1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất việt nam

198 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn nghiên cứu thựctrạng sử dụng thước đo HQHĐtrong các DN và ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ trong các DNSXVN, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: "Cá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

NGÔ THỊ TRÀ

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC THƯỚC ĐO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KẾ TOÁN

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI

HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

NGÔ THỊ TRÀ

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC THƯỚC ĐO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán (Kế toán, kiểm toán và phân tích)

Mã số: 9340301

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS NGHIÊM VĂN LỢI

2 PGS TS NGUYỄN THU LIÊN

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi camkết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêucầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Nghiên cứu sinh

Ngô Thị Trà

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH v

Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu, phạm vi, câu hỏi nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Khung nghiên cứu 3

1.4 Kết cấu của luận án 4

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 6

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC THƯỚC ĐO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 7

2.1 Hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp 7

2.1.1 Vai trò của đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp 7

2.1.2 Các loại thước đo hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp 9

2.1.3 Yêu cầu và nguyên tắc xây dựng hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp 12

2.1.4 Các mô hình đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp 13

2.2 Tổng quan nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp 15

2.2.1 Các công trình nghiên cứu về mức độ sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động 16

2.2.2 Các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động 24

2.2.3 Kết luận rút ra từ tổng quan các công trình nghiên cứu 33

2.3 Các lý thuyết nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng thước đo hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp 33

2.3.1 Lý thuyết ngẫu nhiên 34

2.3.2 Lý thuyết về sự phát tán đổi mới 35

2.3.3 Lý thuyết các bên liên quan 36

Trang 5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 37

Chương 3: XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

3.1 Thiết kế nghiên cứu 38

3.1.1 Nghiên cứu định tính 38

3.1.2 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 42

3.1.3 Mô hình nghiên cứu 46

3.2 Phương pháp chọn mẫu 48

3.2.1 Đối tượng chọn mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu 48

3.2.2 Cỡ mẫu 48

3.3 Trình tự nghiên cứu 49

3.4 Thiết kế phiếu khảo sát 55

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 58

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59

4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 59

4.2 Kết quả khảo sát tình hình và mức độ sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam 62

4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các biến độc lập đến mức độ sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam 67

4.3.1 Thống kê mô tả biến độc lập 67

4.3.2 Phân tích ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất riêng phần 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 100

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101

5.1 Các vấn đề nghiên cứu và kết luận 101

5.2 Các hàm ý, ý nghĩa rút ra từ nghiên cứu 108

5.3 Một số đề xuất góp phần hoàn thiện hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam 111

5.4 Điều kiện áp dụng 113

5.5 Hạn chế của nghiên cứu 114

5.6 Gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo 114

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 115

KẾT LUẬN CHUNG 116

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

PHỤ LỤC 135

Trang 6

Doanh nghiệpDoanh nghiệp Việt NamDoanh nghiệp sản xuấtDoanh nghiệp sản xuất Việt NamPhân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis)Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (Earning Per Share)

Hệ thống sản xuất linh hoạt (Flexible Manufacturing Systems)Hiệu quả hoạt động

Cung cấp đúng lúc (Just In Time)Kinh doanh

Chỉ số hiệu suất quan trọng (Key Performance Indicators)Chỉ số kết quả chủ yếu (Key Performance Outcomes)Kết quả hoạt động

Kết quả kinh doanh

Kế toán quản trị

Kỹ thuật/ thực hành kế toán quản trị (Managerial Accounting Practices)Nhà quản trị

Nhà quản trị cao nhấtNhân viên kế toánCông nghệ sản xuất tối ưu hóa (Optimized Production Technology)Lợi nhuận trên tài sản

Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữuLợi tức đầu tư (Return On Investment)Trách nhiệm hữu hạn

Quản trị chất lượng tổng thể (Total Quality Management)

Trang 7

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

Bảng 2.1 So sánh các thước đo HQHĐ tài chính và phi tài chính 10

Bảng 2.2 Tóm tắt các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng 31

Bảng 3.1 Tóm tắt kết quả thảo luận lựa chọn biến độc lập 42

Bảng 3.2 Định nghĩa và cách đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu 54

Bảng 4.1 Nơi đóng trụ sở của các doanh nghiệp trả lời khảo sát 59

Bảng 4.2 Số lượng lao động trong các doanh nghiệp trả lời khảo sát 60

Bảng 4.3 Người trả lời khảo sát 61

Bảng 4.4 Tình trạng sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động 62

Bảng 4.5 Thống kê mô tả mức độ sử dụng các thước đo HQHĐtrong các doanh nghiệp Việt Nam 65

Bảng 4.6 Kết quả khảo sát biến áp lực cạnh tranh 67

Bảng 4.7 Kết quả khảo sát biến phân quyền 68

Bảng 4.8 Kết quả khảo sát biến cấu trúc doanh nghiệp 68

Bảng 4.9 Sự ủng hộ của NQTCN 69

Bảng 4.10 Sự hiểu biết của NVKT về đo lường HQHĐ 70

Bảng 4.11 Kết quả kiểm định Cronbach's Alpha thang đo các biến độc lập 71

Bảng 4.12 Bảng hệ số KMO phân tích nhân tố biến độc lập 71

Bảng 4.13 Bảng giải thích phương sai tổng biến 72

Bảng 4.14 Ma trận xoay các nhân tố 73

Bảng 4.15 Đặc điểm dữ liệu sử dụng trong phân tích PLS-SEM 75

Bảng 4.16 Các thước đo biến phụ thuộc 75

Bảng 4.17 Hệ số tải của các biến trong thang đo 80

Bảng 4.18 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo 81

Bảng 4.19 Kiểm tra tính phân biệt của thang đo 83

Bảng 4.20 Hệ số Beta và P-value của mô hình 1 85

Bảng 4.21 Hệ số Beta và P-value của mô hình 2 87

Bảng 4.22 Hệ số Beta và P-value của mô hình 3 89

Bảng 4.23 Hệ số Beta và P-value của mô hình 4 91

Bảng 4.24 Hệ số Beta và P-value của mô hình 5 94

Bảng 4.25 Hệ số Beta và P-value của mô hình 6 96

Bảng 4.26 Các giả thuyết khẳng định bị bác bỏ 98

Bảng 4.27 Các giả thuyết khẳng định được chấp nhận 98

Trang 8

Hình 1.1 Khung nghiên cứu của luận án 4

Hình 2.1 Mô hình bảng điểm cân bằng của Kaplan và Norton (Brown, 1996) 15

Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu 47

Hình 3.2 Các bước trong quá trình nghiên cứu 49

Hình 4.1 Kết quả phân tích mô hình 1 86

Hình 4.2 Kết quả phân tích mô hình 2 88

Hình 4.3 Kết quả phân tích mô hình 3 90

Hình 4.4 Kết quả phân tích mô hình 4 93

Hình 4.5 Kết quả phân tích mô hình 5 94

Hình 4.6 Kết quả phân tích mô hình 6 96

Trang 9

Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Đo lường và đánh giá là một chức năng quan trọng của quản trị doanh nghiệp.Theo Needly (1999) "nếu không đo lường được thì không quản trị được" Đo lườngbằng cái gì thì nhận được cái đó (Kaplan, 1991) Như vậy, có thể nói đo lường và đánhgiá ảnh hưởng đến hành vi của các nhà quản trị trong doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đếnHQHĐ ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp

Từ sau năm 1980 trở lại đây, hệ thống thước đo HQHĐ của các doanh nghiệp trênthế giới đã có nhiều thay đổi Nhiều hệ thống đánh giá đã ra đời như hệ thống đánh giá

do Keegan, Eilervà Jones đề xuất từ năm 1989;mô hình Kim tự tháp của Lynch và Cross(1991); mô hình lăng kính hiệu suất của Neely (2001) và mô hình bảng điểm cân bằngcủa Kaplan và Norton (1991)

Tại Việt Nam, trong hơn 40 năm qua hệ thống đánh giá trong các doanh nghiệpvẫn không có nhiều thay đổi Các thước đo HQHĐ của doanh nghiệp vẫn phụ thuộc chủyếu vào hệ thống kế toán, không gắn với chiến lược và các nhân tố có ảnh hưởng quyếtđịnh đến thành công của doanh nghiệp Hệ thống đánh giá đang được sử dụng trong cácdoanh nghiệp Việt Nam được Neely và một số học giả khác gọi là hệ thống đánh giátrước 1980

Các ý kiến phê bình về sự hạn chế của các mô hình đo lường hiệu suất trước năm

1980 được Neely (2000) tổng kết như sau:

Hệ thống đánh giá trước năm 1980 không gắn với chiến lược nên khuyến khíchcác hoạt động vì mục tiêu ngắn hạn; không tập trung vào chiến lược; khuyến khích nângcao hiệu quả bộ phận; không chú ý đến nhu cầu khách hàng và hiệu quả cạnh tranh,v.v (Neely, 2000)

Các doanh nghiệp Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xãhội của đất nước Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến cuối năm 2019, cả nước

có gần 760 ngàn doanh nghiệp đang hoạt động, sử dụng gần 15 triệu lao động và sốlượng tài sản trị giá gần 40 triệu tỷ đồng Tuy nhiên, HQHĐ của các doanh nghiệp ViệtNam còn thấp Số lượng doanh nghiệp lỗ và hòa vốn chiếm gần 56% (Tổng cục Thống

Kê, 2020)

Trang 10

Hiệu quả kinh doanh thấp không chỉ làm giảm thu nhập của người lao động màcòn làm giảm vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Vấn đề này cũng đặt rayêu cầu cần phải cải thiện, nâng cao năng lực và hiệu quả quản trị để cải thiện và nângcao HQHĐ từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá có vai trò quan trọng trong định hướng hoạt độngcủa các nhà quản trị và các bộ phận trong doanh nghiệp Các nhà quản trị thường bị tácđộng bởi các thước đo HQHĐ và thường tập trung vào những khía cạnh và hoạt độngđược đánh giá Theo Kaplan (1996), “hệ thống đo lường HQHĐ có ảnh hưởng mạnh mẽđến hành vi của mọi cá nhân bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Do vậy, để hỗ trợcho các hoạt động quản trị hiệu quả, ngoài các nhà quản trị được đào tạo bài bản, cókiến thức quản trị hiện đại phù hợp với môi trường kinh doanh trong điều kiện toàn cầuhóa thì các công cụ hỗ trợ như hệ thống thông tin kế toán quản trị với hệ thống các chỉtiêu đánh giá phù hợp là điều kiện cần thiết không thể thiếu

Tuy nhiên, do nền kinh tế Việt Nam mới chuyển sang hoạt động theo cơ chế kinh

tế thị trường theo định hướng XHCN từ cơ chế quản lý cũ tập trung, quan liêu, bao cấpnên đối với các doanh nghiệp nói chung, hệ thống HQHĐ phù hợp được các doanhnghiệp trên thế giới áp dụng vẫn chưa được áp dụng phổ biến ở Việt Nam Sự thiếuvắng hoặc không đầy đủ của hệ thống HQHĐ phù hợp trong các DNVN đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến mục tiêu, tầm nhìn và hành động của các nhà quản trị trong các doanhnghiệp này

Trong điều kiện toàn cầu hóa và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nướccũng như với các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng tăng, nhu cầu nâng caoHQHĐcủa các doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển trên thị trường ngày càng trởnên cấp thiết Muốn hoạt động kinh doanh hiệu quả và cạnh tranh thắng lợi, các doanhnghiệp phải được đầu tư về vốn, công nghệ hiện đại và được quản trị theo phương pháphiện đại với sự hỗ trợ của hệ thống thước đo phù hợp phục vụ cho đánh giá HQHĐ Dovậy, các doanh nghiệp cần nghiên cứu thiết kế, triển khai hệ thống thước đo HQHĐ phùhợp để hỗ trợ thông tin cho các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định cũng như đánhgiá đúng đắn HQHĐ của từng bộ phận để khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trongdoanh nghiệp hoạt động hiệu quả vì mục tiêu chung Với mong muốn nghiên cứu thựctrạng sử dụng thước đo HQHĐtrong các DN và ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử

dụng các thước đo HQHĐ trong các DNSXVN, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: "Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất Việt Nam" cho luận án của mình.

