1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay

212 41 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đội ngũ cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT là cán bộ quản lý giáo dục, lực lượng nòng cốt, trực tiếp nghiên cứu, tham mưu, đềxuất giúp đảng ủy, ban giám đốc ban giá

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quânđội là một bộ phận hữu cơ của quá trình đào tạo; có vai trò rất quan trọng trongđánh giá chất lượng GD-ĐT, không chỉ là công cụ điều tiết quá trình dạy học,

mà còn là cơ sở để định hướng, xác định các điều kiện bảo đảm cho hoạt độngGD-ĐT; nhằm giúp cấp ủy, chỉ huy các cấp có quyết định đúng đắn trong lãnhđạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội Đội ngũ cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT là cán

bộ quản lý giáo dục, lực lượng nòng cốt, trực tiếp nghiên cứu, tham mưu, đềxuất giúp đảng ủy, ban giám đốc (ban giám hiệu) ở các HV, TSQ quân độilãnh đạo, chỉ đạo, quản lý công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT;

có vai trò quan trọng trong xây dựng cấp ủy, chi bộ trong sạch vững mạnh, cơquan vững mạnh toàn diện; hướng dẫn, chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiệncác nội dung công tác theo chức trách, nhiệm vụ được giao; góp phần đổi mới

và nâng cao chất lượng GD-ĐTcủa các HV, TSQ quân đội

Chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT trực

tiếp quyết định chất lượng công tác nghiên cứu, tham mưu, đề xuất giúp đảng

ủy, ban giám đốc (ban giám hiệu) ở các HV, TSQ quân đội về công tác khảo

thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT, cũng như chất lượng triển khai, tổ chứcthực hiện nhiệm vụ theo chức trách được giao Do đó, nâng cao chất lượngĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT không chỉ là yêu cầukhách quan, mà còn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

Những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của QUTƯ, BộQuốc phòng, đảng ủy các quân chủng, binh chủng, tổng cục, Bộ Tư lệnh Bộ độiBiên phòng, đảng uỷ HV,TSQ quân đội, ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảochất lượng GD-ĐT đã được kiện toàn, củng cố và phát triển cả về số lượng, cơcấu và chất lượng ngày càng cao cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ côngtác khảo thí và bảo đảm chất lượng GD-ĐT trong tình hình mới Tuy nhiên,

Trang 2

trên thực tế nhận thức của một số cấp uỷ, cán bộ chủ trì ở các HV, TSQ quân

đội về vị trí, vai trò tầm quan trọng của ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo

chất lượng GD-ĐT chưa toàn diện; chưa có nhiều nội dung, hình thức, biệnpháp hiệu quả để nâng cao chất lượng ĐNCB này Ở một số cơ quan việc bố trísắp xếp nhân sự còn chắp vá, tổ chức biên chế cán bộ so với yêu cầu nhiệm vụcòn bất cập, cơ cấu ĐNCB có thời điểm chưa hợp lý; một số cán bộ trình độ,năng lực, phương pháp tác phong công tác cũng như kinh nghiệm có mặt cònhạn chế, công tác tham mưu đề xuất có thời điểm tính chủ động chưa cao.Những hạn chế, khuyết điểm đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệuquả công tác GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội hiện nay

Hiện nay, trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội,xây dựng các HV, TSQ quân đội (theo mô hình nhà trường thông minh) cóbước phát triển mới; nhất là trước thực trạng GD-ĐT, yêu cầu đổi mới căn,bản toàn diện GD-ĐT; thực trạng ĐNCB, yêu cầu, nhiệm vụ công tác khảo thí

và đảm bảo chất lượng GD-ĐT đòi hỏi ngày càng cao, dưới tác động của mặttrái cơ chế thị trường và cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0; đã và đang đặt rayêu cầu khách quan, sự cần thiết phải nâng cao hơn nữa chất lượng ĐNCB cơ

quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT một cách toàn diện cả về phẩm

chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác

Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất

lượng đội ngũ cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay” để viết luận án tiến sĩ có

ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn; đề xuất

những giải pháp nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo

chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội hiện nay

Trang 3

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Luận giải, làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn nâng cao

chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các

HV, TSQ quân đội

Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh

nghiệm nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội

Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng

ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ

quân đội hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội

Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn chất lượng

và nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT ở các HV, TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam

Đối tượng điều tra, khảo sát chủ yếu là các cấp ủy, chỉ huy, cơ quan

chức năng; ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT và cán

bộ, giảng viên của một số HV, TSQ quân đội, tập trung ở: Học viện Chínhtrị, Học viện Lục quân, Học viện Hậu cần, Học viện Kỹ thuật quân sự, Họcviện Khoa học quân sự, Học viện Phòng không - Không quân, Học viện Biênphòng, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩquan Lục quân 2, Trường Sĩ quan Thông tin, Trường Sĩ quan không quân,Trường Sĩ quan Pháo binh, Trường Sĩ quan Công binh

Các tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát thực tiễn phục vụ đề tài luận án giớihạn từ năm 2011 đến nay

Trang 4

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vềcán bộ và xây dựng ĐNCB; về giáo dục - đào tạo và yêu cầu đổi mới căn bảntoàn diện GD-ĐT

Cơ sở thực tiễn

Hiện thực công tác GD-ĐT, công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT; chất lượng công tác xây dựng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo

chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội; các nghị quyết, chỉ thị, quy địnhcủa QUTƯ, Bộ Quốc phòng; báo cáo tổng kết của các HV, TSQ và cơ quanchức năng về cán bộ, công tác cán bộ, GD-ĐT; những tư liệu, số liệu điều tra,

khảo sát về nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất

lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội từ năm 2011 đến nay

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sửdụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học liên ngành vàchuyên ngành; trong đó chú trọng các phương pháp: phân tích, tổng hợp,lôgíc, lịch sử, thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn vàphương pháp chuyên gia

5 Những đóng góp mới của luận án

Xây dựng và làm rõ quan niệm về chất lượng và nâng cao chất lượng

ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân

đội

Rút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí

và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội

Trang 5

Đề xuất một số nội dung, biện pháp cụ thể, thiết thực, khả thi trong

những giải pháp nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo

chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận,

thực tiễn về chất lượng, nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và

đảm bảo chất lượng GD-ĐT; cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ sựlãnh đạo, chỉ đạo của đảng uỷ, ban giám đốc (ban giám hiệu), cơ quan chứcnăng các cấp; cấp ủy, chỉ huy cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-

ĐT trong nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất

lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy,học tập môn CTĐ, CTCT ở các học viện, nhà trường quân đội

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: phần mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mục cáccông trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình khoa học ở nước ngoài đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình khoa học nghiên cứu về cán bộ, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

Hoàng Văn Hổ (2014), Cầm quyền khoa học [67]; cuốn sách đề cập một số

vấn đề: khái quát quan điểm cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc; tóm tắt

ý nghĩa quan trọng của cầm quyền khoa học, quy luật, tư tưởng, phương pháp cầmquyền khoa học; cách thức nắm vững và vận dụng tốt cầm quyền khoa học; xâydựng năng lực cầm quyền của Đảng cầm quyền và xây dựng Đảng cầm quyền.Bàn về vấn đề cán bộ (Chương X), cuốn sách chỉ ra kinh nghiệm: “Đảng cầmquyền phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có tố chất cao, đảm đương đượctrách nhiệm nặng nề, vượt qua được thử thách sóng gió theo yêu cầu cách mạnghóa, trẻ hóa, tri thức hóa và chuyên nghiệp hóa” [67, tr.573] Chỉ có xây dựngđược một ĐNCB tố chất cao, mới có thể thực hiện sự nghiệp phục hưng vĩ đại củadân tộc Trung Hoa; mới trở thành Đảng cầm quyền “lập Đảng vì công, cầm quyền

vì dân” Nghiên cứu về vấn đề tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, tác giả đưa ra những

yêu cầu rõ ràng, cố gắng thực hiện được bốn kiên trì, bốn không được: một là, kiên trì chọn người tài, không được chọn người thân; hai là, kiên trì chọn người ở khắp mọi nơi, không được kéo bè tạo nhóm; ba là, kiên trì công bằng ngay thẳng, không được lôi kéo quan hệ, kiếm chỗ đi lại riêng; bốn là, kiên trì tập thể thảo

luận, không được cá nhân hay số ít người nói là quyết Tác giả nhấn mạnh: “Phải

coi Bốn kiên trì, Bốn không được là mỗi tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá mỗi

cán bộ có đạt tiêu chuẩn hay không về mặt chính trị, tác phong” [67, tr.581]

Trang 7

Hồ Thành Quốc (2016), Đạo làm quan [98]; cuốn sách đề cập những vấn

đề: làm quan như thế nào, bản lĩnh cầm quyền vì dân của người làm quan rasao; những khó khăn lúng túng của cán bộ liêm chính; tăng cường tu dưỡng đạođức, nâng cao tố chất bản thân và năng lực cầm quyền; kiên trì phòng chốngthoái hóa biến chất, xây dựng vững chắc mặt trận tư tưởng; phân tích tâm lý tácphong, đạo đức của cán bộ các cấp Nghiên cứu về thực trạng ĐNCB TrungQuốc tác giả đã chỉ ra căn bệnh tổng hợp của cán bộ lãnh đạo, được biểu hiện ởmười triệu chứng lâm sàng Đề cập đến vấn đề cán bộ, xây dựng đạo đức, tácphong của cán bộ Đảng và chính quyền theo tác giả, việc tăng cường xây dựngđạo đức làm quan của ĐNCB hiện nay phải dốc sức thực hiện được mười điềuthận trọng: “Thận trọng ngay từ đầu, thận trọng từ việc nhỏ, thận trọng khi ănnói, thận trọng với thị hiếu, thận trọng với ham muốn, thận trọng với quyền lực,thận trọng khi bình yên, thận trọng khi chỉ có một mình, thận trọng với bạn bè

và thận trọng với giây phút cuối cùng” [98, tr.118 - 142] Đề cập đến tố chấtlãnh đạo tác giả cho rằng: “Cán bộ, đảng viên các cấp đặc biệt là cán bộ lãnhđạo, phải nâng cao hơn nữa tố chất của bản thân mình, nâng cao bản lĩnh cầmquyền vì dân, không hổ thẹn với sứ mệnh của mình, gánh vác nhiệm vụ lớn”[98, tr.118 - 415] Theo đó phải, nâng cao trách nhiệm đối với công việc, làm tốtchức trách của mình; tăng cường tố chất bản thân, nâng cao năng lực quyếtsách; làm tốt công tác xây dựng tác phong, đạo đức liêm khiết trong Đảng

