1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 7

Sự phù hợp tự đánh giá về lĩnh vực nhận thức trong quá trình học môn giáo dục học của sinh viên trường đại học Sư phạm Hà Nội

4 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 745,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không chỉ giáo viên mà cá nhân người học với tư cách là chủ thể có ỷ thức cũng luôn tự đánh giá (TĐG) về tĩnh vực nhộn thức của mình trong quá trình HT để bỉết được khâ nãng HT [r]

Trang 1

su PHÒ HỊỊP IU DANHGIA IỊỈ LĨNH vực NHẬN ĨH0C IRONẼ QUÁ TRINH HỌC MÔN GIÁO DỤG HỌC CÙA SINH VIÊN

TRƯONG ĐẠI HỌC • • sư PHẠM HÀ NỘI• •

o ThS NGUYỀN THỊ THANH TRÀ*

Các mục tiêu về nhộn thức trong học tạp (HT)

luôn được giáo viên quan tâm hàng đầu, vì

dựa vào đó, họ có thể đánh giá (ĐG) đưạc

khả nãng HT và thành quâ HT của người học Không

chỉ giáo viên mà cá nhân người học với tư cách là

chủ thể có ỷ thức cũng luôn tự đánh giá (TĐG) về

tĩnh vực nhộn thức của mình trong quá trình HT để

bỉết được khâ nãng HT của mình, từ đó điều chỉnh

hoạt động HT nhằm đạt mục đích đã đề ra

SựTĐG phù họp về khá nãng nhộn thức của bàn

thân trong quá trình HT nói chung và khi học Giáo

dục học (GDH) nói riêng là một điều kiện quan trọng

để sinh vỉên (SV) đạt thành tích cao trong HT Nếu

tự Đ G thấp bàn thân khỉ học môn học có thể khiến

cá nhân bỉ quan, chán nán, không nỗ lực vượt

qua những khó khân mà môn học đem lại Ngược

lại, TĐG cao khá nãng nhộn thức của mình lại

lchỉến cá nhân dễ thốt bạỉ do không đủ nãng lực

đạt được các mục tiêu của môn học Do đó, không

hiểu đúng mức độ nhộn thức của bản thân, ĐG

thốp hay cao đều ánh hưởng đến thành quâ HT

môn học của cá nhân Vì vây, nhà giáo dục nói

chung và những ngườỉ gỉâng dạy GDH nói riêng

cần phâỉ biết s v có tự tin ở mình trong HT hay

không, họ có Đ G đúng khá nãng nhạn thức của

mình hay không, có như vây mói có thể hiểu và

gỉúp s v HT môn học này có kết quà cao

1 Khái niệm TĐ G về tĩnh vục nhân thức

Lĩnh vực nhộn thức đề cộp ở đây là nhạn thức

trong HT, được chúng tôi sử dụng theo quan điểm

của B s Bloom, là lchái niệm dùng để chỉ kết quâ

của hoạt động HT, tạp trung ả một kiến thức và

các kĩ nãng tư duy mà người học đạt được sau

quá trình HT Lĩnh vực nhộn thúc này được Bloom

cùng các cộng sự của ông phân chia làm 6 mức

độ, sắp xếp từ thấp đến cao theo thứ tự như sau:

biết - thông hiểu - vạn dụng - phân tích - tổng

hợp - ĐG

Tử cách hiểu trên về nhộn thức, chúng tôi cho

rằng, TĐG về lĩnh vực nhận thức là quá trình chủ

thể thu thập, xử lí thông tin về hoạt Ổộng nhận thức trong HT của chính mình, chỉ ro được các mức độ nhận thức có ở bán thân, từ đó có thái

độ, hành động phù hợp nhằm tự điều chỉnh hoạt động HT để đạt thành tích HT tốt nhốt.