Trang 11

1.2 Mục tiêu, phạm vi, câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là nghiên cứu tình trạng sử dụng cácthước đo HQHĐ trong các DNSX và ảnh hưởng của một số nhân tố đến việc sử dụngcác thước đo HQHĐ của các doanh nghiệp này

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm:

1 Nghiên cứu thực trạng sử dụng các thước đo HQHĐ

2 Xác định ảnh hưởng của một số nhân tố đến mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ của các DNSX Việt Nam

3 Đề xuất và khuyến nghị một số giải pháp góp phần thúc đẩy và hoàn thiện hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án sẽ lựa chọn các DNSX để nghiên cứu thực trạng các chỉ tiêu đo lường vàđánh giá HQHĐ và ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐtrong các DN này Các DNSX sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên với quy mô khác nhau Dođiều kiện khó khăn về nguồn lực, luận án chỉ tập trungnghiên cứu các DNSXVN trênđịa bàn một số địa phương xung quanh Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu như đã trình bày ở trên, luận án sử dụng câu hỏinghiên cứu sau:

(1) Các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng các thước đo HQHĐở mức độ nào?

(2) Các nhân tố trong mô hình nghiên cứu có ảnh hưởng như thế nào đến mức độ sử dụng các thước đo HQHĐ trong các doanh nghiệp Việt Nam?

(3) Các khuyến nghị và giải pháp nào cần thiết để góp phần thúc đẩy và hoàn thiện

hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam?

1.3 Khung nghiên cứu

Khung nghiên cứu của luận án được thực hiện theo sơ đồ sau:

Trang 12

Hình 1.1 Khung nghiên cứu của luận án 1.4 Kết cấu của luận án

Luận án này được chia thành 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Trong chương này luận án giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câuhỏi nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu của luận án

Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân

tố đến việc sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp

Trong chương này, luận án sẽ trình bày cơ sở lý luận về hệ thống các thước đoHQHĐ, tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài và các lý thuyết được vận dụng làm

cơ sở để đề xuất và xây dựng mô hình nghiên cứu

Chương 3 Xây dựng giả thuyết và phương pháp nghiên cứu

Trong chương này, luận án sẽ diễn giải việc xây dựng các giả thuyết nghiên cứu,thiết kế mô hình nghiên cứu và các thang đo để đo lường các thành phần của mô hình

Trang 13

nghiên cứu, trình bày khái quát kế hoạch nghiên cứu và xây dựng phiếu khảo sát để điềutra thu thập dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu.

Chương 4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ của các DNSXVN

Chương này trình bày quá trình kết quả phân tích và xử lý dữ liệu thu được từkhảo sát để đưa ra kết luận về kết quả kiểm định các giả thuyết

Chương 5 Thảo luận kết quả nghiên cứu, khuyến nghị và kết luận

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm thu được đã được trình bày trongchương 4, trong chương này tác giả đưa ra các bình luận và kết luận liên quan đến cácgiả thuyết để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu, trình bày ý nghĩa, các hạn chế củanghiên cứu và khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo

Trang 14

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hiệu quả và năng lực cạnh tranh thấp đòi hỏi các DNSXVN Việt Nam phải ápdụng các giải pháp nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Để quản trị doanh nghiệp hiệu quả,một trong các công cụ không thể thiếu được để hỗ trợ cho các nhà quản trị trong quátrình ra quyết định là hệ thống đo lường HQHĐ Tuy nhiên, tại Việt Nam, do ảnh hưởngnặng nền của cơ chế quản lý quan liêu bao cấp, điều hành doanh nghiệp và nền kinh tếbằng kế hoạch hóa tập trung nên sự hiểu biết và vận dụng các kiến thức về kinh tế thịtrường nói chung và hệ thống hoạt động hiệu suất nói riêng còn hạn chế Chương

1 đã giới thiệu sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu phục vụ cho việc triển khai nghiên cứu ở các chương sau

Trang 15

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC THƯỚC ĐO HIỆU

QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

2.1 Hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp

2.1.1 Vai trò của đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp

Hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả hoạt động (HQHĐ) ở phạm vi rộng hơn là vấn

đề được quan tâm của mỗi nhà quản trị HQHĐ thường được đánh giá bằng sách so sánhgiữa kết quả thu được từ hoạt động của một cá nhân hoặc bộ phận cụ thể và so sánh nóvới tiêu chuẩn, định mức hoặc thực tế tốt nhất Quá trình quản trị thường được thực hiệntheo các bước: đo lường – phân tích (đánh giá) – kiểm soát và quyết định (Agrawal,2006) Quá trình đánh giá HQHĐ được bắt đầu bằng đo lường HQHĐ thông qua các chỉtiêu đo lường Một chỉ tiêu đo lường HQHĐ được định nghĩa là một thước đo được sửdụng để định lượng hiệu suất hoặc hiệu quả của hành động (Kennerley & Neely, 2002).Một hệ thống đo lường HQHĐ là một tập hợp các thước đo được sử dụng để định lượng

cả hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động (Neely et al., 1995)

Để đánh giá được HQHĐ của doanh nghiệp người ta phải đo lường được chúng

Do vậy, đo lường và đánh giá HQHĐ gắn bó hữu cơ với nhau, hỗ trợ và bổ sung chonhau Nếu không đo lường được HQHĐ thì không thể đánh giá được HQHĐ Ngược lại,nếu doanh nghiệp không đánh giá HQHĐ thì cũng không đặt ra nhu cầu phải đo lườngHQHĐ Đo lường HQHĐ là một chức năng quan trọng của quản trị Nếu không đánhgiá được thì cũng không cải thiện được (Agrawal, 2006) Thông qua đo lường HQHĐ,các nhà quản trị biết được HQHĐ của từng cá nhân, từng bộ phận trong doanh nghiệp

để có các biện pháp khuyến khích, tạo động lực đối với các cá nhân và bộ phận hoạtđộng hiệu quả, đồng thời có các biện pháp điều chỉnh đối với các cá nhân và bộ phậnhoạt động chưa hiệu quả Đo lường HQHĐ cũng giúp cho các nhà quản trị biết đượctình trạng hoạt động của doanh nghiệp và dự đoán sự thành công của doanh nghiệptrong tương lai

Như vậy, có thể nói, đo lường HQHĐ có vai trò quan trọng trong quản trị doanhnghiệp, ảnh hưởng đến thành công của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn Trongđiều kiện nguồn lực ngày càng khan hiếm, đo lường HQHĐ trở thành công cụ không thểthiếu được của các nhà quản trị "Muốn cải thiện thì phải đo lường được Bạn không thểcải thiện được nếu không đo lường được nó" (Agrawal, 2006) Nói về vai trò của đolường HQHĐ, Franceschini và cộng sự (2007) cho rằng: “không thể quản lý

Trang 16

được một hệ thống nếu như không đo lường được hiệu suất hoạt động của nó”(Franceschini, 2007, tr.109) Đồng tình với quan điểm trên, Schiemann và Lingle cũngcho rằng: “nếu không đo lường được hiệu suất của một hoạt động thì bạn không thểkiểm soát được nó Nếu bạn không kiểm soát được nó thì bạn không thể quản lý đượcnó" (Schiemann và Lingle, 1991) Thậy vậy, nếu nhà quản trị không đo lường đượcHQHĐ của các cá nhân và bộ phận trong doanh nghiệp thì cũng không thể kiểm soátđược hoạt động của chúng và chức năng khuyến khích, tạo động lực trong doanh nghiệpcũng không thực hiện được

Hệ thống đo lường HQHĐ không chỉ giúp cho các nhà quản trị kiểm soát đượchoạt động của doanh nghiệp mà còn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của các cánhân trong doanh nghiệp và tác động đến sự thành công của chiến lược, làm thay đổivăn hóa doanh nghiệp Đo lường một chỉ số cụ thể sẽ tạo ra các hành vi có mục tiêu tối

đa hóa hiệu suất của chỉ số, bất kể ảnh hưởng của nó đến toàn bộ tổ chức như thế nào(Zairi, 1995) Kaplan và Norton (2001) cũng cho rằng: “hệ thống đo lường HQHĐ cóảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của mọi cá nhân bên trong và bên ngoài DN” và “đánhgiá hiệu suất là cơ sở để xác định mục tiêu chiến lược, cải tiến liên tục cũng như mộtphương tiện để thay đổi văn hóa” (Kaplan, 1992)

Hệ thống đo lường HQHĐ không chỉ có vai trò quan trọng trong việc đạt đượcmục tiêu ngắn hạn mà có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược củadoanh nghiệp Đánh giá vai trò quan trọng của đo lường HQHĐ trong việc thực hiệnmục tiêu chiến lược của doanh nghiệp, Simon (2000) khẳng định: "Để đạt được các mụctiêu tài chính và phi tài chính, các nhà quản lý phải dựa vào nỗ lực và sáng kiến củanhân viên Nhân viên toàn bộ tổ chức phải hiểu chiến lược của doanh nghiệp và vai tròcủa họ trong việc đạt được mục tiêu chiến lược quan trọng" Simons (2000, tr 207)

Neely (1998) đưa ra kết luận về vai trò của đo lường HQHĐ như sau:

(1) Đánh giá vị thế Thiết lập tình trạng hiện tại, giám sát theo thời gian và điểm

(4) Tạo ra sự tập trung Các thước đo có thể giúp tổ chức tập trung vào các vấn

Trang 17

đề cụ thể và khuyến khích mọi người tìm kiếm các cách thức để thay đổi và cải thiệnhiệu quả Các thước đo truyền đạt các ưu tiên và có thể là cơ sở cho khen thưởng(Neely, 1998).