Kouyang Sisomblong (2016), Chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu,

giảng dạy ở các Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn hiện nay [101]; luận án đã làm rõ quan niệm, đặc điểm, vai

trò, yêu cầu phẩm chất, năng lực của ĐNCB nghiên cứu, giảng dạy ở cácTrường Chính trị - Hành chính tỉnh Luận án chỉ rõ: chất lượng ĐNCB này làtổng hợp các thuộc tính, đặc trưng của người cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, bảođảm cho họ hoàn thành nhiệm vụ được giao, bao gồm phẩm chất, trình độ, nănglực, số lượng và cơ cấu đội ngũ và kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng người.Trên cơ sở những vấn đề lý luận, tác giả đánh giá thực trạng, rút ra kinh nghiệm;

Trang 8

dự báo những yếu tố tác động, phương hướng, mục tiêu và đề xuất những giảipháp chủ yếu nâng cao chất lượng ĐNCB nghiên cứu, giảng dạy ở các TrườngChính trị - Hành chính tỉnh Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn hiện nay.Sinnakhone Douangbandith (2020), “Nâng cao chất lượng đội ngũ côngchức các Ban Tổ chức Tỉnh ủy của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào” [31];bài báo luận giải, chất lượng của đội ngũ công chức các Ban Tổ chức Tỉnh ủy làmột trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng tham mưucho sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào Thực hiện tốt việc nâng caochất lượng đội ngũ công chức các Ban Tổ chức Tỉnh ủy sẽ góp phần xây dựng độingũ công chức của Đảng và Nhà nước Lào vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ xây dựng và phát triển đất nước Trong những năm qua, đội ngũ công chức cácBan Tổ chức Tỉnh ủy luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các cấp lãnh đạo.Nhìn chung, đội ngũ công chức này có “Phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, luônquán triệt thực hành “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, tận tụy phục vụĐảng và Nhà nước; có ý thức trách nhiệm cao trong công việc, nắm vững và chấphành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật trong khi thực thi công vụ” [31,tr.76] Trên cơ sở đánh giá thực trạng bài viết đã đề xuất một số giải pháp như:hoàn thiện hệ thống chính sách; đổi mới công tác tuyển dụng công chức; nâng caochất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng; xây dựng các tiêu chí đánh giá công chức;cải thiện điều kiện, môi trường làm việc; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra,giám sát Trong đó, giải pháp thứ tư: Xây dựng các tiêu chí đánh giá công chức

“Tiêu chí về ý thức tổ chức kỷ luật, phẩm chất đạo đức; về năng lực và kỹ năngcông tác; về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao” [31, tr.78], có vaitrò rất quan trọng, mang tính đột phá trong nâng cao chất lượng đội ngũ công chứccác Ban Tổ chức Tỉnh ủy của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

1.1.2 Các công trình khoa học nghiên cứu về cán bộ, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong quân đội

Bành Quang Kiên, Triệu Trí Ân, La Vĩnh (2012), Quốc phòng Trung Quốc [74]; cuốn sách luận giải một số vấn đề: đánh giá tình hình xây dựng

Trang 9

hiện đại hóa quốc phòng Trung Quốc; kết quả thực hành đường lối, chính sáchphát triển quốc phòng Trung Quốc; sự phát triển của lực lượng quốc phòngTrung Quốc và những đóng góp đối với sự ổn định và hòa bình của thế giới.

Đề cập đến vấn đề xây dựng quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang, cải cáchquân sự, phát triển hệ thống khoa học kỹ thuật công nghệ quốc phòng hiện đại

và bảo vệ hòa bình thế giới, các tác giả luôn xác định vai trò của ĐNCB rấtquan trọng, khẳng định: “Đội ngũ cán bộ giữ các cương vị, trọng trách lãnhđạo, chỉ huy quản lý ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đây là lực lượngnòng cốt trong tổ chức thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng”[74, tr.98], có vai trò quyết định trong tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụhuấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật và trongthực hiện các nhiệm vụ khác của Quân đội Vì vậy, Đảng Cộng sản TrungQuốc phải luôn coi trọng lãnh đạo công tác cán bộ, bảo đảm cho ĐNCB thựcsự là lực lượng nòng cốt trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Quân đội

Đinh Bang Vũ (2013), Chỉ huy tác chiến học [120]; cuốn sách luận giải

một số vấn đề: khái quát chung về chỉ huy tác chiến học; chỉ huy tác chiến vàyếu tố quy luật, nguyên tắc, nghệ thuật của chỉ huy tác chiến; hệ thống chỉ huytác chiến; tổ chức và thực hiện chỉ huy tác chiến Phần 3 của cuốn sách, tác giảđã dành một chương nói về người chỉ huy tác chiến Theo tác giả, người chỉ huytác chiến là tên gọi chung của thủ trưởng và tham mưu trưởng phụ trách chỉ huytác chiến trong quân đội, là nhân tố nổi bật nhất trong các nhân tố chỉ huy tácchiến Người chỉ huy tác chiến gồm: người chỉ huy, phó chỉ huy trưởng, thammưu trưởng, sĩ quan tham mưu Tác giả cũng đề cập rất cụ thể đến chức trách,nhiệm vụ và yêu cầu về phẩm chất của người chỉ huy tác chiến: “Phẩm chất củangười chỉ huy bao gồm phẩm chất chính trị, quân sự, tâm lý, năng lực và phongcách chỉ huy” [120, tr.270] Mỗi phẩm chất đều có một nội dung cụ thể, ngườichỉ huy ở các cấp độ khác nhau, cương vị khác nhau thì yêu cầu về các mặtphẩm chất cũng khác nhau Thế nhưng, bất kể người chỉ huy tác chiến trongquân đội của quốc gia nào, ở cấp bậc nào, ở cương vị nào cũng sẽ có những yêu

Trang 10

cầu chung về phẩm chất cơ bản Đối với Quân đội Trung Quốc để làm mộtngười chỉ huy tác chiến đủ tiêu chuẩn, cần phải có những phẩm chất: tố chấtchính trị, tố chất quân sự, tố chất tâm lý, phong cách chỉ huy, tố chất năng lực

Neang Phat (2016), Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia Cam puchia hiện nay [85]; luận án đã làm rõ quan niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò; yêu

cầu phẩm chất, năng lực của ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia Trên cơ sởđánh giá thực trạng, rút ra những kinh nghiệm, chỉ ra những yếu tố tác động, xácđịnh yêu cầu, tác giả đã đề xuất sáu giải pháp Ở giải pháp thứ ba, bàn về đổi mới,nâng cao chất lượng tạo nguồn, tuyển chọn, quy hoạch ĐNCB, tác giả cho rằng:

“Thực hiện đúng phương châm “động”, “mở” và “mềm” trong quy hoạch ĐNCBcác cấp, đảm bảo cho công tác quy hoạch không hạn chế số người định sẵn, cónhiều nguồn để lựa chọn, không khép kín trong từng cơ quan, đơn vị” [85, tr.70].Chính sách tiến cử, bầu cử, thăng chức vượt cấp của các triều đại Campuchiatrong lịch sử dựng nước và giữ nước nhằm trọng dụng, không bỏ sót người tài,chính sách này đã được thực tiễn lịch sử chứng minh là đúng đắn và có hiệu quả.Bunthănchăn Thạlyma (2015), “Tăng cường công tác xây dựng đội ngũcán bộ Quân đội nhân dân Lào trong thời kỳ mới” [103]; bài báo luận giải rõ vịtrí, vai trò, tầm quan trọng của ĐNCB Quân đội nhân dân Lào, đây là lực lượngthường xuyên quán triệt, tổ chức thực hiện thắng lợi mọi đường lối chủ trươngcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước trong Quân đội; những lãnh đạo chỉ huy,quản lý giáo dục bộ đội thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm là huấn luyện sẵnsàng chiến đấu và các nhiệm vụ, công tác khác Do đó, xây dựng ĐNCB quânđội là yêu cầu khách quan, bức thiết trong thời kỳ mới Trên cơ sở đánh giá thựctrạng ĐNCB quân đội thời gian qua, tác giả đã đề xuất sáu giải pháp trong đó,giải pháp: “Đẩy mạnh công tác tạo nguồn, quy hoạch đội ngũ cán bộ” có vai tròrất quan trọng, mang tính then chốt; theo đó, trong tạo nguồn, quy hoạch cán bộphải: “Chú trọng phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, kinh nghiệm thực tiễn,năng lực chuyên môn, phương pháp tác phong công tác” [103, tr.70]

Trang 11

1.1.3 Các công trình khoa học nghiên cứu về cán

bộ quản lý giáo dục, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục

Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich (1994), Những vấn đề cốt yếu của quản lý [76]; cuốn sách nghiên cứu, luận giải làm sáng tỏ những

vấn đề cốt yếu của quản lý Cụ thể, chi tiết các chức năng quản lý, trong đóchức năng lập kế hoạch là một trong những chức năng quan trọng mà nhàquản lý phải thực hiện; chỉ rõ các yêu cầu tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực,phương pháp tác phong công tác của người quản lý và người làm công tácquản lý Tác giả, dành một chương nói về người quản lý và việc phát triển về

tổ chức, luận giải nhu cầu bức thiết về việc phát triển thực sự cán bộ quản lý,làm rõ quá trình phát triển cán bộ quản lý và đào tạo, chỉ ra các phương phápphát triển cán bộ quản lý là sự đào tạo tại chỗ

Richard S Sloma (1999), Để là nhà quản lý thành công [102]; cuốn sách đề

cập một cách khá toàn diện về vị trí, vai trò tầm quan trọng của nhà trường và hiệutrưởng nhà trường Theo Ông, người hiệu trưởng nhà trường vừa là nhà sư phạm,nhà quản lý giáo dục, song còn là nhà kinh tế thạo việc Theo đó, để nâng caonăng lực quản lý trong hoạt động thực tiễn người hiệu trưởng phải có: “Phẩmchất, năng lực tốt, được bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp, tácphong công tác khoa học” [102, tr.126]; biết huy động năng lực vào việc duy trì

và tăng cường mọi chức năng của tổ chức; phải có tư duy quản lý sự thay đổi,phải ‘‘dĩ bất biến, ứng vạn biến”; kiên trì luôn lắng nghe, lập kế hoạch kỹ lưỡng

