Bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là một trong những nhiệm vụ của ngành giáo dục,xem trọng “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở cáctrường THCS hiện nay
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài : Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Vật lý 9 phần điện học
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong giai đoạn đổi mới của đất nước, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh hơn nữa côngtác giáo dục, và coi đây là một trong những yếu tố đầu tiên, yếu tố quan trọng góp phầnphát triển kinh tế - xã hội Mục tiêu của giáo dục là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực
và bồi dưỡng nhân tài”
Bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là một trong những nhiệm vụ của ngành giáo dục,xem trọng “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở cáctrường THCS hiện nay đã được tổ chức thực hiện trong nhưng năm qua Bồi dưỡng họcsinh giỏi là nhiệm vụ then chốt trong mỗi nhà trường, là thành quả để tạo lòng tin với phụhuynh và là cơ sở tốt để xã hội hoá giáo dục
Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn tại trường THCS Đọi Sơn, tôi cũng đã thu đượcmột số kết quả trong công tác ôn học sinh giỏi, đã có các học sinh đạt giải nhất, giải nhì
và giải khuyến khích cấp huyện qua các năm bồi dưỡng Với mong muốn công tác ônluyện này đạt kết quả tốt, thường xuyên và khoa học hơn, góp phần hoàn thành mục tiêugiáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục của địa phương, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh
nghiệm năm học này là: “ Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn vật lý 9 phần điện học”.
II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Nhằm xác định rõ kế hoạch, nhiệm vụ của giáo viên phải dạy như thế nào để chohọc sinh học tốt, đi thi có giải
- Xác định được phương hướng ôn tập, học tập cho học sinh, tạo điểm nhấn sứcvượt cho học sinh khi tham dự đội tuyển HSG môn Vật lí
- Giúp học sinh nâng cao kiến thức, kỹ năng tìm ra phương hướng học bộ môn đểhọc sinh yêu thích học bộ môn hơn nữa
- Giúp cho bản thân người dạy cũng như đồng nghiệp bổ sung vào phương pháp
Trang 2dạy học bộ môn của mình một số bài học thực tiễn.
- Góp phần đẩy mạnh phong trào tự học, tự nghiên cứu của giáo viên và học sinh
- Tạo đà phát triển cao hơn cho việc bồi dưỡng đội tuyển trong các năm học tới
- Tăng cường trao đổi học tập kinh nghiệm từ đồng nghiệp cùng đơn vị Cũng nhưmong muốn sự đóng góp kinh nghiệm để đồng nghiệp, góp ý kiến nhằm nâng caochuyên môn và khả năng tự học, tự đào tạo thực hiện phương châm học thường xuyên,học suốt đời
Đề xuất một số biện pháp thực hiện công tác bồi dưỡng để nâng cao chất lượng họcsinh giỏi giỏi môn vật lý 9 của trường THCS , góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dụccủa nhà trường
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh giỏi môn vật lý lớp 9 trong trường THCS
2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này tôi áp dụng trong trường THCS Đọi Sơn nói
riêng và và các trường THCS nói chung với tinh thần rút ra những bài học kinh nghiệm
và có sửa chữa, bổ sung cho phù hợp với các đối tượng và giai đoạn cụ thể
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp quan sát: Quan sát thức tế, thực trạng về công tác chỉ đạo, công tácbồi dưỡng, quá trình học tập, chất lượng học tập của HS giỏi
Phương pháp nghiên cứu tài liệu Nghiên cứu sách, báo, giáo trình có liên quan đếncông tác bồi dưỡng HS giỏi Nghiên cứu chất lượng HS giỏi những năm trước Nghiêncứu công tác chỉ đạo của nhà trường đối với công tác bồi dưỡng HS giỏi
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lý luận
Các kết quả thực tế cho thấy số học sinh được xem là có năng lực nhận thức, tư
duy, vốn sống nổi trội hơn các em khác chiếm từ 5-10% tổng số học sinh Các tài năngxuất hiện từ rất sớm Vì vậy trên thế giới, người ta luôn quan tâm đến việc phát hiện vàbồi dưỡng nhân tài ngay từ những năm tháng trẻ còn nhỏ tuổi Ở nước ta, từ nhiều nămnay vấn đề này cũng được quan tâm
2
Trang 3Đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đấtnước, tổ chức thi học sinh giỏi còn có tác dụng thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt, họctốt, việc bồi dưỡng học sinh giỏi có tác dụng tích cực trở lại đối với giáo viên Để có thểbồi dưỡng học sinh giỏi, người giáo viên luôn phải học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức đểnâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cũng như phải bồi dưỡng lòng yêunghề, tinh thần tận tâm với công việc.
