1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Quan niệm Ăngghen, Sở hữu, Triết học Ăngghen, Quan niệm sở hữu, Sở hữu nhà nước, Sở hữu tư nhân

60 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 738,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những vấn đề chính của tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” là sự lý giải sự phát triển của các hình thức sở hữu mà nguyên nhân sâu xa là những

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA TRIẾT HỌC -

NGUYỄN VĂN HOÀN

QUAN NIỆM CỦA ĂNGGHEN VỀ SỞ HỮU TRONG TÁC PHẦM

“NGUỒN GỐC CỦA GIA ĐÌNH, CỦA CHẾ ĐỘ TƯ HỮU VÀ CỦA NHÀ NƯỚC” VỚI VẤN ĐỀ SỞ HỮU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH TRIẾT HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH-2015-X

Hà Nội – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA TRIẾT HỌC -

NGUYỄN VĂN HOÀN

QUAN NIỆM CỦA ĂNGGHEN VỀ SỞ HỮU TRONG TÁC PHẦM

“NGUỒN GỐC CỦA GIA ĐÌNH, CỦA CHẾ ĐỘ TƯ HỮU VÀ CỦA NHÀ NƯỚC” VỚI VẤN ĐỀ SỞ HỮU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm

ơn sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội trong suốt thời gian em học tập tại khoa, tại trường

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Ngọc Liêu đã trực tiếp hướng dẫn tận tình và chu đáo trong quá trình em thực hiện và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn khóa luận

sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô, cùng toàn thể các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Nguyễn Văn Hoàn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu về đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu của đề tài 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ SỞ HỮU CỦA ĂNGGHEN TRONG TÁC PHẨM “NGUỒN GỐC CỦA GIA ĐÌNH, CỦA CHẾ ĐỘ TƯ HỮU VÀ CỦA NHÀ NƯỚC” 6

1.1 Hoàn cảnh ra đời và nội dung tổng quát của tác phẩm 6

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời và bố cục của tác phẩm 6

1.1.2 Nội dung tổng quát của tác phẩm 9

1.2 Nội dung quan niệm sở hữu trong tác phẩm 14

Kết luận chương 1 20

CHƯƠNG 2 SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ SỞ HỮU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 21

2.1 Khái lược quá trình nhận thức của Đảng về sở hữu 21

2.2 Đánh giá vai trò của vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 27

2.2.1 Vai trò của sở hữu nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước 28

2.2.2 Vai trò của sở hữu tập thể và thành phần kinh tế tập thể 32

2.2.3 Vai trò của sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân 38

2.2.4 Vai trò sở hữu hỗn hợp và thành phần kinh tế hỗn hợp 43

Kết luận chương 2 47

KẾT LUẬN 49

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong những vấn đề quan trọng của việc nghiên cứu triết học Mác - Lênin là đi sâu vào nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, vì đó là cơ sở xuất phát để nhận thức một cách chính xác và trung thành với tư tưởng của các nhà triết học mácxít Việc nghiên cứu tác phẩm kinh điển không chỉ là tiếp thu, nhận thức mà còn bảo vệ chủ nghĩa Mác vào thực tiễn

Trong số các tác phẩm của Ph Ăngghen viết trong thời kỳ (1883- 1889), tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” được coi là tác phẩm đặc biệt – là một trong những tác phẩm chủ yếu tiếp tục phát triển tư tưởng thiên tài của C.Mác: Quan niệm duy vật về lịch sử

“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của Ph.Ăngghen có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc tiếp tục phát triển và luận chứng cho chủ nghĩa Mác-Lênin Trong tác phẩm của mình, Ph.Ăngghen đã

cụ thể hóa một cách căn bản khái niệm lịch sử thế giới do Ông cùng với C.Mác nghiên cứu trước đó Ông cũng bác bỏ với sức thuyết phục cao hơn trước nhiều học thuyết giáo điều của khoa học tư sản, chẳng hạn, các quan niệm về sự tồn tại ngay từ đầu của gia đình phụ hệ, của chế độ tư hữu, của chính quyền nhà nước, của sự bất bình đẳng xã hội, của sự bóc lột, áp bức, v.v

Một trong những vấn đề chính của tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” là sự lý giải sự phát triển của các hình thức sở hữu mà nguyên nhân sâu xa là những thay đổi của lực lượng sản xuất

Từ đó khẳng định thêm quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình

độ của lực lượng sản xuất

Trong báo cáo chính trị Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam có nêu: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng

Trang 6

sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh

tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng

của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác

và cạnh tranh theo pháp luật”[5 ;Tr.15] Có thể thấy Đảng Cộng sản đã vận

dụng những quan niệm của Ăngghen về sở hữu vào hiện thực Việt Nam hiện

nay Vả để làm rõ hơn những quan điểm sở hữu của Ăngghen, và những vấn

đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay nên tôi chọn đề tài “Quan niệm của

Ph.Ăngghen về sở hữu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ

tư hữu và của nhà nước” với vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài

khóa luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu về đề tài

Liên quan đến đề tài này đã có các công trình nghiên cứu như: Về tác

phẩm của Ph.Ăngghen “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của

nhà nước” của tác giả I.L.An-Đrê-ép (Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1987), ngoài ra

còn có các bài viết giới thiệu về tác phẩm như cuốn “Giới thiệu kinh điển

Triết học Mác-Lênin” do Khoa Triết học Đại học Khoa học xã hội nhân văn -

Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2007

Về vấn đề sở hữu có một số công trình như sau: “Sở hữu trong nền

kinh tế thị trường hiện đại: lý luận, thực tiễn thế giới và khuyến nghị cho Việt

Nam” của PGS.TS Phạm Thái Quốc công trình đã trình bày những lý luận về

sở hữu và thực trạng vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay “Một số vấn đề về

sở hữu ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Thạo (Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 2004), cuốn sách trình bày một số vấn đề sở hữu ở nước ta trong

những năm đổi mới, nêu lên thực trạng chuyển biến sở hữu trong doanh

nghiệp nhà nước và lĩnh vực đất đai gần 20 năm qua và sự tác động của nó tới

sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam ; Giáo trình dành cho sinh viên khoa

Triết học với chủ đề “Quan niệm của C.Mác, Ăngghen, Lênin về sở hữu và

Đã chú thích [TNL1]: Lấy từ Danh mục TLTK một số sách

chuyên khảo đưa vào đây, lèo tèo quá!