Peter DrucKer (2003), Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI [34];

cuốn sách đề cập một cách khá toàn diện về vị trí, vai trò tầm quan trọng và chỉ ranăm nhiệm vụ cơ bản của người quản lý giáo dục: “xác định mục tiêu; tiến hànhcông tác tổ chức; khích lệ cán bộ, công nhân viên, liên kết công việc, liên kết mọingười với nhau; phân tích kết quả đơn vị theo mục tiêu vạch ra; làm cho các thànhviên đều trưởng thành” [34, tr.78] Về năng lực quản lý, yêu cầu cán bộ quản lýphải rèn luyện bốn kỹ năng: đưa ra những quyết định có hiệu quả; trao đổi thông

Trang 12

tin trong và ngoài tổ chức; vận dụng một cách đúng đắn công cụ phân tích; vậndụng một cách sáng tạo công cụ kiểm tra và đánh giá Để đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ quản lý tác giả nhấn mạnh, bên cạnh công tác bồi dưỡng của các cấp quản lý,người quản lý phải biết nắm chắc thế mạnh của mình, luôn tự trau rồi hoàn thiệnphẩm chất, năng lực để xử lý có hiệu quả những vấn đề thực tiễn đặt ra

Mary-Louise Kearney (2006), Định hướng hành động hợp tác UNESCOS - phát triển đội ngũ quản lý giáo dục đại học cho thế kỷ 21 [125];

cuốn sách đề cập một cách khá toàn diện về vị trí, vai trò tầm quan trọng và sựcần thiết phải phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ở đại học.Tác giả cho rằng, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có vị trí, vai tròrất quan trọng là lực lượng nòng cốt, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượngGD-ĐT ở các trường đại học Phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáodục ở đại học là vấn đề rất cần thiết cho nguồn nhân lực giáo dục đại học,nhằm mở rộng và phát triển kỹ năng chuyên nghiệp của họ, đáp ứng các nhucầu phát sinh trong quá trình làm việc; nội dung gồm các vấn đề như: “Phongcách làm việc; kiến thức, kỹ năng chuyên môn về giáo dục sử dụng công nghệthông tin và truyền thông trong giáo dục, kỹ năng giao tiếp ” [125, tr.87]; vìvậy, các trường đại học cần có kế hoạch tổng thể và sự đầu tư thích hợp

Vương Bân Thái (2014), Hiện đại hóa giáo dục [106]; cuốn sách gồm 10

chương với nội dung đề cập đến tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục trongcông cuộc xây dựng và phát triển đất nước ở các quốc gia trên thế giới và ởtỉnh Giang Tô, Trung Quốc; nghiên cứu và phân tích nhiều khía cạnh về mụctiêu, con đường hiện đại hóa giáo dục của Trung Quốc như: vấn đề công bằngtrong giáo dục, đầu tư cho giáo dục, xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản

lý giáo dục, cải tiến thể chế giáo dục bồi dưỡng nhân tài, mở cửa đối ngoạitrong giáo dục…; từ đó xác định mô hình hệ thống giáo dục của Trung Quốctrong tương lai Đề cập đến vai trò của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáodục tác giả khẳng định: “Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là nền

Trang 13

tảng của giáo dục, là cái gốc để chấn hưng giáo dục” [106, tr.305]; theo đó,không ngừng nâng cao tố chất, tăng cường định hướng đạo đức nghề nghiệpcho ĐNCB này; xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản giáo dục có nghiệp

vụ tinh thông, cơ cấu hợp lý, tương đối ổn định là điều kiện, tiền đề và là nộidung quan trọng để thực hiện hiện đại hóa giáo dục

1.2 Các công trình khoa học ở trong nước đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án

1.2.1 Các công trình khoa học nghiên cứu về cán bộ, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [110]; cuốn sách phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn

cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng ĐNCB, đặc biệt là ĐNCB chủ chốtcác cấp Đề cập đến vấn đề lý luận và phương pháp luận về nâng cao chất lượngĐNCB tác giả đã khái quát và luận giải một số khái niệm cơ bản; làm rõ quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, công táccán bộ; sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và yêu cầu nâng cao chấtlượng ĐNCB Chỉ rõ đặc điểm cơ bản của thời đại, tình hình trong nước vànhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Trên cơ sở đó, đề xuất những yêucầu nâng cao chất lượng ĐNCB cho phù hợp, trong đó đặc biệt chú ý đến yêucầu về phẩm chất chính trị: ‘‘Đó là nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành với lýtưởng của Đảng với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hết lònghết sức vì sự nghiệp của nhân dân; là bản lĩnh chính trị vững vàng kiên định với

con đường xã hội chủ nghĩa” [110, tr.114] Trên cơ sở kinh nghiệm ở trong nước

và một số nước trên thế giới, tác giả rút ra những kinh nghiệm xây dựng ĐNCBtrong các thời kỳ cách mạng của Đảng Đánh giá đúng thực trạng ĐNCB vàcông tác cán bộ hiện nay, từ đó đưa ra hệ thống các quan điểm, phương hướng

Trang 14

và sáu giải pháp cơ bản nhằm củng cố, phát triển ĐNCB về chất lượng, số lượng

và cơ cấu phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Cao Văn Thống, Vũ Trọng Lâm (2019), Đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ trong giai đoạn mới [107]; cuốn sách đã

trình bày hệ thống quan điểm của Chủ nghĩa Mác - lênin tư tưởng Hồ Chí Minh

và Đảng ta về ĐNCB và công tác cán bộ; đánh giá thực trạng ĐNCB và côngtác cán bộ ở nước ta kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới cho đến nay; từ đóphân tích đánh giá những mặt mạnh, yếu của ĐNCB và từng khâu trong côngtác cán bộ, chỉ ra những những nguyên nhân khách quan, chủ quan của tìnhtrạng đó; đồng thời đưa ra hệ thống các quan điểm định hướng mục tiêu, giảipháp chung và cụ thể cho từng khâu trong công tác cán bộ Cuốn sách đề cập 8nhiệm vụ giải pháp, trong đó, nhiệm vụ, giải pháp thứ 6 là: “Kiểm soát chặt chẽquyền lực trong công tác cán bộ, đấu tranh chống tha hóa quyền lực thamnhũng, lợi ích nhóm, chống chạy chức, chạy quyền” [107, tr.212], đây là giảipháp rất quan trọng trong nâng cao chất lượng ĐNCB hiện nay

Đỗ Minh Cường (2009), Quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý [32]; đề tài đã

nghiên cứu các quan điểm của Đảng về quy hoạch cán bộ cụ thể: tình hình thựchiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị nước

ta hiện nay; một số quan điểm nguyên tắc và giải pháp nâng cao chất lượng quyhoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH;

lý luận và kinh nghiệm quy hoạch nhân sự của ông cha ta và của một số nướctrên thế giới Tác giả luận giải, quy hoạch cán bộ nói riêng và quy hoạch nhân sựnói chung là một chức năng cơ bản của chủ thể quản lý: “Thực chất quy hoạch làdự trù sắp xếp cán bộ một cách khoa học, chọn đúng người, bố trí đúng chỗ vàđúng lúc để tổ chức đạt được mục tiêu chung và phát triển bền vững” [32, tr.89];căn cứ vào sự phụ trách công việc để làm quy hoạch cán bộ, thì mới tuyển chọnđào tạo và sử dụng cán bộ khoa học, hiệu quả Trên cơ sở luận giải làm rõ nhữngvấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý, đề tài

Trang 15

rút ra những kinh nghiệm, xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp nâng cao chấtlượng công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý hiện nay

Nguyễn Thành Dũng (2012), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay [33]; luận án

luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng ĐNCB chủchốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên Khẳng định nâng cao chất lượngĐNCB chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay là thực hiện tổng thểcác nội dung, hình thức, biện pháp về tư tưởng, tổ chức và chính sách của cácchủ thể, lãnh đạo, quản lý nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực của mỗi cán bộ,tạo ra sự chuyển biến cả đội ngũ về số lượng, chất lượng và cơ cấu, đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ Xác định tiêu chí, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nămgiải pháp, trong đó giải pháp: “Cụ thể hóa tiêu chuẩn các chức danh cán bộ,gắn với tinh thần tự giác phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng quản lý của bản thâncán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên” [33, tr.122], mang tính độtphá; đề xuất cụ thể tiêu chuẩn đối với từng chức danh như bí thư, chủ tịch ủyban nhân dân, hội đồng nhân dân cấp huyện, thành phố để phấn đấu, rèn luyện Nguyễn Phú Trọng (2020), “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâmtrong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng” [111]; bài viết luận giải,

để chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng, vấn đề quan trọng hàng đầu là phảixác định đúng yêu cầu xây dựng BCHTƯ mà hạt nhân là Bộ Chính trị, Ban Bíthư, lãnh đạo chủ chốt của Đảng Theo đó, BCHTƯ khóa XIII phải là một tậpthể: “Thật sự đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, thống nhất cao ý chí và hànhđộng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, kiênđịnh mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…” [111, tr.6] Tác giả chỉ rõ,tiêu chuẩn BCHTƯ khóa XIII, cần có số lượng và cơ cấu hợp lý; tiêu chuẩn Ủyviên BCHTƯ phải là những đồng chí tiêu biểu của Đảng về phẩm chất và nănglực, là người vừa có “đức” vừa có “tài”, trong đó “đức” là gốc, bảo đảm tiêuchuẩn chung của cán bộ, đặc biệt chú trọng các vấn đề sau: “Có bản lĩnh chínhtrị vững vàng; có phẩm chất đạo đức và lối sống trong sáng, được cán bộ, đảng

Trang 16

viên và nhân dân tín nhiệm; có trí tuệ, tầm nhìn, tư duy chiến lược và kiến thứctương đối toàn diện ” [111, tr.8] Kiên quyết không để lọt vào BCHTƯ khóaXIII những người có bản lĩnh chính trị không vững vàng, để nội bộ mất đoàn kếtnghiêm trọng, kê khai tài sản không trung thực, vi phạm quy định về lịch sửchính trị Tác giả nhấn mạnh, việc giới thiệu nhân sự Đại hội XIII của Đảngphải trên cơ sở quy hoạch, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; công tácchuẩn bị nhân sự không chỉ là nhiệm vụ của Tiểu ban Nhân sự, của Bộ Chính trị,Ban Bí thư, của BCHTƯ mà là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị

1.2.2 Các công trình khoa học nghiên cứu về cán bộ, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong quân đội

Nguyễn Trọng Tuấn (2017), Nâng cao chất lượng đội ngũ chính trị

viên trong các trường kỹ thuật quân đội [116]; cuốn sách giới thiệu cơ sở lý

luận, thực tiễn nâng cao chất lượng đội ngũ chính trị viên trong các trường

kỹ thuật quân đội; khẳng định nâng cao chất lượng đội ngũ chính trị viêntrong các trường kỹ thuật quân đội là: “Quá trình hoạt động tích cực, tự giáccủa các chủ thể làm biến đổi các yếu tố cấu thành chất lượng đội ngũ chínhtrị viên theo hướng ngày càng cao hơn về chất, nhằm đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ của họ trong các nhà trường cũng như trong xây dựng Quân đội”

[116, tr.18] Làm rõ quan niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm và đánh giá thực

trạng chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ chính trị viên trong cáctrường kỹ thuật quân đội Trong phần 2 đề xuất ba nhóm giải pháp về đổimới GD-ĐT, bồi dưỡng; về xây dựng môi trường xã hội thuận lợi; về pháthuy tính tích cực, tự giác của cán bộ, để nâng cao chất lượng đội ngũ chính

trị viên trong các trường kỹ thuật quân đội

Đặng Nam Điền (2017), Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ Hậu cần Quân đội trong tình hình mới [60]; đề tài đã làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản

về xây dựng ĐNCB hậu cần quân đội và luận giải: “Xây dựng ĐNCB hậu cầnquân đội là tổng thể các chủ trương, giải pháp của các chủ thể, các lực lượngtrong thực hiện quy trình các khâu, các bước xây dựng ĐNCB, nhằm tạo nên

Trang 17

ĐNCB hậu cần quân đội đủ về số lượng, có chất lượng cao, hợp lý về cơ cấu”[60, tr.24] Trên cơ sở đánh giá thực trạng, rút ra một số kinh nghiệm, xácđịnh yêu cầu; đề xuất các giải pháp: nâng cao nhận thức, phát huy trách nhiệmcủa các tổ chức, lực lượng; xây dựng tiêu chuẩn chức danh, thực hiện tốt côngtác tạo nguồn, quy hoạch; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; làm tốtcông tác quản lý, đánh giá, bố trí sử dụng và công tác chính sách đối vớiĐNCB hậu cần; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công tác xây dựngĐNCB hậu cần quân đội

Đặng Văn Thuấn (2017), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ban tuyên huấn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay [108]; luận án đã tập

trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng và nâng cao chấtlượng ĐNCB ban tuyên huấn ở các HV, TSQ quân đội Đánh giá đúng thựctrạng, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng ĐNCB bantuyên huấn ở các HV, TSQ quân đội hiện nay Trong hệ thống các giải pháp,giải pháp 2 là: “Thực hiện tốt nội dung, quy trình nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ ban tuyên huấn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay”[108, tr.133], có vị trí, vai trò rất quan trọng, mang tính đột phá, tác động trựctiếp đến kết quả nâng cao chất lượng ĐNCB ban tuyên huấn ở các HV, TSQquân đội hiện nay Theo đó, cần thực hiện tốt công tác tạo nguồn, quy hoạch,

tuyển chọn, sử dụng và thực hiện tốt chính sách

Lê Minh Long (2020), “Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chiến dịchchiến lược trong quân đội đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0”[78]; bài báo cho rằng: ĐNCB cấp chiến dịch, chiến lược là một bộ phậntrọng yếu của Quân đội ta, là lực lượng nòng cốt trong xây dựng, hoạch định

và tổ chức thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng; là nhân tố có ý nghĩaquyết định trong tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu, xây dựng,huấn luyện, sản xuất, công tác của Quân đội ta: “Xây dựng đội ngũ cán bộchiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là

Trang 18

vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng Quân độinhân dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩatrong thời kỳ mới” [78, tr.14] Trên cơ sở đánh giá thực trạng ĐNCB vànhững tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến xây dựng ĐNCBcấp chiến dịch, chiến lược của Quân đội hiện nay; bài báo đã đưa ra hệ thốngcác giải pháp trong đó, đổi mới toàn diện công tác cán bộ từ khâu quy hoạch,tạo nguồn, tuyển chọn, sàng lọc, đào tạo, bồi dưỡng nguồn cán bộ chiến dịch,chiến lược chất lượng cao là giải pháp rất quan trọng

1.2.3 Các công trình khoa học nghiên cứu về cán

bộ quản lý giáo dục, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục

Nguyễn Thanh Hà (2019), Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội theo tiếp cận năng lực [63], cuốn sách đề cập

một số nội dung như: luận giải một số khái niệm cơ bản; đặc điểm lao động củacán bộ quản lý đào tạo; chuẩn năng lực của cán bộ quản lý đào tạo; nội dungphát triển ĐNCB quản lý đào tạo theo tiếp cận năng lực Theo tác giả, cán bộquản lý đào tạo có vị trí, vai trò rất quan trọng trong các hoạt động GD-ĐT củanhà trường; thực chất phát triển ĐNCB quản lý đào tạo là phát triển đội ngũnhân lực quản lý giáo dục ở các HV, TSQ quân đội; theo đó, cần tập trung vàocác nội dung như: “Quy hoạch, kế hoạch, tuyển chọn, bố trí, sử dụng, đào tạo,bồi dưỡng, xây dựng môi trường, chính sách nhằm mục tiêu bảo đảm đủ sốlượng cán bộ, cơ cấu cân đối, hợp lý, chất lượng ngày một nâng cao” [63, tr.51.Trên cơ sở, đánh giá đúng thực trạng ĐNCB và phát triển ĐNCB quản lý đàotạo ở các HV, TSQ quân đội theo tiếp cận năng lực; tác giả xác định các yếu tốtác động và những vấn đề đặt ra trong phát triển năng lực ĐNCB quản lý đàotạo; từ đó đề xuất bảy giải pháp có tính cấp thiết và khả thi cao nhằm thực hiệnmục tiêu phát triển ĐNCB quản lý đào tạo có năng lực tốt, đáp ứng yêu cầu đổimới căn bản toàn diện giáo dục ở các HV, TSQ quân đội hiện nay

Trang 19

Cục Nhà trường (2019), Kỷ yếu hội nghị sơ kết 10 năm công tác khảo thí

và đảm bảo chất lượng giáo dục-đào tạo [24]; cuốn kỷ yếu gồm nhiều bài tham

luận có chất lượng cao về ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT, cũng như công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các nhà trườngquân đội Đặc biệt, trong báo cáo sơ kết của Cục Nhà trường đã đánh giá toàndiện về những kết quả đạt được của công tác khảo thí và đảm bảo chất lượngGD-ĐT ở các nhà trường trong 10 năm qua, cũng như xác định các mục tiêu,yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới Báo cáo cũng đề cập đến công tác lãnhđạo, chỉ đạo của QUTƯ Bộ Quốc phòng, các cơ quan chức năng của Bộ; bangiám đốc (ban giám hiệu) ở các nhà trường trong công tác xây dựng và nâng caochất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các nhàtrường: “Đội ngũ cán bộ làm công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐTđược củng cố, kiện toàn, đã trưởng thành về nhiều mặt, đặc biệt là trình độchuyên môn nghiệp vụ” [24, tr.51] Kỷ yếu còn đề cập đến chức năng, nhiệm vụ,tiêu chí chức danh, cũng như yêu cầu về phẩm chất, năng lực, phương pháp tácphong của ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT

Vũ Việt (2010), Nghiên cứu kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong các nhà trường quân đội [119]; đề tài tập trung nghiên cứu về đội ngũ nhà giáo và cán bộ

quản lý giáo dục trong các nhà trường quân đội Trên cơ sở luận giải nhữngvấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn về đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục; đánh giá thực trạng, đề xuất bốn giải pháp kiện toàn, phát triển vànâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Trong đó,giải pháp từng bước chuẩn hóa chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục có vai trò rất quan trọng Theo đó, cần thực hiện tốt về chuẩn chấtlượng theo hướng quản lý chất lượng, chuẩn về trình độ học vấn, chuẩn vềtrình độ đào tạo chức vụ và kinh nghiệm thực tiễn, chuẩn về trình độ nghiệp

vụ sư phạm, nghiệp vụ quản lý giáo dục, chuẩn về trình độ ngoại ngữ tin học

Trang 20

Lê Chí Hải (2020), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các học viện, trường sĩ quan trong quân đội giai đoạn hiện nay [64];

luận án đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về ĐNCB quản lýgiáo dục ở các HV, TSQ quân đội Xây dựng, phân tích làm rõ các quan niệmtrung tâm, chỉ rõ chức trách, nhiệm vụ, đặc điểm, vai trò, yêu cầu phẩm chất,năng lực của ĐNCB quản lý giáo dục Đánh giá thực trạng, xác định các yêu

cầu, trên cơ sở đó, đề xuất năm giải pháp xây dựng ĐNCB quản lý giáo dục ở

các HV, TSQ quân đội hiện nay Trong hệ thống giải pháp đã xác định, trongđó: “Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng và tự đào tạo bồi, dưỡng đềnâng cao chất lượng ĐNCB quản lý giáo dục” [64, tr.143] là giải pháp quantrọng, mang tính đột phá trong nâng cao chất lượng ĐNCB quản lý giáo dục Cáp Quang Hưng (2013), “Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộkhảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo ở các học viện, trường sĩquan trong quân đội” [69]; bài báo luận giải ĐNCB khảo thí có vị trí, vai tròrất quan trọng, là lực lượng trực tiếp tham mưu cho đảng ủy, ban giám đốc(ban giám hiệu) HV, TSQ trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý công tác khảo thí,góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội Đánh giá

thực trạng, xác định yêu cầu, trên cơ sở đó đề xuất sáu giải pháp, trong đó:

“Tăng cường bồi dưỡng và phát huy tính tích cực, chủ động tự học tập, tự bồidưỡng của ĐNCB khảo thí” [69, tr.74] là giải pháp mang tính đột phá Theo

đó, cần pháp huy vai trò của đảng ủy, ban giám đốc, cấp ủy cán bộ chủ trì cơquan khảo thí ở các HV, TSQ trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý ĐNCB khảothí; quan tâm tạo mọi điều kiện tốt nhất cho ĐNCB trưởng thành về mọi mặt

Trần Phương Thảo (2017), Yêu cầu cấp bách xây dựng đội ngũ cán bộ

kiểm định chất lượng giáo dục đại học [104]; bài báo luận giải để nâng cao

chất lượng đào tạo, Bộ GD-ĐT cùng các trường đại học đã triển khai thực hiệnnhiều giải pháp; trong đó, giải pháp mấu chốt là tăng cường công tác kiểm địnhchất lượng giáo dục, cụ thể là tăng cường công tác đào tạo đội ngũ kiểm địnhviên và thành lập các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục: “Việc tổ chức

Trang 21

đánh giá chính xác, công tâm, khách quan là trách nhiệm của các Trung tâmkiểm định chất lượng giáo dục mà người trực tiếp “cầm cân nảy mực” là cáckiểm định viên” [104, tr.43] Trước yêu cầu nâng cao chất lượng GD-ĐT và sựphát triểt mới của công tác kiểm định, đòi hỏi các kiểm định viên cần có kinhnghiệm trong xem xét, đánh giá khả năng, năng lực thực tế của các cơ sở giáodục và có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cao Bài viết chỉ ra, việc tuyển dụngkiểm định viên phải được thực hiện chặt chẽ, đáp ứng những yêu cầu cơ bảnsau: phải nắm được các mô hình quản lý chất lượng, hệ thống đảm bảo chấtlượng và kiểm định chất lượng giáo dục trên thế giới cũng như tại Việt Nam;hoạt động thực sự chuyên nghiệp, bảo đảm trung thực, công tâm, khách quankhi xem xét, đánh giá chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục.