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, các sự vật hiện tượng vật lý rất quen thuộcgần gũi với các em Việc tạo lòng say mê yêu thích và hứng thú tìm tòi kiến thức lại phụthuộc rất nhiều vào nghiệp vụ sư phạm của người thầy Qua giảng dạy và tìm hiểu tôinhận thấy phần lớn các em chưa có thói quen vận dụng những kiến thức đã học vào giảibài tập vật lý một cách có hiệu quả, nhất là đối với các bài tập khó dành cho học sinh khágiỏi
3 Một số giải pháp cụ thể cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Vật lý 9 phần điện học
a Đối với học sinh
Để tự tin và học giỏi môn Vật lý trong nhà trường, học sinh cần có phương pháp
học tập sao cho khoa học, hợp lý:
Đọc và soạn bài kỹ trước khi đến lớp Chú ý ghi lại những từ ngữ quan trọng,những vấn đề còn chưa rõ trong bài để khi đến lớp khi nghe thầy cô giảng bài học sinh sẽtiếp thu nhanh hơn Phải mạnh dạn hỏi ngay những gì còn chưa hiểu với thầy cô, bạn bè
Về nhà làm tất cả các bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập Muốn vậy phảihọc đều tất cả các môn, đặc biệt là môn Toán, vì đây là môn học giúp ta có được tư duylogic và tính toán chính xác, rất cần trong việc giải các bài tập Vật lý
Trang 4Cần có lòng yêu thích môn học, có yêu thích mới có hứng thú trong học tập Đây
là một trong những yếu tố rất cần thiết để học tốt môn này Vậy bằng cách nào? Phảithường xuyên đọc sách Vật lý vui, tham gia các hoạt động liên quan đến Vật lý như thamgia câu lạc bộ Vật lý ở trường, trên Internet,… Luôn đặt câu hỏi "Tại sao?" trước nhữngvấn đề, những tình huống thuộc môn vật lý dù là đơn giản để từ đó khơi gợi tính tò mò,đòi hỏi phải được lý giải Như vậy dần dần sẽ tìm thấy được những cái hay, cái thú vịcủa bộ môn này mà yêu thích nó
Rèn luyện một trí nhớ tốt vì có như thế mới nắm bắt được bài mới ở lớp cũng nhưcác kiến thức đã học trước đó Rèn luyện như thế nào? Đó là : trước khi học bài mới nênxem lại các bài học cũ Như thế sẽ mất nhiều thời gian chăng? Câu trả lời là "Không" vìnhững bài đó mình đã học, đã biết, đã nhớ nên xem lại sẽ rất nhanh Khi được tái hiện lầnnữa, sẽ giúp nhớ được lâu hơn, chắc hơn
Luôn tìm tòi mở rộng kiến thức Chương trình trong sách giáo khoa vốn là kiếnthức chuẩn, căn bản nhưng không thể giải thích cặn kẽ hết mọi vấn đề vì thời lượngchương trình không cho phép Cho nên, để hiểu rõ và nắm chắc kiến thức trong sách giáokhoa chúng ta cũng cần tìm đọc thêm sách tham khảo ( không phải là sách giải bài tập).Đồng thời, nên làm bài tập thật nhiều, bắt đầu từ những bài đơn giản rồi đến những bàitập khó…Việc làm bài tập nhiều sẽ giúp rèn luyện tư duy nhanh, tích luỹ thêm kiến thức
bổ sung cho lý thuyết; đọc thêm nhiều sách thì mới nắm chắc và hiểu đúng, sâu sắc hơnnhững kiến thức
b Đối với giáo viên
- Lựa chọn đúng đối tượng học sinh:
Cần tổ chức thi chọn lọc qua vài vòng loại để lựa chọn chính xác đối tượng họcsinh vào bồi dưỡng
Giáo viên cần đánh giá học sinh một cách khách quan, chính xác, không chỉ quabài thi mà cả qua việc học tập bồi dưỡng hằng ngày Việc lựa chọn đúng không chỉ nângcao hiệu quả bồi dưỡng, mà còn tránh bỏ sót học sinh giỏi và không bị quá sức đối vớinhững em không có tố chất
- Xây dựng chương trình bồi dưỡng
4