Trang 7

quan hệ sở hữu ở Việt Nam hiện nay” trình bày những lý luận cơ bản về sở hữu và các hình thức sở hữu hiện nay ở Việt Nam; Luận án Tiến sĩ “Các hình thức sở hữu và vai trò của chúng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Huyền trình bày quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về các hình thức sở hữu và thực trạng vai trò của các hình thức sở hữu ở Việt Nam hiện nay Sở hữu: lý luận và vận dụng ở Việt Nam của Nguyễn Văn Thức, cuộc sách trình bày những vấn đề cơ bản về

lý luận về sở hữu cũng như vận dụng vào vấn đề sở hữu ở Việt Nam Về việc phân định các thành phần kinh tế ở Việt Nam của Nguyễn Kế Tuấn, cuốn sách trình bày về sự phân định các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay Cuốn sách Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Kế Tuấn trình bày những vấn đề cơ bản

về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu:

Từ việc làm rõ nội dung quan niệm sở hữucủa Ănghen trong tác phẩm

“Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước”, luận giải sự vận của Đảng cộng sản đối với vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ của đề tài:

Để thực hiện mục đích trên, Khóa luận có các nhiệm vụ sau đây: Một là, làm rõ quan niệm sở hữu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”

Hai là, luận giải sự vận dụng của Đảng trong nhận thức vấn đề sở hữu ở Việt Nam

Ba là, đánh giá vai trò của các hình thức sở hữu ở Việt Nam hiện nay

Trang 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Quan niệm về sở hữu của Ăngghen trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia

đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”

Vấn đề đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu

Khoá luận tập trung nghiên cứu về quan niệm về sở hữu của Ăngghen

trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”

để từ đó rút ra những kết luận đó là quan hệ sở hữu ở thời kỳ nào phải phù

hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất ở thời kỳ đó

Xác định phạm vi vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay Vấn đề sở hữu

rất rộng, có thể kể đến như các chủ đề như chủ thể sở hữu, đối tượng sở hữu,

quyền sở hữu, đối tượng sở hữu, loại hình sở hữu và hình thức sở hữu Nhưng

với dung lượng của một bài khoá luận nên tôi chỉ xin trình bày chủ yếu về

hình thức sở hữu Trong chương hai, khoá luận trình bày quá trình nhận thức

của Đảng về hình thức sở hữu Đã có những bước phát triển nhận thức khi chỉ

thừa nhận sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, từ Đại hội VI đến nay ở Đại hôi

XII Đảng Cộng sản đã thừa nhận nước ta có nhiều hình thức sở hữu Tiếp

theo khoá luận đánh giá về vai trò của các hình thức sở hữu hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận:

Khóa luận được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện

chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của

Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề sở hữu

Phương pháp nghiên cứu:

Khoá luận sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện

chứng và kết hợp nhiều phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích và

tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp duy vật lịch sử -

Đã chú thích [MOU2]: Em mới viết lại

Đã chú thích [TNL3]: Khóa luận

Trang 9

cụ thể, và đặc biệt phương pháp văn bản học nhằm thực hiện mục đích mà công trình nghiên cứu đặt ra

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương, 4 tiết

Chương 1 Quan niệm về sở hữu của Ăngghen trong tác phẩm “nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”

Chương 2 Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với vấn đề

sở hữu ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ SỞ HỮU CỦA ĂNGGHEN TRONG TÁC PHẨM “NGUỒN GỐC CỦA GIA ĐÌNH, CỦA CHẾ ĐỘ TƯ HỮU

VÀ CỦA NHÀ NƯỚC”

1.1 Hoàn cảnh ra đời và nội dung tổng quát của tác phẩm

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời và bố cục của tác phẩm

Cho đến những năm 60 của thế kỷ XIX những hiểu biết của con người

về xã hội nguyên thuỷ vẫn còn hạn chế, các tài liệu vẫn dựa vào những nghiên cứu của Moizơ – tác giả cuốn “Cựu ước” Trong lý luận của Moizơ lấy phạm trù “gia đình gia trưởng” làm điểm xuất phát Ông coi đó là điểm xuất phát của xã hội, lịch sử loài người Trong lý luận này không giải thích được nhiều hiện tượng liên quan đến thời kỳ nguyên thuỷ ví dụ như chế độ nhiều vợ nhiều chồng

Trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ XIX hàng loạt những công bố mới, dồn dập về xã hội học thời nguyên thuỷ đã cung cấp nhiều cứ liệu khoa học về thời kỳ nguyên thuỷ của loài người Trong số đó đáng kể là: Năm

1861, Bacôphen xuất bản cuốn “Mẫu quyền” Trong đó ông đã kiến giải lịch

sử thông qua xem xét sự tiến triển của hình thức hôn nhân: tạp hôn huyết thống được xác định theo mẹ gia đình cá thể Ăngghen đánh giá quan điểm này mặc dù chưa thoát khỏi thế giới quan thần bí, nhưng vào thời điểm đó đã

là một cuộc cách mạng trong cách nhìn về lịch sử; Mc Lenman với ba tác phẩm lớn là “Nhân chủng học mô tả, 1859”, “Hôn nhân nguyên thuỷ, 1876”,

“Nghiên cứu lịch sử cổ đại, 1880”, đã đánh dấu một bước tiến nữa trong việc khẳng định sự tồn tại của chế độ mẫu quyền Nhưng với sự “hỗn loạn” trong các nhìn về lịch sử cổ đại vẫn chưa được giải quyết Sơ đồ nghiên cứu của ông về xã hội nguyên thuỷ vẫn bế tắc trong việc giải thích những hiện tượng như “ngoại tộc hôn” và “nội tộc hôn”; Những nghiên cứu của L.Moocgan với

Trang 11

tác phẩm chủ yếu “Chế độ huyết tộc và thân tộc” (1871) và đặc biệt là tác phẩm “Xã hội cổ đại” (1877) là những thành tự quan trọng nhất Các tác phẩm này đã cung cấp những cứ liệu đầy đủ nhất trên cơ sở cái nhìn duy vật

tự phát về sự phát triển của lịch sử nhân loại, phát hiện trong cái “hỗn loạn”

sợ dây liên hệ, chi phối lịch sử Việc hàng loạt những công trình nghiên cứu

về xã hội nguyên thuỳ được công bố trên là những cứ liệu quan trọng để Ăngghen hoàn thành cuốn sách “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu

và của nhà nước” Trong tác phẩm này Ăngghen đã hoàn chỉnh học thuyết duy vật của chủ nghĩa Mác về lịch sử

Năm 1884, theo giải thích của chính Ăngghen, trong số giấy tờ của Mác, ông đã tìm thấy một bản tóm tắt tỉ mỉ của Mác vào những năm 1880-

