nhất là khi lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp,lợi ích phe nhóm mâu thuẫn nhau Không ít trường hợp khi tổ quốc lâm nguy,
Trang 36giai cấp thống trị phản động đã từ bỏ lợi ích dân tộc chân chính, cơ bản để
cứu vãn địa vị, lợi ích giai cấp Trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, C.Mác
chỉ rõ, “trong khi phải chọn giữa hai điều: nghĩa vụ dân tộc và lợi ích giai cấpthì chính phủ quốc phòng đã không hề do dự một phút nào mà biến ngaythành một chính phủ phản quốc” [95, tr.422] Do vậy, để lợi ích dân tộc thực
sự trở thành một động lực thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của dân tộc, đòi hỏigiai cấp lãnh đạo xã hội phải là giai cấp tiến bộ, đại diện cho lợi ích dân tộc;kết hợp hài hòa giữa lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc
Ba là, lợi ích dân tộc vừa có tính lịch sử, vừa có tính quốc tế
Lợi ích dân tộc không bất biến mà thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử cụthể, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, tương quan lực lượng và xuhướng phát triển của tình hình thế giới Lợi ích dân tộc có những yếu tố manggiá trị lâu dài, bền vững nhưng cũng có những yếu tố chỉ tồn tại trong giaiđoạn nhất định Trong mỗi thời kỳ tồn tại, phát triển của dân tộc, có một hoặcmột số lợi ích nổi bật lên Trong thời kỳ đất nước bị ngoại xâm thì “quyền lợidân tộc giải phóng cao hơn hết thảy” [97, tr.230], nhiệm vụ giải phóng dântộc được đặt lên hàng đầu và là lợi ích tối cao của dân tộc Trong bối cảnh dântộc đứng trước xu thế tất yếu của một cuộc cách mạng xã hội, giải phóng nhândân khỏi cảnh áp bức, tối tăm của chế độ xã hội đã lỗi thời, mở đường cho đấtnước phát triển đi lên, thì lợi ích của giai cấp tiên tiến, cách mạng, đại biểucho lợi ích dân tộc chính là lợi ích cao nhất, trực tiếp nhất của dân tộc
Đối với các nước đang phát triển, chậm phát triển và phụ thuộc, hoặcchịu sự đô hộ của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới thì lợi íchgiải phóng xã hội và lợi ích giải phóng dân tộc gắn bó chặt chẽ với nhau Nếuvấn đề giải phóng dân tộc chưa được giải quyết căn bản thì lợi ích giải phóngdân tộc phải được đặt lên hàng đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nếukhông giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự
do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịumãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũngkhông đòi lại được” [47, tr.113] Khi vấn đề độc lập dân tộc đã căn bản được
Trang 37giải quyết thì lợi ích dân tộc thể hiện tập trung ở nhiệm vụ phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc nhân dân.
Lợi ích chính đáng, chân chính của dân tộc không đối lập với lợi íchchính đáng của dân tộc khác và phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng chung củaloài người tiến bộ Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, bảo đảm lợi ích tốicao của dân tộc phải “trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế,bình đẳng và cùng có lợi” [52, tr.153] Lợi ích dân tộc chính đáng trong thếgiới văn minh và nguyện vọng chung của loài người tiến bộ có giá trị chung,
đó là hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng,
tự do lựa chọn con đường phát triển vì tiến bộ xã hội Trên thực tế, khôngphải tất cả những gì các chính phủ tuyên bố về “lợi ích quốc gia” đều là lợiích dân tộc chính đáng Luật pháp của một quốc gia có thể chỉ là quan điểmđơn phương của quốc gia đó nên không thể là căn cứ duy nhất để giải quyếtmâu thuẫn về lợi ích dân tộc Luật pháp quốc tế phản ánh ý nguyện của cácdân tộc, phản ánh kết quả đấu tranh của các dân tộc yêu độc lập, tự do, hòabình, công lý Mặt khác, luật pháp quốc tế phản ánh tương quan lực lượngtrên trường quốc tế, do vậy không phải bao giờ cũng được các quốc gia tôntrọng và thực hiện, nhất là các nước lớn hiện nay
Bốn là, lợi ích dân tộc rất đa dạng, phức tạp.