Như vây, TĐG về tĩnh vực nhộn thức trong HT

có đối tượng ĐG là hoạt động nhộn thức của người học, mà cụ thể fĩnh vực nhộn thức này tạp trung ỏ mạt tri thức và các kĩ nãng tư duy dùng

để tiến hành HT đã được Bloom chia làm 6 mức

độ như đã nói ở trên

GDH là môn nghiệp vụ trong các nhà trường

sư phạm có đặc trưng vừa mang tính lí luân lại có tính thực tiễn cao; yêu cầu ca bán của môn học là

s v phái nhó tri thức, hiểu bản chốt của tri thức và trên cơ sỏ đó có thể sử dụng những tri thức của môn học vào hoạt động dạy học và giáo dục trong thực Hen, nên trong quá trình tìm hiểu TĐG

về tĩnh vực nhộn thức trong HT môn này của s v ,

chúng tôi chỉ tạp trung làm rõ sự phù hạp TĐG ở

3 mức độ đầu là biết, hiểu, và vận dụng Mức

độ «biêV' độc trưng ả lchâ nang nhớ tri thức; «hiểu"

là khá nãng nắm được ý nghĩa và mối quan hệ giữa các tri thức; còn «vộn dụng" độc trưng là sử dụng tri thức vào các tình huống mới

Để tìm hiểu sự phù hợp TĐG về lĩnh vực nhộn thức trong quá trình học môn GDH của s v trường ĐHSP Hà Nội, trước hết chúng tôi tìm hiểu thực trạng TĐG về tĩnh vực nhộn thức ở các mức độ biết, hiểu, vạn dụng của s v khi học môn đó Việc này được tiến hành trên cơ sả khâo sát ý kiến s v dựa trên bộ công cụ mà chúng tôi thiết kê theo các tiêu chí về biết, hiểu, vạn dụng mà Bloom đã đưa ra Tiếp theo chúng tôi sử dụng bài TN KQ

* Khoa ĩám li Giao dục, Trưởng Bại học sư phạm Há Nội

Tạp chi Giảo dục sổ 249 (ki 1 -11/2010)

Trang 2

về GDH gồm 50 câu được thiết kê tạp trung đo 3

mức độ đổu của lĩnh vực nhộn thức là biết, hiểu

và vạn dụng, trong đó mục tiêu biết bao gồm 24

câu; mục tiêu hiểu gồm 10 câu; mục tiêu vạn dụng

gồm 1 6 câu Bài kiểm tra này được cho điểm tfieo

trọng số Điểm sô này sau đó được phân làm 3

mức: mức điểm trung bình, mức điểm thấp và mức

điểm cao (dựa theo điểm trung bình và độ lệch

chuẩn) So sánh điểm trung bình TĐG về nhộn thức

của sv theo điểm sô bài TNKQ thu được sẽ cho ta

biết sự phù họp về TĐG của s v so với thực tế

2 Thực trạng TĐ G lĩnh vực nhộn thức trong

quá trình học môn G D H của sv Trường ĐHSP

Hà N ội

Kết quâ nghiên cứu TĐG lĩnh vực nhộn thức

trong quá trình học môn GDH ổược rút ra từ kết

quá khào sát trên 200 sv gồm 6 khoa Toán, Lí,

Hóa, Sinh, Đ ịa, CNTT Trường ĐHSP Hà Nội (nãm

học 2009-2010) Biểu đồ 1dưới đây mô tâ mức

độ TĐG về biết, hiểu, vân dụng trong quá trình

học giáo dục học của sv ĐHSPHN

Biểu đồ ì Điểm trung bình TĐG về biết, hiểu,

vận dụng của s v khi học GDH

2.5

2.4

2.3

2.2

2.1

2

2.28 2.19

Hiểu

TĐG

biệt ý nghĩa về TĐG của sv khoa Sinh với các khoa khác, TĐG của khoa Sinh về biết, hiểu, vạn dụng là

cao nhốt và khoa Hóa là thấp nhốt (bảng /).