1881 về tác phẩm “xã hội cổ đại” của nhà bác học người Mỹ L.Moocgan Trong đó Mác chỉ rõ những phê phán và những nhận xét riêng của ông về công trình của Moocgan Điều đó, theo Ănggen chúng tỏ rằng Mác đã có ý định viết một tác phẩm riêng để phân tích công trình nghiên cứu nhiều năm của Moocgan trên quan điểm duy vật lịch sử, nhưng ông đã không kịp thực hiện điều đó

Moocgan, như Ăngghen nhận xét, từ những nghiên cứu về cấu trúc xã hội cổ đại của người Indian Bắc Mỹ, bằng con đường hoàn toàn độc lập với Mác và Ăngghen, ông đã đi đến quan niệm duy vật về lịch sử gần với những quan niệm Mác và Ăngghen đã rút ra trong những năm 40 của thế kỷ XIX Ăngghen đánh giá rất cao công lao của Moocgan, vì chính những nghiên cứu

về những quan hệ thị tộc của người Indian ông đã tìm ra cái chìa khoá để lý giải, để mở bức màn hãy còn là bí ẩn về lịch sử cổ đại Hy Lạp, La mã và Giécmanh, Ăngghen viết: Moocgan “đã khám phá ra… trên những nét chủ yếu, cái cơ sở tiền sử ấy của lịch sử thành văn của chúng ta” và “với sự hiểu biết công việc, ông đã cố đưa vào thời kỳ tiền sử của nhân loại một hệ thống

Trang 12

nhất định” Trên cơ sở những tư liệu của Moocgan, đồng thời bổ sung chúng bằng những tư liệu mới, sử dụng những nhận xét phê phán và những ý kiến của Mác trong bản ghi chép được nói trên và những tài liệu của riêng ông về lịch sử Hy Lạp, La Mã, Aizơlen và Giécmanh cổ đại, Ăngghen đã đưa ra cái nhìn duy vật biện chứng về bức tranh tổng thể về lịch sử thông qua việc chỉ ra những quy luật cơ bản chi phối sự phát triển của xã hội loài người Ông xem việc viết tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” là sự thực hiện di chúc của Mác

Tên của tác phẩm đụng đến ba nan đề lớn của tri thức về lịch sử nhân loại trước và trong thời đại của các ông: gia đình, chế độ tư hữu, nhà nước Đối với ba nan đề này người ta đã phủ lên nó không ít những kiến giải “thần bí”, mà một những những nguyên nhân của những bí ẩn đó là sợi dây liên kết của lịch sử, trong đó mắt xích mở nhất là giữa thời đại nguyên thuỷ và cả giai đoạn sau nó Có thể nói trước tác phẩm này tính liên tục của lịch sử nhân loại

đã được các ông hình dung, nhưng chưa được chứng minh

Toàn bộ tác phẩm được Ăngghen hoàn thành vào ngày 26 tháng 5 năm

1884 (tức là trong thời gian hơn 3 tháng kể từ khi ông tìm thấy bản sơ thảo của Mác vào tháng 2 năm 1884) Tác phẩm được in lần đầu tiên tại Xuyrich (Thuỵ Sĩ) vào tháng 10 Giải thích lý do tác phẩm không thể công bố ở nước Đức, Ăngghen đã viết trong bức thử gửi nhà xuất bản là do tính phê phán mạnh mẽ của tác phẩm đối với hiện thực xã hội tư bản, cho nên nó không thể công bố tại nơi có khuynh hướng chống lại những người xã hội chủ nghĩa – một khuynh hướng chính trị cực đoan của các nhà cầm quyền

Khi Ăngghen còn sống, tác phẩm này còn được tái bản nhiều lần, Lần tái bản thứ tư tại Stutgat (Đức) năm 1891, Ăngghen có một số sửa đổi, bổ sung dưới hình thức lời tự cho cuốn sách do có nhiều công trình mới liên quan tới lịch sử xã hội nguyên thuỷ đã được công bố, trong đó đáng chú ý là

Trang 13

công trình của M.M.Côcalepxki Nhưng ông cũng nói rõ những bổ sung này không làm thay đổi kết luận chính của tác phẩm Từ năm 1894 đến 1917, tác phẩm này đã được tái bản 10 lần bằng nhiều thứ tiếng Điều nay cho thấy sức hút và tầm quan trọng của nó

VII Thị tộc của người Kentơ và người Giécmanh

VIII Sự hình thành nhà nước Giécmanh

IX Thời đại dã man và thời đại văn minh

1.1.2 Nội dung tổng quát của tác phẩm

Quan điểm về gia đình và sự biến đổi các hình thức gia đình trong lịch sử

Trước khi có những công trình của Moocgan, đặc biệt là trước tác phẩm này của Ăngghen, sự tiến hoá của các hình thức gia đình trong lịch sử vẫn là vấn đề bí ẩn đối với sự nhận thức của nhân loại Những bí ẩn đó chỉ được thực sự khám phá khi phát hiện ra được yếu tố quyết định sự vận động của các hình thức gia đình trong lịch sử

Dựa trên những tư liệu về xã hội nguyên thuỷ của Moocgan, Ăngghen nhận mạnh rằng trong những giai đoạn đầu tiên của lịch sử phát triển xã hội

Trang 14

loài người, quan hệ gia đình, quan hệ thân tộc có vai trò quyết định đối với sự tồn tại của xã hội, của các cộng đồng người thời kỳ nguyên thuỷ ở mọi dân tộc và mọi nơi Trong tác phẩm của mình, Ăngghen đã dẫn lại nhận định của Moocgan, người đã nghiên cứu nhiều năm những thị tộc người Inđian Bắc

Mỹ, về sự vận động của các hình thức gia đình: “Gia đình là một yếu tố năng động, nó không bao giờ đứng im một chỗ, mà chuyển đổi từ hình thức thấp lên một hình thức cao hơn khi xã hội phát triển từ giai đoạn thấp lên giai đoạn cao” [20; Tr.57] Yếu tố gia quyết định sự “không đứng im” của các hình thức

đó, Ăngghen chỉ rõ đó chính là sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự phát triển của sản xuất, năng suất lao động và sự xuất hiện của sở hữu tư nhân là yếu tố cơ bản phá vỡ xã hội cũ dựa trên cơ sở những quan hệ thị tộc và thay thế nó là một xã hội mới dựa trên những quan hệ giai cấp, từ đó các hình thức gia đình cũng biến đổi theo, hay nói như Ăngghen “chế độ gia đình hoàn toàn phục tùng những quan hệ sở hữu”