Nguyễn Chiến Thắng (2020), “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ quan khảothí và đảm bảo chất lượng giáo dục, đào tạo ở Học viện Hậu cần hiện nay”[105]; bài báo đề cập đến kết quả thực hiện công tác khảo thí và đảm bảo chấtlượng GD-ĐT ở Học viện hậu cần thời gian qua, khẳng định vai trò củaĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT: “Góp phần đổi mới

và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của Học viện” [105, tr.28] Trên cơ

sở đánh giá thực trạng, bài viết đề xuất những giải pháp: nâng cao nhận thức,trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng; thực hiện tốt công tác tạo nguồn,tuyển chọn, quy hoạch; tăng cường bồi dưỡng và phát huy tính tích cực, chủ

động tự học tập, bồi dưỡng, rèn luyện của ĐNCB làm công tác khảo thí; làm

tốt công tác sử dụng và thực hiện chính sách đối với ĐNCB cơ quan khảo thí.

Tác giả khẳng định, tiến hành đồng bộ các giải pháp trên có ý nghĩa rất quantrọng, không chỉ giúp cho ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượngGD-ĐT hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, mà còn góp phần nâng cao chấtlượng GD-ĐT ở Học viện hiện nay

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết

Trang 22

1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố

Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học ở nước ngoài và trongnước đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án, được thể hiện trên một

số nội dung cơ bản sau:

Một là, các công trình khoa học nghiên cứu về cán bộ và nâng cao chất

lượng ĐNCB, đã khẳng định ĐNCB giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trongxây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị, là lực lượng nòng cốt để nângcao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng Nhiều công trình đisâu nghiên cứu về từng loại cán bộ cụ thể (cán bộ lãnh đạo của Đảng, cán bộquản lý của Nhà nước), luận bàn về nội dung, hình thức, biện pháp xây dựngĐNCB; đã phản ánh khá đầy đủ, toàn diện về lý luận, thực tiễn, thực trạng,kinh nghiệm, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác tạo nguồn, đào tạo,bồi dưỡng, đánh giá, quản lý, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ

Hai là, luận bàn dưới nhiều góc độ về vấn đề cán bộ và nâng cao chất

lượng ĐNCB quân đội các công trình khoa học trong và ngoài nước đềukhẳng định ĐNCB quân đội có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là lựclượng nòng cốt trong tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối quân sự củaĐảng Tuy hướng tiếp cận nội dung, phạm vi nghiên cứu của mỗi công trình

có sự khác nhau Song, đều đã làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận vàthực tiễn; khảo sát đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, rút ra một sốkinh nghiệm; trên cơ sở đó xác định yêu cầu, đề ra giải pháp xây dựng, nângcao chất lượng ĐNCB quân đội

Ba là, một số công trình khoa học công bố đã khái quát, luận giải, làm rõ

vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của ĐNCB quản lý giáo dục trong công tácGD-ĐT nói chung, ở các HV, TSQ quân đội nói riêng Trong mỗi công trình

có hướng tiếp cận nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, với đối tượng, phạm vinghiên cứu khác nhau; song, đều thống nhất khẳng định: việc xây dựng, nângcao chất lượng ĐNCB quản lý giáo dục là hết sức quan trọng, đồng thời làm

Trang 23

sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn về ĐNCB quản lý giáo dục nói chung,ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT nói riêng Trên cơ sởđánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, xác định yêu cầu và đề ra giảipháp nâng cao chất lượng ĐNCB quản lý giáo dục Tuy nhiên, có rất ít côngtrình nghiên cứu một cách độc lập đi sâu vào đối tượng ĐNCB cơ quan khảothí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội mới chỉ dừng lại

ở các bài báo khoa học

Tóm lại: các công trình khoa học đã tổng quan có giá trị đặc biệt to lớn

về khoa học, giúp nghiên cứu sinh học tập phương pháp tiếp cận, luận giảinhiệm vụ, nội dung một công trình khoa học; đồng thời những kết quả đó,không chỉ là luận cứ lý luận, thực tiễn để luận án tham khảo kế thừa, mà còn lànguồn tài liệu phong phú và rất quan trọng với tác giả trong quá trình nghiêncứu đề tài, luận án Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứumột cách toàn diện, chuyên sâu về nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảothí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT dưới góc độ chuyên ngành xây dựng Đảng

và Chính quyền Nhà nước Vì vậy, đề tài luận án là công trình nghiên cứu độclập, không trùng lặp với các công trình đã nghiệm thu, công bố

1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết

Mội là, luận án tiếp tục nghiên cứu làm sáng rõ những vấn đề cơ bản về

cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội; tậptrung làm rõ quan niệm, thành phần; chức trách, nhiệm vụ; yêu cầu phẩmchất, năng lực, phương pháp tác phong công tác; đặc điểm, vai trò của ĐNCB

cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội

Hai là, luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về chất lượng, những yếu

tố cấu thành chất lượng và nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí vàđảm bảo chất lượng GD-ĐT; xây dựng quan niệm, luận giải làm rõ nội hàmnhững vấn đề có tính nguyên tắc; xây dựng tiêu chí làm cơ sở cho khảo sát,đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảochất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội

Trang 24

Ba là, tiến hành điều tra, khảo sát thực tế, phân tích đánh giá khách quan,

trung thực, toàn diện hoạt động nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quan khảo thí

và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội Qua đó rút ranguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng ĐNCB cơ quankhảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội hiện nay

Bốn là, phân tích tình hình nhiệm vụ tác động đến nâng cao chất lượng

ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT, bao gồm cả nhữngthuận lợi và những khó khăn, thách thức Trên cơ sở đó, x ác định những yêucầu và đề xuất các giải pháp vừa cơ bản, đồng bộ vừa thiết trực, khải thi; tậptrung giải quyết khâu yếu, mặt yếu để tạo chuyển biến rõ nét về chất lượngĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQquân đội hiện nay

Kết luận chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án cho thấy,đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đềcán bộ nói chung, cán bộ trong Quân đội nói riêng, đặc biệt là cán bộ quản lýgiáo dục và ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT Cáccông trình nghiên cứu khá phong phú về nội dung, được thể hiện dưới nhiềuhình thức từ sách chuyên khảo, sách tham khảo, đề tài khoa học các cấp, luận

án tiến sĩ, đến các báo cáo khoa học tham gia hội thảo, các bài báo được đăngtải trên các tạp chí chuyên ngành

Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận

án đã có nhiều đóng góp cả về lý luận và thực tiễn vào việc nâng cao chấtlượng ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT nói chung ởcác HV, TSQ quân đội nói riêng Những công trình nghiên cứu đó bước đầu

đề cập đến một số nội dung có liên quan đến hướng nghiên cứu của luận án;đây là những tài liệu, những đơn vị kiến thức có giá trị cả về lý luận và thựctiễn để tác giả tiếp thu, kế thừa và nghiên cứu, khám phá, tìm ra cái mới côngbố trong luận án của mình Tổng quan về vấn đề nghiên cứu có liên quan đến

Trang 25

đề tài luận án, giúp nghiên cứu sinh tìm hiểu và học tập nâng cao hiểu biết, kỹnăng nghiên cứu; nắm được toàn bộ quy trình, thủ tục, thứ tự các bước tiếnhành, triển khai nghiên cứu và lôgíc kết cấu một đề tài, công trình khoa học.Mỗi công trình của các tác giả có hướng nghiên cứu nhất định, với mộtđối tượng nghiên cứu cụ thể Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trìnhnghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu, luận giải một cách cơ bản, hệ thống vềĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ Quânđội nhân dân Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành xây dựng Đảng và Chính

quyền Nhà nước Do đó, đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay” có hướng nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các

công trình khoa học đã được công bố

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ QUAN KHẢO

THÍ

VÀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO

Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI

2.1 Cơ quan khảo thí; đội ngũ cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

2.1.1 Các học viện, trường sĩ quan; cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

2.1.1.1 Khái quát về các học viện, trường sĩ quan quân đội

Từ khi Trường Quân chính kháng Nhật (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1)

- nhà trường đầu tiên của Quân đội ta được thành lập (4 - 1945) đến nay, hệthống nhà trường quân đội không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chấtlượng Hiện nay, tổ chức hệ thống nhà trường quân đội gồm: các HV, TSQ,trường đại học và các đơn vị được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học; các trường

Trang 26

cao đẳng, trường trung cấp; các trường quân sự quân khu, quân đoàn vàTrường Quân sự Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội và Trường Quân sự Bộ Tư lệnhthành phố Hồ Chí Minh; các trung tâm giáo dục nghề nghiệp

Trong hệ thống nhà trường quân đội, có 21 HV, TSQ, trong đó có: “9

HV, TSQ trực thuộc Bộ Quốc phòng và 12 HV, TSQ trực thuộc tổng cục, các

quân chủng, binh chủng và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng” [Phụ lục 1.1] Các

HV, TSQ quân đội là những trung tâm đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB cho Quânđội và tham gia đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, là nhữngtrung tâm nghiên cứu khoa học hàng đầu về ngành và chuyên ngành của Quânđội, Quốc gia; hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của QUTƯ, Bộ Quốcphòng, đảng ủy và thủ trưởng cấp trên, sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quanchức năng; có tư cách pháp nhân, thực hiện chức năng, nhiệm vụ chủ yếu làGD-ĐT, nghiên cứu khoa học, xây dựng nhà trường chính quy, cấp văn bằng,chứng chỉ theo quy định của Nhà nước