Bảng / So sánh điểm trung bình TĐC về biết, hiểu, vận dụng của sv các khoa

(N)

TĐG về biết, hiểu, vận dụng Mức dộ

khác biệt

Điểm trung bình Độ lệch

chuan Toán 45 2.07 0.393

.000

CNTT 25 1.84 0.624

Hóa 30 1.67 0.547 Sinh 35 2.26 0.443 Địa 35 1.97 0.514

Vạn dụng chung

Q ua biểu đồ, có thể thấy sv ĐHSPHN có mức

độ TĐG nói chung vể biết, hiểu, vạn dụng trong

quá trình học GDH ở mức trung bình (ĐTB = 2 ,28)

Điểm trung bình của TĐG về các yếu tố trên đều

nằm ở phía trên của biểu đồ trong khoáng từ

điểm 2 đến 3 (h) đôi khi đúng, đúng một phổn/

đồng ỷ một phồn đến thường xuyên đúng như

vây/đồng ý về cơ bản) Trong các yếu tô biết,

hiểu, vân dụng thì biết và hiểu có mức độ TĐG

thấp nhốt (ĐTB = 2 ,1 9 ), tiểu thang đo vân dụng

đạt mức cao nhất (ĐTB = 2,47) Mộc dù «biết"

được coi là mức độ nhộn thức ở bộc thấp nhốt, ở

mức độ này chủ yếu người học huy động trí nhó

để ghi nhó những kiến thức cơ bản của môn học

Song sv trường ĐHSPHN lại ĐG không cao khá

nãng của mình ở mức độ này Điều này cho thây,

sv không được tự tin khỉ học môn học này, việc

ghi nhớ kiến thức của môn học cũng là một trở

ngại lớn đối với việc HT của họ

So sánh TĐG chung về 3 yêu tô biết, hiểu, vạn

dụng giữa các khoa, vái p = 0,000 thấy có sự khác

Tạp chi Giảo dục sỗ 249 (ki 1 -11/2010)

Tóm lại, có thể khổng định rằng TĐG của sv

về tĩnh vực nhộn thức trong HT GDH về biết, hiểu, vân dụng đạt mức trung bình Trong các yếu tô

đó thì yếu tô «biêt" và «hiểu" có mức độ TĐG thấp nhốt, còn «vộn dụng" là yếu tô có mức độ TĐG cao nhốt Có sự khác biệt về TĐG lĩnh vực nhộn thức giữa các khoa trong trường: sv khoa Sinh có TĐG cao hơn các khoa còn lại, và sv khoa Hóa có TĐG thấp nhốt

3 Sự phù hợp TĐ G cú a sv về lĩnh vực nhộn thức trong HT môn GDH

3 1 S ự phù hợp ĨĐ G của s v ở mức độ « b iêY

Chúng tôi lốy điểm TN KQ về mức độ «bỉêV/

để xem xét sự phù hợp của TĐG ở mức độ này cho sv Kết quâ này thể hiện cụ thể qua báng 2.

Bàng 2 So sánh TĐC của s v về mức độ «biết" với Ổiểm TNKQ tương ứng

TĐG mức độ ubiếr

Tổng

Thấp Trung bình Cao

Điểm TNKQ mức độ “b ié í

Trung bình

17 104 20 141

Bàng 2 cho thấy, có 1 1 1 /2 0 0 sv (chiếm 55,5%) là có sự TĐG phù hạp với thực tê kết quâ TNKQ tương ứng, còn lại 44,5% là Đ G không phù hợp Trong sô này có 47 sv (23,5%) có TĐG thốp han so với thực tế, đó là nhửng s v có TĐG trung bình có điểm cao và TĐG thấp lại có điểm trung bình hoạc cao Có 22% s v Đ G minh cao han so với thực tế, tức là những s v có TĐG cao nhưng điểm thực lại chỉ đạt mức trung bình hoạc

thấp Số lượng s v Đ G phù hạp chỉ đạt 55,5% -

một tì lệ trung bình, còn sô lượng s v Đ G chưa

Trang 3

phù hạp ả mức độ «biết" là tương đối cao cho

thây sv thường ĐG sai lệch khả nãng nhạn thức

của minh so với thực tế

Nếu xét theo nhóm ta thấy: nhóm s v TĐG mình

ả mức trung bình có mức độ phù hợp cao nhốt

gồm 104 s v (chiếm 52% so vói tổng sô s v được

khâo sát) Nhóm s v TĐG thấp có 5 s v ĐG phù

hạp chiếm 2,5% trên tổng số s v Nhóm s v TĐG

mình ở mức độ cao có 2 s v (1%) ĐG phù hợp

Như vạy, ở mức độ «biêY' nhửng s v ĐG mình

cao hay thấp đều có mức độ phù hạp thấp Điều

đó cho thây, những s v thiếu tự tin hoặc tự tin

quá mức đều Đ G sai khá nãng nhộn thức của

mình Độc biệt, những s v có TĐG cao lại là những

s v dễ gộp thốt bại trong HT han cả

3 2 Sự phù hợp TĐG của s v ở mức độ «hiểu*

Bâng 3 cho kết quâ tổng hạp về sự so sánh

giữa TĐG của s v ở mức độ «hiểu" với điểm TNKQ

tương ứng trong quá trình học môn GDH

Báng 3 So sánh TĐC của s v về mức độ «hiểu"

với điểm TNKQ tương ứng

TĐG mức dộ uhiểu”

Tổng

Thấp Trung binh Cao

Điểm TNKQ

mức độ “hiểu”

Trung bình

20 98 18 136

Có 107 s v trong mỗu nghiên cứu (53,5%) là

có TĐG phù hợp ở mức độ «hỉểu", và có tới

46,5% s v không Đ G phù hợp vối thực fế Trong

số s v Đ G không phù hợp thì có 52 s v (26%)

Đ G mình thấp hơn thực tế và 20,5% ĐG cao

han khâ nãng thực

So sánh mức độ phù hợp giữa các nhóm TĐG

ta thấy mức độ phù hợp về «hỉểu" của nhóm s v

có TĐG trung bình đạt 98 s v (chiếm 49% so vói

tổng số SV), nhóm s v TĐG thấp có 4 s v ĐG phù

hợp (2%), còn nhóm s v TĐG cao có mức độ phù

hợp là 2,5% (5 SV) Như vây, nhóm s v có mức

TĐG trung bình về khâ nãng «hiểu" có mức độ

phù hợp cao hơn cà

Tóm lợi, ở mục tiêu «hỉểu", những s v có TĐG

trung bình có mức độ TĐG phù hợp tốt hơn so vói

s v có TĐG cao hoạc thấp

3 3 S ự phù hợp TĐG của s v ỏ mức ổộ

«vận d ụ n g*

Dựa trên kết quá của báng 4 ta thấy: 117 s v

(58,5%) có sự Đ G phù hợp ở mức độ «vộn dụng",

còn 41,5% sô s v được hỏi có ĐG không phù

hợp vói thực tê Trong sô sv Đ G không phù hợp thì sô sv ĐG thấp so với thực tế chiếm 23,5% , còn sô sv có Đ G cao han thực tế là 18%

Bàng 4 So sánh TDC của s v về mức độ «vận dụng" v ớ i Ổiêm TNKQ tương ứng

TĐG mức độ uvận dụng”

Tổng

Thếp Trung

binh

Cao

Đièm TNKQ mức ơộ uvận dụng”

Trung binh

14 109 13 136

Cao ' 2 31 4 37

So sánh điểm trung binh về TĐG giữa các nhóm thây mức độ phù hợp với thực tế của nhóm

dụng chiếm tì lệ khá cao 109 sv (chiếm 54,5%

trên tổng sô SV) Nhóm s v có TĐ G thấp và cao

có mức độ phù hạp đạt 2% cho mỗi nhóm.

3 4 Sự phù hợp TĐG củ a sv chung ở c á 3 mức «biết, hiểu, vận d ụ n g ”

Bảng 5 So sánh ĨĐ G của s v vê 3 mức độ

«biết, hiểu, vận dụng" với điểm TNKQ tương ứng

TĐG mức độ

“biết, hiểu, vận dụng”

Tông

Thấp Trung

binh

Cao

Diêm TNKQ chung 3 mức độ

Trung bình

16 106 16 138

Bâng 5 cho kết quâ sự phù hạp về TĐG của

sv chung cho cỏ 3 mức độ biết, hiểu, vân dụng

so vói điểm kiểm tra TN KQ Có 112 (56%) s v tự

ĐG phù hợp váỉ thực tế, 44 s v (22%) Đ G mình thấp hơn thực tê và cũng có số lượng tưang tự sv (22%) ĐG mình cao han thực tế

Nếu xét sự phù hợp TĐG về biết, hiểu, vạn

dụng theo nhóm TĐG ta thấy: nhóm s v TĐG đo\

mức trung bình có TĐG phù hợp cao hơn các nhóm khác, tì lệ phù hạp đạt 53% so vớỉ tổng số

s v , nhóm có TĐG thấp chỉ đạt mức độ phù hợp

là 1 %, còn nhóm có TĐG cao có múc độ phù hợp

là 2% Nhìn chung tỉ lệ phù hạp của nhóm s v có

TĐG tháp cao đều rất thấp Phần lán s v trong

2 nhóm này không ĐG chính xác về bàn thân Thêm vào đó, ta cũng nhộn thấy: chỉ có 32

s v (16%) là có kết quả điểm TN KQ ở mức độ cao, còn tới 30 sv (15%) có điểm thấp và số

Tạp chi Giảo dục sổ 249 (kÉ 1 - 11 / 3010 )

Trang 4

lượng s v đạt điểm trung bình là cao nhốt: 1 38

sv (69%) Điều này cho thây, kết quà chung về

biết, hiểu, vạn dụng mà sv đạt được khi học

môn giáo dục học là ở mức trung bình

Nếu xét sự phù hợp về TĐG theo khoa (xem

báng 6), ta thây sv các khoa Toán, Sinh vốn có

TĐG về «biết/ h iểu, vạn dụng" cao han so vói

các khoa khác thi cũng là những khoa có mức độ

phù hợp về tự Đ G cao nhốt, còn khoa Lí và CNTT

có độ phù hợp về TĐG thấp nhốt Riêng khoa

Hóa thường có TĐG thấp nhốt so với các khoa thì

mức độ phù họp lọi đạt mức trung bình khá

Báng 6 Sự phù hợp TĐC củo s v về 3 mức độ

«biết, hiểu, vận dụng" với điểm TNKQ theo khoa

K h oa P h ù hợp

TĐ G thâp hơn thực tế

T Đ G

c a o hơn thưc tế

Tổ ng

C N T T 12(4 8 % ) 9 4 25 (1 0 0 % )

Si n h 2 2 (6 3 % ) 1 12 35 (1 0 0 % )

Tổ ng 112 44 44 200

Ngoài ra, qua bàng 6 ta củng thốy, khoa

ĩó á n và Sinh thường có TĐG về «biết/ hiểu, vạn

dụng" cao han các khoa khác lại chính là những

khoa có nhiều sv có điểm thực tế thốp han so

VỚI TĐ G (mỗi khoa có 12 SV) Còn khoa Hóa

thường TĐG thấp lại là khoa có nhiều sv nhốt

có điểm thực tế cao hom so với TĐ G Như vây,

những s v có TĐG thấp thường đạt kết quâ HT thực tê tốt han Còn những s v có TĐG cao có thể vì không lường hết được những khó khãn