Trong tác phẩm của mình Ăngghen đã xem xét sự phát triển của các hình thái gia đình trong tương quan với những biến đổi của phương thức sản xuấtra của cải vật chất đề từ đó đưa ra quan niệm khoa học về sự biến đổi của các hình thức gia đình từ chế độ mẫu quyền nguyên thuỷ đến gia đình hiện đại như thế nào Để thực hiện những nguyên cứu này, Ăngghen đã tiến hành so sánh đối chiếu và tổng hợp trên phông tư liệu lớn bao gồm những tài liệu do Moocgan cung cấp, những công trình nghiên cứu về thời kỳ cổ đại Hy Lạp,

La Mã, Xlavơ…

Phân tích sự tác động của yếu tố kinh tế đến sự biến đổi của các hình thức gia đình trong lịch sử, Ăngghen chỉ rõ khi kinh tế gia đình nguyên thuỷ chủ yếu dựa trên kinh tế hái lượm, người phụ nữ đóng vai trò chủ yếu thì quan hệ thân tộc chỉ xác lập trên hẹ mẹ, sau đó cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động mới xuất hiện nên ảnh hưởng của

Trang 15

người phụ nữ trong đời sống kinh tế và quan hệ xã hội dần giảm sút Với sự xuất hiện của chế độ tư hữu, hình thái gia đình mẫu quyền sụp đổ và chuyển sang chế độ thừa kế theo hệ cha, hay là chế độ phụ hệ Trong đó, chế độ gia đình gia trưởng là hình thức trung gian giữa chế độ mẫu hệ và phụ hệ Gia đình một vợ một chồng (chế độ hôn nhân cá thể) được duy trì cho đến ngày nay Tuyệt nhiên, Ăngghen chỉ rõ hôn nhân cá thể tuyệt nhiên không phải với

tư cách chỉ là kết quả thuần tuý của sự liên kết tự nguyện giữa đàn ông và đàn

bà trên cơ sở tình yêu như nhiều lý thuyết đương thời tán dương, mà nó là hệ quả tất yếu của sự phát triển của sản xuất, của những biến đổi xã hộ lớn gắn liền với sự phát triển của phương thức sản xuất Về điều này Ăngghen viết:

“Nó thể hiện ra là mọt sự nô dịch của giới này đối với giới kia, là việc tuyên

bố sự xung đột giữa hai giới, sự xung đột mà người ta chưa từng thấy trong suốt thời kỳ tiền sử” “Hôn nhân cá thể là một bước tiến lịch sử lớn, nhưng đồng thời nó cũng mở ra, bên cạnh chế độ nô lệ và tài sản tư nhân, một thời

kỳ kéo dài cho đến ngày nay, thời đại trong đó mỗi tiến đồng thời cũng là một bước lùi tương ứng, trong đó phúc lợi và sự phát triển của những người này được thực hiện bằng sự đau khổ và bị áp chế của những người khác Hôn nhân cá thể là hình thức tế bào của xã hội văn minh mà chúng ta có thể dựa vào để nghiên cứu bản chất của những đối kháng và những mâu thuẫn hiện đang phát triển đầy đủ trong xã hội văn minh” [19; Tr.104]

Ăngghen đã phê phán gay gắt mô hình gai đình tư sản vốn được không

ít những nhà lý luận tư sản coi là hình thức gia đình lý tưởng, là hiện thân của giá trị đạo đức Ông chỉ rõ, cơ sở của hình thức gia đình đó thường là cuộc hôn nhân có tính toán, bởi vậy trong hôn nhân tư sản tồn tại không ít những mặt trái của nó, chẳng hạn với người chồng bên cạnh quan hệ hôn nhân chỉnh thức lại thường tô điểm bằng chế độ nhiều vợ không chính thức và chế độ mại dâm, còn người vợ thì cố làm cho người chồng hợp phát bị cắm sừng Đồng thời ông khẳng định rằng một quan hệ hôn nhân thực sự dựa trên sự liên kết

Trang 16

tự nguyên của những con người bình đẳng, trên cơ sở tình yêu và sự kính trọng lẫn nhau, chỉ có thể có được sau khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa bị thủ tiêu, thức là trong hình thái xã hội cộng sản chủ nghĩa, bời vì chỉ khi đó

“một thế hệ mới sẽ lớn lên: một thế hệ đàn ông khôn gbao giờ phải dùng tiền hoặc dùng quyền lực xã hội khác để mua sự hiến thân của người đàn bà, và một thế hệ người đàn bà không bao giờ phải hiến mình cho người đàn ông vì một lý do nào khác người tình yêu chân chính, hoặc phải từ chối không dám hiến mình cho người yêu vì sợ nhưgnx hậu quả kinh tế của sự hiến thân đó” [19; Tr.128] Chỉ đến khi đó và những con người đó, theo Ăngghen mới có thể đoạn tuyệt với những tha hoá của gia đình tư sản

Về nguồn gốc và bản chất của nhà nước

Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước

là một mốc quan trọng của quá trình xây dựng lý luận Mácxit về nhà nước Trong tác phẩm này Ăngghen đã trình bày một cách đầy đủ, hệ thống quan điểm của mình về nguồn gốc và bản chất của nhà nước, vấn đề cốt lõi của bất

cứ học thuyết nào về nhà nước

Ăngghen chứng minh rằng trong một thời kỳ dài của lịch sử nhân loại chưa có một nhà nước cũng như khái niệm về nhà nước và quyền lực nhà nước, rằng nhà nước chỉ xuất hiện trong một giai đoạn phát triển muộn của lịch sử nhân loại, trong thời kỳ chế độ thị tộc, bộ lạc tan rã, khi xã hội loài người bước sang giai đoạn có giai cấp Ông khẳng định rằng nhà nước không phải là lực luowngj từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, mà là sản phẩm của chính

sự phát triển xã hội sự xuất hiện của nhà nước gắn liền với sự xuất hiện của chế độ tư hữu, với việc xã hội phân chia thành những giai cấp có lợi ích đối kháng ừ ví dụ về sự hình thành các nhà nước Aten cổ đại, La Mã cổ đại, Giécmanh, Ăngghen đã chỉ ra một cách rõ ràng, thuyết phục rằng nhà nước là một lực lượng đặc biệt, nhìn vẻ bề ngoài nó dường như là một lực lượng đứng

