1. Trang chủ
  2. » Địa lý

Sự hình thành không gian công ở Việt Nam trước 1945: Nghiên cứu dưới góc độ báo chí học, chính trị học và lịch sử.

12 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

N hững địa bàn nhỏ hơn, như H uế, Vinh, H ải Phòng và C ấn Thơ, tổ n tại trong quỹ đạo của những tranh cãi và giao thoa lớn hơn ấy4.. Dẫn theo: Shawn Frederick McHale, Print and Po[r]

Trang 1

s ự HÌNH THÀNH KHÔNG GIAN CÔNG Ở VIỆT NAM

TRƯỚC NĂM 1945: NGHIÊN cứu DƯỚI GÓC ĐỘ BÁO CHÍ

HỌC, CHÍNH TRỊ HỌC VÀ LỊCH s ử" • • •

ThS Nguyễn Thị Thúy Hằng*- ThS Vũ Thị Minh Thắng**

1 Dán nhập

N g h iê n cứu m ộ t ván đé tro n g lịch sử n hư vai trò của báo chí với sự h ìn h th àn h

k hông gian công ở V iệt N am giai đ o ạn 1919- 1945 tất yếu đòi hỏi m ộ t sự tiếp cận liên ngành giữa Báo chí học, C h ín h trị h ọc và Sử học C ẩn đến phương p h áp nghiên cứu Báo chí h ọ c để p h ân tích n h ữ n g tờ b áo cụ thể, với tiếng nói cụ th ể của các n h à báo, p h â n tích

th ô n g điệp qua các tran g báo, qua đó thấy được b áo chí đã m ở ra k h ô n g gian cho những cuộc tra n h luận, cho sự giám sát của công dần và hìn h th àn h n ên d ư luận xã hội, nhữ ng nội dung cơ b ản th e o lý th u y ế t “k h ô n g gian cô n g ” của Jủ rg en H ab erm as C ũng cấn đến phương p h áp Sử học, đặc b iệt là sử liệu, bao gôm cả sử liệu trực tiếp "xuất h iện cùng thờ i với sự kiện, là di tích của sự kiện, là m ột m ảnh của sự k iện”1 và sử liệu gián tiếp, “sử liệu nói đ ến sự kiện qua m ộ t người th ô n g tin gián tiếp, tức là tác giả sử liệu”2 để k h ô n g

bị xa rời sự thật V à còn cấn đ ế n p hư ơng pháp nghiên cứu c h ín h trị h ọ c với lý th u y ế t vể các dạng quyển lực (ở đây là quyền lực n h à nước, quyền lực xã hội, quyến lực truyển thông ) C h ủ đề tra n h luận tro n g “không gian công” củng chủ yếu là vấn để liên quan đến ch ín h trị, n h ư n h ữ n g công việc liên quan đ ến chính quyén, vị th ế của người dân

* Khoa Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đ H Q G H N

** Khoa Khoa học c h ín h trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đ H Q G H N

1,2 Hà Văn T án; M ột số vấn để lý luận sử học, in ỉần thứ hai, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008, tr 33.

Trang 2

sự HÌNH THÀNH KHÔNG GIAN CÔNG ở VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945: 2 9 9

2 Lý thuyết "không gian công" của Jũrgen Habermas

Lý th u y ết“không gian công” (public sphere) được n êu lên bởi nhà triết học, nhà xã hội h ọ c người Đức, Jủ rg e n H aberm as trong công trình T h e Structural T ransíorm ation o f the Public Sphere: A n inq u iry into a C ategory o f Bourgeois Society, bản tiếng Đức 1962, bản dịch tiếng A nh 1989 H aberm as quan niệm “không gian cô n g ” (th e public sphere) là

m ột vủ đài độc lập với chính phủ, “cùng tồ n tại với cơ quan công q u y ển ”1 và củng mang phẩm chất tự trị xét tro n g quan h ệ với các phe phái kinh tế cũng như chính trị N ó vốn sinh ra là đế cho n hữ ng cuộc tran h luận duy lý (tức là tra n h luận và thảo luận vế “lợi ích”,

vế “sự che đậy” hay vế “sự thao tú n g ”) và nó m ở ngỏ h o àn toàn cho sự giám sát của công dân C hính là ở đó, dư luận xã hội (public opirúon) được hình thành

T h e o quan niệm của H aberm as, “k h ô n g gian công tư sản ” (b o u rg eo is public sphere) xuất h iện vào th ế kỷ XVIII khi m à xã hội tư sản m ở rộng m ô h ìn h chính trị từ

