1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 11

So sánh vi kẽ vùng chóp răng giữa kỹ thuật sửa soạn ống mang chốt tức thì và trì hoãn trong hai phương pháp trám bít ống tủy-Nghiên cứu In Vitro

5 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung bình vi kẽ vùng chóp của nhóm răng được trâm bít ống tuy bằng phuvng phốp lèn dọc - sửa soạn ống mang chốt tức thì thấp nhất trong bổn nhóm nghiên cứu, khốc biẹt có ý nghĩa [r]

Trang 1

chức năng bàn tay trên bệnh nhân liệt nửa người do tai

biến mạch máu não", Luận văn tiến sy y học, Trường Đại

học Y Hà Nội, tr 90 - 95

2 Nguyền Văn Thông và cộng sự (2013), 'Tinh hinh

tử vong trong 10 năm (2003 - 2012) tại Trung tâm độỉ quỵ

Bệnh viện Trung ương Qụân đội 108", Báo cáo tại Hội

nghị Đột quỵ toàn quốc iần thứ IV tại TP.HCM

30/10/2013 _

3 Lê Huy Cường (2008), "Đánh giá kết quả hoạỉ động

trị liệu trong phục hồi chức năng vận động chi írên ở bệnh

nhân tai biên chảy máu não trên lều", Luận văn thạc sỹ y

học, Đại học Y Hà Nội, tr 49

4 Barzei A, Keteis G, stark A, eí ai (2015), "Home-

based constraint-induced movement therapy for patients

with upper limb dysfunction after stroke (HOMECIMT): a

cluster-randomised, controlled trial", Lancet Neurol, 14 (9),

pp 893-902

5 Carr J H, Shepherd R B, and et al (1985),

"investigation of a new motor assessment scale for stroke

patient", Phys Ther, (65), pp.455 - 470

6 Desrosiers J (2006), "Preditors of long-term

participation after stroke", Disabi! Rehabil, pp 230

7 Gladstone DJ, Danelis CJ BS (2002), "The fugi-

meyer assessment of motor recovery after stroke",

Neurorehabilitation Neural Repair 2002 Sep, 16(3), pp

232-240

8 Jennifer Ma Wai Wai Myint, Grace Fung Chi Yuen (2008), "A study of constraint-induced movement therapy

in subacute stroke patients in Hong Kong", Clinical Rehabilitation pp 112-124

9 Michelle Ploughman (2008), "Constraint-Induced Movement Therapy for Severe Upper-Extremity Impairment after stroke in an Outpatient Rehabilitation Setting: A Case Report", Physiother Can Spring, 60(2),

pp 161-170

10 Morris DM, Crago JE, Deluca sc (1997),

"Constraint induced movement therapy for moter recovery after stroke", NeuroRehabilitation, 9 (1), pp 29-43

11 Ploughman M, Shears J, Hutchings L, et a! (2008), "Constraint-induced movement therapy for severe upper-extremity impairment after stroke in an outpatienỉ rehabilitation setting: a case report", Physiother Can, 60 (2), pp 161-70

_ 12 Suiter G sc, Keyser JD, (2003), "Use of the Barthei index and modified Rankin scale in acute stroke trials", stroke, 30, pp 1538-1541

13 Takebayashi T, Koyama T, Amano s, et al (2013),

"A 6-month foliow-up after constraint-induced movement therapy with and without transfer package for patients with hemiparesis after stroke: a pilot quasi-randomized controlled trial", Ciin Rehabii, 27 (5), pp 418-26

s o SÁNH VI KẼ VÙNG CHÓP RĂNG GIỮA KỸ THUẬT SỬA SOẠN

ĐỖ Phan Quỳnh Mai, ThS Hoàng Anh Đào

(Bác sĩ, Khoa Răng Hàm Mặt, trư ờ n g Đại h ọ c Y D ược Huế)