Trang 17

trên xã hội, nó có nhiệm vụ dung hoà những xung đột giai cấp, giữ cho những quan hệ giai cấp trong giới hạn trật tự nhất định Nhưng thực chất nhà nước bao giờ cũng là công cụ thống trị của giai cấp thống trị về kinh tế Luận điểm này là rất quan trọng bởi vì nhờ đó chúng ta có thể thấy được bản chất thật sự của nhà nước

Theo Ăngghen, nhà nước có hai đặc trưng cơ bản: thứ nhất là tổ chức lại cư dân theo lãnh thổ chứ không phải trên cơ sở quan hệ thân tộc; thứ hai là theiets lập cơ quan quyền lực công cộng bằng việc thiết lập lực lượng vũ trang, cảnh sát, nhà tù… và hệ thống thuế má để duy trì hoạt động của nhà nước

Cuối cùng, bản chất của nhà nước, Ăngghen chỉ rõ, nó là cơ quan quyền lực của “giai cấp thế lực nhất, của giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước cũng là giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức” [19; Tr.255] Trong tác phẩm này, ông cũng chỉ rõ nhà nước không tồn tại mãim trong lịch sử nhân loại đã có thời kỳ con người không cấn đến nhà nước và đến một giai đoạn phát triển nhất định khi các giai cấp tiêu vong, thì nhà nước cũng biến mất, lúc đó “ xã hội sẽ tổ chức nền sản xuất trên cơ sở sự liên hợp tựu do và bình đẳng giữa những người sản xuất, sẽ đem toàn thể bộ máy nhà nước xếp vào vị trí thật sự của nó lúc bấy giờ: vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi và cái rìu bằng đồng” [19; Tr.258] Điều đó sẽ trở thành hiện thực trong xã hội cộng sản tương lai Nhưng là một nhà biện chứng duy vật, một nhà hoạt động chính trị mẫn cảm của phong trào công nhân, Ăngghen cũng đã nói rõ trong tác phẩm này rằng, ngay cả khi giai cấp công nhân đã lật đổ được chế độ tư bản chủ nghĩa, để đến được xã hộ cộng sản tương lai, để xếp nhà nước vào viện bảo tàng, loài người cần phải trải qua giai

Trang 18

đoạn quá độ chủ nghĩa xã hội, ở đó vẫn cần đến nhà nước, nhưng đó là nhà nước của giai cấp côgn nhân và toàn thể nhân dân lao động

1.2 Nội dung quan niệm sở hữu trong tác phẩm

Khi nghiên cứu về xã hội nguyên thuỷ cũng như sự phát triển của lịch

sử loài người Ăngghen đã khái quát được quá trình phát triển của các hình thức sở sở hữu Tại thời nguyên thuỷ là hình thức sở hữu công hữu, cùng với

sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động dẫn tới sự ra đời của hình thức tư hữu Hai hình thức công hữu và tư hữu cùng tồn tại cùng với

sự phát triển của xã hội.Hình thức tư hữu phát triển đến đỉnh cao của nó ở phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và tại đây nó bắt những tiêu cực của

nó được bộc lộ rõ nét Theo sự phủ định biện chứng thì hình thức tư hữu sẽ mất đi và thay thế nó bằng hình thức công hữu về tư liệu sản xuất đi cùng nó

là sự phát triển cao của lực lượng sản xuất Cụ thể Ăngghen trình bày vấn đề

sở hữu trong tác phẩm theo dòng thời gian như sau:

Đầu tiên là thời nguyên thuỷ với những đặc điểm xã hội: “Thời thơ ấu của loài người Con người thời đó vẫn sống trong môi trường ban đầu của mình, là những khu rừng nhiệt đới hay cận nhiệt đới; họ sống trên cây, ít nhất cũng là một bộ phận, phải thế thì mới sống sót được, khi mà các loài thú dữ lớn vẫn còn Họ ăn các thứ quả, vỏ và củ Tiếng nói có âm tiết phát triển là kết quả chủ yếu của thời kì này.” [15; Tr.47] “Dân cư sống hết sức thưa thớt, chỉ ở nơi bộ lạc cư trú thì mới có đông người, xung quanh đó là một vùng đất rộng, trước hết là một khu vực dùng làm vùng săn bắn, tiếp đó là một miền rừng bảo hộ không thuộc về bộ lạc nào cả, nó khiến các bộ lạc cách biệt với nhau Sự phân công lao động hoàn toàn mang tính nguyên thủy, chỉ là giữa nam và nữ thôi Đàn ông đi đánh trận, săn bắn và đánh cá, tìm thức ăn và những công cụ cần cho việc đó Đàn bà trông coi nhà cửa, chuẩn bị cái ăn cái mặc; họ làm bếp, dệt, may vá Mỗi bên đều làm chủ trong lĩnh vực hoạt động

Trang 19

của mình: đàn ông làm chủ trong rừng, đàn bà làm chủ ở nhà Họ cũng làm chủ những công cụ do mình chế tạo và sử dụng: với đàn ông, đó là vũ khí, các công cụ để săn bắn và đánh cá; với đàn bà, đó là các dụng cụ gia đình Kinh tế gia đình có tính cộng sản, gồm vài gia đình, mà thường là gồm rất nhiều gia đình Cái gì được làm ra và sử dụng chung thì là của chung, như nhà cửa, vườn tược, thuyền độc mộc Vậy là ở đây, và chỉ ở đây thôi, mới có cái “sở hữu do chính lao động của mình làm ra” [15; Tr.237]

Từ các dẫn chứng thì có thể thấy trong xã hội nguyên thuỷ, chưa có phân chia giai cấp và phân chia giữa người thống trị và bị trị, hình thức sở hữu duy nhất là công hữu về tư liệu sản xuất Ăngghen nhấn mạnh trong xã hội nguyên thuỷ sự tồn tại của hình thức sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất

là đặc điểm chung ở mọi nơi, mọi dân tộc Trong xã hội nguyên thuỷ sở hữu công cộng với tư liệu sản xuất gắn liền với trình độ phát triển thấp của lực lượng sản xuất, thể hiện ở những công cụ thô sơ, phân công lao động giản đơn và năng suất lao động thấp Đương nhiên đó chính là chỗ yếu và là nguyên nhân dẫn đến nó bị thay thế tất yếu bằng hình thái kinh tế xã hội cao hơn

Xuôi theo dòng chảy của lịch sử cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động Một hình thức sở hữu mới từng bước hình thành và phát triển Đó là hình thức sở hữu tư hữu

Phân công lao động lần thứ nhất

Theo Ăngghen, phân công lao động lần thứ nhất với sự tách ngành chăn nuôi ra khỏi trồng trọt đã làm xuất hiện quan hệ kinh tế mới giữa các thị tộc, bộc lạc Cụ thể: “Họ đã tìm thấy những động vật có thể thuần dưỡng được, và sau đó, làm chúng sinh sôi nảy nở được trong tình trạng thuần hóa