Trang 5Hiện nay có rất nhiều sách nâng cao và các tài liệu tham khảo, Internet, songchương trình bồi dưỡng của Huyện nhà chưa có sách hướng dẫn chi tiết, cụ thể từng tiết,từng buổi học như trong chương trình chính khoá Vì thế soạn thảo chương trình bồidưỡng là một việc làm hết sức quan trọng và rất khó khăn nếu như chúng ta không có sựtham khảo, tìm tòi và chọn lọc tốt Giáo viên cần soạn thảo nội dung bồi dưỡng dẫn dắthọc sinh từ cái cơ bản của nội dung chương trình học chính khoá, tiến dần tới chươngtrình nâng cao (tức là trước hết phải khắc sâu kiến thức cơ bản của nội dung học chínhkhoá, từ đó vận dụng để mở rộng và nâng cao dần).
Cần soạn thảo chương trình theo vòng xoáy: Từ cơ bản tới nâng cao, từ đơn giảntới phức tạp Đồng thời cũng phải có ôn tập củng cố Ví dụ: Cứ sau 2, 3 tiết củng cố kiếnthức cơ bản và nâng cao thì cần có một tiết luyện tập để củng cố kiến thức; và cứ sau 5, 6tiết thì cần có một tiết ôn tập để củng cố khắc sâu Khi soạn thảo một tiết học chúng tacần có đầy đủ những nội dung:
- Kiến thức cần truyền đạt (lý thuyết, hay các công thức có liên quan đến tiết dạy)
- Bài tập vận dụng
- Bài tập về nhà luyện thêm (tương tự bài ở lớp)
Một số giờ ôn tập, Giáo viên cần giúp các em tổng hợp các dạng bài, các phươngpháp giải theo hệ thống Vì hầu hết các em chưa tự mình hệ thống đựơc mà đòi hỏi phải
có sự giúp đỡ của giáo viên Ví dụ như khi dạy chương điện học thì cần phải học theochuyên đề:
1 Mạch điện tương đương
2 Bài toán chia dòng
3 Phép chia thế
4 Vai trò của Ampe kế trong sơ đồ
5 Vai trò của Vôn kế trong sơ đồ
6 Các quy tắc chuyển mạch
7 Mạch cầu
Điều cần thiết, giáo viên cần đầu tư nhiều thời gian, tham khảo nhiều tài liệu đểđúc rút, soạn thảo cô đọng nội dung chương trình bồi dưỡng Cần lưu ý rằng: Tuỳ thuộc
Trang 6vào thời gian bồi dưỡng, khả năng tiếp thu của học sinh mà lựa chọn mức độ bài khó vàtừng dạng luyện tập nhiều hay ít.
- Dạy như thế nào cho đạt hiệu quả?
Trước hết cần chọn lọc những phương pháp giải dễ hiểu nhất để hướng dẫn họcsinh, không nên máy móc theo các sách giải
Cần vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung từng bài;phát huy tính tích cực, độc lâp, tự giác của học sinh; tôn trọng và khích lệ những sáng tạocủa học sinh
Những bài hướng dẫn kiến thức mới, giáo viên cần lấy ví dụ và ra bài tập mangtính chất vui chơi, gắn với thực tế để gây hứng thú học tập cho học sinh đồng thời giúpcác em ghi nhớ được tốt hơn Tuy nhiên, những bài toán như thế, giáo viên cần phải tìmhiểu kỹ, thử và kiểm tra kết quả nhiều lần
Khi ra các bài tập cụ thể giáo viên chỉ nên gợi mở để học sinh tìm tòi ra cách giải;không nên giải cho học sinh hoàn toàn hoặc để các em không giải được rồi thì chữa hếtcho các em
Ngựợc lại, đối với các bài tập mẫu, cần chữa bài giáo viên lại phải giải một cáchchi tiết (không nên giải tắt) để giúp học sinh hiểu sâu sắc bài toán; đặc biệt là những bàitoán khó những bài học sinh sai sót nhiều Đồng thời uốn nắn những sai sót và chấnchỉnh cách trình bày của học sinh một cách kịp thời
4 Một số bài tập cụ thể
4.1 Ghép điện trở- Tính điện trở
Ví dụ 1 Có 3 điện trở giống hệt nhau, hỏi có thể tạo được bao nhiêu giá trị điện trở khác
nhau Nếu 3 điện trở có giá trị khác nhau R1, R2, R3 thì tạo được bao nhiêu?