Tổ chức, biên chế của các HV, TSQ quân đội được quy định tại Điều

7, chương 2, Điều lệ Công tác nhà trường QĐND Việt Nam [13] gồm: bangiám đốc (ban giám hiệu); cơ quan quản lý GD-ĐT; khoa, bộ môn; đơn vịquản lý học viên; cơ quan, đơn vị, cơ sở phục vụ GD-ĐT (nếu có)

Ban giám đốc (ban giám hiệu) gồm: giám đốc (hiệu trưởng), các phógiám đốc (phó hiệu trưởng), chính ủy, phó chính ủy Cơ quan quản lý GD-ĐTgồm: cơ quan đào tạo, cơ quan đào tạo sau đại học, cơ quan khảo thí và đảmbảo chất lượng GD-ĐT Các khoa giáo viên được biên chế gồm các tổ bộmôn Các đơn vị quản lý học viên gồm: các hệ và tiểu đoàn quản lý học viên

Cơ quan, đơn vị, cơ sở phục vụ GD-ĐT (phòng khoa học, phòng chính trị,phòng hậu cần, phòng kỹ thuật, văn phòng, viện nghiên cứu…)

Về tổ chức đảng: ở các HV, TSQ quân đội lập đảng bộ Đảng ủy ở các

HV, TSQ quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng là cấp ủy trực thuộc QUTƯ, cósố lượng từ 9 - 17 ủy viên Đảng ủy HV, TSQ quân đội trực thuộc các quân

Trang 27

chủng, binh chủng, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, tổng cục là cấp ủy cấptrên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng, có số lượng từ 9 - 15 ủy viên

Ở các HV, TSQ quân đội, tổ chức cơ sở đảng (đảng bộ cơ sở, chi bộ cơsở) được thành lập ở các phòng (ban), khoa, hệ, tiểu đoàn trực thuộc; đảng ủy,chi ủy của các tổ chức cơ sở đảng nói trên là cấp ủy cơ sở có số lượng từ 5 -

15 ủy viên; trực thuộc đảng bộ cơ sở có các chi bộ được thành lập tương ứngvới các ban, tổ bộ môn, đại đội và đơn vị tương đương

Các tổ chức quần chúng (đoàn thanh niên, công đoàn cơ sở, chi hội phụ

nữ cơ sở) và hội đồng quân nhân ở các HV, TSQ quân đội được thành lập ởcác phòng, khoa, hệ, tiểu đoàn

Chức năng, nhiệm vụ của các HV, TSQ quân đội được quy định tại Điều 9,

chương 2, Điều lệ Công tác nhà trường QĐND Việt Nam [13] như sau:

Chức năng: các HV, TSQ quân đội có tư cách pháp nhân, thực hiện

nhiệm vụ GD-ĐT, nghiên cứu khoa học, xây dựng nhà trường quân đội chínhquy, cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định của Nhà nước, Bộ Quốc phòng;hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của QUTƯ, Bộ Quốc phòng, Bộ TổngTham mưu, Tổng cục Chính trị, Đảng ủy và Thủ trưởng cấp trên, sự hướngdẫn nghiệp vụ của cơ quan chức năng

Nhiệm vụ:

Tổ chức các hoạt động GD-ĐT, nghiên cứu khoa học theo nhiệm vụ, nộidung, chương trình, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng

và an ninh, bồi dưỡng năng lực thực hành cho cán bộ, nhân viên chuyên mônnghiệp vụ, kỹ thuật, hạ sĩ quan, binh sĩ theo yêu cầu của Quân đội

Tuyển chọn học viên theo tiêu chuẩn, chỉ tiêu, quy định của Bộ GD-ĐT,

Bộ Quốc phòng và các bộ, ban, ngành để gửi đào tạo tại các trường trong hệthống giáo dục quốc dân và nước ngoài; thực hiện nhiệm vụ liên kết, hợp tác,tham gia GD-ĐT, nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế

Trang 28

Nghiên cứu, ứng dụng, phát triển hoạt động khoa học và công nghệ,khoa học quân sự, khoa học xã hội nhân văn, khoa học chuyên ngành phục vụquân sự, hợp tác trao đổi trong GD-ĐT.

Tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch góp phần bảo

vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Xây dựng đảng bộ nhà trường trong sạch vững mạnh, xây dựng nhàtrường vững mạnh toàn diện, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụđược giao

2.1.1.2 Cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

-Điều 6, chương 2, -Điều lệ Công tác nhà trường QĐND Việt Nam [13]quy định cơ cấu, tổ chức các nhà trường quân đội gồm: ban giám đốc (bangiám hiệu); cơ quan quản lý GD-ĐT; khoa, bộ môn; đơn vị quản lý học viên

và một số cơ quan, đơn vị, cơ sở phục vụ GD-ĐT Trong đó, cơ quan quản lýGD-ĐT gồm: phòng đào tạo, phòng sau đại học, phòng (ban) khảo thí và bảođảm chất lượng GD-ĐT

Trước yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng GD-ĐT trong các nhà trườngquân đội, Bộ Tổng Tham mưu đã ra Quyết định số 1737/QĐ-TM [15]; theo đó,

cơ quan khảo thí và bảo đảm chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội đượcthành lập, trực thuộc ban giám đốc (ban giám hiệu), hoạt động dưới sự lãnhđạo, chỉ đạo của đảng ủy, ban giám đốc (ban giám hiệu) HV, TSQ quân đội,cấp ủy, chỉ huy cấp mình và chịu sự chỉ đạo của cơ quan nghiệp vụ cấp trên, làlực lượng nòng cốt, trực tiếp tham mưu cho đảng ủy, ban giám đốc (ban giámhiệu) HV, TSQ quân đội về công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT

Tổ chức biên chế cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội được quy định tại Quyết định số 1737/QĐ - TM

[15] gồm: Học viện Quốc phòng, Học viện Kỹ thuật quân sự, Học viện Quân ythành lập phòng khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT (không biên chế ban),

tổ chức đảng là chi bộ, các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân được

Trang 29

thành lập ghép; biên chế các chức danh trưởng phòng, phó trưởng phòng và cáctrợ lý Các HV, TSQ quân đội khác thành lập ban khảo thí và đảm bảo chấtlượng GD-ĐT, tổ chức đảng là chi bộ, các tổ chức quần chúng và hội đồng quânnhân được thành lập ghép; biên chế các chức danh trưởng ban, phó trưởng ban

và các trợ lý

Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội được quy định tại Điều 17, chương 2,

Điều lệ Công tác nhà trường QĐND Việt Nam [13] như sau:

Chức năng: cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT là cơ quan tham mưu cho đảng ủy, ban giám đốc (ban giám hiệu) các HV, TSQ quân đội

về công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT; chịu sự lãnh đạo củađảng ủy trường, sự chỉ huy, chỉ đạo trực tiếp của giám đốc, hiệu trưởng và chỉđạo nghiệp vụ của cơ quan cấp trên

Nhiệm vụ:

Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chủ trương, chính sách và văn bảnchỉ đạo công tác khảo thí và bảo đảm chất lượng GD-ĐT của Nhà nước, BộQuốc phòng và cơ quan quản lý trường; quản lý nghiệp vụ khảo thí và kiểm địnhchất lượng GD-ĐT trình giám đốc, hiệu trưởng phê duyệt; phối hợp với các cơquan chức năng có liên quan xây dựng chuẩn đầu ra cho các đối tượng đào tạo

Tổ chức hướng dẫn xây dựng và quản lý đề thi, ngân hàng đề thi, giámsát thi, kiểm tra kết thúc học phần môn học, thi tốt nghiệp cuối khóa; phối hợpvới cơ quan đào tạo phòng (ban) quản lý đào tạo sau đại học và các cơ quan

có liên quan tổ chức thi, kiểm tra; quản lý bài thi, kết quả thi, kết quả kiểm trahọc trình (tín chỉ); giải quyết khiếu nại về điểm thi, thẩm định văn bằng,chứng chỉ theo trình tự thủ tục quy định

Định kỳ tham mưu cho đảng ủy, ban giám đốc (ban giám hiệu) về chươngtrình, kế hoạch tổ chức thực hiện đo lường, đánh giá các yếu tố tác động tới chấtlượng GD-ĐT theo những quy chuẩn nhất định của Nhà nước và Bộ Quốcphòng, làm cơ sở để đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng GD-ĐT

Trang 30

Hàng năm và định kỳ xây dựng kế hoạch công tác khảo thí và bảo đảmchất lượng GD-ĐT; tiến hành tự kiểm định, tự đánh giá và đăng ký đánh giáđồng cấp, đánh giá ngoài, triển khai xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượngbên trong trường; thực hiện việc phân tầng xếp hạng, xác định chuẩn quốc giađối với cơ sở giáo dục theo quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng

Quán triệt và thực hiện đúng quan điểm, đường lối, chính sách pháp luật vềGD-ĐT và sự chỉ đạo của cơ quan chức năng cấp trên về chuyên môn nghiệp vụ;quản lý sử dụng vật chất; kinh phí phục vụ công tác khảo thí và bảo đảm chấtlượng GD-ĐT; duy trì chu kỳ đánh giá chất lượng đào tạo của nhà trường

Xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan khảo thí và đảmbảo chất lượng GD-ĐT vững mạnh toàn diện hoàn thành tốt nhiệm vụ chínhtrị và các nhiệm vụ khác được giao

Mối quan hệ công tác của cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội.

Một là, quan hệ với Phòng khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT - Cục

Nhà trường và Cục Kiểm định chất lượng Bộ GD-ĐT là mối quan hệ giữa phụctùng và chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra Theo đó, cơ quan khảo thí và đảm bảochất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội, phải phục tùng và chấp hànhnghiêm túc sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụ của Phòng Khảo thí

và đảm bảo chất lượng GD-ĐT Cục Nhà trường và Cục Kiểm định chất lượng

Bộ GD-ĐT; đồng thời đề xuất với cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượngGD-ĐT cấp trên những nội dung liên quan đến nghiệp vụ công tác; định kỳ báocáo kết quả công tác với cơ quan nghiệp vụ cấp trên theo quy định

Hai là, quan hệ với đảng ủy HV, TSQ quân đội là mối quan hệ giữa phục

tùng và lãnh đạo Cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT phải phụctùng sự lãnh đạo của đảng ủy HV, TSQ quân đội; theo phạm vi chức năng,nhiệm vụ được giao, cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT có trách

nhiệm tham mưu, đề xuất với đảng ủy HV, TSQ quân đội những nội dung liên

Trang 31

quan đến nghiệp vụ công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT; định kỳbáo cáo kết quả công tác với đảng ủy HV, TSQ quân đội theo quy định.