Lợi ích dân tộc là một cấu trúc phức tạp Phân loại theo lĩnh vực xã hội
có lợi ích chính trị, lợi ích kinh tế, lợi ích văn hóa, lợi ích xã hội Phân loạitheo tầm quan trọng có lợi ích cơ bản, lợi ích sống còn, lợi ích thiết yếu, lợiích thông thường Theo thời gian có lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt Theochủ thể có lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội Phân loại theo góc độ
an ninh và phát triển có nhóm lợi ích an ninh và nhóm lợi ích phát triển… Sựphân loại này chỉ có tính tương đối vì trong sự tồn tại và phát triển xã hội, cáclợi ích này luôn tồn tại đan xen, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau trongnhững điều kiện lịch sử nhất định Phạm vi luận án nghiên cứu lợi ích dân tộctheo những dấu hiệu đặc trưng của dân tộc gồm: lợi ích lãnh thổ, lợi ích chínhtrị, lợi ích kinh tế, lợi ích văn hóa, lợi ích xã hội Đây là những lợi ích cơ bản,cốt lõi nhất để dân tộc tồn tại và phát triển
Trang 38Quan niệm lợi ích dân tộc Việt Nam
Lợi ích dân tộc Việt Nam là toàn bộ những cái có ích, có lợi, có giá trị về vật chất, tinh thần, là yếu tố, điều kiện cần thiết về lãnh thổ, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam, được xác định trong đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
Lợi ích dân tộc Việt Nam có nội hàm rất rộng, bao hàm trong đó tất cảnhững giá trị vật chất và tinh thần, những cái có lợi, có ích, có ý nghĩa, tạo điềukiện cần thiết cho sự phát triển trường tồn và bền vững về lãnh thổ, kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đảm bảo khôngngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp và vị thế, uy tín của dân tộc Việt Nam trêntrường quốc tế Lợi ích dân tộc Việt Nam là những yếu tố, quan hệ khách quanđược cộng đồng dân tộc Việt Nam tạo lập, giữ gìn bằng máu xương của nhiềuthế hệ trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước Theo tinh thần Nghịquyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và Nghị quyết số29-NQ/TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ngày25/7/2018 về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”, nội hàm lợiích dân tộc Việt Nam hiện nay bao gồm những lợi ích cốt lõi sau:
Về lãnh thổ, lợi ích dân tộc Việt Nam biểu hiện ở chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ Đây là lợi ích căn bản, lợi ích sống còn và cũng làquyền thiêng thiêng bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam Lãnh thổ nướcViệt Nam phải là một cơ thể thống nhất, toàn vẹn, độc lập, chủ quyền về vùngđất, vùng trời, vùng biển, đảo, thềm lục địa và không gian mạng của ViệtNam Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, “nước Việt Nam là một, dân tộcViệt Nam là một, không ai có thể chia cắt được” [108, tr.264] Xét về phạm
Trang 39vi, chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tồn tại hiện hữu trên thực tế được đánh dấu,phân định rõ ràng, được pháp luật, công ước của quốc tế xác nhận Xâm phạmchủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam tức là xâm phạm đến lợiích của dân tộc Việt Nam về lãnh thổ Khi đó, ý thức dân tộc trỗi dậy trởthành sức mạnh to lớn để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ của dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ quan điểm này trong
“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” khi Người nhấn mạnh: “Chúng ta thà hy
sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nôlệ” [101, tr.534]
Về chính trị, lợi ích dân tộc Việt Nam biểu hiện ở quyền độc lập dân tộc,
quyền dân tộc tự quyết, quyền lựa chọn thể chế chính trị, con đường phát triển,các chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam Đây lànhững lợi ích tối thượng, thể hiện lập trường, chính kiến của dân tộc Việt Nam
và không chịu sự chi phối, áp đặt của bất kỳ dân tộc nào khác Bởi lẽ, “tất cảcác dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyềnsống, quyền sung sướng và quyền tự do” [98, tr.1] Vì vậy, dân tộc Việt Nam
“có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độclập” [98, tr.3] Việc một dân tộc nào đó dựa vào sức mạnh quân sự hay sứcmạnh kinh tế của mình để gây sức ép, nhằm áp đặt chế độ chính trị cho dân tộcViệt Nam là vi phạm nghiêm trọng lợi ích chính trị của dân tộc Việt Nam
Lợi ích chính trị của dân tộc Việt Nam còn là môi trường chính trị - xãhội của đất nước hòa bình, ổn định để phát triển; sự lãnh đạo độc tôn củaĐảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội và sự quản lý của Nhà nướcpháp quyền XHCN Việt Nam trong công cuộc đổi mới toàn diện trên các lĩnhvực vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Nóikhái quát là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
Lợi ích chính trị còn biểu hiện ở đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đadạng hóa, đa phương hóa, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệmtrong cộng đồng quốc tế Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời,
Trang 40Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với cả thế giới rằng, Việt Nam muốn “làm bạnvới tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” [103, tr.256], “…
ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn Bất kỳ ai làm điều gì
có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta tức là kẻ thù” [107, tr.264] Theo Hồ ChíMinh, lợi ích dân tộc là tiêu chí để phân biệt bạn - thù, là cơ sở để phân hóa kẻthù và tập hợp lực lượng trong các giai đoạn cách mạng Cương lĩnh xây dựngđất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển năm 2011),Đảng ta xác định: thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòabình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ, chủ động vàtích cực hội nhập quốc tế Quá trình hội nhập quốc tế phải dựa trên nguyên tắctôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi và các nguyên tắc cơ bản của Hiếnchương Liên Hợp Quốc
Lợi ích dân tộc Việt Nam về chính trị còn thể hiện ở nền quốc phòngtoàn dân, an ninh toàn dân, toàn diện, hiện đại, đảm bảo giữ vững độc lập, chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòabình, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, từng bước hiện thực hóa mụctiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Trong bối cảnh toàncầu hóa hiện nay, dân tộc ta cần cảnh giác với sự can thiệp, chống phá của cácthế lực thù địch, phản động và một số nước có tiềm lực kinh tế, quân sự nhằmxóa bỏ chế độ chính trị XHCN ở Việt Nam hiện nay
Về kinh tế, lợi ích kinh tế của dân tộc Việt Nam biểu hiện ở dân giàu,
nước mạnh; là nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả.Bảo đảm độc lập, tự chủ trong chủ trương, đường lối, chính sách phát triểnkinh tế đất nước; CNH, HĐH đất nước, đảm bảo cho dân tộc có sự ổn định,tăng trưởng kinh tế liên tục và bền vững, có khả năng thích ứng cao trong bốicảnh toàn cầu hóa Lợi ích kinh tế của dân tộc Việt Nam còn là các quan hệkinh tế quốc tế trên cơ sở hợp tác bình đẳng cùng có lợi Đây là vấn đề hết sứcquan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay
Lợi ích kinh tế của dân tộc Việt Nam còn biểu hiện ở việc bảo đảmquyền và lợi ích kinh tế của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong sản