A nh sang các nước khác L úc này, giai cấp tư sản m à n ò n g cốt là giới d o an h nhân đã trở

n ên h ù n g m ạn h và có vị trí tư ơng đối độc lập so với quyền lực của nhà nước và giáo hội, làm xuất hiện nhu cầu có đại diện ch ính trị của m ìn h trên vũ đài quyển lực dể h ỗ trỢ cho các h o ạt đ ộ n g kinh tế m à h ọ đang nắm giữ T ố c đ ộ tăng trư ởng của các tờ báo, tạp chí, cầu lạc b ộ đọc sách, các chi n h án h của H ội T a m điểm và các quán cà p h ê tro n g th ế kỷ XVIII ở châu Âu, b ằ n g tấ t cả nhữ ng cách khác nhau, đã là n hữ ng điểu kiện cho sự ra đời của không gian còng

H aberm as đưa ra k ết luận: T ro n g cuộc đối đẩu giữa quần chúng và chính quyển, lân đẩu tiên người ta chứ ng kiến việc “người dân sử dụng lý lẽ m ộ t cách công khai”2 N ói cách khác, H aberm as tin rằng người dân đã từ b ỏ nhữ ng m ối quan tâm đơn th u ần cá

n h ân để truyén đi n h ữ n g quan điểm dưới góc nhìn cộng đ ổ n g đ ú n g nghĩa H aberm as chỉ ra đời sống xã h ội d ần chủ không th ế p h át triển nơi m à các vấn đề có tầm quan trọng của công cộng k h ô n g được thảo luận bởi các công dân M ộ t "tình trạng p h át biểu ]ý tưởng" đòi hỏi người th a m gia phải có năng lực tương tự vế diễn ngôn, bình đẳng xã hội

và lời nói của họ k h ô n g được nhầm lẫn bởi ý thức hệ hay các vấn dế khác T u y nhiên, cùng với sự lớn m ạn h củ a chủ nghĩa tư bản, chức năng của k h ô n g gian công cũng thay đổi dần Bởi lẽ lúc này giai cấp tư sản đặt các m ục tiêu kinh tế lên h àn g đẩu, khiến cho truyền thông, m ạng lưới tra o đổi th ô n g tin đều phải xoay q uanh m ục tiêu này “Bấu cử,

1 Jủrgen HabermavThe Structural T ransíbrmation oíứie Public Sphere, The MIT Press, Cambridge, Massachusetts, 1989, p 30.

2 Jiirgen Habermas,The Structural Transform ation of the Public Sphere, Ibid, 1989, p 27.

Trang 3

3 0 0 Nguyễn Thị Thúy Hằng - Vũ Thị Minh Thẳng

chính sách; các cải cách, các ngu ồ n tài trợ cho các chính đ ả n g tấ t thảy đểu hư ớng đến

m ục tiêu kinh tế nói trên , và do đó, m ôi trường công chúng m ất đi tính độc lập b an đẩu của n ó ”1 T ro n g th ế kỷ XX, quyển lực của th ô n g tin và tru y ền th ô n g tro n g việc d ẫn dất

và h ìn h th à n h dư luận xã hội th ô n g qua PR là h ết sức rõ ràng K h ô n g gian công lúc đó

k h ông chỉ bàn đ ến n hữ ng lợi ích công cộng, m à còn bị chiếm hữu và để cập đến n hữ ng lợi ích riêng tư Ô n g cò n gọi thự c trạng này là “m ộ t sự th o ái trà o ”, “m ộ t bước lùi vế chế

độ p h o n g k iến ”2

Q ụ an điểm của H ab erm as về k h ông gian công cũng bị n h iểu p h ê phán N an cy Fraser cho rằng k h ô n g gian công tư sản m ang tính th ố n g trị và loại trừ vì nó kỳ th ị p h ụ

nữ và k h ông để cập đ ến các giai cấp xã hộ i b ên dưới D o vậy, k h ô n g phải m ọi người đểu

có thê’ th âm nhập k h ô n g gian này N , Fraser cũng p h ê b ìn h sự p h â n biệt riêng và công Khái niệm “vấn để đư ợc m ọi người quan tâ m ” (c o m m o n co n cern ) k h ông rõ ràng, chẳng h ạn n h ư vấn để bạo lực gia đ ìn h trước đây được coi là riêng tư, đến nay trở th à n h

m ộ t tra n h cãi công cộng O skar N egt, A lexander Kluge đò i h ỏ i J H aberm as p h ải bổ

sung thêm các khái niệm không gian công vô sản, không gian công vể sản x uất 3

3 Sự hình thành không gian công ờ Việt Nam 1919-1945 và vai trò cùa báo chí

Có thể nói rằng từ sau c h iế n tranh T h ế giới lần thứ nhất; ở V iệt N am đã hình thành

m ột không gian công theo lý thuyết của Haberm as Khái niệm “không gian công” để nói đến khoảng trống ở dưới chính quyển và trên làng xã, trong đó các cá nhân và tập thể cùng tham gia vào các h o ạt động trao đổi và những cuộc đấu tran h m ang tính biểu tượng K hông gian công đã được hình th àn h rõ nét trước hết ở Sài G òn và H à N ội H ai thành phố này tập trung các hoạt động in ấn, đóng vai trò trung tâm của những cuộc tranh cãi liên quan đến các vấn đề văn học, tô n giáo và chính trị N hững địa bàn nhỏ hơn, như H uế, Vinh, H ải Phòng

và C ấn Thơ, tổ n tại trong quỹ đạo của những tranh cãi và giao thoa lớn hơn ấy4 K hông gian công không chi được thê’ hiện qua quá trình sản xuất các ấn phẩm , m à quan trọng h ơ n là việc độc giả tiếp nhận và chuyền hóa những sản phẩm này

Massachusetts, 1989.

4 Shawn Frederick McHale, Print and Povver, C onfucianistn, C o m m u n ism , a n d B u d d h ism in the M a kin g o f M odern

Trang 4

s ư HÌNH THÀNH KHÔNG GIAN CÔNG ờ VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945: 3 0 1

T u y nhiên, khi áp d ụ n g lý th u y ết của H aberm as vào châu Ả, m ôi trường văn hóa và

thẻ’ chế của các khô n g gian công đã có nhữ ng khác biệt to lớn C ụ thể, D avid S trand chỉ

ra rằng trước th ế kỷ XX, người T ru n g Q ụ ố c “không hé có chút ý niệm nào vế công dân

để hợp pháp h ó a từng cá n h â n hay n h ó m sáng kiến tro n g địa h ạt vê các vấn đế xã h ộ i”,

ngoài ra h ọ còn th iếu “cơ sở pháp lý cho quản lý đô thị và m ộ t b iện giải m ang tính ý thứ c hệ để m ở rộ n g giới hạn, sao cho nhữ ng cá nhân được coi là tích cực về m ặt chính trị k h ông chỉ có giới đại h ọ c sỹ, n ho sinh, hay những người đứng đầu phường h ộ i”

C hỉ khi nhữ ng p h át kiến vể ý thức hệ và luật pháp n h ư vậy xuất h iện ở T ru n g Q uốc,

m ức độ th am gia vào ch ín h trị m ới thực sự tăng m ạnh N h ư n g ngay cả ở đây không gian

cô n g của châu  u và ch ầu Á cũng có nhữ ng sự khác biệt sâu sắc T h e o H aberm as, các cá

n h ân sừ dụng k h ô n g gian công đê’ thu h ú t sự quan tâm tới nhữ ng vấn để chung; trong khi th eo S trand, k h ô n g gian công của T ru n g Q uốc là nơi để các cá n h ân cũng như nhữ ng m ối q u an tầm cụ thê’ tìm đến với nhữ ng đối tượng tiếp n h ận lớn hơn

M ary E lizabeth B erry khi nghiên cứu về không gian công của N h ậ t Bản cũng đã từng đặt cầu h ỏ i: "Liệu m ộ t k h ông gian công m ạnh m ẽ có chấp n h ậ n tổ n tại chung với

m ộ t nhà nước đ ộ c đ o án hay không?" và cảu trả lời của bà là "có", như ng n h ấn m ạnh rằng cần phải "tách k h ô n g gian công ra khỏi điểm cuối của nền dân chủ" K hông gian công

"không phải là nơi xác lập quyển làm chủ của nhân dân, m à là nơi sự lãnh đạo bị đặt dưới sự soi xét của d ư luận"2 M cH ale đã cho rằng quan điểm của Berry là rất quan trọng: “T h a y vì xem xét k h ô n g gian công cộng trong th ế đối nghịch với những hình m ẫu

m ang tín h quy chuẩn của châu Âu và do đó n h ìn nhận chúng n h ư là nhữ ng th ất bại, cách tiếp cận của bà ch o p h ép chúng ta th ấy được lô-gic nội tại của sự p h át triển lịch sử của nhữ ng k h ô n g gian ấy”3 Q uan điểm ấy cũng nói rằng m ộ t nhà nước vững m ạnh và

m ộ t k h ông gian công n ăn g đ ộ n g hoàn to àn có thể song h àn h với nhau

Bất chấp sự đàn áp của chính quyển thực dân Pháp, k h ông gian công vân p h át triển

ở V iệt N am T u ỵ n h iên , q u an điểm của H aberm as cho rằng người ta từ bỏ những quyển

2 Mary Elizabeth Berry, “Public Life in Authoritarian Japan”,Daedalus, 1998, p 133 Dản theo: Shawn Frederick McHale (2004), P rin t and Power: C onỷucianism , C om m unism J and B u d d h ỉsm in the M a k in g o ỊM o d e rn V ietnam ,

p 10.

3 Shavvn Fređerick M cHale (2004), P rin t a n d Povver: C onfucianism , C ornm um sm , a n d B u d đ h ism in the M a k in g o j

Trang 5

3 0 2 Nguyễn Thị Thúy Hằng - VG Thị Minh Thắng

lợi cá n h ân để bàn luận vể n h ữ n g vấn để m ang tính cộng đ ổ n g vẫn chưa thực sự rõ nét

C húng ta thấy rằng k h ô n g gian công, thay vì là nơi bàn luận n h ữ n g vấn đề m an g tính cộng đồng, thực chất là nơi người ta tranh luận, bảo vệ những ý kiến cá nhân Ở V iệt N am ,

có m ộ t k h ô n g gian công tra n h lu ận sôi nối n hư ng có sự p h â n cấp rõ ràng tồ n tại dưới

sự quản lý m ang tín h áp đ ặt của ch ín h quyển thự c dân, và đôi khi cũ n g p h ụ c vụ cho lợi ích nhóm

V iệt N am du n h ập được nhiểu khái niệm quan trọng vốn có n g u ổ n gốc phư ơ n g T ây nhưng đã được người N h ậ t và người T ru n g Q uốc chuyển hóa Khái niệm "công cộng" (public), và ''dư luận xã hội" (public opinion) là những ví dụ rõ ràng nhất; nhưng còn đó nhiéu thuật ngữ chính trị-xã hội khác, như "chính trị" (politics), "xã hội" (society), "chủ nghĩa" (d o ctrin e), "giai cấp" (class), cũng được đưa vào tiếng V iệt th ô n g qua T ru n g Q ụốc

và N h ậ t Bản T u y nhiên, chính th ể chế nhà nước phư ơ n g T â y chứ không phải T ru n g

Q u ố c hay N h ậ t Bản m ới định h ìn h không gian công ở V iệt N am C h ín h quyển Pháp áp

đ ặt sự hình th àn h không gian công cộng ở nước họ lên các nước Đ ô n g D ương Các luật, nghị định về báo chí được p h át triển dựa trên luật p háp của Pháp

Vậy đâu là cơ sở cho sự h ìn h th àn h không gian công ở V iệt N am ? V ào th ế kỷ 19, người V iệt N am b iết chữ vẫn còn rất ít và có th ể nói k h ô n g gian cô n g đúng nghĩa không

tô n tại cho tới trư ớc th ế kỷ 20 Sự ra đời của m ộ t k h ông gian công để tra n h luận và trao đổi ý kiến được h ìn h th à n h dưới n h ữ n g tác động tích cực từ n h ữ n g p h á t kiến ở N a m Kỳ tro n g nửa sau của th ế kỳ 19

T hứ nhất, đó là sự ra đời và p h át triển của báo chí Gia Định báo, tờ báo đầu tiên được

viết bằng chữ Q uốc ngữ, ra đời năm 1865 và ngày càng phát triển, đặc biệt nở rộ sau c h iế n tranh T h ế giới th ứ nhất, với sự đa dạng về khuynh hướng, đảng phái, giọng điệu, đã m ở ra không gian cho tranh luận và trao đổi ý kiến N ếu chia 80 năm báo chí Việt N am dưới chế

độ thuộc địa (1865-1945) th àn h 4 giai đoạn phát triển: giai đoạn 1865-1907ỉ giai đoạn

1907-1918; giai đoạn 1919-1930; giai đoạn 1930-1945 thì không gian công ở V iệt N am đã

được hình thành bắt đầu từ giai đ o ạn thứ ba, m ột thời kỳ sôi động của báo chí Việt N am cả trên lĩnh vực văn hóa xã hội và chính trị, “với khoảng 100 tờ báo (cả tiếng Việt và tiếng

Pháp), báo chí không chỉ phát triển theo miền, phân hóa theo thể loại như nhật báo, báo định kỳ, báo chuyên biệt cho các giới, mà còn phân hóa theo khuynh hướng chính trị”1.

Trang 6

s ự HÌNH THÀNH KHÔNG GIAN CỐNG ở VIẼT NAM TRƯỚC NĂM 1945: 3 0 3

T h ứ hai, nhữ ng th ay đổi tro n g hệ th ố n g cấp bậc của xã hội đã góp phần định hình

cho k h ô n g gian cô n g đ an g hình thành C h ín h sự th am gia của giới th ô n g dịch, đầu bếp, bổi b à n và n h ữ n g th à n h p h ẩn khác nữa tro n g ch ín h quyến P háp cùng sự chuyển dịch sau đ ó tro n g cấu trú c xã hội, đã kích thích k h ô n g gian cô n g nổi lên ở m iến N am Các tác giả ở m iến N a m xuất th ầ n từ đủ m ọi tầng lớp tro n g xã hội, và sự năng đ ộ n g của khồng gian cồng đã vượt trộ i h ơ n h ẳn so với ở m iền Bắc và m iền T rung

T h ứ ba, sự h ìn h th à n h đ ô thị h iện đại đã tạo cơ sở cho kh ô n g gian công h ình thành

Bởi đây là nơi diễn ra sự p h á t triển lớn m ạnh của việc sản xuất báo và sách; cũng như sự lớn m ạn h của th ế h ệ đ ộ c giả m ới - các nhà trí thứCj n h ữ n g người làm việc tro n g chính quyền và nhữ ng người b iế t chữ ở th à n h thị khác T h e o các n g u ồ n từ P háp thì chi tính riêng tro n g giai đ o ạ n từ 1922 tới 1940, người V iệt đã cho xuất bản tới 13.381 cuổn sách

và các loại văn b ả n k h ác n h a u 1 N goài ra còn m ộ t số lượng cũng rất ấn tư ợng báo, tạp chí xuất bản định kỳ Báo chí V iệt N a m đã đạt đ ến co n số cao nhất, “trên 400 tờ vào nhữ ng năm 1938-1939 C o n số này có giảm khi q u ân N h ậ t tràn vào Đ ô n g Dương, như ng đ ến C ách m ạn g th án g T á m th à n h công, con số là trên 200 tờ ”2 C ác sách, báo, tạp chí đưa lại cho người đ ọ c n hữ ng góc n h ìn m ới m ẻ, và góp p h ẩ n th ú c đấy sự phát triển của m ộ t k h ô n g gian cô n g cho việc tran h luận và tra o đổi ý kiến C ác tờ báo, phát ngôn cho n hữ ng n h â n vật h o ặc các n h ó m chính trị, các đ ản g phái chính trị, đóng m ộ t vai trò q u an trọ n g đ ối với đời sống chính trị V iệt N am Báo chí đã được sử dụng để trở

th à n h m ặt trậ n tra n h luận ch ủ chốt

C ụ thể, từ sau c h i ế n tra n h T h ế giới lần th ứ nhất, giai cấp tư sản V iệt N am đã bước lên vũ đài chính trị và báo chí là m ột phương tiện được sử dụng m ột cách hiệu quả trong những tranh luận cùng chính quyển, hay để phát động những p hong trào kinh tế - chính trị với đặc điếm giai cấp m ộ t cách rõ rệt

Trước hết là p h o n g trào tẩy chay tư sản H o a kiểu (1 9 1 9 ) do La Tribune Indigène

(D iỗn đàn Bản xứ) đ ó n g vai trò dẫn dắt ( 8 /1 9 1 9 - 9 /1 9 2 0 ) La Tribune Inảigène là tờ

báo được th à n h lập ngày 2 0 /8 /1 9 1 7 , là tờ báo chính trị đ ẩu tiên do người V iệt làm chủ

và được điểu h àn h bởi đội ngũ những người bản xứ, đứ ng đầu là N gu y ễn P h ú Khai và

gồm cả bản in lại và bản biên tập lắn 2 Dẫn theo: Shawn Frederick McHale, Print and Power: Confucianism, Communism, and Buddhism in the Making of M odern Vietnam, p 18.McHale cho râng có khoảng mười nghìn dầu sách và tài liệu các loại được in án vào giai đoạn này.

Trang 7

3 0 4 Nguyễn Thị Thúy H ằn g -V ù Thị Minh Thắng

Bùi Q u an g C hiêu Đ ể chống lại th ế lực kinh tế của tư sản H o a kiếu, n ăm 1919, tư sản

V iệt N am đâ dấy lên p h o n g trào “tẩy chay Khách trú ” với khẩu hiện “N gười An N am

m ua b án với người A n N a m ” ở m ộ t số th àn h phố, thị xã, trước h ết ở Sài G òn, sau đó ở các tỉnh, th àn h khác n h ư H à N ội, H ải Phòng, N am Đ ịn h Báo chí đã được giai cấp tư sản sử dụng n h ư m ộ t công cụ đê’ vận động quẩn chúng và th ách thức ch inh quyền th u ộ c địa, đòi hỏ i phải n h ìn n h ận h ọ n h ư m ộ t lực lượng chính trị, đại diện cho lợi ích của phần lớn dân chúng V iệt N am P h o n g trào đã không th ành công, vì cạnh tran h với người H o a

kh ông đ ơ n giản, lại bị p h ản đối từ ch ín h quyền và th ất bại tro n g việc th u y ết phục quẩn

chúng T u y nhiên, n h ư L a Tribune Indigène đã viết: “đây là lần gặp gỡ đầu tiên tro n g đó

những người V iệt N am th u ộ c tẩng lớp có học - các trí thức, nhà buôn, d o an h nhân, nhà báo, nhữ ng người giàu có và các n h à tư bản - tập trung cùng nhau đ án h giá m ộ t cách có

ý thức vể tìn h trạn g kinh tế của đ ất nước và tìm cách đê’ cải thiện n ó ”1 D ẫu thất bại tro n g m ục tiêu kinh tế, p h o n g trào tầy chay H o a kiểu đã ít nhiểu th à n h công vé m ặt chính trị, khi các n h à tư sản V iệt N am đã cố gắng xác lập vị trí n h ư n hữ ng người bảo vệ cho lợi ích quốc gia, điểu có th ể đưa người V iệt gắn kết lại với nhau th à n h m ột cộng đông, m ang đặc điểm lợi ích khác với người H o a và người Pháp M ộ t th à n h cống khác nữa của Bùi Q u an g C hiêu, N g u y ễn P h ú Khai và những người th ù ộ c n h ó m D iễn đàn là phư ơ n g p h áp ch ính trị của h ọ , tro n g việc sử d ụ n g báo chí tiếng Pháp m ộ t cách chính thức, tiếng nói cho lợi ích của người V iệt m à không bị kiểm duyệt, bao gổm cả nhữ ng điểu th ư ờ n g bị cấm đ o án trê n báo chí quốc ngữ, và m ột m ạng lưới các diễn đàn xã hội, với sự ủ ng h ộ m ạn h m ẽ từ tán g lớp T â y học đô thị T u y nhiên, cũng phải th ấy rằng, nếu

áp dụng lý th u y ết của H ab erm as, n h ữ n g tran h cãi, vận đ ộ n g trên báo gần n h ư củng chi

đưa lại lợi ích cho m ộ t n h ó m người V iệt giàu có, chứ chưa phải là vấn để quan tầm

chung thực sự của cả cộng đồng

M ộ t ví dụ khác cho vai trò của b áo chí đối với sự h ìn h th à n h k h ô n g gian công ở

V iệt N a m n hữ ng n ăm 20 của thê' kỷ XX là p h o n g trào đấu tranh chống đ ộ c quyền cảng Sài G ò n (1 9 2 3 ) T iến th ê m m ộ t bước so với p h o n g trào tẩy chay tư sản H o a kiểu, lần này p h o n g trào đấu tran h đã chĩa m ũi n h ọ n đấu tra n h vào tư bản Pháp Với m ục đích độc chiếm th ị trường, thự c dân P háp đã m ở m ộ t cuộc vận động tại H ộ i đổng th u ộ c đia chính thức trao đ ộ c quyển kinh d o an h ở cảng Sài G òn cho m ột công ti Pháp, Candelier

M ộ t cuộc đối đấu gay gắt giữa chính quyền th u ộ c địa và báo chí V iệt N am đã diễn ra,

1 La Tribune Indigène, ngày 4 /1 1 /1 9 1 9

Trang 8

s ự HÌNH THÀNH KHÔNG GIAN CÔNG ở VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945: 3 0 5

khi n h iều tờ b áo công khai p h ản đối quyết định của H ội đ ổ n g th u ộ c địa, như La

Tribune Indigène, La Cloche Fêỉée, Đông Pháp Thời Báo v.v Đ ặc biệt, N guyễn An N inh

với L a Cloche Fêlée và T rầ n H u y Liệu từ Đông Pháp Thời Báo đã tấn công m ộ t cách

m ạn h m ẽ vào T h ố n g đ ố c C o g n acq và H ộ i đồng T h u ộ c địa H ãy th ử xem N guyễn An

N in h đã viết “X ung q u a n h vấn đề độc q u y ề n ”:

“H ãy trách mắng đi, các ông Hội đống thuộc địa! Và chúng ta hình như đang sống trong nước cộng hòa, ở trên đất của Pháp, dưới chế độ của kỷ cương, của quyển hạnI, của công lý, của tự do! Do đó m ột "Hội đống quản trị Cảng'1 tự cho phép mình nghiên cứu lại kết quả bỏ phiếu của bộ phận được bấu cao nhất của thuộc địa và xóa bỏ nó bâng

m ột cử chỉ được coi là m ột cái tát v i tinh thần rất mạnh trên m á của ảân tộc có chủ quyền và có đóng th u ế 1.

D o sức ép từ p h o n g trà o đấu tra n h của báo chí, m ộ t số cuộc m ít tin h biểu tìn h của quần chúng cùng dư lu ận ở V iệt N a m và Pháp, chính quyến Đ ô n g D ương đã b u ộ c phải tạm h o ã n th i h à n h nghị quyết của H ội đồng th u ộ c địa N a m Kỳ T u y nh iên “cuộc đấu

tranh chống độc quyén cảng Sài Gòn dã phản ánh những mâu thuản vể quyển lợi giữa

tư sản V iệt N a m và tư b ả n Pháp N h ư n g cuộc đấu tra n h này chi ch ố n g lại m ộ t công ti tư bản, chứ chưa p h ải ch ố n g lại to à n bộ ách cai trị của chủ nghĩa thự c dân P háp trên đất nước ta ”2

Báo chí còn góp p h án hình th àn h các cao trào yêu nước và tự do dân chủ ở Việt N am , đặc b iệ t tro n g n h ữ n g n ăm 1925-1926 M ở đầu cho p h o n g trào đòi tự do dần chủ là các

hoạt động tuyên truyển của các tờ báo tiến bộ như La Cloche Fêlée của N guyễn An Ninh,

Ư A nnam của P h an V ăn T rư ờ ng , Ịeune Annam , Le N h à quê của N guy ễn K hánh T o à n ,

nổi b ậ t n h ắt là các p h o n g trào đấu tra n h sau đây:

Phong trào đấu tra nh đòi thả Phan Bội Châu (1 9 2 5 ): Khi P h a n Bội C h âu bị b ắt

(6 -1 9 2 5 ) và được đưa về nước, bị xét xử công khai ở T ò a đại h ìn h H à N ội với án khổ sai chung thân, m ộ t làn só n g p h ản đối đã b ù n g lên cả nước, với các cuộc biểu tình của hàng ngàn người, đ ặc b iệ t là th a n h niên, h ọ c sinh- sin h viên, yêu cắu n h à đ ư ơ n g cục th ả

P han Bội c h â u khi T o à n quyển V aren đ ến H à N ội Báo chí đã góp p h ẩn h ìn h th àn h nên k h ô n g gian công đó, khi cả báo chí tiếng V iệt và tiếng P háp đều đưa tin khá đẩy đủ

1 La Cloche Fêlée, số 6, ngày 14/1/1924.

Trang 9

3 0 6 Nguyễn Thị Thúy Hằng - Vũ Thị Minh Thắng

vế vụ án T rư ớ c sức m ạ n h đấu tra n h của quần chúng, cuối cùng th ự c dân Pháp đã b u ộ c phải “ân xá” cho cụ P han, đưa cụ vể “an trí” tại H u ế dưới sự kiềm so á t của m ật thám

Phong trào để tang Phan c h â u Trinh (1 9 2 6 ): Phan C hâu T rin h m ất vào ngày

2 4 /3 /1 9 2 6 và tại Sài G òn, đám tang của n h à chí sĩ yêu nước đã đ ư ợ c tổ chức trọ n g th ể với nghi thức của m ộ t quốc tang M ộ t H ộ i đ ồ n g ta n g lễ 16 người được th à n h lập, bao

gổm cả đại d iện của Đ ảng L ậ p hiến và Đ ảng T h a n h niên, g ồ m n h iề u các n h à b á o n h ư

Bùi Q u an g C hiêu, N g u y ễn P han Long, N guyễn K im Đ ính, T rầ n H u y Liệu T ừ N am ra Bắc, ở đâu củng tổ chức tru y điệu và để tang P han c h â u T rinh C ũ n g cán phải thấy vai trò

của báo chí tro n g việc tổ chức m ộ t p h o n g trào d ần tộc C ụ thể, chỉ riêng trong Đông Pháp

Thời Báo, trong tháng 3 -4 /1 9 2 6 , đã có hàng chục bài viết vé P h an C h âu T rin h và kêu gọi

tổ chức các h o ạ t đ ộ n g tưởng niệm Khi thực dân P h áp hoảng sợ trước sự p h át triển của

p h o n g trào và ra lệ n h cấm tổ chức lễ truy điệu P h an C hâu T rin h tro n g các nhà trường, học sinh liền bãi khóa đ ề p h ản đối, nhiéu cuộc bãi công, bãi thị đã nổ ra N h ư vậy, m ộ t không gian công cũng đã được h ìn h thành từ m ộ t sự kiện tiêu biểu, với sự trợ giúp của

báo chí, trong việc đấu tranh lại chính quyến và đòi những quyển tự do, dân chủ

M ộ t sự k iện k h á c c ũ n g cần n h ắ c đ ể n tr o n g n g ày 2 4 / 3 / 1 9 2 6 là cuộc đón tiếp

B ùi Q uang Chiêu, và sau đó là cuộc đấu tranh đòi thả Nguyễn A n N inh, với vai trò của

báo chí tro n g việc h ìn h th à n h k h ô n g gian công đ ô thị T rầ n H u y L iệu đã h ô hào, vận

đ ộ n g quần chúng th a m gia đ ó n tiếp Bùi Q u a n g C h iêu trê n Đ ông Pháp Thời Báo suốt

m ộ t th ờ i gian dài và p h á t đ ộ n g th à n h m ộ t cuộc b iểu dương lực lượng của quẩn chúng

n h ân dân đ ò i quyển tự d o dân chủ sau đó C u ộ c đ ó n tiếp đã th u h ú t khoảng 8000 người

th am gia th e o báo cáo của cản h sát N h ư n g trư ớ c sức m ạn h của q u ần chúng, Đ ản g Lập hiến và Bùi Q ụ an g C h iêu đã rất h o ản g sợ và th ỏ a h iệp với P háp “T ro n g bữa tiệc chiêu đãi tố i h ô m đó, Bùi Q u an g C h iêu tuyên bố tru n g thành với ch ủ nghĩa Pháp - V iệt để huề và p h ản đối b ạo đ ộ n g ”1 C h ín h từ đây, trê n b á o chí đã x uất h iện những tiếng nói

p h ản đối và đấu tra n h m ạ n h m ẽ ch ố n g lại Bùi Q u a n g C hiêu, c h ố n g chủ trư ơ ng Pháp -

V iệt đề h u ể và đấu tra n h đòi th ả N guyễn An N in h , nhà báo y êu nư ớc bị hắt giam đúng cùng ngày Bùi Q ụ an g c h iê u vé' nước

C ó th ế nói, các nhà báo đã chớp lấy m ặt tích cực của những sự kiện khủng hoàíig đầu năm 1926 để thực h iện vai trò chính trị của m ìn h tro n g sự h ìn h th à n h m ột không gian

Trang 10

Sl HÌINH THÀNH KHÔNG GIAN CÔNG ở VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945: 3 0 7

c ô ig ở V iệt N am , đối đầu với chính quyền và cho những cuộc tran h luận Và đúng như mót học giả nước ngoài đã nhận xét: “M ùa xuân năm 1926 cho thấy sự hội tụ “chính trị

đ iử r.g p h ố ” và “chính trị truyển th ô n g ” nơi mà các nhà báo tham gia nhiéu n h ất có thể, chayển công việc của họ th à n h m ộ t m ẫu h ìn h đô thị của h o ạt động chính trị”1

C h ín h quyền th ự c d ân đã cố gắng đê’ kiểm soát k h ông gian công m à báo chí góp

p h in tạo ra C ả n h sát P h áp th e o d õ i rất sát sao nhữ ng tờ báo, lập h ổ sơ về cả giới chủ bú: lản các n h à báo, kiểm tra th ư tín của họ, và quấy rối n h ữ n g p h ó n g viên m à họ cho rằr.g ch ố n g P h áp m ộ t cách quá tích cực H ọ lập ra n h ữ n g h ồ sơ chi tiết vé các nhà báo, ngay cả n hữ ng người th ầ n P háp n h ư là Bùi Q u an g C hiêu C ác nhà cấm quyển Pháp đã từng hi vọng ô n g chủ của n h ữ n g tờ b áo đó cũng n h ư các p h ó n g viên của họ sẽ tạo ra được m ộ t k h ô n g gian công "văn m inh" tro n g đó nhữ ng trí thức tin h hoa, hay những người tiên tiến tro n g xã hội, sẽ chiếm đa số Và cuối cùng th ứ m à họ n h ận được là sự phản kháng của người V iệt N am T ro n g n h ữ n g năm 1920, b áo chí k h ô n g có n h iều ảnh hưởng b ê n ngoài các th à n h p h ố và các vùng n ô n g th ô n vẫn còn rất "yên bình" V ào năm

1927, chính quyền T ru n g Kỳ thừa n h ậ n rằng cho tới th ờ i điểm đó, giới n ô n g dân "gấn như k h ô n g bị ản h hưởng" T u y n h iên , ch ín h quyển vẫn lo ngại rằng, qua các loại tài liệu

và báo chí "được đ ọ c tro n g n h ữ n g ngôi làng n hỏ nhất virus của n h ữ n g tư tư ởng m ới sẽ lan tru y ền khắp đ ất nước"2

Vào năm 1936, đảng M ặt trận b ìn h dân, liên m inh giữa những người cộng sản và xã hội, giành được q uyển lực ở Pháp T ro n g giai đoạn M ặt trận bình dần (1936-1939), báo chí

ở Đ ông D ương p h á t triển chưa từ ng thấy, đặc biệt là báo chí cách m ạng xuất bản bí m ật trước đây ra công khai C ó th ể nhận th ấy rõ những nỗi sợ hãi của chính quyển bản địa Ở

N am Kỳ, m ật th ám báo cáo rằng 600 ủy ban đã phát tán 450.000 bản tài liệu "truyền thái độ căm ghét nước P háp tới tận những ngôi làng nhỏ nhất, và kêu gọi sự nổi dậy chống lại chính quyển ở khắp nơi nơi"3 T h ự c tế là từ năm 1920 tới 1939, báo chí, bất kê’ là hợp pháp hay không hợp pháp, đã bắt đấu từ từ th âm nhập vào vùng nông thôn

T iếp đến, giai đ o ạn 1939-1945 ch ín h quyển th ự c dân P háp m ộ t m ặt đàn áp thẳng tay những người ch ố n g đối, m ặt k h ác lại cố gắng lên tiếng đòi lại quyển kiểm soát

1 PhiLppe M.F.Peycam, T he Birth oíV ietnam ese Political Joumalism, Saigon 1916-1930, Columbia University Press, NevvYork, p.140.

2 CAOM, GG, 7F d.18 ( l), “Rapport Annuel 1926-1927”.

3 Shavn Frederick McHale, Print and Power: Coníucianism, Communism, and Buddhism in the Making of

M odern Vietnam, p.24.

Ngày đăng: 09/02/2021, 02:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w