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Sử dụng chốt và cùi răng là một phương pháp hiệu quả để phục hồi những răng vỡ lớn đã được điều trị tủy Quà trình sưa soạn ổng mang chốt có thể tạo nên những vi kẽ ở vùng chóp rang và ảnh hưởng đến

sự gắn kết cua chất trám ống tủy Hai yếu tố thường gặp ảnh hường đến sự gắn kết của chất trám ống tủy là thời điểm sửa soạn ống mang chốt và phương pháp trám bít ống tủy Mục tiêu nghiên cứu: So sánh vi kẽ vùng chóp răng giữa hai kỹ thuật sửa soạn ống mang chốt tức thì và trì hoăn trong hai phương pháp trám bít ổng tủy một côn và lèn dọc Đổi tượng và phương phấp nghiên cứu: Nghiên cứu in vitro có nhóm chứng, thực hiện trên 68 răng cửa giữa trên đã nho ở người trưởng thành được sửa soạn với trâm tay Protaper tới cây F3 Các răng này được chia ngẫu nhiên làm bốn nhóm thử nghiệm (15 rănq/nhóm): (1) trám bít ống tủy băng phương phốp một côn-sừa soạn ống mang chốt tức thì, (2) trám bít ống tủy bang phương pháp một côn-sửa soạn ống mang chốt trì hoãn, (3) trám bit ống tủy bằng phường pháp lèn dọc 1/3 chóp-sửa soạn ổng mang chốt tức thì, (4) trắm bít ống tủy bằng phương pháp lèn dọc-sửa soạn ống mang chốt trì hoãn, và hai nhóm chứng (4 răng/ nhóm): (5) nhóm chứng dương, (6) nhóm chứng âm Mỗi răng ngâm trong dung dịch xanh methylene trong 7 ngày, sau đó cắt dọc chân răng theo chiều ngoài trong và ghi nhận mức độ thâm nhập của phẩm nhuộm bằng mây ành Nikon D7000

có độ phóng đại 40 lần Sử dụng phép kiểm Kruskal Wallis và TÙkeỵs để so sánh trung bình vi kẽ vùng chóp giữa các nhóm nghiên cứu Kết quả: Trung bình vi kẽ vùng chóp giữa bốn nhóm nghiên cứukhác biệt có ý nghĩa thống

kê Khi sửa soạn ống mang chốt tức thỉ, trung bình vi kẽ vung chóp cùa nhóm răng tràm bít bằng phương pháp lèn dọc thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm một côn (p < 0,05) Trung bình vi kẽ vùng chóp của nhóm răng được trâm bít ống tuy bằng phuvng phốp lèn dọc - sửa soạn ống mang chốt tức thì thấp nhất trong bổn nhóm nghiên cứu, khốc biẹt có ý nghĩa thong kê so với nhóm răng được trám bít ống tủy bằng phương pháp một côn - sưa soạn ổng mang chốt tríhoãn (p < 0,05) Kết luận: Trám bit ống tủy bằng phương pháp lèn dọc - sửa soạn ống mang chốt tức thì cho kết quà tốt hơn so với các nhóm còn lại.

Từ khóa: Sử dụng chốt và cùi răng, trám bít ống tủy.

SUMMARY

245

Trang 2

COMPARISON OF APICAL LEAKAGE FOLLOWING IMMEDIATE AND DELAYED POST SPACE PREPARARION i n t w o o b t u r a t io n TECHNIQUES- a n IN VITRO STUDY