Ba là, quan hệ với ban giám đốc (ban giám hiệu) HV, TSQ quân đội là

mối quan hệ giữa phục tùng và chỉ huy, chỉ đạo Cơ quan khảo thí và đảm bảochất lượng GD-ĐT phải phục tùng sự chỉ huy, chỉ đạo của ban giám đốc (bangiám hiệu) HV, TSQ quân đội; trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao,

cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT có trách nhiệm tham mưu, đề

xuất với ban giám đốc (ban giám hiệu) HV, TSQ quân đội những nội dung

liên quan đến nghiệp vụ công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT;định kỳ báo cáo kết quả công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT vớiban giám đốc (ban giám hiệu) HV, TSQ quân đội theo quy định

Bốn là, quan hệ đối với các cơ quan chức năng trực thuộc HV, TSQ

quân đội là mối quan hệ phối hợp công tác Cơ quan khảo thí và đảm bảochất lượng GD-ĐT cùng với các cơ quan chức năng trực thuộc HV, TSQquân đội thường xuyên phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ, kịp thời thông báo, trao đổi và xử lý những vấn đề có liên quanđến công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT, góp phần nâng caochất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội

Năm là, quan hệ với khoa giáo viên và các cơ đơn vị quản lý học viên trực

thuộc HV, TSQ quân đội là mối quan hệ chỉ đạo về mặt chuyên môn nghiệp vụ

và phối hợp công tác Cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT theochức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm chủ động chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra các

khoa giáo viên và đơn vị quản lý học viên về những vấn đề có liên quan đến

nghiệp vụ công tác; các khoa giáo viên và đơn vị quản lý học viên có tráchnhiệm chấp hành nghiêm túc sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụ của

cơ quan, có trách nhiệm báo cáo, giải trình những vấn đề có liên quan đếnnghiệp vụ công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT Phối hợp với cáckhoa giáo viên trong biên soạn câu hỏi thi kiểm tra, đáp án, đánh giá kết quảGD-ĐT, lấy ý kiến phản biện về hoạt động GD-ĐT; phối hợp với đơn vị quản

Trang 32

lý học viên trong công tác thi kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục, lấy ý kiếnphản biện về hoạt động GD-ĐT, khảo sát chất lượng học viên ra trường.

2.1.2 Đội ngũ cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

2.1.2.1 Quan niệm đội ngũ cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất

lượng giáo dục - đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “đội ngũ”: “Tập hợp một số đông ngườicùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng’’ [113, tr.339] Nhưvậy, đội ngũ bao hàm một số lượng người nhất định, không phải là một cánhân riêng lẻ hay là phép cộng đơn thuần những các nhân riêng lẻ lại vớinhau Trái lại, số lượng người đó có cùng chức năng, nghề nghiệp và đượcliên kết với nhau chặt chẽ thông qua những nguyên tắc, chế độ cụ thể của một

tổ chức, cho phép họ trở thành một lực lượng, một tập thể vững mạnh Quanniệm về “Cán bộ” theo Từ điển Tiếng Việt: “Cán bộ là người làm công tác cóchức vụ trong một cơ quan, một tổ chức” [113, tr.109] Luật Cán bộ, côngchức quy định: cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổnhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội nghề nghiệp Như vậy,cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy,được bầu, hoặc được bổ nhiệm, hoạt động trong các ngành, các lĩnh vực khácnhau, giữ trọng trách trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị, có tác động, ảnhhưởng quan trọng đến sự phát triển của tổ chức, cơ quan, đơn vị đó

Quân đội là một tổ chức chính trị, công cụ bạo lực của Đảng, Nhà nướcXHCN, đội ngũ cán bộ quân đội là bộ phận trong ĐNCB của Đảng, Nhànước Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam định nghĩa cán bộ quân đội:

“Thành phần chủ yếu là đội ngũ sĩ quan quân đội Theo ngành chuyên môn cócán bộ: quân sự, chính trị, hậu cần, quân y, hành chính, kỹ thuật, quân pháp theo quân hàm có cán bộ cấp tướng, cấp tá, cấp úy theo chức vụ có cán bộ

Trang 33

trung đội, đại đội, tiểu đoàn ” [12, tr.119] Điều lệ công tác nhà trường quânđội xác định cán bộ quản lý giáo dục trong nhà trường quân đội bao gồm:

Giám đốc, hiệu trưởng, chính ủy, phó giám đốc, phó hiệu trưởng,phó chính ủy; cán bộ quản lý ở các cơ sở giáo dục đào tạo; cán bộquản lý ở các phòng, khoa, ban chức năng trong trường, cán bộ quản

lý đơn vị học viên và cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý giáo dục,đào tạo tại các cơ quan giáo dục, đào tạo cấp trên [13, tr.16 -17]

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội,ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT được kiện toàn theoQuyết định số 1737/QĐ-TM [15] Đội ngũ cán bộ này có vị trí, vai trò rấtquan trọng là lực lượng tham mưu cho đảng ủy, ban giám đốc (ban giám

hiệu) ở các HV, TSQ quân đội lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành công tác khảo

thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT, góp phần trực tiếpnâng cao chất lượngGD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội

Từ luận giải trên cho thấy: cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội, là những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, có đủ phẩm chất, năng lực và điều kiện cần thiết, được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm giữ các chức danh, thuộc biên chế ở phòng (ban) khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT.

Theo đó, cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT là cán

bộ quản lý giáo dục, là những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp giữ chức sĩquan, thuộc biên chế của cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT; cónhiệm vụ tham mưu giúp đảng ủy, ban giám đốc (ban giám hiệu) ở các HV,TSQ quân đội về công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT

Từ luận giải trên có thể quan niệm: đội ngũ cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội là toàn bộ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và điều kiện cần thiết, được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm các chức vụ trưởng phòng (ban), phó trưởng phòng (ban), trợ lý thuộc biên chế ở phòng (ban) khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT; hoạt động dưới sự

Trang 34

lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của đảng ủy, ban giám đốc (ban giám hiệu)

HV, TSQ quân đội, cấp ủy, chỉ huy cấp mình và sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của cơ quan nghiệp vụ cấp trên; trực tiếp tham mưu, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT theo chức trách, nhiệm vụ được giao.

Quan niệm trên cho thấy, ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chấtlượng GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội gồm: trưởng phòng (ban), phó trưởngphòng (ban) và các trợ lý, thuộc biên chế của cơ quan; đồng thời chỉ rõ vị trí,vai trò, cơ chế hoạt động, chức trách, nhiệm vụ của ĐNCB này Thành phầnĐNCB là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đảm nhiệm chức vụ sĩ quan

2.1.2.2 Chức trách, nhiệm vụ của cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo ở các học viện,

trường sĩ quan quân đội, được quy định tại Quyết định số 1737/QĐ-TM [15]

như sau:

Một là, chức trách, nhiệm vụ của trưởng phòng (ban) khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT

Chức trách: là người chỉ huy phòng (ban) khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT; chịu trách nhiệm trước đảng ủy, giám đốc (hiệu trưởng) nhà trường, cấp

ủy, chi bộ cấp mình và sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan nghiệp vụ cấp trên về tổchức thực hiện công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT; chỉ huy, quản lýxây dựng phòng (ban) vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Nhiệm vụ:

Căn cứ vào chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, nghị quyết của đảng ủy nhàtrường, chỉ thị mệnh lệnh của giám đốc (hiệu trưởng) và nhiệm vụ của nhàtrường, tham mưu đề xuất chủ trương về công tác khảo thí và đảm bảo chấtlượng GD-ĐT, lập kế hoạch công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐTcủa nhà trường, báo cáo đảng ủy nhà trường, trình giám đốc (hiệu trưởng) phê

duyệt và triển khai thực hiện khi được phê duyệt

Trang 35

Chỉ đạo, tổ chức điều hành và triển khai kế hoạch công tác khảo thí và đảmbảo chất lượng GD-ĐT của nhà trường; tham gia chỉ đạo nội dung, chương

trình, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong nhà trường

Quản lý và thường xuyên nắm chắc tình hình mọi mặt của cán bộ, giảng

viên và học viên trong nhà trường, đề xuất chủ trương, biện pháp giải quyết

Chủ trì phối hợp, hiệp đồng với các cơ quan, các khoa giáo viên, đơn vịtrong và ngoài nhà trường có liên quan để thực hiện nhiệm vụ công tác khảo

thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT của nhà trường

Quản lý chặt chẻ tình hình mọi mặt của phòng (ban); chăm lo đời sống vậtchất tinh thần, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên mônnghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên, xây dựng phòng (ban) vững mạnh toàn diện Tiến hành sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác khảo thí và đảmbảo chất lượng GD-ĐT của nhà trường, tổng hợp tình hình báo cáo giám đốc

(hiệu trưởng) và cơ quan cấp trên, chỉ đạo cấp dưới theo chế độ quy định

Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt để đáp ứngyêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao

Hai là, chức trách, nhiệm vụ của phó trưởng phòng (ban) khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT, là cán bộ giúp trưởng phòng (ban) và

chịu trách nhiệm trước trưởng phòng (ban) về từng mặt công tác được phâncông, là người thay thế trưởng phòng (ban) khi được phân công

Ba là, chức trách, nhiệm vụ của trợ lý phòng (ban) khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT.

Chức trách: là cán bộ thuộc quyền quản lý của trưởng phòng (ban) khảo

thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT; chịu trách nhiệm trước trưởng phòng

(ban) về thực hiện các mặt công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐTcủa nhà trường và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

Nhiệm vụ:

Căn cứ vào chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, yêu cầu nhiệm vụ công tác

GD-ĐT của nhà trường, giúp trưởng phòng (ban) xây dựng kế hoạch khảo thí,

Trang 36

thanh kiểm tra và đảm bảo chất lượng GD-ĐT trong nhà trường, báo cáo trưởng

phòng (ban), trình cấp trên phê duyệt và tổ chức thực hiện khi được phê duyệt

Thường xuyên nắm chắc lịch trình, kế hoạch và hoạt động điều hành của

cơ quan đào tạo, công tác quản lý của đơn vị học viên và hoạt động giảng dạycủa các khoa giáo viên, duy trì thực hiện có nề nếp công tác thanh tra, kiểm tracác hoạt động GD-ĐT đối với các khoa, đơn vị học viên trong nhà trường Nghiên cứu đề xuất việc đổi mới nâng cao chất lượng công tác khảo thí,thanh tra, kiểm tra và đánh giá chất lượng GD-ĐT của nhà trường làm tốtcông tác tổng hợp các mặt công tác được phân công

Quan hệ phối hợp, hiệp đồng với các cơ quan, các khoa giáo viên, đơn vịtrong và ngoài nhà trường có liên quan để thực hiện nhiệm vụ công tác khảothí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT của nhà trường

Nắm chắc tình hình mọi mặt về công tác khảo thí, thanh tra, kiểm traGD-ĐT và đảm bảo chất lượng GD-ĐT trong nhà trường, báo cáo trưởngphòng (ban) và cấp trên theo quy định, tích cực tham gia các hoạt động xâydựng phòng (ban) vững mạnh toàn diện

Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt để đáp ứngyêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao

2.1.2.3 Yêu cầu cơ bản về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục

- đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

Căn cứ vào điều 17, 29, 30 Điều lệ Công tác nhà trường QĐND ViệtNam; Quy định số 842-QĐ/QU của QUTƯ và Quyết định số 1737/QĐ-TMcủa Bộ Tổng Tham mưu; trên cơ sở những yêu cầu về phẩm chất, năng lực,phương pháp, tác phong công tác của cán bộ quân đội nói chung; để đáp ứngvới sự phát triển mới của nhiệm vụ GD-ĐT và yêu cầu, nhiệm vụ công táckhảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT hiện nay, đòi hỏi cán bộ làm công tácnày phải có những yêu cầu cụ thể về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tácphong công tác như sau:

Trang 37

Một là, yêu cầu về phẩm chất

Về phẩm chất chính trị: cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc

và nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mụctiêu, lý tưởng về độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới củaĐảng Có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng, không daođộng trong bất cứ tình huống nào, kiên quyết đấu tranh bảo vệ Cương lĩnh,đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Có tinh thần yêunước nồng nàn, đặt lợi ích của Đảng, quốc gia - dân tộc, nhân dân, tập thể lêntrên lợi ích cá nhân; sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng, vì độc lập, tự docủa Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân Chấp hành nghiêm sự phân của của

tổ chức, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

Về phẩm chất đạo đức: cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT phải có phẩm chất đạo đức trong sáng; sống trung thực, khiêm tốn, chânthành, giản dị; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; đoàn kết, thương yêu đồngchí, đồng đội; luôn gương mẫu, nói, viết và làm theo đúng chủ trương, chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, qui định của Quân đội và đơn vị; tíchcực đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

Về phẩm chất nghề nghiệp: cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất

lượng GD-ĐT phải tâm huyết, trách nhiệm, trung thực trong công việc; quátrình thực thi công vụ luôn chủ động, có tính chuyên nghiệp, chuyên môn cao,

có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng, giữ vững tính đảng, tính nguyên tắc,nhưng mềm dẻo, linh hoạt, nhưng cũng không tự do, tùy tiện, vi phạm nguyêntắc, phải tuân thủ nguyên tắc tập trung, dân chủ Có tinh thần tự lực, tương trợgiúp đỡ đồng nghiệp; bản thân không tham nhũng, quan liêu, cơ hội, vụ lợi,không tham vọng quyền lực; kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, thamnhũng, lãng phí, lợi ích nhóm và các biểu hiện tiêu cực khác, nhất là tiêu cực

trong GD-ĐT, tham gia tích cực Cuộc vận động “Nói không với tiêu cực

Trang 38

trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; không để người thân, người

quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi

Hai là, yêu cầu về kiến thức, năng lực công tác

Về trình độ, kiến thức: cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT phải tốt nghiệp chương trình đào tạo theo quy định; có trình độ lý luậnchính trị, khoa học quân sự cấp chiến thuật, chiến dịch; nắm được nội dung,nguyên tắc, phương pháp tiến hành CTĐ, CTCT và các mặt công tác có liênquan; nắm vững các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và Bộ Quốcphòng về GD-ĐT; quy chế, quy trình, trương trình, mục tiêu, yêu cầu đào tạocủa các đối tượng trong nhà trường; có kiến thức quản lý GD-ĐT và nghiên cứukhoa học; có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ phù hợp theoyêu cầu từng chức danh Cụ thể, với chức danh là trưởng, phó phòng (ban): phảiđược đào tạo cán bộ cấp trung, sư đoàn ở cấp học viện với chuyên ngành phùhợp với vị trí công tác, được bồi dưỡng về nghiệp vụ công tác quản lý giáo dục,

có trình độ thạc sĩ trở lên, có trình độ bậc 3 trở lên đối với một ngoại ngữ thôngdụng, qua chủ nhiệm bộ môn, hoặc chỉ huy cấp trung đoàn hoặc chức vụ tươngđương trở lên Với chức danh là trợ lý phòng (ban): phải được đào tạo cán bộcấp trung, sư đoàn ở cấp học viện với chuyên ngành phù hợp với vị trí công tác,được bồi dưỡng về nghiệp vụ công tác quản lý giáo dục, có trình độ đại học trởlên, có trình độ bậc 3 trở lên đối với một ngoại ngữ thông dụng

Về năng lực công tác của cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT phải bảo đảm tốt Đó là năng lực quán triệt và tổ chức thực hiện hiệuquả các chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên về công tác khảo thí và bảo đảm chấtlượng GD-ĐT Có năng lực nghiên cứu, tham mưu, đề xuất, xây dựng và tổchức thực hiện kế hoạch công tác Có năng lực phân tích, tổng hợp, đánh giátình hình thực tiễn và dự báo tốt Có năng lực phối hợp, hiệp đồng, khả nănggiao tiếp tế nhị, xử lý tốt các mối quan hệ trong và ngoài đơn vị

Ba là, yêu cầu về phương pháp, tác phong công tác

Trang 39

Cán bộ cơ quan khảo thí và bảo đảm chất lượng GD-ĐT phải có phươngpháp làm việc khoa học, dân chủ, đúng nguyên tắc: làm việc theo kế hoạch,tính khoa học cao, chủ động giải quyết công việc một cách chính xác, phùhợp với từng tình huống, từng nhiệm vụ cụ thể Có tác phong quần chúng, sâusát, gần gũi, nói đi đôi với làm, dân chủ trong mọi hoạt động; có thái độ ứng

xử đúng đắn, linh hoạt trong từng tình huống cụ thể, sắc sảo trong thực hiệnnhiệm vụ và trong cuộc sống; xử lý tốt các mối quan hệ trong và ngoài nhàtrường, thường xuyên giúp đỡ đồng chí đồng đội

2.1.2.4 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

Một là, ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT được

hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, đa dạng về thành phần, cấp bậc, chức vụ Đội ngũ cán bộ cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các

HV, TSQ quân đội được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau: từ ĐNCB côngtác ở các cơ quan, đội ngũ giảng viên ở các khoa, cán bộ quản lý học viên,học viên đào tạo vòng hai tốt nghiệp được giữ lại trường, cán bộ chuyển vùng

từ nơi khác về (27,8% cán bộ cơ quan, 36,2% qua giáo viên, 17,3% cán bộ

quản lý học viên) [Phụ lục 3.3] Thực tế, nguồn bổ sung cho đội ngũ này hiện

nay rất đa dạng và phong phú Với yêu cầu, nhiệm vụ và sự phát triển mới của

công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT đòi hỏi ĐNCB làm công tác này phải có kiến thức và kinh nghiệm về quản lý GD-ĐT và khả năng tham

mưu tốt; trong khi đó ngoài số cán bộ được tạo nguồn từ cơ quan, thì ĐNCBđược tạo nguồn và điều động từ nơi khác về cơ quan còn có những hạn chếnhất định về yêu cầu này

Thành phần ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở

các HV, TSQ quân đội hiện nay là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đảmnhiệm chức vụ sĩ quan, gồm các chức vụ: trưởng phòng (ban), phó trưởng

phòng (ban) và các trợ lý ĐNCB này đan xen giãn cách lớn về tuổi đời, tuổi

quân; bình quân trong năm năm: có 24,3% dưới 35, có 36,1% từ 35 - 44 tuổi,

Trang 40

có 22,5% từ 45 - 50 tuổi, có 17,1% từ 51 tuổi trở lên; tuổi quân: có 26,4%dưới 20 năm, có 35,7% từ 21 - 25 năm, có 38,3% từ 26 năm trở lên [Phụ lục3.1] Cấp bậc quân hàm, cấp úy chiếm 26,5%, thiếu, trung tá chiếm 33,2%,thượng, đại tá chiếm 40,5% [Phụ lục 3.1] Thực tế đó đòi hỏi, đảng ủy, bangiám đốc (ban giám hiệu), cấp ủy, chỉ huy các cấp ở các HV, TSQ cần cónhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng công táctạo nguồn, tuyển chọn ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-

ĐT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ GD-ĐT ở các HV, TSQ quân đội hiện nay.

Hai là, ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng

GD-ĐT được đào tạo rất cơ bản, tuy nhiên, phần lớn chưa được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về công tác quản lý giáo dục và chuyên môn nghiệp vụ công tác khảo thí và bảo đảm chất lượng GD-ĐT

Hiện nay, ĐNCB cơ quan khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT ở các

HV, TSQ quân đội được đào tạo rất cơ bản, với nhiều chuyên ngành đào tạokhác nhau, chủ yếu là đào tạo theo một chuyên ngành chính ở các HV, TSQquân đội; ĐNCB hiện nay có trình độ học vấn cao: “36,7% đại học, 51,1%thạc sĩ, 12,2% tiến sĩ” [Phụ lục 4.2], cơ bản đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ.Qua học tập, công tác và rèn luyện thực tiễn đội ngũ này luôn có động cơphấn đấu đúng đắn, trách nhiệm cao trong công việc, khả năng tư duy độc lập,

có phương pháp, tác phong làm việc khoa học

Tuy nhiên, do công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng GD-ĐT là công việc rất phức tạp, đòi hỏi ĐNCB làm công việc này phải có trình độ nghiệp vụ

chuyên môn sâu, phải được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về chuyên ngànhquản lý giáo dục nói chung và ngành khảo thí nói riêng Trong khi đó, số cán

bộ được đào tạo chuyên ngành quản lý GD-ĐT và khảo thí rất ít, nhiều trườngchưa có cán bộ được đào tạo cơ bản theo chuyên ngành quản lý giáo dục vàcông tác kiểm định đánh giá chất lượng GD-ĐT; số cán bộ có nhiều kinhnghiệm thực tiễn, nhất là kinh nghiệm chiến đấu ngày một giảm, đến nay chỉ

Ngày đăng: 09/02/2021, 06:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w