2.1.2 Các loại thước đo hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp

Nhận thức được vai trò của các chỉ tiêu đo lường HQHĐ trong quản trị doanhnghiệp, trong hơn 30 năm qua, nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống đo lườngHQHĐ trong các doanh nghiệp đã được thực hiện Các công trình nghiên cứu đã chỉ rarằng, trước năm 1980, các thước đo HQHĐ được sử dụng chủ yếu là các thước đo tàichính Các thước đo này dựa trên các dữ liệu do hệ thống kế toán cung cấp Tuomela,(2005) cho rằng các chỉ tiêu tài chính là khách quan, tin cậy, có thể kiểm chứng và ít tốnkém hơn khi sử dụng (Tuomela, 2005) Tuy nhiên các tác giả khác như Kaplan &Norton (1992, 1996); Chenhall (1997); Perera, Harrison & Poole (1997); Ittner, Larcker

& Rajan (1997); Ittner & Larcker (1998); Otley, (1999) Banker, Potter & Srinivasan(2000) đều chỉ ra hạn chế của các thước đo tài chính Các tác giả này đều cho rằng cácthước đo tài chính tập trung vào phạm vi hạn hẹp trong quá khứ, lạc hậu, không cungcấp được thông tin để dự đoán hiệu suất trong tương lai, dẫn đến khen thưởng cho hành

vi tạm thời hoặc dẫn đến quyết định quản lý không chính xác do không có được thôngtin đầy đủ Đo lường HQHĐ dựa trên các thước đo tài chính được coi là không phù hợpvới những thay đổi gần đây về môi trường kinh doanh, đặc biệt liên quan đến các côngnghệ mới và cạnh tranh gia tăng (Kaplan và Norton, 1992) Đo lường HQHĐ còn bị chỉtrích nhiều hơn vì nó thường tập trung vào các tiêu chí dễ định lượng như chi phí vànăng suất, trong khi bỏ qua các tiêu chí quan trọng đối với sự thành công của cạnh tranh(Sink, 1985)

Đề cập đến những hạn chế của hệ thống các chỉ tiêu đánh giá bằng thước đo tàichính, Bourne và cộng sự (2000), đã tổng kết các điểm hạn chế của các thước đo truyềnthống phụ thuộc nhiều vào hệ thống kế toán được nhiều học giả đưa ra như: khuyếnkhích hành động ngắn hạn (Banks & Wheelwright, 1979; Hayes và Garvin, 1982);không coi trọng chiến lược (Skinner, 1974); khuyến khích tối ưu hóa bộ phận (Hall,1983; Fry và Cox, 1989); khuyến khích giảm chênh lệch thay cho cải thiện liên tục(Johnston và Kaplan, 1987; Lynch và Cross, 1991); không tập trung ra bên ngoài(Kaplan và Norton, 1992); và thậm chí phá hỏng khả năng cạnh tranh của ngành sảnxuất Hoa Kỳ (Hayes và Abernathy, 1980)

Trang 18

Kaplan và Norton cũng cảnh báo về việc quá phụ thuộc vào hệ thống đo lường

HQHĐ dựa vào các thước đo tài chính: "Nếu các nhà quản lý cấp cao chú trọng quá nhiều vào việc quản lý bằng thước đo tài chính, khả năng tồn tại lâu dài của tổ chức sẽ

bị đe dọa" (Kaplan và Norton, 1996).

Nhằm khắc phục những hạn chế của các thước đo HQHĐ dựa trên tài chính, từ saunăm 1980 nhiều thước đo phi tài chính đã được phát triển và sử dụng Các thước đo phitài chính là những chỉ số tốt hơn về hiệu quả tài chính trong tương lai so với các thước

đo kế toán, và chúng có giá trị trong việc đánh giá và thúc đẩy sự hoàn thiện của nhàquản trị (Banker và cộng sự, 2000) Ưu điểm và hạn chế của các thước đo tài chính vàcác thước đo phi tài chính được Ghalayini và Noble (1996) tổng kết trong bảng sau:

Bảng 2.1 So sánh các thước đo HQHĐ tài chính và phi tài chính

Dựa trên số liệu kế toán quá khứ Dựa trên chiến lược công ty

Dành cho các nhà quản lý cấp trung và Dành cho tất cả nhân viên

cấp cao

Số liệu có độ trễ (hàng tuần hoặc hàng Số liệu kịp thời (theo giờ hoặc ngày)tháng)

Khó khăn, khó hiểu và gây hiểu lầm Đơn giản, chính xác và dễ sử dụng

Dẫn đến sự thất vọng của nhân viên Dẫn đến sự hài lòng của nhân viên

Ít được sử dụng trong doanh nghiệp sản Thường xuyên được sử dụng trong doanh

Không thay đổi giữa các địa điểm Thay đổi giữa các địa điểm

Không thay đổi theo thời gian Thay đổi theo thời gian và nhu cầu

Dự định chủ yếu để theo dõi hiệu suất Dự định để cải thiện hiệu suất

Không áp dụng cho JIT, TQM, CIM, Áp dụng cho JIT, TQM, CIM, FMS, RPR,

Cản trở cải thiện liên tục Giúp đạt được cải thiện liên tục

Nguồn: Ghalayini và Noble, 1996

Trang 19

Beatham và cộng sự (2004) nghiên cứu khá đầy đủ các hệ thống đo lường HQHĐ

do các Hiệp hội và các doanh nghiệp ở Anh xây dựng và phân loại chúng thành 3 loại làcác thước đo quá khứ, các thước đo dẫn dắt và các thước đo nhận thức Các thước đoquá khứ (lagging indicators) chỉ ra các kết quả đã thu được trong quá khứ, không chỉ rahiện tượng và nguyên nhân của kết quả và thường không có tác dụng chỉ báo Các thước

đo dẫn dắt (leading indicators) thường có tác dụng chỉ báo và cho phép dự đoán kết quảtrong tương lai, chỉ ra cơ hội cải thiện và những hoạt động cần cải thiện Các thước đonhận thức (perception measures) đưa đến sự phán đoán cho các nhà quản trị, chúngthường chỉ ra các kết quả trong quá khứ nhưng tùy theo giai đoạn sử dụng mà chúng cóthể là thước đo quá khứ hoặc thước đo dẫn dắt (Beatham, 2004)

Beatham (2004), cũng phân loại các thước đo thành hai loại là các chỉ số hiệu suấtchủ yếu (Key Performance Indicators - KPIs) và các chỉ số kết quả chủ yếu (KeyPerformance Outcomes – KPOs) KPIs là loại thước đo biểu thị hiệu suất liên quan đếncác quá trình Các thước đo như tỷ lệ nhân viên bỏ việc, số lượng nhân viên được đàotạo, v.v là các thước đo KPIs KPIs cung cấp dấu hiệu của các vấn đề tiềm ẩn cần khắcphục Nếu thước đo KPIs được sử dụng như một thước đo dẫn dắt, thì có thể đưa racảnh báo sớm, xác định một vấn đề tiềm ẩn và nêu bật sự cần thiết phải tìm hiểu thêm.KPIs chỉ có thể là dấu hiệu của hiệu suất trong tương lai và thuộc loại thước đo dự đoán.KPOs là loại thước đo thể hiện kết quả KPOs cung cấp kết quả của một hành động hoặcquá trình đã kết thúc Do đó, khi đã nhận được tín hiệu từ KPOs thì quá trình đã kếtthúc, doanh nghiệp không còn cơ hội để thay đổi Các thước đo lợi nhuận, giá cổ phiếu,thị phần, v.v… được xếp vào nhóm các thước đo KPOs Thông thường, KPOs là cácthước đo quá khứ Tuy nhiên, nếu sử dụng để đo lường quá trình hoạt động thì chúng lạitrở thành thước đo dẫn dắt

Để khắc phục các hạn chế của hệ thống đo lường và đánh giá bằng các chỉ tiêu tàichính, nhiều tác giả đã đề xuất các mô hình đánh giá sử dụng kết hợp các chỉ tiêu tàichính với các chỉ tiêu phi tài chính Việc đo lường HQHĐ rõ ràng phải vượt ra ngoài các

số liệu tài chính truyền thống và nắm lấy các động lực kinh doanh thiết yếu quyết định

và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh trong tương lai của công ty (Zairi, 1996; Love

et al., 1999) Các hệ thống đo lường HQHĐ này được Neely (1999) gọi là các hệ thống

đo lường HQHĐ hiện đại (sau năm 1980) để phân biệt với các hệ thống đo lườngHQHĐ chủ yếu dựa vào các thước đo tài chính được gọi là các hệ thống đo lườngHQHĐ truyền thống (trước 1980) (Neely, 1999)

Trang 20

- Phải phản ánh thông tin phi tài chính phù hợp dựa trên các nhân tố thành công chính của mỗi doanh nghiệp;

- Nên được thực hiện như một phương tiện của chiến lược rõ ràng và giám sát kết quả kinh doanh;

- Nên dựa trên các mục tiêu của tổ chức, các nhân tố thành công quan trọng và nhu cầu của khách hàng, phải giám sát cả hai khía cạnh tài chính và phi tài chính;

- Phải thay đổi linh hoạt theo chiến lược;

- Phải đáp ứng nhu cầu của các tình huống cụ thể trong hoạt động sản xuất, phải được định hướng dài hạn cũng như đơn giản để hiểu và dễ thực hiện;

- Phải tạo được liên kết với các hệ thống khen thưởng;

- Các thước đo tài chính và phi tài chính phải được liên kết và phù hợp trong khuônkhổ chiến lược (Gomes và cộng sự, 2004)

Theo Neely (1998), hệ thống đo lường HQHĐ cung cấp thông tin để các nhà quảntrị nắm được tình trạng của doanh nghiệp, báo cáo hiệu suất, xác định khu vực cần được

ưu tiên và tạo ra sự tập trung Để đạt được vai trò này, hệ thống đo lường HQHĐ phảiđạt được các yêu cầu sau:

- Cho phép các nhà quản trị kiểm soát được những hoạt động chủ yếu và những nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến thành công của doanh nghiệp

- Cho phép xác định được các khu vực cần ưu tiên, các khu vực cần cải thiện để doanh nghiệp đạt được thành công

- Cho phép dự báo được sự thành công của việc thực hiện kế hoạch và chiến lược của doanh nghiệp

- Không làm phân tán sự tập trung của doanh nghiệp (Neely, 1998)

Trang 21

Để đạt được các yêu cầu trên, hệ thống đo lường HQHĐ phải được xây dựng dựatrên các nguyên tắc nhất định Nguyễn Thị Thanh Hải (2013) đã tổng kết các nguyên tắccần được áp dụng để xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường HQHĐ trong các doanhnghiệp như sau:

- Chỉ tiêu đánh giá HQHĐ phải phù hợp với chiến lược của DN

- Các chỉ tiêu đánh giá HQHĐ phải phản ánh được quá khứ, hiện tại và tương lai gắn với hoạt động của DN

- Các chỉ tiêu đánh giá HQHĐ cần phải phản ánh được nhu cầu của khách hàng, cổ đông và người lao động

- Các chỉ tiêu đánh giá HQHĐ phải nhất quán và có sự gắn kết giữa bộ phận cấp trên với bộ phận cấp dưới trong DN (Nguyễn Thanh Hải, 2013)

2.1.4 Các mô hình đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp

Sự phát triển của các mô hình đo lường HQHĐ truyền thống có thể bắt nguồn từcác công ty công nghiệp lớn của thập niên 1920 (Johnson và Kaplan 1987) Trong giaiđoạn này, đo lường HQHĐ tập trung vào dữ liệu tài chính với một số thước đo tài chính

và kế toán quan trọng như: lợi tức đầu tư, lợi nhuận bán hàng, chênh lệch giá, doanh thutrên mỗi nhân viên, năng suất và lợi nhuận trên mỗi đơn vị sản xuất (Ghalayini &Noble, 1996) Những thước đo HQHĐ này coi năng suất là chỉ số hiệu suất chính.Trọng tâm này được thúc đẩy bởi nhu cầu cần được đáp ứng của các cổ đông, các bênliên quan bên trong và bên ngoài khác (Suzane, 2007)

Sự nổi lên của các đối thủ cạnh tranh với những sản phẩm có giá rẻ chiếm lĩnh thịphần trong những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX cũng đã buộc các công ty phảixem xét lại hệ thống đo lường HQHĐ Các thước đo tài chính để đo lường HQHĐ (vídụ: EPS và ROI) là các chỉ số tụt hậu, là kết quả của hành động quản lý và hiệu suất tổchức chứ không phải là nguyên nhân của nó (Brignall và Ballantine, 1996) Nhiều ngườinhận ra rằng các thước đo tài chính truyền thống không thể cung cấp thông tin cho sựphát triển của chiến lược, bỏ qua sự hài lòng của khách hàng và chất lượng sản phẩmhoặc dịch vụ (Ghalayini và Noble, 1996) Sự thành công của một doanh nghiệp là mộtkhái niệm đa chiều, phụ thuộc vào thiết kế, sản xuất, tiếp thị và phân phối sản phẩmhoặc dịch vụ, thường trong một môi trường phức tạp và năng động (Emmanuel vàOtley, 1985) Do đó, việc tập trung duy nhất vào các thước đo kế toán có thể dẫn đếnviệc không thích nghi với môi trường cạnh tranh mới (Turney và Anderson 1989)