Do Phan Quynh Mai DDS., Hoang Anh Dao DDS MPH (Odonto-Stomatology Faculty, Hue University o f Medcine and Pharmacy) Background: Post fabrication and crown restoration are often required to restore the endodontically treated teeth that lack sufficient support Post space preparation may cause apical leakage and affect the integrity o f the apical seal The two factors usually affecting apical sealina abilitv are nreparation time intervals and root canal obturation techniques Objective: th e aim o f this study was to compare the apical leakage between immediate and delayed post space preparation using single cone and warm vertical compactionobturation techniques Methods: In this in vitro study, 68 extracted human central incisors were prepared with hand ProTaper instruments up to size F3 and randomly divided into four experimental groups (15 teeth/group): (1) single cone technique - immediate post space preparation, (2) single cone technique - delayed post space preparation, (3) vertical compaction sectional technique - immediate post space preparation (4) vertical compaction - delayed post space preparation, and two control groups (4 teeth/group): (5) positive control, (6) negative control Specimens were dyed in methylen blue 2% fo r 7 days, then cut vertically The linear dye leakage was measured and recorded by Nikon D7000 at x40 magnification Kruskal Wallis test and Tukeys multiple post hoc were used to determine the significant differences among the mean values o f the different groups Results: There was significant difference in mean apical leakage among four groups In groups o f immediate post space preparation mean apical leakage o f the group obturating by vertical compaction were lower significantly than the group obturating by single cone (p < 0.05) Vertical compaction - immediate post space preparation presented the lowest dye penetration mean and was statisticallly different from single cone - delayed post space preparation (p<0.05) Conclusions: Vertical compaction - immediate post space preparation have better result than other groups.

Keyw ords: Post fabrication and crown restoration, root canal obturation techniques.

ĐẶT VÁN ĐỀ

Quan điểm răng mất chất lớn được hiểu bao gồm

sự mất chất từ 1/2 thể tích thân răng trở lên, kể cả do

nguồn gốc sâu răng hay do yêu cầu của việc sửa soạn

xoang [12] Thường đá số các trường hợp này răng

đều đã phải điều trị nội nha và thiếu đi sự lưu giữ,

nâng đỡ cho mão răng của phục hình sau này Bên

cạnh việc tái tạo cùi răng bằng vật íiệu thích hợp như

composite, amalgam thì sự lưu giữ cũng cần đạt

được từ ống tủy [7], [8] Hệ thống chốt và cùi răng là

một phươnệ pháp hiệu qua để phục hồi những rang

đã được đieu trị tủy vi nó giúp lưu giữ mão và phân

phổi lực chức năng íheo suot chiều dài chân răng [11]

Trong quá trinh sửa soạn ống mang chốt, vật liệu

trám trong ống tủy có thể bị đánh vỡ, xoắn hay rung

tạo nên những vi kẽ ở vùng chóp răng hay dọc theo

ống tủy, điều này sẽ tạo đường cho vi khuẩn xâm

nhập vồ nhiễm trùng lại hệ thống ống tủy [3], [6] Một

số tác nhân khác có thể ảnh hương đến tính toàn vẹn

hay tính kết dính của chất trám vùng chóp răng trong

quá trình sửa soạn ổng mang chốt như phương pháp

và vật liệu trám bít ống tủy, kỹ thuật và thời điểm sửa

soạn ống mang chốt, lượng chất trám còn lại trong ống

tùy [4], [5] [63, [14] [18]

Trong thực hành lâm sàng, mục tiêu của việc điều

trị nộỉ nha là hệ thống ống tuy được trám bít đầy đủ

theo ba chiều không gian, không có sự thấm dịch

ngược vào trong ống tuy thông qua hệ thổng vi kể ờ

vung chóp răng hay dọc theo ống tủy và tương hợp

sinh học tốt Việc lựa chọn phương pháp trám bít ống

tùy được xem là yếu tố đầu tiên quyết định khả năng

bít kín ống tùy theo ba chiều không gian của vật liệu

trảm bít đồng thời phòng ngừa sự hình thành vi kẽ

Theo Schafer E và cộng sự Pommel L, và Camps J

đều cho thấy phương pháp một côn cho kết quả có

nhiều vi kẽ nhất, sau đó ià phương pháp lèn ngang và cuối cùng là phương pháp lèn dọc [13],[19] Ảnh hưởng của thời điểm sửa soạn ống mang chốt iên sự kết dính cùa vật liệu trám bít hay khả năng hình íhành

vi kẽ sau quá trình thực hiện sửa soạn ống mang chốt

là vấn đề hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi Sau khi trám bít ống tủy, ống mang chốt có thề được thực hiện ngay sau đó írong một lần hẹn (sửa soạn ống mang chốt tức thì) hay sau một thời giàn khi vật liệu trám bit