x ả y đến vái mình trong HT nên đà không đạt được kết quả HT như mong muốn

** *

Q ua những điều đã trình bày ở trên có thể kết luân rằng: s v trường ĐHSP Hà Nội có mức độ TĐG về 3 một biết, hiểu, vạn dụng trong quá trình học GDH ở mức độ trung bình Sô lượng s v TĐG phù hạp về khả nãng biết, hiểu, vân dụng trong quá trình học giáo dục học chưa cao, sô

s v có TĐG không phù hợp chiếm tỉ lệ tưang đối lán, trong đó có nhừng s v TĐG cao nhưng lại có điểm thực tê thấp và một sô s v TĐG thấp lại có điểm thực tê cao Có sự khác nhau giữa các khoa

về mức độ phù hợp của TĐG về «biết/ hiểu, vạn dụng", s v khoa Sinh có TĐG cao han là khoa có mức độ Đ G phù hợp tót hơn Tỉ lệ phù hợp cao chủ yếu tạp trung ở nhóm s v có TĐG bân thân ở mức trung binh □

T à i liệu tham khảo

1 Bloom s Nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục (lĩnh vực nhận thức) Nguởi dịch: Đoàn Văn Điẻu

N X B G iáo dục y H 1995.

2 L ê Ngọc Lan C ơ sở tâm lí của giáo dục và tự giáo

dục Bài giảng dành cho sinh viên cao học 2004.

3 Vũ Thị Nho “Tìm hiểu khái niệm “Tựđánh g iá ” Tạp chí Tâm lí học, số 3, 1998.

4 Nguyễn Quang ưẩn (chủ biên) T â m lí học đạỉ

cương N X B Đ ại học quốc gia Hà N ội, 2003.

Rèn luyện năng lực phản biện

(Tiếp theo trong 20)

3 Q ua trao đổi với sv, chúng tôi nhộn thấy

hầu hết các em đều thích kiểu tổ chức phân biện

như vộy Các ý kiến đều tạp trung cho rằng các

em đã được rèn luyện nãna lực phát hiện vân đề,

nãng lực nhộn xét, nãng ĩực lộp luân - báo vệ,

nãng lực diễn đ ạ t một cách thú vị và đầy hào

hứng Nâng lực tụ điều chỉnh đồng thời cũng được

bồi dưỡng Một số sv đạt câu hỏi để nhộn xét

nhưng lúng túng trong diễn đạt, một số khác thì

phát hiện vốn đề để nhộn xét nhóm giảng tạp

chưa chính xác (chổng hạn người giảng tạp làm

đúng nhưng người nhộn xét lọi cho rằng như vây

là chưa tố t ) đều nhộn ngay sự «phân ứng" rốt

nhanh từ các bạn khác, buộc phâi tự điều chình

hoặc nhộn thức lọi vốn đề Nhóm sv giảng tạp

nếu không trá lời được câu hỏi của các bạn coi

Tạp chí Giảo dục sổ 249 (kì 1.11/2010)

như tự thừa nhộn mình làm chưa tốt, chưa hay; còn nếu lộp luân bâo vệ được «sản phẩm" của mình thì các nhóm khác cũng «tâm phục khấu phục" Do đó, sv câm thấy thích thú, hào hứng trong các giờ thực hành, tâm lí thoải mái, không

e ngại khi bị chỉ định giáng tạp ch ất lượng giờ thực hành vì thê cũng được nâng cao

D ạy cho sv TDPB ngay trong quá trình học tâp là bưóc chuổn bị cổn thiết cho việc tạo ra những «sán phổm" giáo dục chốt lượng cao, có bân tĩnh chuyên môn và sáng tạo, thiết nghĩ đó cũng là một trong nhửng «chìa khóa" nhằm đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay □

T à i liệu tham khảo

1 http://vi.wikipcdia.org/wiki Bách khoa toàn thư

mở Wikipedia.

2 http://chcr.ier.cdu.vn Lê Tấn Huỳnh cẩm Giang Hiểu

biết về tư duy phản biện Viện Nghiên cứu giáo dục.

Ngày đăng: 09/02/2021, 03:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w