Trang 22

Các thước đo phi tài chính như: thời gian (thời gian sản xuất, thời gian chờ và thờigian giao hàng), chất lượng, sự hài lòng của khách hàng và nhân viên hiện được xem lànhững thước đo quan trọng để cung cấp thông tin giúp nhà quản trị kiểm soát hoạt độngcủa doanh nghiệp Các thước đo phi tài chính cũng cung cấp thông tin phản hồi về cáchoạt động của công ty có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến kết quả kinh doanh.Nhận thức được tầm quan trọng của đo lường HQHĐ và nhu cầu sử dụng các chỉ tiêuphi tài chính trong đo lường HQHĐ, một số hệ thống đo lường HQHĐ tích hợp đã đượcphát triển Các mô hình đo lường HQHĐ cung cấp sự đánh giá cân bằng giữa các loạithước đo và tích hợp với chiến lược của doanh nghiệp Một số mô hình tiêu biểu như:

- Mô hình ma trận đánh giá hiệu suất của Keegan, Eiler và Jones (1989)

- Mô hình Kim tự tháp SMART của Lynch và Cross (1991);

- Mô hình kết quả và nhân tố quyết định (Result and Determinants Framework) của Fitzgerald và cộng sự (1991)

- Mô hình câu hỏi đánh giá hiệu suất (Performance Measurement Questionnaire) củaDixon và cộng sự (1990)

- Mô hình Lăng kính hiệu suất của Neely (2001)

- Mô hình Bảng điểm cân bằng của Kaplan và Norton (1992)

Đặc điểm chung của các mô hình này là đều có sự kết hợp giữa các chỉ tiêu tàichính với các chỉ tiêu phi tài chính và gắn với chiến lược Nổi bật trong số các mô hìnhtrên là mô hình Bảng điểm cân bằng (Balance Scorecard) đánh giá hiệu suất dưới nhiềukhía cạnh khác nhau của Kaplan và Norton (Bourne, 2003)

Bảng điểm cân bằng (BSC) là mô hình đánh giá hiệu suất chiến lược được đượcKaplan và Norton giới thiệu từ những năm đầu của thập kỷ 1990 (Sulaiman và cộng sự,2004) Các thước đo của bảng điểm cân bằng tập trung vào bốn khía cạnh KD cụ thể làtài chính, khách hàng, quá trình KD nội bộ, khía cạnh học hỏi và phát triển Khía cạnhtài chính tập trung vào các thước đo phản ánh giá trị đem lại cho cổ đông Khía cạnhkhách hàng tập trung vào những giá trị mà khách hàng nhận được và sự thỏa mãn củakhách hàng Khía cạnh nội bộ tập trung vào các quá trình KD vượt trội để làm hài lòng

và đem lại nhiều giá trị cho khách hàng Khía cạnh học hỏi và phát triển tập trung vàoviệc tiếp tục tăng cường và tạo ra giá trị trong tương lai Kaplan (1994, p 257) cho rằng

"bốn khía cạnh cho phép các công ty diễn giải chiến lược thành các mục tiêu ngắn hạn

và tạo ra sự cân bằng giữa hiệu quả tài chính ngắn hạn với các mục tiêu chiến

Trang 23

lược" Atkinson và cộng sự (1997) coi bảng điểm cân bằng là một trong những phát

minh quan trọng nhất của KTQT trong thế kỷ XX

Khía cạnh tài chínhKhách hàng Mục tiêu Thước đo C đông đánh

Chúng ta có

Chúng ta c n

ti p t c hoàn

hoàn thi n thi n và t o ra

Khía cạnh nhận thức và

khâu nào? giá tr ?

phát triểnMục tiêu Thước đo

Hình 2.1 Mô hình bảng điểm cân bằng của Kaplan và Norton (Brown, 1996)

Bảng điểm cân bằng đã thoát khỏi khuôn khổ các chỉ tiêu tài chính truyền thống,

sử dụng cân bằng các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính để đánh giá nguyên nhân dẫn

đến sự thành công của chiến lược Thông qua bảng điểm cân bằng, các nhà quản trị biết

được với HQHĐ như vậy liệu DN có đạt được mục tiêu chiến lược hay không (Neely,

1999)

Kể từ khi được giới thiệu đến nay, bảng điểm cân bằng đã được nhiều doanh

nghiệp đón nhận, áp dụng và đã đem lại thành công cho các doanh nghiệp "Năm 2008,

kết quả điều tra trên 1.400 công ty của Bain và Company, BSC xếp thứ 6 trong

10 công cụ quản lý được sử dụng phổ biến nhất, được sử dụng tại 53% công ty và mức độ

hài lòng trung bình của các công ty khi sử dụng công cụ này là 3.83 với thang đo mức độ hài

lòng cao nhất là 5" (Trần Quốc Việt, 2012)

2.2 Tổng quan nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước

đo hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp

Trang 24

Trong khoảng đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, xuất hiện nhiều nghi ngờ về sự phùhợp của KTQT truyền thống trong đó có các thước đo HQHĐ Nhiều ý kiến phê pháncho rằng KTQT truyền thống đã không còn phù hợp trong việc đáp ứng nhu cầu thôngtin cho các NQT trong điều kiện môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi KTQT

Trang 25

truyền thống chỉ tập trung vào việc cung cấp thông tin nội bộ, trong khi trên thị trườngcòn có cả khách hàng và đối thủ cạnh tranh tồn tại (Bhimani, 2010) Nhiều nhà nghiêncứu cho rằng sự thay đổi của môi trường kinh doanh cùng với sự xuất hiện của nhiều kỹthuật và phương pháp quản trị mới đòi hỏi phải có hệ thống đo lường HQHĐ mới phùhợp thay thế cho hệ thống đo lường HQHĐ cũ phụ thuộc quá nhiều vào các thước đo tàichính.

Drury (1990) cho rằng hệ thống đo lường và kiểm soát kế toán truyền thống làkhông phù hợp trong môi trường sản xuất như vậy Đồng tình với quan điểm của Drury,Kaplan (1993) cho rằng môi trường kinh doanh thay đổi cùng với hàng loạt các phươngpháp quản trị mới được áp dụng như quản lý chất lượng toàn diện, quản lý theo thờigian, tái cơ cấu quy trình kinh doanh, trao quyền cho nhân viên, dịch vụ tập trung vàokhách hàng, sản xuất tích hợp máy tính, v.v… đòi hỏi phải có một hệ thống đo lườngHQHĐ mới Ông cũng kêu gọi các nhà nghiên cứu KTQT chú trọng hơn vào lĩnh vực

đo lường HQHĐ (Kaplan, 1993)

2.2.1 Các công trình nghiên cứu về mức độ sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động

Mặc dù không có nhiều công trình nghiên cứu riêng mức độ sử dụng các thước đoHQHĐ, nhưng các nghiên cứu liên quan đến mức độ sử dụng và tầm quan trọng của cácthước đo HQHĐ như là một thành phần của KTQT lại khá phổ biến Nghiên cứu củaChenhall và Langfield-Smith (1998), phát triển từ mô hình nghiên cứu của De Meyer(1989) và Miller (1992), các tác giả khảo sát mức độ áp dụng 42 phương pháp KTQT tại

140 DN sản xuất quy mô lớn tại Úc Trong nghiên cứu này, hệ thống đo lường HQHĐ

là một trong 5 thành phần của hệ thống KTQT: hạch toán chi phí (product costing), lập

kế hoạch (Planning practices), hỗ trợ ra quyết định (decision support), đo lường HQHĐ(Perfomance evaluation practices) và hỗ trợ chiến lược (Strategically-focusedtechniques) Kết quả nghiên cứu cho thấy, các thước đo tài chính được các DN sử dụngchiếm tỷ lệ từ 96% đến 100%, trong khi các thước đo phi tài chính có tỷ lệ sử dụng thấphơn 92% Thước đo có tỷ lệ sử dụng thấp nhất là thu nhập còn lại (60%) (Chenhall andLangfield-Smith 1998) Mặc dù chỉ ra được mức độ áp dụng cũng như những lợi ích thuđược từ việc áp dụng các thước đo HQHĐ của các DN quy mô lớn của Úc nhưngChenhall và Langfield-Smith (1998) không chỉ ra được những nhân tố nào có ảnhhưởng đến mức độ áp dụng các thước đo HQHĐ cũng như mức độ ảnh hưởng của cácnhân tố đến mức độ áp dụng các thước đo HQHĐ trong các DN (Chenhall andLangfield-Smith 1998)

Nghiên cứu của Pierce và O’Dea (1998) trong các DN Ireland cho thấy hai thước

đo tài chính ROI và DCF (dòng tiền chiết khấu) có mức độ sử dụng trên mức trung

Trang 26

bình (ROI; mean = 3.34) và (DCF; mean=3.06) Các thước đo phi tài chính bao gồm cácthước đo tỷ lệ đơn hàng được thực hiện, xu hướng mức độ khiếu nại, lợi nhuận sảnphẩm, đơn hàng trên mỗi khách hàng có mức sử dụng khá cao (Mean = 3.42) Tỷ lệ cácdoanh nghiệp trả lời thường xuyên sử dụng các thước đo phi tài chính vào khoảng 50%.Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng BSC lại khá thấp Hơn 90% số người được hỏi trả lời là hiếmkhi hoặc chưa bao giờ dùng công cụ này

Dựa trên lý thuyết ngẫu nhiên, Hoque (2004) nghiên cứu quan hệ giữa chiến lượckinh doanh, sự không chắc chắn của môi trường kinh doanh với sự lựa chọn và sử dụngcác thước đo HQHĐ của 52 doanh nghiệp New Zealand Kết quả nghiên cứu cho thấy

có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa chiến lược kinh doanh với việc lựa chọn và

sử dụng các thước đo phi tài chính và HQHĐ của doanh nghiệp Mặt khác, nghiên cứukhông tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ đáng kể giữa sự không chắc chắn của môitrường với việc lựa chọn và sử dụng các thước đo hiệu quả phi tài chính và HQHĐ củadoanh nghiệp Các thước đo phi tài chính được sử dụng cho nghiên cứu này gồm 13thước đo được sắp xếp theo thứ tự mức độ sử dụng giảm dần như sau: hiệu quả vật liệuhoặc năng suất lao động; cải tiến hoặc cơ cấu lại quy trình; giới thiệu sản phẩm mới; đàotạo và phát triển nguồn nhân lực; sự hài lòng của khách hàng; giao hàng đúng hạn; mốiquan hệ với nhà cung cấp; mối quan hệ tại nơi làm việc; sức khỏe và sự an toàn củacông nhân; thị phần; chi phí sửa chữa sản phẩm; thời gian đáp ứng nhu cầu của kháchhàng và sự hài lòng của nhân viên (Hoque 2004) Mặc dù biến phụ thuộc trong nghiêncứu này là các thước đo HQHĐ nhưng số lượng thước đo được sử dụng tương đối ít vàcác thước đo tài chính không được đề cập đến

Thông qua nghiên cứu tình huống tại 7 công ty hoạt động trong các lĩnh vực kinhdoanh khác nhau: sản xuất, dịch vụ, bán lẻ, Kennerley và Neely (2002) đã nghiên cứucác nhân tố thúc đẩy và rào cản tác động đến sự thay đổi các thước đo HQHĐ trong cácdoanh nghiệp ở Anh Trong nghiên cứu này, các tác giả không chỉ ra cụ thể hệ thống đolường HQHĐ gồm các thước đo nào mà chỉ nêu ra sự thay đổi của hệ thống đo lườngHQHĐ bao gồm thay đổi từng thước đo (sử dụng thước đo mới, sửa đổi hay loại bỏthước đo cũ), tập hợp các thước đo và các điều kiện hạ tầng để đảm bảo cho hệ thống đolường HQHĐ có thể hoạt động được Các tác giả đã phát hiện ra ở mỗi công ty đều cócác nhân tố thúc đẩy và cản trở sự thay đổi của hệ thống đo lường HQHĐ khác nhau.Các nhân tố thức đẩy được phát hiện bao gồm: sự ủng hộ của các nhà quản trị, nhu cầu

đo lường và đánh giá chiến lược, sự truyền thống phù hợp đến nhân viên, phương pháp

đo lường nhất quán, ứng dụng công nghệ thông tin, v.v… Bên cạnh đó rào cản của sựthay đổi là sự bảo thủ của nhà quản trị; thiếu quy trình hiệu quả, thiếu

Trang 27

nguồn lực và nhân viên có kỹ năng, sự không linh hoạt của hệ thống và văn hóa khôngphù hợp (Kennerley and Neely 2002).

