1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 9

Sinh viên: tốt nghiệp và thất nghiệp

32 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình học, sinh viên đồ xô đi học những loại bằng được đồn thổi là hữu ích cho quá trình xin việc và cứ cắm đầu vào học mà quên đi việc rèn luyện những kĩ năng cần thiết[r]

Trang 1

BÁ O C Á O T Ổ N G K É T

Đ È T À I N G H IÊ N c ứ u K H O A H Ọ C C Ủ A SIN H V IÊN

SINH VIÊN: TÓT NGHIỆP & THẤT NGHIỆP

Mã số: <Mã số đề tài>

Nhóm ngành khoa học: Khoa học Xã hội Nhân vãn

Sinh viên thực hiện:

Đoàn Minh Hiệp

Nguyễn Thu Phương

Nguyễn Thùy Linh

Lớp: IB2012A

Chương trình học: Kinh doanh quốc tế

Người hướng dẫn: TS Mai Anh

Hà Nội, tháng 05 năm 2014

Trang 2

-L Ờ I CẢM ƠN ~

Không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp Chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của Thầy Cô, gia đình và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy Cô ở Khoa Quốc tể - Đại học Quốc gia Hà Nội đã dành tâm huyết của mình đề truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em

Em xin chân thành cảm ơn TS Mai Anh vì Thầy đẫ tận tình hướng dẫn chúng em qua những buổi nói chuyện, thào luận về bài nghiên cứu khoa học này Nếu không có những lời hướng dẫn của Thầy thì chúng em nghĩ bài thu hoạch này rất khó có thể hoàn thiện Một ỉần nữa, chúng em xin chân thành cảm ơn Thầy

Bài thu hoạch được thực hiện trong vòng 4 tháng Bước đầu đi vào diực tế, tìm hiểu về nghiên cứu khoa học, chúng em còn nhiều bỡ ngỡ Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót ià điều chắc chắn, chúng em rất mong nhận được những ý kiến đổng góp quý báu của Thầy Cô để bản bảo cáo này được hoàn thiện hơn nữa

Sau cùng, em xin kính chúc các Thầy Cô thật dồi dào sức khỏe để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình ià truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau

Trân trọng!

Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2014 Nhóm sinh viên thực hiện

Trang 3

Mực LỤC

A.Thực trạng sinh viên thất nghiệp Việt N am 450

L“Con đường thất nghiệp” - vẫn là mục tiêu hàng đầu * 450

1 Những con s ố 450

2 Những ngành học đang “thất sủng”: 45 ỉ 3 Doanh nghiệp cần gì ở sinh viên: 454

II Quan điểm chất lượng trong giáo dục đại học tại VN qua các giai đoạn 456 1 Giai đoạn tò 1985 trở về trước: Chất lượng = Tuyển chọn khắt k he 456

2 Giai đoạn 1986-2003: Chất lượng = Nguồn lực đầy đủ 457

4 Giai đoạn từ 2004 đến nay: Chất lượng = Đáp ứng tiêu chuẩn 457

B.Nguyên nhân thất nghiệp của sinh viên Việt N am : 460

I.Nguyên nhân khách quan 460

ĩ h C h ư ơ n g tr ìn h đ à o tạ o c h ư a g ắ n v ớ i n h u c ầ u th ự c t ế 460

I 2 S ỉn h v iê n c h ư a đ ư ợ c đ ịn h h ư ở n g m ộ t c á c h đ ú n g đ ắ n 462

II.Nguyên nhân chủ quan 464

2.1 Thụ động và kém c ỏ i 464

C.Phưcmg án đề xuất 466

1 v ề phía sinh viên 466

3 v ề phía nhà tuyển dụng 470

4 v ề phía xã h ộ i 471

Trang 4

THỰC TRẠNG

Việc làm CÓ ý nghĩa hét sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia nói chung và đối với cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình nói riêng Giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động trẻ là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà ỉãnh đạo

Việt Nam có một cơ cấu dân số tương đối trẻ, đây là một thế mạnh rất lớn để thực hiện mục tiêu “ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” dựa trên lợi thế và tiềm năng của nguồn nhân lực Tuy nhiên, thực tế cho thấy, chất lượng và cơ cấu lao động ở Việt Nam còn nhiều bất cập Xét trên tổng thể thị trường lao động, tình trạng dư cung vẫn còn phổ biến Những năm trước đây, tỷ lệ lao động qua học nghề, nhất ỉà đào tạo nghề chính quy còn thấp dẫn đến chất lượng lao động không đảm bảo, không đáp ứng được yêu cầu công việc Trong những năm gần đây, mặc dù tình ửạng học vấn của lao động không ngừng được cải thiện,

hệ thống văn bằng được nâng cao và mở rộng nhưng tình trạng thất nghiệp vẫn tiếp tục gia tăng Lượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học,cao đẳng chính quy trong cả nước không cỏ việc làm ngày càng nhiều, một bộ phận sau khi tốt nghiệp đại học trở đảm nhận các công việc không cần bằng cấp, hiện tượng sinh viên sau khi tốt nghiệp làm công nhân, hoặc ỉàm các công việc không cần đến trình độ đại học đang dần không còn xa lạ