Họ phải săn trâu cái ở trên rừng về; khi đã được thuần hóa, mỗi năm nó sẽ đẻ một con nghé, và còn cho sữa nữa Vài bộ lạc tiên tiến nhất - như người Arya,

Trang 20

người Semite, có thể là cả người Turan nữa - lúc đầu thì lấy việc thuần dưỡng gia súc, sau này thì chỉ lấy việc chăn nuôi và coi giữ gia súc làm công việc chủ yếu Các bộ lạc du mục tách rời khỏi số đông những người dã man khác” [15; Tr.237]

Các bộ lạc du mục không chỉ sản xuất ra nhiều tư liệu sinh hoạt hơn những dân khác, mà các tư liệu sinh hoạt đó cũng khác Không chỉ có nhiều sữa, nhiều sản phẩm từ sữa, và nhiều thịt hơn; họ còn có cả da thú, len, lông dê; ngoài ra là nhiều sợi và hàng dệt, vì khối lượng nguyên liệu đã tăng lên

Vì thế mà lần đầu tiên, đã có thể có sự trao đổi đều đặn Giờ đây, khi các bộ lạc du mục đã tách ra, ta thấy mọi điều kiện đều đã chín muồi; để việc trao đổi diễn ra giữa những người khác bộ lạc với nhau, và để sự trao đổi ấy phát triển, trở thành một chế độ thường xuyên Lúc đầu, việc trao đổi giữa các bộ lạc được tiến hành thông qua các tù trưởng thị tộc, nhưng khi các đàn súc vật bắt đầu chuyển thành sở hữu riêng rẽ, thì việc trao đổi giữa các cá nhân ngày càng phổ biến, và sau này thì trở thành hình thức duy nhất Nhưng vật phẩm chủ yếu mà các bộ lạc du mục đem trao đổi với láng giềng chính là súc vật; súc vật trở thành một hàng hóa được dùng để định giá mọi hàng hóa khác, và

ở mọi nơi, đều được người ta vui lòng nhận lấy để trao đổi Tóm lại, súc vật

đã có chức năng tiền tệ, và đã được dùng làm tiền tệ, ngay từ giai đoạn đó Nhu cầu về một hàng hóa đặc biệt, tức là tiền tệ, đã trở nên cần thiết và cấp bách biết bao; ngay từ lúc mới bắt đầu có sự trao đổi hàng hóa

Sản xuất tăng lên trong tất cả các ngành - chăn nuôi súc vật, nông nghiệp, thủ công nghiệp gia đình - làm cho sức lao động của con người có khả năng sản xuất ra một lượng sản phẩm nhiều hơn mức cần thiết cho sinh hoạt Đồng thời, nó tăng thêm lượng lao động hàng ngày mà một thành viên của thị tộc, công xã, hoặc gia đình cá thể, phải đảm nhận Do đó mà có nhu cầu thu hút các nguồn lực lao động mới Chiến tranh cung cấp các nguồn lực mới này:

Trang 21

tù binh đều bị biến thành nô lệ Cuộc phân công lao động xã hội lớn đầu tiên, cùng với việc tăng năng suất lao động, tức là tăng của cải, và sự mở rộng lĩnh vực sản xuất, trong điều kiện lịch sử chung khi đó, nhất định phải đưa tới chế

độ nô lệ Từ cuộc phân công lao động xã hội lớn đầu tiên, đã nảy sinh sự phân chia lớn đầu tiên trong xã hội, thành hai giai cấp: chủ nô và nô lệ, kẻ bóc lột

và người bị bóc lột

Có thể thấy với sự phát triển của công cụ lao động mà ở đây là đã xây dựng được các chuồng trại để chăn nuôi, đã dấn đến sự phân công lao động trong xã hội Người chăn nuôi và trông trọt được tách ra Năng suất lao động bắt đầu tăng lên dẫn tới việc trao đổi hàng hoá xảy ra Từ đây làm nảy sinh những người có tài sản dư thừa và từ đây hình thức sở hữu tư hữu ra đời

Phân công lao động lần thứ hai

Phân công lao động lần thứ hai: thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp Bắt đầu bằng sự phát triển của lực lượng sản xuất, cụ thể là thời đại của đồ sắt Các công cụ lao động được sản xuất bằng sắt có đặc tính cứng và sắc hơn Điều đó cho phép canh tác trên diện tích lớn hơn, khai hoang được những miền rừng rú rộng hơn Dệt, chế tạo đồ kim loại, và các ngành thủ công khác ngày càng tách khỏi nhau; nhờ đó mà sản phẩm của chúng ngày càng đa dạng và chất lượng Sản xuất tăng lên không ngừng, cùng với đó là sự tăng năng suất lao động, đã làm tăng giá trị sức lao động của con người Chế

độ nô lệ, ở giai đoạn trước hãy còn mới mẻ và lẻ tẻ, bây giờ là bộ phận chủ yếu cấu thành chế độ xã hội; nô lệ không còn là kẻ phụ giúp đơn thuần nữa: từng tá người một, họ bị đẩy đi làm việc ngoài đồng ruộng và trong xưởng thợ Với việc sản xuất được chia làm hai ngành chính: thủ công nghiệp và nông nghiệp, thì nền sản xuất để trực tiếp trao đổi cũng ra đời: đó là nền sản xuất hàng hóa Cùng với đó, thương nghiệp xuất hiện, không chỉ ở trong bộ lạc, hay là các vùng ranh giới; mà cả với các miền ở hải ngoại nữa Tuy thế,

Trang 22

tất cả những cái đó hãy còn rất chưa phát triển; các kim loại quí dần trở thành thứ hàng hóa phổ biến và thống trị, nghĩa là trở thành tiền tệ, nhưng chúng vẫn chưa được đúc thành từng đồng tiền, mà chỉ được đem trao đổi theo khối lượng

Bên cạnh sự phân biệt chủ nô với nô lệ là sự phân biệt giàu nghèo giữa những người tự do; cùng với sự phân công lao động mới, xã hội một lần nữa phân chia thành các giai cấp

Phân công lao động lần thứ ba

Với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất thì dẫn tới sự phân công lao động lần thứ ba Xuất hiện giai cấp thương nhân, dù họ không tham gia tí nào vào sản xuất nhưng là giai cấp trung gian không thể thiếu giữa người sản xuất và tiêu dùng Họ chiếm quyền lãnh đạo nền sản xuất và nô dịch những người sản xuất về mặt kinh tế Giai cấp này mau chóng thu về một lượng của cải kếch xù, tương ứng với đó là ảnh hưởng xã hội to lớn