đã đông cứng hoàn toàn (sừa soạn ống mang chốt trì

tùy không ảnh hưởng đến vi kẽ vùng chóp răng [11], [17] Còn Solano F và cộng sự, Saiim B.M va cộng

sự thi cho rằng vi kẽ ít hiện diện hơn khi sửa soạn ổng mang chốt tức thì sau khi trám bít ống tủy so với sửa soạn ống mang chốt trì hoãn sau 7 ngày [18], [20], Tại Việt Nam, vi kẽ vùng chóp răng là đổi tượng nghiên cứu đánh giá hiệu quả cùa phương pháp trám bít một côn và lèn ngang và so sánh hiệu quả các phương pháp bơm rửa làm sạch ống tủy [1], [2] Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nào thực hiện so sánh giữa hai phương pháp trám bít ống tủy lèn dọc và một côn cũng như thời điểm sửa soạn ống mang chốt lên

vi kẽ vùng chóp răng Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích:

- So sánh vi kẽ vùng chóp răng giữa hai kỹ thuật sửa soạn ống mang chot tức thì va trì hoãn trong hai phương pháp trám bít ống tủy.

ĐÓI ÍƯ Ợ N G VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIỀN cứ u

1 Đối tư ợ ng nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện trên 68 răng cửa giữa hàm trên của người đã nhổ Các mẫu răng được chọn

có chân răng cỏn nguyên vẹn, chưa được điều trị tủy

và ống tủy không bị cong, vôi hóa, nội tiêu, ngoại tiêu

Trang 3

(được xác định qua phím quanh chóp).

2 Phương pháp nghiên cứu

Thử nghiệm in vitro có nhóm chứng

Chuẩn bị mẫu

Tất cả các mẫu thỉ nghiệm được cắt ngang tại

đường nối men ngà, được xác định chiều dài với trâm

K số 10 hoặc 15 rồi trừ đi 1 mm để có chiều dài !àm

việc Sau đó được tạo hình ống tủy với hệ thống trâm

tay Protaper (Densply, Maiiiefer, Switzerland) đen cây

ỉrâm F3 bằng phương pháp bước xuống Các mẫu

răng được bơm rửa sạch với dung dịch NaOCi 2,5%

và EDTA 15% (GlydeTM FILE PREP, Denspiy,

Maillefer, Switzerland) Các mẫu răng được bảo quản

bằng dung dịch NaCi 0,9%

Trám bít ống tủy, sưa soạn ống mang chốt và sơn

cách ly

Bốc ngẫu nhiên 8 răng vào nhóm chứng dương và

âm (4 răng/nhóm), 60 răng còn lại chia ngẫu nhiên làm bốn nhóm, mỗi nhóm 15 răng (hình 1) Tat cả các mẫu răng sau khi được trám bít được chụp phim kiểm tra theo chiều ngoài trong và gần xa đảm bao các ống ỉủy được trám kín theo ba chiều không gian Các mẫu răng không đủ tiêu chuẩn bị ioại bỏ và thay thế

Dùng sơn móng tay màu đỏ sơn ba lớp sơn mỏng cốch chop răng 2 mm, nhằm không cho phẩm nhuộm thâm nhập ống tủy qua bề mặt răng

- Nhóm chứng dương: Không trám bít ống tủy, trám buồng tủy bằng oxit-kẽm eugenol, sơn ba lớp cách chóp 2 mm nhẩm chứng minh phẩm nhuộm chỉ

có thể xâm nhập vào trong ống tủy qua lỗ chóp rằng

- Nhóm chưng âm: Không tram bíỉ ống tủy, trám buồng tủy bằng oxit-kẽm eugenol, sơn ba lớp toàn bộ chân răng (phu kín chóp răng) nhằm chứng minh khẩ năng cách ly của sơn móng tay

Mầu nghiên cứu

68 chân răng cửa hàm trên

Nhóm 1

Phương pháp

một côn -

SSOMC

tức thì

(15 răng)

Nhóm 2 Phương pháp một côn - SSOMC trì hoãn (15 răng)

Nhóm 3 Phương pháp lèn đọc 1/3 chóp- SSOMC tức thì (15 răng)

Nhóm 4 Phương pháp lèn dọc - SSOMC trì hoãn (15 răng)

KHẢNG ĐỊNH (4 răng)

PHỦ ĐỊNH (4 răng)

Hỉnh 1 Sơ đồ ỉhiết kế nghiên cứu Nhuộm màu và đọc kết quả

Sau 7 ngày quét sơn móng tay, ngâm toàn bộ mẫu răng vào dung dịch phẩm nhuộm xanh methylene 2% (Công ty cổ phần hóa dược Trung ương) trong 7 ngày Kế tiếp răng được lấy ra khỏi dung dịch phẩm nhuộm, ioại

bỏ sơn móng tay bằng dung dịch aceton và rửa dưới vòi nước 5 phút để loại bỏ phẩm nhuộm bám trên bề mặí

chân răng, sau đó để khô ở nhiệt độ phòng trong một ngày.

Dùng đĩa cắt kim cương cắt dọc răng theo hướng ngoài trong, song song với trục chân răng sao cho qua trung tâm chân răng và cắt ngang qua lỗ chóp răng Mức độ vỉ kẽ được xác định bằng mức íhâm nhập cao nhất của xanh methylen giữa thành ống tủy và vật liệu trám bỉt qua lỗ chóp răng, sự xâm nhập phẩm nhuộm được quan sát qua máy ảnh Nikon D7000 (Nikon Corp., Japan) vơi độ phóng đại 40 lần và đo đạc bằng phần mềm Photoshop CS3 Đơn vị đo đạc được tỉnh bằng mm

Xử lý số liệu và phân tích thống kê

Ghi nhận số liệu, iập bảng và xử lý thống kè bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0 Mức độ vi kẽ ở vùng chóp răng tính theo số trung bình ± độ iệch chuẩn Sử dụng phép kiểm Kruskal Wallis và Tukeys để so sánh trung binh

vi kẽ vùng chóp giữa các nhóm nghiên cứu

KẾT QUÀ

1 Trung bình vi kẽ vùng chóp của các nhóm nghiên cứu

SSOMC tức thì

(Mean ± SD)

SSOMC trì hoãn (Mean ± SD) Một côn 1,92 ±1,45 mm 2,15 ±1,21 mm

Lèn dọc 0,63 ± 0,52 mm 1,28 ±0,96 mm

p I _ 0,001

Nhận xét: Nhóm răng trám bít băng phương pháp một côn - SSOMC tri hoãn có trung bình vi kẽ vùng chóp cao nhất (nhóm 2: 2,15 ± 1,21 mm) Nhóm răng trám bít bằng phương pháp lèn dọc - SSOMC íức thi co trung bình vi kẽ vùng chóp thấp nhất (nhóm 3: 0,63 ± 0,52 mm)

247

Trang 4

Hình 2 Thâm nhập xanh methylene ờ nhóm SSOMC tức thì (a), SSOMC trì hoãn (b), nhóm chứng dương (c) và không

có thâm nhập xanh methylene ờ nhóm chứng âm (d)

2 So sánh trung bình vi kẽ vùng chóp giữa

* p<0,05

Nhận xét:- Trung bình vi kẽ vùng chóp cùa nhóm

răng được trám bít ống tủy bằng phương pháp lèn

dọc - SSOMC tức thì thấp hơn có ý nghĩa thống kê

so với nhóm răng được trám bít ống tủy bằng

phương pháp một côn - SSOMC trì hoãn (p < 0,05)

- Khi sửa soạn ống mang chốt íức thì" trung binh

vi kẽ vùng chóp của nhóm một côn cao hơn so với

nhóm lèn dọc, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <

0,05)

BÀN LUẬN

Quá trinh sửa soạn ổng mang chốt là một giai

đoạn quan trọng trong việc phục hồi răng sau điều trị

tủy Điều cần ỉưu ý trong sửa soạn ống mang chốt lấ

đảm bảo láy đi mọt lượng chất trám thích hợp trong

ống tủy đồng íhời vẫn duy trì sự kết dính của vật liệu

trám bít để tránh hình thành các vi kẽ vùng chóp và

suối dọc hệ thống ống tủy giúp ngăn ngừa việc tái

nhiễm khuần hệ íhống ống tuy, ảnh hường đến chất

lượng và sự lưu giữ cùa phục hình sau này

Ket quả bảng 1 cho thấy có sự khác biệt có ý

nghĩa thong kê giữa trung binh vi kẽ của các nhóm

nghiên cứu Trong đố.trung bình vi kẽ vùng chóp cao

nhất ở nhóm răng được trám bít bằng phương pháp

một côn - sửa soạn ống mang chốt trì hoãn (2,17 ±

1,34 mm), vài thấp nhất ờ nhỏm răng được trám bít

bằng phứơng phap lèn dọc - sửa soạn ống mang

M và Torvi S.J về ảnh hường của kỹ thuật sửa soạn ổng mang chốt tức thì và trì hoãn trong trám bít ống tủy bằng phương pháp ièn dọc cũng cho thấy vi ke thấp nhất ờnhóm lèn dọc - tức thì [11], Tương đòng với nghiên cứu của Al-Sawabỉ N.A va cộng sự cho kết quả nhỏm mộí côn - trì hoãn cho kết quả vi kẽ cao nhát [4]

ở nghiên cứu của chúng tồi, nhóm răng được trám bít bằng phương pháp len dọc - sửa soạn ống mang chốt tức thi cho kết quả ỉrung bình vi kẽ vùng chóp thấp nhất trong các nhỏm nghiên cứu ở nhóm này’ chúng tôi chì trám bít 1/3 chóp với chiều dài 5

mm rồi sưa soạn ống mang chốt ngay sau đó Tác giả Gopỉkrishna V nghiên cứu thời điểm sửa soạn ống mang chốt tức thl với những kỹ thuật trám bít ống tủy 1/3 chóp hiện đại như Simplỉíiil, Thermatilí cũng cho thấy phương pháp trám ổng tủy từng phần tốt hơn so với phương pháp lèn ngang khi can sửa soạn ống mang chốt Điều này có the do dụng cụ quay chỉ tác động vào thành ống tủy ở phía trên mà không ảnh hưởng đến phần Chat trám còn lại phía chóp [9] Grecca và cs đưa ra những ưu điểm cùa việc sưa soạn ống mang chốt tức thì trong thực hành lâm sàng như sửa soạn ống mang chốt tức thi sẽ bảo

vệ được điều kiện vô khuẩn vi vạy giảm nguy cơ tái nhiễm khuẩn hệ thống ống tùy [10] Sửa soạn ống mang chốt tức thỉ cũng giảm nguy cơ tạo ra những sai sót như mất điểm chặn và mơ rộng ống íủy vỉ nhà lâm sàng đã quen với hình thái ổng tủy và chiều dài làm việc [15] Ngoài ra, sửa soạn ống mang chốt tức thi ít tạo ra lực kéo” ảnh hương đen gutta percha vùng chóp vì chất gắn chưa đông cứng hoàn toàn vì vậy giảm nguy cơ tạo vi kẽ vùng chóp [17] Đối với những răng có chỉ định đặt chốt, sử dụng phương pháp trám bít 1/3 chóp rồi sửa soạn ống mang chốt ngay sau khi trám bít được các nhà lâm sàng cân nhắc sử dụng nhằm đem lại kết quả tốt hơn trong điều trị và giảm thời gian cho cổ bác sĩ và bệnh nhân