Hướng dẫn :
- Với 1 điện trở ta được 1 giá trị: R1 = R
- Với 2 điện trở ta được hai giá trị với 2 cách : Ghép nối tiếp và ghép song song:
R2 = Rn.t = 2R ; R3 = Rss = R/2
- Với 3 điện trở ta được 4 giá trị :
6
Trang 7+ Ghép 3 điện trở mắc song song: R4 = R/ 3
+ Ghép 3 điện trở mắc nối tiếp : R5 = 3R
+ 2 điện trở mắc song song rồi nối tiếp với điện trở thứ 3: R6 = 3R/2
+ 2 điện trở mắc nối tiếp và song song với điện trở thứ 3: R7 = 2R/3
* Vậy với 3 điện trở giống nhau , thì ta tạo ra được 7 giá trị điện trở sắp xếp từ nhỏ đếnlơna như sau: R/3 ; R/2 ; 2R/3 ; R ; 3R/2 ; 2R ; 3R
* Nếu 3 điện trở R1 , R2, R3 khác nhau thì ta tạo được 2 + 3.5 = 17 giá trị điện trởkhác nhau( trừ 2 cách ghép : 3 cái cùng song song, cùng nối tiếp, năm cách còn lại đềughép được 3 giá trị khác nhau )
Ví dụ 2 Có 2 loại điện trở : R1=20 Ω, R2=30 Ω Hỏi cần phải có bao nhiêu điện trở mỗiloại để khi mắc chúng :
a Nối tiếp thì được đoạn mạch có điện trở R=200 Ω
b.Song song thì được đoạn mạch có điện trở R= 5 Ω
Trang 8Mạch cầu là loại mạch được dùng phổ biến trong các phép đo điện như:
( Vôn kế, am pe kế, ôm kế)
+ Mạch cầu khơng cân bằng : Mạch cầu đủ ( tổng quát ) và mạch cầu khuyết
* Dấu hiệu nhận biết các loại mạch cầu
1 4
3 2
1
R
R R
R R
R R
- Về dịng điện : I1 = I2 ; I3 = I4 hoặc :
2
4 4
2 1
3 3
R
R I
I R
R I
3 2
1 2
R
R U
U R
R U
U
=
=
- Mạch cầu khơng cân bằng
+ Khi đặt một hiệu điện thế UAB khác khơng thì ta nhận thấy I5 khác 0.+ Khi mạch cầu khơng đủ 5 điện trở thi ta gọi đĩ là mạch cầu khuyết
VÝ dơ 1 : Cho mạch điện như hình vẽ
Trang 9R R
R = R = => Mạch AB là mạch cầu cân bằng
=> I5 = 0 (Bỏ qua R5) Mạch điện tương đương: (R1 nt R2) // (R3
VÝ dơ 2 Mach cầu đủ hay còn gọi là mạch cầu tổng quát.
Cho mạch điện như hình vẽ
Với R1=1Ω, R2=2Ω, R3=3Ω, R4= 4Ω, R5 = 5Ω
UAB=6V
Tính I qua các điện trở?