Cùng với thương nhân, thì tiền kim khí, tức là tiền đúc, cũng phát triển;

đó lại là một công cụ thống trị mới của kẻ không sản xuất đối với người sản xuất, và đối với công việc sản xuất Ai có nó thì sẽ chi phối được thế giới sản xuất Và giai cấp chi phối tiền tệ chính thương nhân

Cùng với sự mở rộng thương mại, cùng với tiền và tệ cho vay nặng lãi, cùng với quyền tư hữu ruộng đất và chế độ cầm cố, sự tích tụ và tập trung của cải vào tay một ít người đã diễn ra nhanh chóng

Giai cấp thương nhân thì giàu lên nhanh chóng đối lập với đó là sự bần cùng hóa của quần chúng Và từ đây các giai cấp trong xã hội càng bị phân chia rõ rệt

Bức tranh khái lược đó cho chúng ta thấy không chỉ sự vận động của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất như thế nào, mà còn đòi hỏi phải xem xét sự vận động của các hình thức sở hữu trong

Trang 23

những bối cảnh của sự vận động xã hội lớn hơn Măc dù hình thức sở hữu tư hữu có không ít những tác động tiêu cực, nhưng cũng không thể phủ nhận một thực tế nó là một trong những động lực của sự phát triển lịch sử Sự khác biệt giữa quan điểm của chủ nghĩa Mác với những quan điểm khác là ở chỗ thấy được sự vận động biện chứng của nó, chứ không tuyệt đối hoá nó bằng cách này hay cách khác

Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” Ăngghen đã chỉ ra rằng chế độ tư hữu đạt đến sự phát triển cao nhất, hoàn chỉnh nhất trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, và cũng là lúc

nó bộc lộ đầy đủ nhất những tác động tiêu cực của nó đối với sự phát triển của xã hội, nó trở thành lực cản đối với sự tiến bộ của xã hội, vì vậy nó bị thay thế bằng hình thức sở hữu tiến bộ hơn, đó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất ở phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa ở đó có lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao

Như vậy, theo Ph.Ăngghen trong “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ

tư hữu và của nhà nước” thì sự phát triển của lực lượng sản xuất, việc phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, cũng như việc tăng cường trao đổi hàng hóa là nguồn gốc nảy sinh hình thức sở hữu tư hữu

Dưới cái nhìn biện chứng ta có thể thấy, các hình thức sở hữu tồn tại, phát triển dựa trên sự phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất ở mức thấp thì tồn tại hình thức sở hữu công hữu Khi lực lượng sản xuất phát triển ở một trình độ nhất định thì tồn tại các hình thức sở hữu phù hợp với nó Và khi lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ cao đạt ở mức xã hội hoá thì sở hữu tư hữu mất đi và chỉ còn tồn tại

sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Nhưng trong quá trình thay đổi ấy các hình thức sở hữu không hoàn toàn mất đi khi hình thức sở hữu mới ra đời mà

Trang 24

giữa chúng bao giờ cũng có sự giao thoa, các hình thức sở hữu cùng tồn tại trong hoàn cảnh nhất định

Kết luận chương 1

Như vậy, tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của Ph.Ăngghen có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc tiếp tục phát triển và luận chứng cho chủ nghĩa Mác Cuốn sách của Ph.Ăngghen mang nội dung giải thích có căn cứ trên quan điểm duy vật biện chứng về lịch

sử loài người ở các giai đoạn phát triển sơ khai của nó Tác phẩm đã làm rõ sự phát triển của gia đình, luận giải sự ra đời của các hình thức sở hữu dựa trên

sự phát triển của lực lượng sản xuất Cũng như luận giải nguồn gốc ra đời, bản chất của nhà nước và nhà nước chỉ mang tính lịch sử, cũng như dự đoán

sự tiêu vong của nhà nước

Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của vấn đề sở hữu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của Ph.Ăngghen rất cần thiết cho vấn đề sở hữu ở các nước hiện nay Cuốn sách của Ph.Ăngghen hiện nay vẫn mang tính thời sự không chỉ về mặt phương pháp luận mà còn trực tiếp cả về phương diện nội dung nữa Các luận điểm và kết luận cơ bản của cuốn sách vẫn phù hợp với các vấn đề chính trị - xã hội hiện nay

Trang 25

CHƯƠNG 2 SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ SỞ HỮU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Khái lược quá trình nhận thức của Đảng về sở hữu

Trải qua hơn ba mươi năm đổi mới, trên cơ sở nhận thức ngày càng rõ ràng, sâu sắc hơn về về chủ nghĩa Mác - Lênin, về thực tiễn của đất nước và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã không ngừng đổi mới quan điểm về các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế

Bước đi đầu tiên được đánh dấu ở Hội nghị Ban chấp hành Trung ương

6 (khoá IV), Đảng thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại của kinh tế hộ xã viên với tư cách một bộ phận hợp thành của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Ngày 13/1/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng

ra Chỉ thị 100CT/TƯ, đây là bước khởi đầu cho quá trình đổi mới, xây dựng

cơ chế quản lý Nhà nước nói chung và hợp tác xã nói riêng Mục tiêu Đại hội đưa ra là, căn cứ vào tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất để áp dụng những hình thức khác nhau: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể gia đình xã viên và giữa các thành phần kinh tế này có sự liên kết hỗ trợ nhau Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đã cho thấy quá trình hoàn thiện vấn đề sở hữu xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần bám sát tính chất và trình

độ của lực lượng sản xuất Hay căn cứ vào trình độ kỹ thuật ở mức độ cao cấp khác nhau và quy mô sản xuất lớn nhỏ khác nhau, tuỳ theo từng đối tượng trên từng địa bàn mà áp dụng hình thức kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế xã viên hay kinh tế cá thể một cách phù hợp Các hình thức này không tồn tại độc lập mà liên kết với nhau, có quan hệ tương tác, thúc đẩy nhau cùng phát triển trong một hệ thống phân công xã hội và chịu sự quản lý thống nhất,

có kế hoạch của nhà nước, đặc biệt cần phải thiết lập và mở rộng mối quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa trực tiếp giữa nhà nước với hợp tác xã và tập đoàn sản xuất với kinh tế gia đình xã viên và nông dân cá thể