[9].

các nhóm nghiên cứu

Bảng 2 So sánh trung binh vi kẽ vùng chóp giữa

các nhóm nghiên cừu _

Nhỏm Một côn

-tức thì

Một côn -tri hoãn

Lèn dọc -tức thì

Lèn dọc -trì hoãn

Một côn-tức thì —

Môt côn-trì hoãn p = 0,939

Lèn dọc-ỉức thì p = 0,01* p = 0,02* —

Lèn doc-trì hoãn p = 0,378 p = 0,139 p = 0,368

Trang 5

-Yếu tố quan trọng quyết định chấí iượng trám bít

ống tủy là lựa chọn sử dụng kỹ thuật trám bit ống tủy

Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi sửa soạn ống

mang chốt tức thì, trung binh vi kẽ vùng chop của

phương pháp lèn dọc thấp hơn có ý nghĩa thống kê

so với nhóm được trám bít bằng phương pháp một

côn (bảng 2) Kết quả này tương tự với kết quả của

Robberecht L và cộng sự, Pommel L và Camps J

đều cho thấy ưu điểm của phương pháp lèn dọc

[13],[16] Dùríg hệ thống dịch chuyền chất lỏng để so

sánh khả năng trám bít của phương pháp !èn đọc với

phương pháp một côn, Pommel L và Camps J nhận

xẻí phương pháp một côn có mức độ vi ke cao nhất

khi thử nghiệm sau 1 ngày và 1 tháng Khả năng trám

bít kém có thể liên quan đến xi mang và bản thân

phương pháp một côn do côn gutta-percha không

hình thanh nên một khối như phương pháp lèn dọc

mà chỉ đưa vào ống tủy đến hết chiều đài làm việc, vi

vậy cần một lượng lớn xi măng để lấp đầy các

khoảng trống Mọt lượng lớn xi rriang sử dụng trong

phương pháp một côn dễ xảy ra hiện ỉượng co hoặc

bị tan rã nhiều hơn dẫn đến khả năng hình thành vi

kẽ vùng chóp cao hơn[13] Schafer E và cs nghiên

cứu trên những ống tủy cong bằng cách cắt ngang

chân răng rồi đo tỉ lẹ phan có gutta-percha và phan bị

trống để so sánh kha năng trám bít ống tủy, íhời gian

thực hiện và tỉ iệ vật liệu bị đẩy ra ngoai Kết quả cho

thay kha năng trám bít ống tủy của phương pháp ièn

dọc tốt hơn có ý nghĩa thống kê so với phương pháp

một côn và lèn ngang [19]

KÉT LUẬN

1 Khỉ sưa soạn ống mang chối tức thì, trung bình

vi kẽ vùng chóp của phương pháp lèn dọc thấp hơn

có ý nghĩa thống kê so với nhóm được trám bít bằng

phương pháp một côn (p < 0,05)

2 Tram bít ống tùy bằng phương pháp lèn dọc -

sửa soạn ống mang chổi tưc ihìcho kết quả íốí hơn

so với các nhóm còn lại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Văn Khoa (2010), Ành hường của Laser