Tương tự nghiên cứu của Kennerley và Neely (2002), thông qua tài liệu, Bititci vàcộng sự (2005) cũng nghiên cứu hệ thống đo lường HQHĐ trong các doanh nghiệp vừa

và nhỏ để chỉ ra các đặc điểm ảnh hưởng đến hệ thống đo lường HQHĐ trong các doanhnghiệp này gồm: thiếu nhân lực, năng lực quản lý kém, thiếu nguồn tài trợ, phản ứngkém, thiếu kiến thức và quan niệm sai về đo lường HQHĐ

Abdel-Maksoud et al (2005), nghiên cứu về việc sử dụng các thước đo phi tàichính trong các doanh nghiệp sản xuất Ả rập Xê út Kết quả nghiên cứu cho thấy cácthước đo "giao hàng đúng hạn" và "hiệu quả sử dụng tài sản" được sử dụng nhiều vàđược đánh giá là rất quan trọng trong các doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn

Trong một nghiên cứu khác được thực hiện tại Anh, Ý, Nhật Bản và Canada,Abdel-Maksoud et al (2008) nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố gồm cạnh tranh,công nghệ và các kỹ thuật quản trị áp dụng trong các doanh nghiệp với việc sử dụng cácthước đo HQHĐ ở phân xưởng sản xuất Kết quả nghiên cứu cho thấy các thước đo liênquan đến khách hàng được sử dụng rộng rãi và rất quan trọng so với các thước đo phi tàichính khác trong các doanh nghiệp sản xuất ở các quốc gia này

Ngoài các nghiên cứu về tình hình sử dụng các thước đo HQHĐ nói chung vàthước đo HQHĐ phi tài chính nói riêng như các nghiên cứu của (Hoque 2004); Abdel-Maksoud et al (2005; 2008); Ahmad và cộng sự (2016), Một nghiên cứu tập trung vàoBảng điểm cân bằng (BSC) như nghiên cứu của Tymon et al (1998), Speckbacher(2003), Abernethy et al (2004), Abernethy & Bouwens (2005), Ismail (2007), TrầnQuốc Việt (2013), Vũ Thị Sen (2018)

Kết quả nghiên cứu của (Tymon et al., 1998) cho thấy các tổ chức phải đối mặt với

sự không chắc chắn của môi trường có xu hướng sử dụng nhiều thước đo phi tài chính

và các hệ thống đo lường HQHĐ cải tiến thường xuyên hơn như bảng điểm cân bằng(Tymon et al., 1998)

Nghiên cứu của Speckbacher (2003) đã chỉ ra tỷ lệ rất thấp (26%) các công ty Đứctrong mẫu nghiên cứu sử dụng BSC Các công ty này không sử dụng phiên bản BSCđầy đủ mà chỉ là phiên bản bắt chước hoặc không hoàn chỉnh của BSC Ismail (2007)báo cáo rằng BSC đã được sử dụng rộng rãi trong các công ty Ai Cập được khảo sát,nhưng mức độ sử dụng các thước đo đa chiều khá thấp

Tại Việt Nam, Trần Quốc Việt (2013) nghiên cứu về khả năng áp dụng BSC trongcác doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam Các biến độc lập trong mô hình nghiên

Trang 28

Vũ thị Sen (2018), nghiên cứu sử dụng BSC để đánh giá HQHĐ của các Bệnh việnKhu vực Tây Bắc Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng ngay 4 khía cạnh của BSC làmbiến độc lập trong mô hình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu trở thành ảnh hưởng củacác khía cạnh đến HQHĐ của doanh nghiệp, không phù hợp với đề tài nghiên cứu là sửdụng BSC để đánh giá HQHĐ của các bệnh viện Trong nghiên cứu này tác giả cũngkhông lý giải tại sao đưa ra mô hình nghiên cứu như vậy, cơ sở lý thuyết của mô hìnhnghiên cứu này là gì Ngoài ra thang đo các biến độc lập sử dụng trong mô hình cũng dotác giả tự xây dựng nên kết quả có thể không đạt được sự tin cậy.

Trong nghiên cứu của Xiao và các cộng sự (2006) các thước đo HQHĐ đượcnghiên cứu đề cập đến gồm EVA, ROI, RI, và lợi nhuận mục tiêu Kết quả nghiên cứuchỉ ra các thước đo HQHĐ tài chính được sử dụng ở mức thấp Ngoài EVA có điểmtrung bình (mean) là 3,10 các thước đo còn lại có điểm trung bình đều thấp hơn 3,0.Nghiên cứu này cũng không đề cập đến các thước đo phi tài chính Nghiên cứu nàycũng chỉ ra các nhân tốngành KD và quy mô DN có ảnh hưởng đáng kể đến sự áp dụngcác thước đo HQKD trong các DN Trung Quốc từ năm 2000 (Xiao, Chow et al 2006).Nghiên cứu của Nishimura (2003) chỉ đề cập đến các thước đo tài chính và chothấy tỷ lệ các công ty sản xuất Nhật Bản sử dụng các thước đo tài chính khá thấp Tỷ lệcác doanh nghiệp sản xuất Nhật bản sử dụng các thước đo doanh thu, và tỷ lệ tăngtrưởng doanh nghiệp lần lượt là 18 và 5,9% Tỷ lệ sử dụng thước đo lợi nhuận là 68,6%

và thước đo lợi nhuận trên doanh thu là 5,1% Nghiên cứu này cũng cho thấy tỷ lệdoanh nghiệp sử dụng thẻ điểm cân bằng để đánh giá hiệu suất trong các doanh nghiệpNhật Bản chỉ chiếm 8,9%so với tỷ lệ 15,5% ở Malaysia, 16% ở Singapore và 31,3% ởThái Lan (Nishimura 2003) Cũng với mục đích trên, nghiên cứu cho kết quả tỷ lệ sửdụng các thước đo HQHĐ dựa trên khảo sát 118 doanh nghiệp Trung Quốc là 64,4%(Nishimura, 2005, p.30)

Trang 29

Nghiên cứu của Sulaiman và cộng sự (2004) tại 4 nước châu Á là Malaysia,Singapore, Trung Quốc và Ấn Độ sử dụng 6 thước đo là ROI, lợi nhuận bộ phận, thu nhậpcòn lại, sự hài lòng của khách hàng, các thước đo định lượng và các thước đo phi tài chính.Nghiên cứu không chỉ rõ các thước đo phi tài chính và thước đo định lượng là những thước

đo cụ thể nào Trong 6 thước đo được nghiên cứu, có 2 thước đo được 100% các doanhnghiệp Ấn Độ sử dụng là ROI, lợi nhuận bộ phận Trái ngược với doanh nghiệp Ấn Độ, tạiMalaysia ROI chỉ được 17% doanh nghiệp sử dụng Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng ROI ởSingapore là 56% Thước đo sự hài lòng của khách hàng được sử dụng với tỷ lệ khá caotrong các doanh nghiệp nghiên cứu Tại Malaysia, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng thước đo này

là 59%, thấp hơn tỷ lệ 79% trong nghiên cứu của Addul Rahman và cộng sự (1998) cũng tạiquốc gia này (Sulaiman, Nazli Nik Ahmad et al 2004)

Trong nghiên cứu của Hyvonen (2005) các thước đo phi tài chính như sự hài lòngcủa khách hàng và các thước đo tài chính như ROI, đánh giá lợi nhuận bộ phận được sửdụng ở tỷ lệ cao Các thước đo HQKD như dòng tiền, đánh giá hiệu suất nhóm,benchmarking, bảng điểm cân bằng ít được áp dụng (Hyvonen 2005)

Trong các doanh nghiệp sản xuất, nghiên cứu của Abdel-Maksoud và Abdel-Kader(2005, 2007) có lẽ là công trình nghiên cứu công phu và đồ sộ nhất Trong nghiên cứunày, các tác giả đã nghiên cứu thực trạng và so sánh việc sử dụng các thước đo phi tàichính trong các doanh nghiệp sản xuất ở 4 quốc gia: Anh, Ý, Nhật Bản và Canada Tuynhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào các thước đo phi tài chính ở cấp độ phân xưởngsản xuất, không đề cập đến các thước đo phi tài chính ở cấp độ công ty Các thước đophi tài chính trong nghiên cứu này được chia thành 5 nhóm: chất lượng sản phẩm; sự hàilòng của khách hàng; giao hàng đúng giờ; tinh thần nhân viên và hiệu quả sử dụng tàisản Những thước đo này đã được một số tác giả như: Chenhall & Langfield-Smith(1998), Otley (1999) nghiên cứu trước đó Công trình này cũng nghiên cứu ảnh hưởngcủa một số nhân tố công nghệ, quản trị và môi trường sản xuất đến sự tồn tại và tầmquan trọng của các thước đo HQHĐ ở phân xưởng Các nhân tố công nghệ được nghiêncứu trong mô hình gồm: (1) công nghệ sản xuất tiên tiến (AMT) (2) các nhân tố quản trị(IMP); (3) các thực hành kế toán quản trị đương đại (CMAP) và (4) môi trường cạnhtranh mà nó hoạt động (nhân tố môi trường) Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Các doanh nghiệp ở Anh chú ý đến các thước đo phục vụ kiểm soát chi phí sản xuất;

- Các doanh nghiệp Ý quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả sản xuất;

- Các doanh nghiệp Nhật Bản chú ý đến các thước đo khách hàng và chất lượng

Trang 30

Các doanh nghiệp ở cả 4 các nước đều coi trọng thước đo tỷ lệ giao hàng đúng hạn

và đều ít chú ý tới các thước đo tinh thần nhân viên (Abdel-Maksoud and Abdel-Kader2007) Đây là nghiên cứu đồ sộ được thực hiện tại 4 nước với sự so sánh nhằm làm nổibật sự khác nhau về tầm quan trọng cũng sự tương quan giữa các nhân tố với các thước

đo phi tài chính ở cấp độ phân xưởng của các doanh nghiệp sản xuất mỗi nước Điểmhạn chế của nghiên cứu này là chưa chỉ ra được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đếnviệc sử dụng các thước đo phi tài chính để từ đó đưa ra khuyến nghị cho các doanhnghiệp

Tương tự như nghiên cứu của Abdel-Maksoud và Abdel-Kader (2007), Ahmad vàcộng sự (2016) nghiên cứu việc sử dụng các thước đo HQHĐ phi tài chính trong cácdoanh nghiệp sản xuất ở Malaysia Trong nghiên cứu này các tác giả chia các thước đoHQHĐ phi tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất thành 4 nhóm: thước đo kiểm soátchất lượng, thước đo quy trình nội bộ, thước đo khách hàng và thước đo nhân viên Kếtquả nghiên cứu cho thấy các thước đo sự hài lòng của khách hàng và giao hàng đúnghạn được sử dụng thường xuyên nhất (mean = 4.0), các thước đo số yêu cầu bảo hành và

số sản phẩm phải sản xuất lại có mức độ sử dụng thấp nhất Các tác giả đưa ra kết luận

là các doanh nghiệp Malaysia tập trung sự chú ý vào các khía cạnh khách hàng và quytrình nội bộ nhiều hơn tập trung vào nhân viên Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợpvới kết quả nghiên cứu của Abdel-Kader và Luther (2006); Abdel-Maksoud et al (2005)

và Ahmad và Mohamed Zabri (2012) (Ahmad et al., 2016)

Để nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ phitài chính trong các doanh nghiệp sản xuất Malaysia, các biến độc lập được sử dụng đểnghiên cứu ảnh hưởng đến việc sử dụng các thước đo trong các doanh nghiệp sản xuấtMalaysia gồm: quy mô doanh nghiệp, sự không chắc chắn của môi trường kinh doanh,

sự tham gia của chủ sở hữu/giám đốc công ty và công nghệ sản xuất hiện đại Kết quảnghiên cứu cho thấy các nhân tố trong mô hình nghiên cứu đều có tác động tích cực tớiviệc sử dụng các thước đo HQHĐ phi tài chính trong các doanh nghiệp sản xuấtMalaysia Kết quả nghiên cứu của Ahmad và cộng sự (2016) phù hợp với một số nghiêncứu trước đó của Abdel-Kader và Luther (2008); và Ahmad (2012) Tương tự như cácnghiên cứu trước, nghiên cứu này cũng chỉ tập trung vào các thước đo phi tài

Trang 31

chính và không chỉ ra được ảnh hưởng của các biến độc lập trong mô hình đến biến phụthuộc là mức độ sử dụng các thước đo trong các doanh nghiệp sản xuất Malaysia.

Gosselin (2005) nghiên cứu việc sử dụng các thước đo phi tài chính trong hệ thống

đo lường HQHĐ của các doanh nghiệp Canada nhằm đánh giá sự thay đổi hệ thống đolường theo cách tiếp cận mới của các doanh nghiệp này Thông qua nghiên cứu 101doanh nghiệp sản xuất Canada, tác giả phát hiện ra các doanh nghiệp Canada sử dụngcác thước đo HQHĐ tài chính nhiều hơn so với các thước đo HQHĐ phi tài chính Sốlượng các doanh nghiệp sử dụng các hệ thống đo lường HQHĐ mới như BSC, hệ thống

đo lường HQHĐ tích hợp chỉ chiếm hơn 30,7% còn lại 69,3% số doanh nghiệp không

sử dụng hệ thống đo lường HQHĐ mới Nghiên cứu này cũng sử dụng một số biến độclập là môi trường không chắc chắn, cơ cấu tổ chức tập trung và loại chiến lược để đánhgiá ảnh hưởng của chúng đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ Kết quả nghiên cứucho thấy các doanh nghiệp nhận thức môi trường không chắc chắn có xu hướng sử dụngnhiều hơn các thước đo HQHĐ liên quan đến khách hàng và nhân viên, trong khi cơ cấu

tổ chức tập trung có tác động ngược chiều đối với việc sử dụng các thước đo quy trìnhnội bộ như số lượng giờ lao động mỗi ca, số giờ máy sử dụng, lượng nhiên liệu sử dụng,sản lượng mỗi giờ, v.v… (Gosselin, 2005) Mặc dù

chỉ ra được sự tương quan giữa các nhân tố đối với việc sử dụng các thước đo HQHĐ,song nghiên cứu này chỉ thực hiện phân tích tương quan mà không thực hiện phân tíchhồi quy để chỉ ra ảnh hưởng cụ thể của mỗi biến độc lập trong mô hình đến các thước đoHQHĐ trong mô hình là bao nhiêu

Sử dụng 63 thước đo chia thành 8 nhóm, Gomes và cộng sự (2011) nghiên cứu hệthống đo lường HQHĐ trong 92 doanh nghiệp sản xuất ở Bồ Đào Nha để tìm hiểu sựphù hợp của hệ thống đo lường HQHĐ với thực tế môi trường sản xuất của các doanhnghiệp Sử dụng phân tích cụm (cluster analysis) các tác giả phát hiện ra rằng các thước

đo hiệu quả quy trình và hiệu quả tài chính được sử dụng nhiều nhất Các thước đo ítđược sử dụng nhất gồm các thước đo trong các nhóm đo lường chất lượng sản phẩm,tính độc lập của quản trị, đổi mới sản phẩm và quy trình, trách nhiệm xã hội (Gomes vàcộng sự, 2011) Mặc dù nghiên cứu này đã chỉ ra được tầm quan trọng và mức độ sửdụng cũng như quan điểm của người trả lời về giá trị dự đoán của các thước đo HQHĐnhưng ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ vẫn chưa đượcnghiên cứu

Abdel-Kader và Luther (2006) nghiên cứu thực hành kế toán quản trị trong cácdoanh nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống Anh có đề cập đến hệ thống đo lườngHQHĐ trong các doanh nghiệp này Trong nghiên cứu này, các tác giả khảo sát tầm

Trang 32

quan trọng của 5 nhóm thước đo: tài chính, giá trị kinh tế gia tăng (EVA), điểm chuẩn

và các thước đo phi tài chính liên quan đến khách hàng, hoạt động và đổi mới, nhânviên Kết quả nghiên cứu cho thấy 78% người trả lời đánh giá thước đo hiệu quả tàichính là quan trọng, tỷ lệ đánh giá quan trọng đối với các thước đo phi tài chính liênquan đến khách hàng, hoạt động và đổi mới lần lượt là 45 và 40% có nghĩa là ít quantrọng hơn Tần suất sử dụng thường xuyên đối với các thước đo tài chính là 50% trongkhi đối với các thước đo phi tài chính liên quan đến khách hàng, hoạt động và đổi mớichỉ là 18 và 20% Các thước đo ít quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất thựcphẩm và đồ uống Anh là các thước đo phi tài chính liên quan đến nhân viên, , giá trịkinh tế gia tăng (EVA) hoặc RI và điểm chuẩn Tầm quan trọng của các thước đo nàylần lượt là 11; 7 và 9% với tần suất sử dụng thường xuyên chỉ đạt từ 2-4% (Abdel-Kaderand Luther 2006) Mục đích của nghiên cứu này tập trung vào KTQT nói chung, cácthước đo HQHĐ chỉ là một phần của KTQT, do vậy số lượng thước đo được sử dụng ít

và không đầy đủ nên khó đại diện cho hệ thống đo lường HQHĐ trong nghiên cứu.Bhimani và Langfield-Smith (2007) nghiên cứu tầm quan trọng của các thước đotài chính và phi tài chính trong xây dựng và thực hiện chiến lược trong 167 doanhnghiệp lớn ở Anh Với 42 phiếu trả lời sử dụng được, kết quả nghiên cứu cho thấy cácthước đo tài chính và phi tài chính đều quan trọng và có tầm quan trọng tương đươngtrong xây dựng chiến lược (mean > 4.0) Trong thực hiện chiến lược, các thước đo tàichính và phi tài chính cũng được đánh giá có tầm quan trọng (mean >4,2), trong đó cácthước đo tài chính được đánh giá có tầm quan trọng hơn (mean = 4,686) so với cácthước đo phi tài chính (mean = 4,240) (Bhimani and Langfield-Smith 2007) Nghiêncứu này chỉ tập trung phân biệt mức độ quan trọng của các thước đo HQHĐ trong cácdoanh nghiệp có cơ cấu chính thức so với cơ cấu không chính thức mà chưa nghiên cứuảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ trong doanh nghiệp.(Abdullatif, Basheikh et al 2008) nghiên cứu mối quan hệ giữa các thước đo phitài chính ở phân xưởng với các nhân tố công nghệ, quản trị, tổ chức và môi trường trongcác doanh nghiệp sản xuất ở Ả rập Xê út và Anh Tương tự như nghiên cứu của Abdel-Maksoud và Abdel-Kader (2007), mô hình nghiên cứu gồm biến phụ thuộc là các thước

đo HQHĐ phi tài chính phân xưởng được chia thành 5 nhóm: chất lượng sản phẩm; sựhài lòng của khách hàng; giao hàng đúng hạn; tinh thần nhân viên và hiệu quả sử dụngtài sản Các biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu gồm:thực hành quản trị mới (IMPs), công nghệ sản xuất tiên tiến (AMTs), các kỹ thuật kếtoán quản trị hiện đại, và các khía cạnh của cạnh tranh Kết quả nghiên cứu phát hiện racác doanh nghiệp sản xuất Ả rập sử dụng thước đo HQHĐ phi tài

Trang 33

chính ở phân xưởng đạt tỷ lệ từ 88,9% (thước đo số lượng yêu cầu bảo hành) đến 100%(Tỷ lệ phế phẩm) Các thước đo đánh giá thời gian giao hàng đúng hạn được đánh giá cótầm quan trọng nhất (mean > 5 trong thang đo likert 7 điểm), thứ hai là thước đo hiệuquả sử dụng tài sản có tầm quan trọng hơn (mean > 4) các thước đo phi tài chính phânxưởng khác Các thước đo được đánh giá ít quan trọng nhất là các thước đo tinh thầnnhân viên, trong đó thước đo thước đo nhân viên muộn giờ có tầm quan trọng thấp nhất.Tượng tự như các nghiên cứu ở trên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào các thước đoHQHĐ phi tài chính ở cấp độ phân xưởng trong các doanh nghiệp sản xuất.

2.2.2 Các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động

Một trong những công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến ảnh hưởng của cácnhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ là của Zaman và cộng sự (2016) Zaman(2016) đã nghiên cứu các bài báo được xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành có chấtlượng cao từ tháng 1/1995 đến tháng 12/2015 để rút ra các kết luận về các công trìnhnghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng hệ thống đo lường và đánh giáhiệu quả trong các doanh nghiệp Các nhân tố có ảnh hưởng đến việc sử dụng các chỉtiêu đánh giá bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như quy mô, cơcấu doanh nghiệp, chiến lược cạnh tranh, sự không chắc chắn về môi trường kinhdoanh, v.v… Đóng góp lớn của nghiên cứu này là tổng hợp được các công trình nghiêncứu liên quan đến ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐ.Tuy nhiên, đây chỉ là nghiên cứu dựa trên tài liệu, các tác giả chưa thực hiện khảo sát đểnghiên cứu tình hình sử dụng thực tế cũng như đánh giá tác động của các nhân tố đếnviệc sử dụng các thước đo HQHĐ trong các doanh nghiệp cụ thể

Dựa trên lý thuyết ngẫu nhiên, các nghiên cứu đưa ra nhiều cách phân loại cácnhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các chỉ tiêu đo lường HQHĐ Amat và cộng sự(1994) và Halma và Laats (2002) phân loại các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi củaKTQT thành các nhân tố bên trong và bên ngoài Sulaiman (2003) phân chia các nhân tốảnh hưởng thành các nhân tố vĩ mô và vi mô Theo Sulaiman (2003), các nhân tố vĩ môgồm: sự cạnh tranh, thị trường và khách hàng; các nhân tố vi mô gồm: cơ cấu tổ chức,chính sách quản trị, cấu trúc chi phí, công nghệ sản xuất, các vấn đề kỹ thuật đang tồntại, nhân viên và sự suy giảm của hiệu quả tài chính (Sulaiman 2003)

Theo Halma và Laats (2002) sử dụng lý thuyết ngẫu nhiên để nghiên cứu các nhân

tố bên ngoài có ảnh hưởng quan trọng nhất đến hiệu quả của hệ thống đo lường

Trang 34

và đánh giá là mức độ cạnh tranh trên thị trường, trong khi các nhân tố bên trong là côngnghệ, cơ cấu tổ chức và chiến lược Hệ thống đo lường HQHĐ được coi là một thànhphần của hệ thống KTQT và không được nghiên cứu riêng trong nghiên cứu này.Anderson và Larnen (1999) dựa trên lý thuyết ngẫu nhiên để nghiên cứu sự phát triểncủa KTQT trong 14 công ty Ấn Độ và phát hiện ra sự thay đổi môi trường bên ngoàidẫn đến sự thay đổi các phương pháp KTQT trong đó có hệ thống đo lường HQHĐ Cácthước đo HQHĐ được đề cập trong nghiên cứu này nhưng số lượng trả lời rất thấp (6công ty) và gần như không có sự thay đổi từ năm 1991

Cùng nghiên cứu ảnh hưởng của sở hữu, Wu, Boateng và Drury (2007) nghiên cứuviệc áp dụng các kỹ thuật KTQT Phương Tây vào các DN liên doanh và DN nhà nước ởTrung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy, các công ty liên doanh có sử dụng các kỹthuật KTQT cao hơn so với các DN nhà nước Trung Quốc Trọng tâm của nghiên cứunày là các kỹ thuật KTQT, hệ thống đánh giá và khen thưởng được đề cập trong nghiêncứu này chỉ là một thành phần của hệ thống KTQT với một số thước đo được lựa chọnđại diện cho hệ thống đánh giá và khen thưởng Thước đo có mức độ sử dụng và đem lạilợi ích cao nhất là thước đo sự hài lòng của khách hàng Các thước đo lợi tức đầu tư,thái độ nhân viên, thu nhập còn lại, lợi nhuận bộ phận có tỷ lệ sử dụng thấp hơn

Abdel-Kader và Luther (2008) nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về đặcđiểm của DN đến việc vận dụng các phương pháp KTQT trong các DN thực phẩm và đồuống Anh Các nhân tố ảnh hưởng được chia thành 3 nhóm, gồm (1) các nhân tố bênngoài (môi trường bất ổn, quyền lực của khách hàng) (2) các nhân tố thuộc về tổ chứccủa DN (chiến lược cạnh tranh, cơ cấu tổ chức và quy mô DN) và (3) các nhân tố vềquản lý DN (sự phức tạp của hoạt động, công nghệ sản xuất, các phương pháp quản trịnhư quản lý chất lượng tổng thể và sản xuất kịp thời) Thông qua kỹ thuật phân tích cắtngang và các phương pháp thống kê, tác giả đưa ra kết luận về việc sử dụng các kỹ thuậtKTQT khác nhau trong các DN là do ảnh hưởng của các nhân tố bất ổn về môi trường,quyền lực của khách hàng, quy mô DN, sự phân cấp quản trị Nghiên cứu cũng cho thấycác nhân tố khác như mức độ phức tạp của KD và chiến lược cạnh tranh không thể hiệnđược mối quan hệ với việc sử dụng các kỹ thuật KTQT Hệ thống đo lường HQHĐkhông được nghiên cứu riêng mà được nghiên cứu như một bộ phận của KTQT Cácthước đo HQHĐ được gộp chung thành 2 nhóm là các thước đo tài chính và các tàichính phi tài chính Các thước đo tài chính vẫn được đánh giá cao hơn cả về tầm quantrọng và mức độ sử dụng so với các thước đo phi tài chính (Abdel-Kader and Luther2008)

Trang 35

Subasinghe và A T Fonseka (2010) nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ

lệ áp dụng các phương pháp KTQT thấp trong các DN Sri Lanca trong đó có hệ thống

đo lường HQHĐ Với mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định mức độ sử dụng và các nhân

tố ảnh hưởng đến áp dụng KTQT nói chung và sử dụng các công cụ KTQT nói riêngtrong các DN Sri Lanka, các tác giả đã sử dụng các bảng khảo sát để tìm câu trả lời vàchứng minh cho các giả thuyết của mình Để thu thập dữ liệu kiểm định các giả thuyếttrên, các bảng hỏi đã được gửi đến cho các nhân viên KTQT, nhân viên kế toán hoặcgiám đốc tài chính thuộc 22 DN Sri Lanca Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố cóảnh hưởng đến mức độ áp dụng KTQT trong các DN Sri Lanca là (1) nhận thức củaquản lý hàng đầu, (2) sự phụ thuộc vào kế toán tài chính, (3) mức độ kế hoạch hóa vàkiểm soát, và (4) văn hóa hỗ trợ trong tổ chức Tương tự như các công trình nghiên cứu

ở trên, nghiên cứu của Janaka Subasinghe và A T Fonseka đã chỉ ra được ảnh hưởngcủa các nhân tố đến mức độ áp dụng phương pháp KTQT trong các DN Sri Lanca Từkết quả nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra các khuyến nghị góp phần tăng cường áp dụngcác phương pháp KTQT nhằm đối phó với những thách thức cạnh tranh của các DN SriLanca Tuy nhiên, mẫu nghiên cứu quá nhỏ cũng như đặc điểm của nền kinh tế đangphát triển của Sri Lanca có những điểm khác biệt cơ bản so với nền kinh tế chuyển đổi ởViệt Nam (Subasinghe and Fonseka 2009)

Abdel và cộng sự (2011) dựa trên phương pháp nghiên cứu và bảng câu hỏi củaChenhall và Langfield - Smith (1998) nghiên cứu thực hành KTQT trong 215 DN sảnxuất ở Ai Cập để đánh giá tình trạng và lợi ích thu được từ việc áp dụng các kỹ thuậtKTQT trong các DNSX ở Ai Cập-một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi sangkinh tế thị trường phi tập trung từ những năm đầu của thập kỷ 90 (thế kỷ XX) Kết quảcho thấy việc áp dụng các kỹ thuật KTQT chịu ảnh hưởng của văn hóa và truyền thống.Các DNSX Ai Cập chủ yếu dựa vào kỹ thuật KTQT truyền thống, tỷ lệ áp dụng các kỹthuật KTQT tiên tiến được phát triển gần đây khá thấp và chậm Nghiên cứu cũng chothấy, các DN áp dụng các kỹ thuật KTQT truyền thống thu được lợi ích cao hơn so vớicác kỹ thuật KTQT tiên tiến Một số kỹ thuật KTQT tiên tiến, như đo lường sự hài lòngcủa khách hàng, phân tích vòng đời sản phẩm, và các thước đo hiệu quả phi tài chính có

tỷ lệ áp dụng trung bình và thấp nhưng lại đem lại nhiều lợi ích cho DN Các thước đophi tài chính và các thước đo tài chính khác như giá trị kinh tế gia tăng (EVA) và BSCđược coi như thành phần của KTQT trong nghiên cứu này Những phát hiện trongnghiên cứu này phù hợp với các nghiên cứu tương tự ở các nước có nền kinh tế đangtrong quá trình chuyển đổi (Abdel-Maksoud 2011)

Ahmad Amah (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các kỹ

Trang 36

thuật KTQT trong các DN vừa và nhỏ Maylaysia Dựa trên lý thuyết ngẫu nhiên, tác giảđưa ra các biến trong mô hình nghiên cứu gồm: quy mô DN, cường độ cạnh tranh trênthị trường, sự cam kết của chủ DN, công nghệ sản xuất và trình độ của nhân viên kếtoán Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống đo lường HQHĐ được các doanh nghiệp sửdụng ở mức độ cao Hệ thống đo lường HQHĐ được các doanh nghiệp nhỏ đánh giá làquan trọng nhất (Rank =1) Trong các doanh nghiệp quy mô vừa, hệ thống đo lườngHQHĐ được đánh giá quan trọng thứ 2 sau hệ thống kế toán chi phí (Rank =2) Cácthước đo được sử dụng nhiều nhất là lợi nhuận ròng, tăng trưởng doanh thu và dòngtiền Các thước đo được sử dụng ít nhất là số lượng khiếu nại của khách hàng, lợi tứcđầu tư, tỷ lệ nhân viên bỏ việc, nhân viên vắng mặt và sự hài lòng của nhân viên.Nghiên cứu của Ahmad (2012) cũng tương tự như nghiên cứu của Phadoongsitthi(2003) cho thấy các doanh nghiệp Thái Lan vẫn sử dụng các thước đo tài chính như lợitức đầu tư, dòng tiền từ đầu tư, lợi nhuận bộ phận,chênh lệch ngân sách, v.v… là chủyếu

Lee, C, L & Yang, H J (2011), nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc tổ chức vàcạnh tranh ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống đo lường HQHĐ và mối quan hệ ngẫunhiên của hai biến này với các hệ thống đo lường đó ảnh hưởng đến hiệu suất của tổchức

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các thước đo HQHĐcho thấy áp lực cạnh tranh và công nghệ sản xuất tiên tiến có ảnh hưởng đến việc sửdụng hệ thống đo lường HQHĐ; quy mô công ty,sự tham gia của nhà quản trị và trình

độ của nhân viên kế toán có ảnh hưởng đến việc sử dụng các thước đo tài chính và phitài chính Đặc biệt nhiều thước đo bị ảnh hưởng của trình độ nhân viên kế toán (Ahmad2012)

Doan Ngoc Phi Anh (2012), dựa trên lý thuyết ngẫu nhiên và lý thuyết khuếch tán

sự đổi mới, tác giả đã nghiên cứu tình hình vận dụng các phương pháp KTQT củaphương Tây trong các DNSXVN trong các giai đoạn 2003 và 2009 Thông qua phươngpháp nghiên cứu định lượng, luận án thu thập phiếu khảo sát từ 220 DN Kết quả nghiêncứu của luận án đã chỉ ra các nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến việc chấp nhận và ápdụng các phương pháp KTQT trong các DNSXVN Các nhân tố được đưa vào mô hìnhnghiên cứu của luận án gồm môi trường cạnh tranh, quy mô DN, sự phân cấp, năng lựchọc hỏi của tổ chức, quyền sở hữu và văn hóa Trong luận án, tác giả cho rằng một sốphương pháp KTQT quá khác biệt và không phù hợp với DNSXVN nên không đượcđưa vào nghiên cứu Các phương pháp KTQT không được tác giả nghiên cứu trong luận

án gồm: phương pháp lập dự toán không dựa vào quá

Trang 37

khứ; lập dự toán thù lao của NQT, kế toán chi phí ngược (backflush costing); phân tíchlợi nhuận khách hàng; kỹ thuật nghiên cứu hoạt động; phân tích giá trị cổ đông; mô hìnhkiểm soát hàng tồn kho; tiêu chuẩn quá trình quản trị, tiêu chuẩn quá trình hoạt động;các phương pháp đánh giá hiệu suất và phân tích ngành; lập dự toán chiến lược và xâydựng chiến lược Bằng nghiên cứu của mình, tác giả luận án đã có những đóng góp nhấtđịnh cho các NQT và hoạch định chính sách hiểu được ảnh hưởng của việc áp dụng cácphương pháp KTQT đến HQHĐ của DN Luận án cũng đưa ra các khuyến nghị gópphần tăng cường áp dụng KTQT trong các DNSXVN Tác giả cũng chỉ ra các hạn chế

và đưa ra các gợi ý cho các nghiên cứu tiếp sau bao gồm: mẫu nghiên cứu chưa bao gồmcác DN nhỏ, một số người khảo sát có thể hiểu sai về các phương pháp KTQT Ngoài

ra, luận án cũng chưa nghiên cứu và chỉ ra tình hình áp dụng các phương pháp KTQTtrong số 220 DN trong mẫu nghiên cứu (Doan 2012) Công trình này chỉ nghiên cứu khảnăng áp dụng và ảnh hưởng của các nhân tố đến áp dụng các kỹ thuật KTQT nói chung.Mặc dù có đề cập đến 5 các thước đo HQHĐ là: lợi nhuận kiểm soát được, lợi nhuận bộphận, các thước đo phi tài chính, giá trị kinh tế gia tăng và thu nhập còn lại nhưng côngtrình này không nghiên cứu riêng ảnh hưởng của các nhân tố đến việc áp dụng các thước

đo này trong các doanh nghiệp Luận án cũng chỉ ra các nhân tố: sở hữu, quy mô DN,thời gian hoạt động của DN, định hướng thị trường, mức độ cạnh tranh, sự phân quyềnquản trị và lĩnh vực KD có ảnh hưởng đến việc sử dụng các công cụ KTQT và HQHĐtrong các DNSXVN (Doan, 2012)

Chen và cộng sự (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa cường độ và các loại cạnhtranh với việc sử dụng các thước đo đánh giá sự hài lòng của khách hàng trong các hợpđồng thưởng hàng năm cho giám đốc điều hành Các tác giả đã phát hiện ra mối quan hệtích cực giữa cường độ cạnh tranh có ảnh hưởng tích cực đến việc sử dụng các thước đođánh giá sự hài lòng của khách hàng Mặc dù nghiên cứu sử dụng quy mô mẫu khá lớn(dữ liệu từ 1.500 doanh nghiệp trong danh sách Standard & Poor's) nhưng biến phụthuộc trong nghiên cứu này lại chỉ tập trung vào một khía cạnh là sự hài lòng của kháchhàng

Sulaiman và cộng sự (2015) cũng chia các nhân tố có ảnh hưởng đến việc thay đổi

và áp dụng các phương pháp KTQT thành các 2 nhóm là nhóm các nhân tố bên ngoài vànhóm các nhân tố thuộc về tổ chức của DN hay nhóm các nhân tố bên trong Các nhân

tố bên ngoài được Sulaiman xác định là những nhân tố dẫn đến thay đổi hành vi củangười tiêu dùng như cạnh tranh trên thị trường do ảnh hưởng của toàn cầu hóa Sự thayđổi của môi trường KD dẫn đến thay đổi vai trò của nhân viên KTQT và thay đổi cơcấu, chức năng của tổ chức và phương pháp, phong cách

Trang 38

quản trị cũng là những nguyên nhân thay đổi của KTQT Các nhân tố bên trong nhưnăng lực cạnh tranh cốt lõi, phong cách lãnh lãnh đạo, công nghệ sản xuất có ảnh hưởngđến các chức năng của KTQT trong DN Các nhân tố thuộc về tổ chức như sở hữu, cơcấu tổ chức, sự phân quyền quản trị, hoạt động cắt giảm quy mô và thuê ngoài.Sulaiman và cộng sự đã chỉ ra các nhân tố có ảnh hưởng đến việc sử dụng các công cụKTQT trong các DN gồm: Mục tiêu cốt lõi của tổ chức, sự thay đổi mô hình hoặc thái

độ làm việc, sự thay đổi phạm vi trách nhiệm, quản trị DN, tái cơ cấu tổ chức, cạnhtranh, phong cách quản lý mới, công nghệ thông tin, toàn cầu hóa, các hoạt động hướngđến khách hàng, các hoạt động chất lượng, sự mở rộng liên kết với bên ngoài (Sulaiman,Ramli et al 2015)

Blau (1970), cho rằng quy mô công ty càng lớn càng làm tăng sự phân chia tráchnhiệm, từ đó càng cần sự tăng cường giám sát như vậy cần sử dụng các thước đo HQHĐphù hợp Các công ty lớn hơn có xu hướng sử dụng nhiều hơn các thước đo HQHĐ đểkiểm soát và đánh giá HQHĐ của các nhà quản trị bộ phận Thêm vào đó, các công tylớn thường có nguồn lực phong phú hơn để dễ dàng áp dụng hệ thống đo lường HQHĐhiện đại hơn các doanh nghiệp nhỏ (Ahmad, 2016) Chenhall và Langfield- Smith(1998) cũng chỉ ra quy mô DN có ảnh hưởng quan trọng trong việc thay đổi các phươngpháp KTQT Các DN có quy mô lớn thường có nhiều tiềm lực tài chính và nhiều kinhnghiệm hơn trong việc áp dụng và thay đổi các phương pháp KTQT (Chenhall andLangfield-Smith 1998)

Pierce và O’Dea (1998) nghiên cứu quy mô DN trên hai tiêu chí là doanh thu và sốlao động, kết quả cho thấy, các DN Ireland có quy mô lớn đều có việc sử dụng các công

cụ KTQT cao hơn các DN có quy mô nhỏ đối với tất cả các phương pháp KTQT (Pierceand O’Dea 1998) Các nghiên cứu khác cũng đề cập đến ảnh hưởng của quy mô DN vàcoi đó là một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc chấp nhận và áp dụng cácphương pháp KTQT như: Baldwin, 1997; Al-Omiri và Drury, 2007; Abdel-Kader vàLuther, 2008 Speckbacher, Bischof và Pfeiffer (2003) đã tìm hiểu mối liên hệ giữa quy

mô doanh nghiệp với việc sử dụng BSC và đưa ra kết luận các công ty lớn sử dụng BSCnhiều hơn so với các công ty nhỏ Hoque và James (2000), khảo sát 66 công ty sản xuấttại Úc và thấy rằng quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến việc sử dụng BSC

Từ những phát hiện của hai nghiên cứu này, các công ty lớn được cho là có khả năng sửdụng các kỹ thuật đo lường HQHĐ sáng tạo hơn so với các công ty nhỏ

Cơ cấu doanh nghiệp được coi là một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến thiết

kế, sử dụng và thực hiện hệ thống KTQT trong doanh nghiệp trong đó có hệ thống đo

Trang 39

lường HQHĐ Nghiên cứu của Lee và Yang (2011) đã xem xét ảnh hưởng của cơ cấudoanh nghiệp đến việc sử dụng các chỉ tiêu đánh giá Kết quả nghiên cứu cho thấy cơcấu doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng nhiều chỉ tiêu đánh giá Cácnghiên cứu của Govindarajan (1988); Abernethy et al (2004); Abernethy và Bouwens(2005) đã chỉ ra rằng các tổ chức phi tập trung sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào các thước đophi tài chính và quy trình do đó sử dụng các hệ thống đo lường HQHĐ cải tiến thườngxuyên hơn như bảng điểm cân bằng.

Mohamed Basheikh và Abdel-Maksoud (2005) nhận thấy rằng một số thước đophi tài chính như "giao hàng đúng hạn" và "hiệu quả sử dụng tài sản" có mối tương quantích cực và đáng kể với áp lực cạnh tranh Nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiêncứu của Ahmad (2012b) là hệ thống đánh giá hiệu suất luôn gắn liền với cạnh tranh trênthị trường

Nghiên cứu của Lillis và van Veen-Dirks (2008) xem xét ảnh hưởng của việc sửdụng các thước đo hiệu quả tài chính và phi tài chính trong đánh giá và khen thưởng.Kết quả nghiên cứu cho thấy mục đích sử dụng có ảnh hưởng đến việc sử dụng cácthước đo đánh giá hiệu quả Trong đó, sử dụng thước đo để đánh giá định kỳ có ảnhhưởng mạnh hơn so với mục đích sử dụng thước đo để khen thưởng Nghiên cứu cũngchỉ ra ảnh hưởng của chiến lược sản xuất và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các bộ phận cóảnh hưởng đến tầm quan trọng của các thước đo được sử dụng để đánh giá và khenthưởng Các doanh nghiệp sản xuất sử dụng chiến lược tập trung vào sự khác biệt bằnghiệu suất sản phẩm có tác động tiêu cực đến tầm quan trọng của các thước đo tài chính

sử dụng cho khen thưởng nhưng không ảnh hưởng đến tầm quan trọng của các thước đonày cho mục đích đánh giá định kỳ Sự phụ thuộc lẫn nhau của các bộ phận làm giảmtầm quan trọng của các thước đo tài chính cho mục đích khen thưởng nhưng không ảnhhưởng đến mục đích đánh giá định kỳ Sự phụ thuộc lẫn nhau của các bộ phận có tácđộng tích cực đối với các thước đo phi tài chính sử dụng cho mục đích đánh giá định kỳnhưng không ảnh hưởng đến các thước đo phi tài chính sử dụng để khen thưởng Cáctác giả cũng khuyến nghị cần phải phân biệt các mục đích sử dụng khác nhau khi nghiêncứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn và sử dụng các chỉ tiêu đo lườngHQHĐ

Tại Việt Nam, Trần Ngọc Hùng (2016) và Thái Anh Tuấn (2019) nghiên cứu ảnhhưởng của các nhân tố đến vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Nghiêncứu của Trần Ngọc Hùng tập trung vào phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp vừa vànhỏ Việt Nam Biến độc lập trong mô hình nghiên cứu gồm 8 nhân tố: quy mô doanhnghiệp, chi phí tổ chức KTQT, văn hóa doanh nghiệp, trình độ nhân viên kế

Trang 40

toán, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, mức độ sở hữu của nhà nước trongdoanh nghiệp, mức độ cạnh tranh của thị trường và nhận thức về KTQT của ngườichủ/người điều hành doanh nghiệp Tương tự nghiên cứu của Trần Ngọc Hùng, TháiAnh Tuấn (2019) nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến vận dụng kế toán quản trịtrong các doanh nghiệp Việt Nam với mô hình nghiên cứu gồm 5 nhân tố: áp lực cạnhtranh, mức độ phân quyền, tình trạng áp dụng công nghệ thông tin, mức độ quan tâmcủa NQT đến KTQT và trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán Cả hai công trìnhnghiên cứu này đều đã phân tích được ảnh hưởng của các nhân tố được lựa chọn đếnviệc áp dụng các kỹ thuật kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên,nghiên cứu của Trần Ngọc Hùng chỉ nêu chung chung hệ thống KTQT gồm những 5biến trong đó khả năng vận dụng các kỹ thuật KTQT đánh giá hiệu suất là một biến,không chỉ rõ thang đo biến này gồm những quan sát nào Trong nghiên cứu của TháiAnh Tuấn, thang đo KTQT gồm các thành phần dựa trên thang đo của Chenhall vàLangfield-Smith (1998) Hệ thống đo lường HQHĐ trong nghiên cứu này gồm 6 thước

đo tài chính và 6 thước đo phi tài chính là: lợi nhuận ròng, lợi tức đầu tư (ROI), tỷ lệ lợinhuận thực tế so với dự toán, tỷ lệ tăng trưởng doanh thu, dòng tiền, tỷ lệ khách hàngkhiếu nại, tỷ lệ khách hàng hài lòng, tỷ lệ giao hàng đúng hạn, thời gian sản xuất/thicông, tỷ lệ sản phẩm hỏng/bị trả lại và doanh thu trên một lao động So với nghiên cứucủa Trần Ngọc Hùng (2016), nghiên cứu của Thái Anh Tuấn (2019) đã phân tích đượcthực trạng sử dụng các kỹ thuật KTQT, trong đó có các thước đo HQHĐ

Tổng hợp các nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng các kỹthuật KTQT nói chung trong đó có hệ thống đo lường HQHĐ của các doanh nghiệp nhưsau:

Bảng 2.2 Tóm tắt các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng

1 Ahmad (2012) Quy mô, cạnh tranh thị trường, sự tham Malaysia

gia của chủ sở hữu, trình độ củaNVKT, công nghệ

1 Amat et al (1994) Cạnh tranh thị trường, môi trường Tây Ban Nha

chính trị, kiểm soát chặt chẽ

2 Armitage et al (2016) Môi trường kinh doanh thay đổi, tuổi Canada và Úc

của công ty

Ngày đăng: 09/02/2021, 06:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w