Híng dÉn gi¶i
- Phương pháp điện thế nút
+ Chọn 2hiệu điện thế bất kì làm 2 ẩn
+ Sau đó qui các hiệu điện thế còn lại theo 2 ẩn đãchọn
+ Giải hệ phương trình theo 2 ẩn đó
VD ta chọn 2 ẩn là U1 và U3
-Ta có: UMN = UMA + UAN = -U1 + U3 = U3 –U1 = U5
- Xét tại nút M,N ta có
Trang 10-Từ (1) và (2) ta có hệ phương trình
2
1 5
1 3 1
1
R
U U R
U U
R
U + − = AB −
2 5
1
1 1
3 3
3
R
U U R
U U
R
U = AB − + −
5 4
3
1 3 3
U = AB − + −Giải ra ta được U1 , U3 Tính U2 = UAB – U1 , U4 = UAB – U3
Aùp dụng định luật Ôm tính được các dòng qua điện trở
- Đặt ẩn là dòng
+ Chọn 1 dòng bất kì làm ẩn
+ Sau đó qui các dòng còn lại theo ẩn đã chọn
+ Giải phương trình theo ẩn đó
- VD ta chọn ẩn là dòng I1.
I
I
− = − (1)
- Từ nút M I5 = I2 – I1 = 3 -0.5I1 - I1 = 3 – 1.5I1
10
Trang 11Giải ra ta được I1 ≈ 1.1 A Thế vào (1), (2), (3), (4) ta tínhđược các I còn lại.
+ Chú ý: Nếu dòng đi qua MN theo chiều ngược lại thì sẽcó kết quả khác
- Tính được IAB.
- Tính được UAN = U3 , UNB = U4
- Tính được I3 , I4
- Xét nút M hoặc N, áp dụng định lí nút mạch tính được I5
* Chú ý :Mạch cầu khuyết:
Thường dùng để rèn luyện tính toán về dòng điệnkhông đổi
- Khuyết 1 điện trở ( Có 1 điện trở bằng không vd R1=0)
+ Chập các điểm có cùng điện thế, rồi vẽ lại mạch tươngđương Aùp dụng định luật Ôm giải như các bài toán thôngthường để tính I qua các R Trở về sơ đồ gốc xét nút mạchđể tính I qua R khuyết
- Khuyết R1: Chập A với M ta có mạch tương đương
Trang 12gồm: {(R4 // R3) // (R2 //R4)
- Khuyết 2 điện trở (có 2 điện trở bằng 0)
+ Khuyết R1 và R3: chập AMN ta có mạch tương đương gồm :
+ Khuyết R2 và R4 tương tự như trên
+ Khuyết R1 và R5 : chập AM lúc này R3 bị nối tắt (I3 = 0), tacó mạch tương đương gồm : R2 // R4 Aùp dụng tính được I2, I4, trởvề sơ đồ gốc tính được I1, I5
+ Khuyết R2 và R5 ; R3 và R5 ; R4 và R5 tương tự như khuyết R1
và R5
Khuyết 3 điện trở (có 3 điện trở bằng 0)
- Khuyết R1, R2, R3 ta chập AMN Ta có mạch tương đươnggồm R2 // R4 Thì cách giải vẫn như khuyết 2 điện trở
- Khuyết R1, R5, R4 ta chập A với M và N với B Ta thấy R2,
Trang 13Ví dụ 1: Cho mạch điện nh hình 3.1, các điện trở Giống nhau, cógiá trị là r ; điện trở của các am pe kế không đáng kể; UAB có giá trị
U0 không đổi Xác định số chỉ của các am pekế khi
a.Cả 2 khóa cùng đóng Chốt (+) của am pe kế mắc vào đâu?
2 1
R R
R R
+ = 9
4V
Trang 14UCE= UDE = IM
4 3
4 3
R R
R R
- Để tính cờng độ dòng điện qua ampe kế ta xét nút C Tại C có I1 >
I3 nên dòng điện qua ampe kế phải là từ C đến D
=> Ia = 1,5A
b Dấu cộng(+) của ampe kế phải nối với C
4.4: Điện năng – Công suất cực đại
Ví dụ 1 : Người ta lấy điện từ nguồn MN có hiệu điện thế U ra ngoài
ở 2 chốt A,B qua một điện trở r đặt trong hộp nh hình vẽ 1.1.Mạchngoài là một điện trở R thay đổi đợc, mắc vào A và B
a Xác định giá trị của R để mạch ngoài có công suất cực đại
Tính giá trị cực đại đó?
b Chứng tỏ rằng, khi công suất mạch ngoài nhỏ hơn công suất cực
đại (Pcđ) thì điện trở R có thể ứng với 2 giá trị là R1 và R2 và R1.R2 =