Diode bước sóng 980 nm lên khả năng dán kín của vật

liệu trám bít ổng tủy, Tuyền tập các công trình nghiên

cứu khoa học răng hàm mặt 2010, Đại học Y Dược Tp

Hồ Chi Minh, tr 41-47

2 Trần Thị Anh Thư (2011), Đánh giá vi kẽ vùng

chóp răng, so sánh giữa hai phương pháp trám bít ống

tủy- nghiên cứu inviíro, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học

Y Dược Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh

3 Abramovitz í., Lev R., Fuss 2., Metzger z (2002),

The unpredictability of seal after post space preparation:

a fluid transport study, J Endod, 27(4), pp 292-303

4 Al-Sabawi N.A., Ismai! S.A., Al'Askary R.A

(2012), Effect of different techniques of immediate and

delayed post space preparation on apical seal, Rafidain

Dent J, 12(2), pp 249-256

5 Aydemir H et ai (2009), Effect of immediate and

delayed post space preparation on the apical seal of root

canals obturated with different sealers and techniques, J

Appi Oral Sci, 17(6), pp 605-610

6 Chen G., Chang Y.c (2011), Effect of immediate and delayed post space preration on apicai leakage using three root canal obturation techniques after rotary instrumentation, J Formos Med Asoc, 110(7), pp 454- 459

7 Dorothy M.c (2008), Restoration of the endodortticaily treated tooth, Dispatch, Canada

8 Fujimoio R.L (2008), Restoration of endodonticaiiy treated tooth, Contemporary fixed prosthodontics, 4th edition, pp 336-378

9 Gopikrishma V, Parameswaren (2006), Coronal sealing ability of three sectional obturation techniques- SimpiiFill, Thermafil and warm vertical compaction- compared with coid lateral condensation and post space preparation, Aust Endod J, 32, pp 95-100

10 Grecca F.s et al (2009), Effect of timing and method of post space preparation on sealing ability of remaining root filling material: In-vitro microbioiogicai study, journal of Canadian Dentai Association, 75 (8),

pp 583-5833

11 Kaia M-, Ton/i S.J (2015), An in vitro comparison

of apical leakage in immediate versus delayed post space preparation using EndoREZ and RoekoSeai root canal sealers, Journal of the international clinical dental research organization, 7 (1), pp 30-34

12 Peroz I., Lange K.p (2005),Restoring endodontically treated teeth with posts and core - A review, Quintessence international, 36 (9), pp 737-746

13 Pommel L., Camps J (2001), In vitro apicai leakage of system B compared with oiher filling techniques, J Endod, 27 (7), pp 449-499

14 Rahimi s., Shahi s., Nezafati s., Reyhani M.F., Shakouie s., Jaiiii L (2008), In viỉro comparison of three different lengths of remaining gutta-percha for establishment of apical sea! after post-space preparation, Journal of Oral Science, 50(4), pp 435-439

15 Rickeỉỉs J., Taií E , Higgins J (2005), Practice2: Tooth preparation for post-retained restoration, British Dental Journal, 198, pp 463-471

16 Robberechỉ L , Coiard T., Claisse-Crinquette A (2012), Qualitative evaluation of two endodontic obturationtechniques: tapered single-cone methodversus warm verticalcondensation and injection system - An in vitro study, Journal of Oral Science, 54(1), 99-104

17 Sadegi s (2008), Comparison of sealing ability

of lateral and vertical techniques in two different post space preparations, Israel Exploration Journal, 2 (4), pp 159-162

18 Salim B.M (2008), A comparison between immediate and delayed post space preparation on the apical seal prepared by hand protaper instrument, M Deni J, 5(3), pp 232-238

19 Schafer E., Olthoff G (2002), Effect of three different sealers on the sealing ability of both thermafi! obturators and cold laterally compacted Gutta-percha, J Endod, 28(9), pp 638-642

20 Solano F., Hartwell G., Appeístein c (2005), Comparison of apical ieakge between immediate versus delayed post space preparation using AH Pius sealer, J Endod, 31(10), pp 752-755

249

Ngày đăng: 08/02/2021, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w