A Thực trạng sinh viên thất nghiệp Việt Nam

I “Con đường thất nghiệp” “ vẫn là mục tiêu hàng đầu

Những con số

Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, nước ta hiện nay có hơn 72.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp, cao gấp 1,7 ỉần so với cuối năm 2012 Đây là một trong những số liệu được đưa ra trong bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam số đầu tiồn đo Bộ Lao động Thương binh xã hội công bố sáng 21/3/2014

Đến cuối quý IV/2013 cả nước có 900.000 người thất nghiệp, chiếm 1,9% lực lượng lao động trong độ tuổi, tăng 48.000 ngưòi so với cùng kỳ 2012 Báo cáo cũng nhấn mạnh tỷ lệ thất nghiệp rất cao ở những người có trình độ chuyên môn Trong đó nhóm cao đẳng và

Trang 5

cao đẳng nghề đều tăng 1,3 lần Đặc biệt tỷ lệ thất nghiệp ở lao động có trình độ Đại học trở lên khá cao với 4,25%, tăng 1,7 lần so với cùng kỳ 2012.

Tv lệ thất nghiệo tiến tục tăng cao ở thanh niên Trong đó thanh niên từ 20 đển 24 tuổi tốt nghiệp cao đẳng và đại học ữở lên có tỷ lệ thát nghiệp rất cao với 20,75%

Đặc biệt, thất nghiệp dài hạn trên 12 tháng chiếm tỷ lệ cao với 44,2%, tầng 2,4 lần so với

cùng kỳ 2012 Trong đó, tỷ lệ ở nhổm có trình độ chuyên môn cao ỉà hơn 54%, còn nhỏm không có trình độ chỉ là gần 40%.’

Tình trạng cử nhân thất nghiệp đã được cảnh báo từ lâu và vài năm gần đây điều này thành hiện thực khi hàng loạt sinh viên (SV) rai trường không xin được việc làm Thực tể cùng cực đến mức nhiều cử nhân phải giấu bằng đi ỉàm công nhân, thợ hồ, bán hàng rong Một nghịch lý khó tin cũng đang diễn ra: nhiều cử nhân và cả thạc sĩ phải “quay ngược đầu” đi học nghề, trung cấp với hy vọng kiếm được việc

Một xã hội thừa thầy thiếu thợ, việc học ĐH đầy rẫy những cấp cập, mối lo đi kèm trước một con đường không mấy sáng sủa Tấm bằng cử nhân không phải là “thần hộ mệnh” trên con đường nghề nghiệp cho mọi người Cho dù vậy, nhưng học xong lớp 12, lựa chọn cũng như mong ước của hầu hết học sinh (HS) là tìm được một chỗ tại các trường ĐH, CĐ Nơi

mà có thể 3,4 năm sau các bạn sẽ lại phải đổi mặt với bài toán kiếm việc làm

Nhiều bạn biết rõ điều đó Biết rằng, học ĐH ra trường có thể thất nghiệp, không việc làm Cùng nỗi bất an, biết bao HS vẫn ngày đêm luyện thi ĐH cùng nỗi lo thấp thỏm nếu không

đỗ sẽ phải vượt qua cú sốc này như thế nào Với không ỉt phụ huynh và HS, dường như đó

là lựa chọn duy nhất mà nếu không đạt được đồng nghĩa với việc mọi thứ chấm hết

N hững ngành học đang “ th ấ t sủng” :

Những ngành này hấp dẫn vì lương cao, môi trường ỉàm việc chuyên nghiệp Tuy nhiên, giờ đây sinh viên đang theo học những ngành này đã ít nhiều phải io âu vì những biến động tiêu cực của nó

Trang 6

hàng đã giảm 14% nhu cầu nhân lực thì trong năm 2011, đây cũng là một trong 5 ngành có nhu cầu tuyển dụng nhân lực thấp nhất Năm 2012, Ngân hàng - tài chính giảm 36% nhu cầu nhân lực và là một trong 5 ngành có mức giảm nhu cầu nhân lực nhiều nhất.

Không chỉ giảm tuyển dụng, từ ỉ-2 năm trở lại đây, các ngân hàng cũng phải tiến hành cắt giảm nhân sự Thế giói đã chứng kiến động thái mạnh tay sa thải nhân viên của hàng loạt ngân hàng như HSBC, Credit Suisse, Morgan Stanley, Deustche Bank, Goldman Sachs Tại Việt Nam, như NH Phương Đông (OCB) đã chấm dứt hợp đồng với 230 nhân viên bảo vệ

Nhiều chuyên gia dự báo, tình trạng dư thừa nguồn cung lao động trong ngành ngân hàng

sẽ tiếp tục gia tăng trước xu hướng mua bán, sáp nhập ngân hàng Thị trường đã ghi nhận những biến động nhân sự khá mạnh mẽ ở Sacombank, Habubank khi các ngân hàng này trải qua những thay đổi cơ bản về chủ sở hữu

Ngoài ra, trước xu hướng chuyển đổi từ hình thức Ngân hàng thương mại sang Ngân hàng Đầu tư, nhu cầu nhân sự ở các ngân hàng càng giảm Đặc biệt, khi ngân hàng bị thắt chặt hơn về chính sách, tăng trưởng của ngành ngân hàng dự báo sẽ chậm lại Đồng nghĩa lương, thưởng cho nhân viên sẽ không hậu hĩnh như thời vàng son Đó là ỉý do vì sao các chuyên gia tư vấn khuyên bạn trẻ nên suy nghĩ kỳ trước khi chọn ngành tài chính-ngân hàng

Đến nay, ước tính chỉ còn khoảng l trong tổng số CTCK là “sống” Các CTCK còn ỉại,

hoặc thoi thóp hoặc “chết” mà chưa công bố

Trong bối cảnh ấy, những người hoạt động trong ngành chứng khoán, từ nhân sự cấp cao đến nhân viên cấp thấp đều ít nhiều nếm trải vị đắng của giảm lương, giảm thưởng, điều chuyền công việc, cắt giảm nhân sự Rất nhiều nhân sự ngành chứng khoán đều phải tự tìm

Trang 7

con đường mới cho mình bằng cách chuyển sang một CTCK tốt hơn hoặc chuyển nghề, chuyển việc.

Dư chấn của TTCK suy giảm cững tác động đến nhân sự ngành chứng khoán Rất nhiều sinh viên ngành chứng khoán tốt nghiệp không tìm được việc làm đúng ngành Và trong các CTCK, cuộc sàn lọc nhân sự vẫn diễn ra Riêng những người ở lại cũng chịu những áp lực nặng nề từ thu nhập sụt giảm, từ doanh sổ phải đạt trong điều kiện thị trường ảm đạm, giao dịch lèo tèo

sự, chỉ duy trì tuyển kỹ sư làm việc ngoài công trường

Các chuyên gia đồng tình, chính vì không bán được hàng, không ghi nhân doanh thu mà doanh nghiệp buộc phải tính cách tinh gọn bộ máy để tiết giảm chi phỉ Một số doanh nghiệp tuy không chủ trương cắt giảm nhân sự nhưng nhiều người vẫn tìm cách ra đi Bởi

họ muốn tìm những cơ hội mới với thu nhập tốt hơn, công việc thú vị hơn

Theo kết quả dự báo nguồn nhân lực có trình độ tại TP.HCM trong giai đoạn 2014 - 2015,

xu hướng đến 2020 “2025, mỗi năm, TP.HCM có thêm khoảng 270.000 chỗ làm mới Trong đó, ỉao động có trình độ đại học, cao đẳng chí chiếm khoảng 31%, tương đương với89.000 lao động

Cụ thể: Nhóm 4 ngành công nghiệp trọng điếm của TP như: cơ khí, điện tử - công nghệ

thông tin, hóa chất cần khoảng 45.900 lao động mồi năm

Nhóm 9 ngành dịch vụ như: tài chính - ngân hàng, giáo dục, du lịch, bưu chính viễn thông có thêm 97.200 việc làm mới mỗi năm

Các ngành nghề khác như: Marketing, địch vụ ~ phục vụ, quản lý hành chính, khoa học xã hội & nhân văn cần thêm 126.900 lao động mỗi năm

Trang 8

v ề nhu cầu nguồn nhân ỉực qua đào tạo phân theo nhóm ngành, đứng đầu vẫn là các ngành

về kỹ thuật công nghệ với 70.875 chồ làm mới/ năm Tiếp theo là nhỏm ngành về kinh tế - tài chính - ngân hàng - pháp luật - hành chính với 66.825 chỗ làm mới/ năm Đứng thứ 3 với 16.200 chỗ làm mới/ năm là nhóm ngành về khoa học xã hội - nhân văn “ du lịch.2

Doanh nghiệp cần gì 0* sinh viên:

Có một thực trạng đáng buồn hiện nay là phần lớn sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng vì thiếu những kiến thức, kỹ năng cần thiết để đảm nhận các vị trí công việc mà họ dự tuyển Theo các chuyên gia tuyển dụng thì phần lớn sinh viên thiếu hoặc yếu các kiến thức, kỹ năng thực hành mặc dù đã được đào tạo bài bản suốt mấy năm học

Khả năng thực hành, học hỏi và kỹ năng cả nhân

Đó là yếu tố quan trọng nhất mà doanh nghiệp cần ở người lao động (NLĐ) Khả năng thực hành thể hiện qua việc NLĐ biết những kiến thức, kỹ năng chuyên môn phù hợp với yêu cầu công việc và có khả năng ứng dụng những kiến thức, kỹ năng đó vào thực tế để hoàn thành công việc mà họ đảm nhận Vỉ dụ: một cử nhân Anh văn phải nám vững về văn phạm và có vốn từ vựng tiếng Anh phong phú, có khả năng đọc, hiểu, nghe, nói lưu loát Trong thực tế, đã có những cử nhân Anh văn khi tham dự phỏng vấn bằng tiếng Anh đã

“toát mồ hôi” vì không hiểu người phỏng vấn hỏi gì và không biết diễn đạt điều mình muốn nói như thế nào dù điểm kiểm ừa viết khá cao

Các doanh nghiệp cũng hiểu rõ là không thể mong đợi các tân sinh viên đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng chuyên môn tương ứng với từng công việc cụ thể Mặt khác, để phục vụ chiến lược phát triển của mình, các doanh nghiệp cũng thường có chính sách đào tạo, huấn luyện để phát triển, nâng cấp nguồn nhân !ực của mình Chính vì vậy, ngoài yêu cầu về những kiến thức, kỹ năng chuyên môn cơ bản ở NLĐ, các doanh nghiệp cũng mong đợi họ có “kỳ năng học” Điều này nghe tưởng chừng đơn giản nhưng thực tế lại không phải như vậy Phải thẳng thắn nhìn nhận rằng phần lớn sinh viên của chúng ta vẫn có thói quen “học thụ động”, nghĩa là chỉ học những gì được d3ạy mà chưa chủ động

2‘Nhân Sự Ngành Nào Đang “thất Sủng”? - Tư v ấn Nghề Nghiệp I CareerLink.vn’

<http://www.careerlink.vn/cam-nang-viec-lam/tu-van-nghe-nghiep/nhan-su-nganh-nao-dang-%E2%80%9Cíhaí-sung%E2%80%9D> accessed 30 May 2014.

Trang 9

học và tìm học những gì mình thấy cần Trong khi ở môi trường làm việc, không phải lúc nào và ở đâu NLĐ cững được dạy theo kiểu như vậy.

Bên cạnh những yêu cầu trên, NLĐ cần phải có những kỹ năng cá nhân cần thiết, trong đó

kỹ năng trình bày và giao tiếp có thể xem là quan trọng nhất Kỹ năng trình bày thế hiện qua việc diễn đạt một cách đầy đủ, chính xác và rõ ràng những gì mình muốn nói - những

ý kiến, quan điểm, suy nghĩ của mình Không thể nói hết, nói đúng những gì mình nghĩ là một hạn chế rất ỉớn ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công của một người, đặc biệt là trong môi trường làm việc

Kỹ năng giao tiếp

Kỹ năng giao tiếp thể hiện qua hiệu quả giao tiếp của một người với những người xung quanh Để giao tiếp tốt không nhất thiết phải “nói hay”, thậm chí một người “nói hay”

chưa chắc đã là người giao tiếp tốt Nghĩa là “giao tiếp” không chỉ gói gọn trong phạm vi

“nói và nghe” mà cần được hiểu ở nghĩa rộng hơn Đó là khả năng xây dựng và phát triển

mối quan hệ với người xung quanh, hiểu họ và làm cho họ hiểu mình từ đỏ tạo ra sự đồng

cảm, hợp tác, chia sẻ và hỗ trợ iẫn nhau trong công việc và cả cuộc sống Môi trường làm việc ngày nay đòi hỏi tính đồng đội rất cao, một người không thể thành công nếu chỉ ỉàm việc “một mình” mà không có sự hợp tác, hỗ trợ qua lại với người khác

Kỹ năng làm việc độc lập và làm việc nhỏm

Kỹ năng làm việc độc lập đòi hỏi NLĐ phải có khả năng tự mình xử lý công việc hầu như

từ A đén Z: từ bước xác định mục tiêu, lập kế hoạch, thu thập thông tin, chuẩn bị các nguồn lực cần thiết đến việc triển khai thực hiện và báo cáo kết quả Việc giao cho sinh viên các bài tập, các dự án cá nhân với những mục tiêu mang tính thực tiễn mà để hoàn thành không chỉ dựa vào các bài giảng ở trường hay sách giáo khoa mà còn đòi hỏi các thông tin, kiến thức kinh tể, xã hội và thực tế sẽ giúp sinh viên rèn luyện khả năng làm việc độc lập Ngược lại, kỹ năng làm việc nhỏm lại đòi hỏi khả năng phối hợp, làm việc chung với những người khác trong cùng một dự án hoặc một chuỗi công việc, trong đó kết quả

công việc không được quyết định bởi một cả nhân mà phụ thuộc vào sự phối hợp, hỗ trợ

lẫn nhau của các thành viên trong nhóm Để trở thành một thành viên hiệu quả trong nhóm, mỗì người phải biết phát huy các thế mạnh của mình để đóng góp vào thành công chung,

Trang 10

đồng thời cũng phải biết chấp nhận “hy sinh” một phần “cái tôi” để hòa hợp với các thành viên khác.4

n Quan điểm chất ỉinmg trong giáo dục đại học tại VN qua các giai đoạn

1 Gia! đoạn t ừ 1985 trở về trước: C h ẩt lượng M Tuyển chọn k h ẳt khe

Giáo dục đại học Việt Nam cho đến giữa thập niên 1980 vẫn cơ bản là giáo dục dục tinh hoa Vì vậy, trong giai đoạn này vấn đề chất lượng giáo dục đại học hầu như không được đặt ra, khi nhân vật then chốt của quá trình đào tạo là sinh viến vốn đã được xem là thuộc hàng ưu tú, được chọn lọc cẩn thận ngay từ đầu vào với tỷ lệ sàng lọc khắt khe Có thể nói, trong một thời gian đài, hệ thống giáo dục đại học VỉệtNam đã quan niệm quản lý chất lượng giáo dục đồng nghĩa với việc kiểm soát đầu vào thông qua các kỳ thi tuyển mang tính cạnh tranh cao độ

Trong thời gian này, đảm bảo chất lượng được thực hiện bằng phương pháp kiểm soát chất lượng (quality control) Ngoài việc kiểm soát đầu vào như đã nêu trên, chất lượng đầu ra cũng được kiềm soát thông qua hoạt động thi cử, công nhận tốt nghiệp, và cấp phát văn bằng theo những quy định được áp đặt từ trên xuống Bên cạnh đó, việc kiểm soát chất ỉượng hoạt động được thực hiện thông qua hệ thống thanh-kiếm tra nhằm giám sát những hoạt động cốt lòi Tuy nhiên, tác động và hiệu quả của hệ ửiống thanh-kiểm tra không cao,

vì chỉ nhấn mạnh việc phát hiện và xử phạt những hoạt động cố tình làm sai lệch những quy định và chuẩn mực sẵn có, mà không đặt ra mục tiêu tìm hiểu để cải thiện liên tục và toàn diện nhằm đáp ứngngày càng cao những yêu cầu thay đổi của cuộc sống

Một hệ thống khép kín và có tính hướng nộí cao độ như đã nêu, cho dù có dựa trên những con người thực sự lồi ỉạc, cũng không thể đáp ứng được đầy đủ mọi yêu cầu của thực tế Tuy nhiên, trong tình hình chính trị xã hội ít biến động do đóng cửa của giai đoạn trước

1985, việc thay đổi phương pháp quản lý trong giáo dục đại học không phải là một nhu cầu cấp bách Mọi việc chỉ khởi động theo chiều hướng cách tân từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đối mới toàn diện, trong đó gồm cả đổi mới giáo dục đại học, từ giữa thập niên 1980

4‘Doanh Nghiệp cầ n Gì Ở Một Sinh Viên Mới Tốt Nghiệp?’ <http://www.kynang.edu.vn/ky-nang-phong- van-tim-viec/380-doanh-nghiep-can-gi-o-mot-sinh-vien-moi-ra-truong.html> accessed 30 May 2014.

Trang 11

2 G iai đoạn 1986-2003: C h ất ỉtrọìig = Nguồn lực đầy đủ

Nãm 1986 đánh dấu sự bắt đầu của công cuộc đổi mới giáo dục đại học tại Việt Nam, trong đó một trong những mục tiêu quan trọng của việc đổi mới giáo đục đại học tại Việt Nam ià tăng cường “khả năng cung ứng” của các cơ sở giáo dục, mở rộng tối đa cơ hội tiếp cận cho người học Đê đạt mục tiêu này, trong vòng gần hai thập niên kể từ khi giáo đục đại học Việt Nam bắt đầu đồi mới, rất nhiều biện pháp đã được thực hiện để đạt được mục tiêu nói trên, mà kết quả là số lượng người học cũng như các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam đã tăng lên một cách đột biến

Sự gia tăng về quy mô và số lượng đòi hỏi phải cỏ hai điều kiện cơ bản là sự gia tăng tương ứng về nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực), và một cơ chế quản lý mới đi kèm với năng lực lãnh đạo và quản lý phù hợp với quy mô mới để có thể duy trì “ chứ chưa nói đến việc cải thiện - chất lượng của giáo dục đại học Tuy nhiên, trong vòng gần hai thập niên đồi mới vừa qua, giáo dục đại học của Việt Nam đã chỉ chú ừọng đến việc tăng cường nguồn lực (chủ yếu thông qua học phí do người học đóng góp và kinh phí cấp từ ngân sách nhà nước), mà chưa quan tâm đúng mức đến vai trò quan trọng của cơ chế và năng lực lãnh đạo và quản lý của toàn hệ thống

Quan điểm chất lượng đồng nghĩa với nguồn lực đầy đủ của giai đoạn này thể hiện rất rõ qua việc tăng cường cấp kinh phí từ ngân sách cho các đại học quốc gia và các trường được chọn vào danh sách “trọng điểm đầu tư”, trong khi chưa hề cỏ các cơ chế hoàn chỉnh

để giám sát và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực để đạt được mục tiêu mong muốn Chính vi quan điểm phiến diện này mà sau gần hai thập niên đổi mới với tỷ lệ ngân sách dành cho giáo dục tăng ỉên đều đặn, chất lượng giáo dục đã không những không tăng ỉên mà còn giảm sút Tình trạng này cho thấy việc áp đụng những phương pháp quản lý mới để đảm bảo và nâng cao chất lượng giảo đục đại học đã trở thành một yêu cầu bức thiểt trong giai đoạn hiện nay

G iai đoạn từ 2004 đến nay: C hất lượng = Đáp ứng tỉêu chuẩn

Nêu cần chọn một mốc thời gian nhằm đánh dấu bước ngoặt của sự phát triển trong quản

lý chất lượng giáo dục đại học của Việt Nam thì đó chính là năm 2004 Vào năm này, một loạt các văn bản quản lý nhà nước ở tầm quốc gia đã khẳng định rõ chủ trương đổi mới

Trang 12

quản lý bằng cách áp dụng kiểm định chất lượng, một cách làm xuất phát từ nền giáo dục đại học Hoa Kỳ và đang trở thành một phương thức quàn ỉý chất lượng được áp dụng rộng rãi trên thế giới tò thập niên 1990:

- Nghị quyết số 37-2004/QH1 í của Quốc hội khoá XI thông qua ngày 3/Ỉ2/2004 đã chỉ rõ "Lấy việc quản lý chất lượng ỉàm nhiệm vụ trọng tâm; thực hiện việc kiểm định chất lượng giáo đục hàng năm"

“ Ngày 2/8/2004 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Chỉ thị số BGD&ĐT f ] trong đó yêu cầu các cấp quản lý giáo dục, các trường đại học và cao đẳng trong toàn quốc "khẩn trương xây dựng và hoàn thiện về tổ chức, bộ máy và triển khai hoạt động của hệ thống khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục"

25/2004/CT Ngày 2/12/2004, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ban hành Quy định tạm thời về kiểm định, chất ỉượng trường đại học (Trích Tài liệu tập huấn Tự đánh giá, Cục Khảo thí và Kiểm định chất ỉượng giáo dục,

Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006)

Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo được ban hànli sau gần 2 năm dự thảo và lấy ý kiến góp ý của các trường đại học và các chuyên gia ừong và ngoài nước Với quy định này, lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục của đất nước, Việt Nam đã có được một bộ tiêu chuẩn rỗ ràng, minh bạch, cơ bản xác định được các yêu cầu về chất lượng liên quan đến sứ mạng, mục tiêu, cơ cấu, điều kiện nguồn lực, và các mặt hoạt động của một trường đại học của Việt Nam

Tiếp theo sự ra đời của quy định nêu trên, trong vòng gần 3 năm từ năm 2005 đến giữa năm 2007, 20 trường đại học Việt Nam, gồm 18 trường công lập cùng 2 trường dân lập được xem là thuộc tốp đầu trong hệ thống đại diện cho các khu vực địa lý trên toàn quốc,

đã được chọn để thí điểm đánh giá theo bộ tiêu chuẩn đã ban hành Sau khi áp dụng với 20 trường, bộ tiêu chuẩn tạm thời đã được điều chỉnh, bồ sung, sửa chữa để trờ thành bộ tiêu chuẩn chính thức được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành vào tháng 11/2007

Các tiêu chuẩn chất lượng cúa trường đại học và cao đẳng của Việt Nam theo quy đinh hiện hành của Bộ Giảo dục và Đào tạo gồm 10 khía cạnh như sau:

1 Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học (Tiêu chuẩn 1)

2, Tồ chức và quản lý (Tiêu chuẩn 2)

Trang 13

3 Chương trình giáo đục (Tiêu chuẩn 3)

4 Hoạt động đào tạo (Tiêu chuẩn 4)

5 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảĩĩg viêiĩ và nhâĩí viên (Tiêu chuẩn 5)

6 Người học (Tiêu chuẩn 6)

7 Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ (Tiêu chuẩn 7)

8 Hoạt động hợp tác quốc tế (Tiêu chuẩn 8)

9 Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác (Tiêu chuẩn 9)

10 Tài chính và quản ỉý tài chính (Tiêu chuẩn 10)5

s‘Đảm Bảo Chất Lượng Giáo Dục Tại Đại Học Tại Việt Nam Với Nhu cầ u Hội Nhập’

<http://www.udn;vn/bcns/view/278/l 5 1> accessed 24 May 2014.

Trang 14

NGUYÊN NHÂN

A Nguyên nhân thất nghiệp của sinh viên Việt Nam:

Như thực trạng đã được đê cập đên trong phân trước của đê tài nghiên cứu khoa học này, đa phần sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp đều gặp tình trạng khó khăn khi xin việc ở các doanh nghiệp nhà nước và đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài Thực tế đã cho thấy một số lượng ỉớn sinh viên sau khi tốt nghiệp phải nằm dài chờ được gọi phỏng vấn sau khi đã nộp hồ sơ, trong đó không ít người thì tìm ngay đến những công việc lao động chân tay để kiếm đồng tiền sinh sống qua ngày như bán trà đá, bán hàng rong ngày càng trở nên thu hút với những cử nhân Đại học, số còn lại thất nghiệp nằm dài ở nhà hoặc kiếm một ngành nghề khác không đúng vói chuyên ngành đã được học ừên giảng đường Đại học Có thể nói số lượng “cung” thì luôn luôn vượt mức tiêu chuẩn nhưng số lượng thực chất mà xã hội “cầu” thì chiếm một tỷ trọng phần trăm rất nhỏ so với thị trường cung ứng lao động dồi dào hiện nay Vậy đâu là nguyên nhân của thực trạng đáng buồn kể trên, trong bài nghiên cứu này, nhóm chúng tôi sẽ đề cập đến 2 khía cạnh nguyên nhân tác động, trước hết ỉà từ những yểu tố khách quan tác động từ bên ngoài và những nguyên nhân chủ quan nội tại xuất phát từ bản thân những sinh viên đã, đang và sẽ học tập tại và lao động ở môi trường Việt Nam làm ảnh hưởng đến tình trạng thất nghiệp khi ra trường của sinh viên Việt Nam hiện nay

NGUYÊN NHÂN KHÁCH QUAN

ỉ ỉ Chương trình đào tạo chưa gan với nhu cầu thực tế

Từ bao lâu nay, những mặt báo luôn được đánh bóng với những tiêu đề chỉ trích chất iượng

và năng lực làm việc sau khi tốt nghiêp của sinh viên Việt Nam ở mức kém, kể cả những sinh viên đạt được tấm bằng cử nhận loại Giỏi và Xuất sắc, các chủ doanh nghiệp nhà nước và tư nhân luôn phàn nàn về việc họ phải chi một khoản tiền rất lớn để đào tạo ỉại những sinh viên được nhận vào làm trước khi cho họ bắt tay vào công việc thực sự, không chỉ thiếu kiến thức về chuyên môn mà những sinh viên này còn thiếu trầm trọng những kĩ năng mềm như xử ỉý tình huống, làm việc nhóm, giao tiếp, ngoại ngữ, quả là những yêu cầu rất cao đòi hỏi sinh viên phải hấp thu kiến thức và tự rèn ỉuyện cho bản thân mình ngay trong quá trinh học Bà Vũ Thu Hà, Giám đốc Công ty c ồ phần ứng dụng tâm lý Hoa Mặt

Trang 15

Trời chia sẻ, công ty bà đã từng gặp phải nhiều trường hợp sinh viên, thậm chí sinh viên bằng khá giỏi nhiều, nhưng rất kém về nghiệp vụ chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng thực hành: “Phần lớn sinh viên được công ty tuyển dụng phải đào tạo lại Điều này đã làm mat nhiều thời gian và gia tăng chi phí của chúng tôi Đây cũng là lý do nhiều doanh nghiệp không mặn mà với sinh viên mới ra trường”, bà Hà thẳng thắn cho biết, con số này chiếm tới 61%6 Để tìm hiểu ngọn ngành vê nó, có lẽ nguyên nhân đầu tiên xuất phát ngay từ chính nguồn đào tạo hay chính những trường Đại học của Việt Nam, có thể nói giáo trình ở những trường Đại học cùa Việt Nam từ trước đến nay luôn được xếp vào loại khó về chuyên môn tuy lại không mang sát với thực tế, phân bổ chương trình thường dạy sinh viên

những kiến thức mang nặng tính lý thuyết mả sau này các sinh viên cổng sẽ phải ngẩn tò íe

vì mãi không được dùng những kiến thức đã được học ở trên ghế giảng đường để rồi sinh

viên cầm ra những tấm bằng cử nhân mang danh sinh viên Khá, Giỏi hoặc Xuất sắc nhưng thực ra lại chẳng biết gì ngoài những lí thuyết trên mặt giấy, nhìn công việc với một tâm K

xa lạ như thể chưa bao giờ được biết đến làm việc thực tế lại khác xa đến vậy Những môn học thiết thực rèn luyện những kĩ năng xã hội là khá hiếm trong chương trình học, có chăng thì cũng chỉ xuất hiện vài buổi dưới hình thức công tác tuyên truyền và định hướng

về nghề nghiệp sơ sài và thiếu thông tin trầm trọng của các trường Đại học Trong quá trình học, sinh viên đồ xô đi học những loại bằng được đồn thổi là hữu ích cho quá trình xin việc và cứ cắm đầu vào học mà quên đi việc rèn luyện những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống trong mồi trường làm việc sau này, đặc biệt là khi được tuyển dụng vào những công ty của nước ngoài, việc phải hoạt động nhóm liên tục giữa các phòng ban khác nhau của công ty là không thể tránh khỏi, với việc độc lập trong suy nghĩ như đa số những sinh viên được hoc ở bậc giảng đường thì việc hòa nhập, tiếp thu và đỏng góp ý kiến cùa mình trong môi trường nhóm là quả khó khăn, nhất là với những cá thể có cái “ tôi “ quá cao sẽ

dễ nảy sinh tranh chấp và cãi vã trong công việc, không chỉ làm ảnh hưởng đến mối quan

hệ với những đồng nghiệp mà còn khiến cho công việc được thực hiện một cách không hiệu quả Không chỉ dừng ờ đó, khả năng giao lưu và làm việc với đối tác nước ngoài của

6 ‘Giật mình về con số 61% sinh viên ra trường phải đào tạo lại’ <http://tintuc.hocmai.vn/huong-

nghiep/nganh-nghe/2Q497-giat-minh-ve-con-so-61-sinh-vien-ra-truong-phai-dao-tao-lai.html> accessed 24

M a y 2014

Trang 16

những sinh viên này cũng vô cùng hạn chế, việc không chịu tìm tòi những tập tục văn hóa cũng như cách làm việc của các đối tác khiến cho các doanh nghiệp e dè khi để sinh viên mới được tuyển thực hiện những nhiệm vụ ấy vì đôi khi chỉ một sơ xuất nhỏ trong cách ứng xử cũng có thể khiến cho những hợp đồng họp tác trị giá tiền tỷ của các doanh nghiệp tan thành mây khói hay đơn giản hon là câu chuyện của hang chục tập hô sơ xin việc bị các nhà tuyển dụng vứt vào xò rác hay những e-mail điện tử nộp hồ sơ dễ dàng bị nha nút

“Xóa”, những kĩ năng viết e-mail tưởng chừng rất đơn giản nhưng hầu hết sính viên lại không biết, viết và thể hiện một cách qua loa, hời hợt từ hình thức lẫn nội dung thể hiện sự thiếu kiến thức về qui tắc soạn thảo văn bản cũng như gửi thư điện tử và sự tôn trọng tối thiểu vái nhà tuyển dụng Truyền thống về cách giảng đạy cũng ngấm sâu vào văn hóa sư phạm của Việt Nam từ cấp Tiểu học cho đến Đại học, học sinh, sinh viên đã quá quen với cách thức thầy giảng trò chép, một trong những nguyên nhân chính hình thành nên tố chất lười suy nghĩ, thụ động, không sang tạo và sinh viên là sản phẩm cuối cùng của hệ thống giáo dục cũ kĩ và lạc hậu ấy và những sản phẩm ấy như thế nào thì chúng ta đã rõ, những sản phẩm “lỗi”, khó có thể sử dụng nếu không sửa chữa

ỉ 2 Sinh viên chưa được định hướng một cảch đủng đan

Nguyên nhân ngoại lai thứ hai tác động mạnh mẽ đến tình ứạng thất nghiệp cùa sinh viên hiện nay đó là sự xác định sai phương hướng ngay từ thời điểm khởi đầu mà hơn ai hết là

sự tác động từ gia đình và xã hội là chủ yếu Xã hội Việt Nam vốn từ lâu nay đã nổi cộm lên vấn đề trọng bằng cấp, nhất là với những công ty doanh nghiệp nhà nước, chỉ tuyển những sinh viên có bằng đại học chính quy đã dấy lên sự quan ngại cho những bậc làm cha ỉàm mẹ, phải bằng mọi cách để cho con đỗ vào một trường Đại học công lập, không cần biết đó là trường nào chỉ cần đảm bảo được tấm bằng đại học đầu ra Điều này vô hình chung khiến những học sinh cuối cấp mất đí sự ỉựa chọn của bản thân mình vì việc chống đối lại gia đình là một việc khó khan, không được học những gì mình thích, cỏ năng lực và

có sở trường để rồi sau 4 năm đại học thì hoàn toàn mất phương hướng trong học tập và cuộc sống vì bản thân họ không cỏ hứng thú với những công việc ấy và đồng thời cũng đẫn đến rất nhiều hệ ỉụy khác trong cuộc sống> Một phần nếu như theo những ngành nghề khác, đặc biệt là khối ngành gia đình không có truyền thống, các bậc phụ huynh lo lắng sẽ không kiếm được việc cho con em trong nay mai nên tìm mọi cách thúc ép con mình phải

Ngày đăng: 08/02/2021, 22:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w