Trang 26

Cũng trong giai đoạn này, thành phần kinh tế quốc doanh bộc lộ nhiều nhược điểm của nó tuy là quy mô to lớn, đồ sộ nhưng do những điều kiện cụ thể chủ quan và khách quan, đã có những biểu hiện không bền vững và kém hiệu quả Trong khi đó thành phần kinh tế tư nhân tuy chưa được thừa nhận hoàn toàn về mặt pháp lý nhưng lại có sức sống mãnh liệt chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng thu nhập quốc dân Nó không những tự khẳng định được mình mà còn tác động mạnh mẽ đến các thành phần kinh tế khác Từ đó nảy sinh nhu cầu tất yếu khách quan về việc sử dụng và kết hợp đúng đắn các hình thức sở hữu, các hình thức kinh tế quá độ sao cho có thể khơi dậy và vận dụng được mọi tiềm năng lao động, tư liệu sản xuất trong nhân dân

Mục tiêu đổi mới kinh tế của Đảng là thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội, kinh tế nhà nước phải giữa vai trò chủ đạo, đại diện cho sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất Trong những điều kiện mới, tuỳ theo bước phát triển của đất nước mà đề ra đường lối, chủ trương đổi mới, xây dựng quan hệ sở hữu và phát triển các thành phần kinh tế phù hợp

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), đánh dấu giai đoạn bước vào đổi mới tư duy của Đảng Đảng khẳng định: nền kinh tế Việt Nam còn đang ở trong thời kỳ quá độ lâu dài đi lên chủ nghĩa xã hội Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần bao gồm: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế hộ gia đình, kinh tế tư bản nhà nước Đại hội Đảng VI đánh dấu bước đột phá, trước đây sở hữu được coi là mục đích của cách mạng thì bây giờ được coi là phương tiện để đạt được mục tiêu trong phát triển kinh tế xã hội Đổi mới tư duy kinh tế, trước hết là đổi mới quan niệm về sở hữu trong thời kỳ quá độ, Đảng chỉ rõ: “Theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quá trình cải tạo xã hội

Trang 27

chủ nghĩa phải có bước đi và hình thức thích hợp Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố

đi quá xã so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” [5; Tr 57] Như vậy, không thể chủ quan trong việc thiết lập quan hệ sản xuất mới khi chưa có được lực lượng sản xuất tương ứng và cũng không thể tuỳ tiện xoá bỏ quan hệ sản xuất hiện có khi nó còn là hình thức kinh tế thích hợp có khả năng tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất hiện tại phát triển

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) đề ra cương lĩnh mới (Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội) đã chính thức sử dụng khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa”, chính thức nêu khái niệm “cơ chế thị trường” trong cương lĩnh của Đảng Cương lĩnh nêu lên

5 thành phần kinh tế

– Kinh tế quốc doanh

– Kinh tế tập thể

– Kinh tế cá thể

– Kinh tế tư bản tư nhân

– Kinh tế tư bản nhà nước

Đây là lần đầu tiên trên diễn đàn cao nhất, chúng ta đề ra lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Tuy nhiên, ở mức

độ nào đó, chúng ta vẫn còn chưa có sự khẳng định rõ ràng về nền kinh tế thị trường mà mới chỉ chấp nhận “ kinh tế thị trường”

Đến Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng, luận đề này được bổ sung bởi quan điểm “xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Điều này có nghĩa là về mặt nhận thức, chúng ta đã có sự cởi mở hơn đối với kinh tế thị trường, song có

sự nhận mạnh phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 28

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng khẳng định “sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng” Đại hội cũng nêu ra 5 thành phần kinh tế, về cơ bản vẫn như đại hội

VI, tuy có thay đổi một chút về tên gọi, đó là:

– Kinh tế nhà nước

– Kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã

– Kinh tế cá thể, tiểu chủ

– Kinh tế tư bản tư nhân

– Kinh tế tư bản nhà nước

Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đề ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Nội hàm của khái niệm này được khẳng định là phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây chính là mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta trong thời kỳ quá độ và cũng là bước phát triển mới trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta Đại hội IX nêu ra 6 thành phần kinh tế:

– Kinh tế nhà nước

– Kinh tế tập thể

– Kinh tế cá thể, tiểu chủ

– Kinh tế tư bản tư nhân

– Kinh tế tư bản nhà nước

– Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: chúng ta tiếp tục xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần và tương ứng với nó là nhiều hình thức sở hữu Đại hội X nêu ra 5 thành phần kinh tế cơ bản:

Trang 29

– Kinh tế nhà nước

– Kinh tế tập thể

– Kinh tế cá nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân)

– Kinh tế tư bản nhà nước

– Kinh tế cơ vốn đầu tư nước ngoài

Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật và đều là bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế nhà nước giữa vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân cũng

có vai trò quan trọng, là một động lực của nền kinh tế

Văn kiện Đại hội XI của Đảng, Đảng đã khẳng định“phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh”[10; Tr.73], còn số lượng các hình thức sử hữu, các thành phần kinh tế và theo đó là bao nhiêu loại hình doanh nghiệp là do nhu cầu khách quan của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất

và lực lượng sản xuất quyết định Đây là một bước tiến nhằm tạo một không gian mở cho quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất hoạt động, để có thể tránh giáo điều chủ quan

Trong Văn kiện đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh

tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” [11; Tr.45]

Trang 30

Trong văn kiện Đại hội XII của Đảng không nêu cụ thể từng thành phần kinh tế, mà khẳng định nền kinh tế nước ta có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế Đây là cách thể hiện phù hợp với sự vận động linh hoạt của nền kinh tế Bên cạnh đó, Đảng tiếp tục khẳng định vai trò của hai thành phần kinh tế cơ bản đó là: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và kinh

tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế Điều này thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta đối với thành phần kinh tế nhà nước, đồng thời nêu nhận thức mới về vai trò của thành phần kinh tế tư nhân

Tại Hội nghị Trung ương V khoá XII, Đảng tiếp tục khẳng định “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật [13; Tr.5]

Có thể thấy Đảng chủ trương không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế: Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật Đây là quan điểm nhất quán, xóa bỏ hẳn cơ chế bao cấp, chuyển toàn bộ sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đã cho thấy, quá trình hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phải bám sát trình độ của lực lượng sản xuất Nói cách khác, phải căn cứ vào trình độ kỹ thuật với mức độ cao thấp khác nhau và quy mô sản xuất lớn nhỏ khác nhau, tùy theo từng loại đối tượng sản xuất trên từng địa bàn mà áp dụng hình thức kinh tế,

Ngày đăng: 08/02/2021, 20:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm