1. Trang chủ
  2. » Địa lý

Ranh giới mở giữa xã hội học và các ngành khoa học khác: Tiềm năng cho những nghiên cứu liên ngành

15 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền tảng Xã hội học đ ư ợ c tận dụng triệt để khi người ta xây dựng một ngành học mới từ nó: Auguste Comte (chia Tâm lý học theo hai khía cạnh: Sinh học và Xã hội học), Gabriel[r]

Trang 1

RANH GIỚI MỜ GIỮA XÃ HỘI KỌC VÀ CÁC NGÀNH KHOA HỌC • • • KHÁC: TIỂM NÂNG CHO NHỮNG NGHIÊN cứu LIÊN NGÀNH

ThS Đặng Hoàng Thanh Lan*

1 Liên ngành, đa ngành và xuyên ngành

N hằm làm rõ h ơ n ý nghĩa của khái niệm liên ngành, m ở dầu bài viết này, chúng tôi sẽ

phân biệt các khái niệm liên ngành (interdisciplinarity), đa ngành (m ultidisciplinarity) và

xuyên ngành (transdisciplinarity) trước khi bàn luận đến các vấn để liên ngành của Xã hội học.

dụ n g lẫn lộn, tu y vậy thự c tế là giữa chúng vẫn tồn tại n hữ ng điếm khác b iệt Đ a ngành

n h ấn m ạn h vào tín h đối chiếu của các góc nhìn, m ang các n g ành h ọ c lại gần để cùng

n h au nói vế m ộ t vấn để như ng dưới con m ắt khác n h au của n h ữ n g n g àn h k h o a h ọ c khác nhau Đ a n g à n h chứa đựng rất ít những tư ơng tác vượt ra ngoài ranh giới của từng chuyên n gành (R esnick, 2012) C h ẳn g hạn, nhằm cung cấp nhữ ng trợ giúp tố t n h ấ t cho

m ộ t người th u ộ c n h ó m yếu th ế tro n g xã hội (người già, người nghiện, người có vấn để

vể sức khỏe tâ m t h ẩ n ) , người ta có th ể hinh th à n h m ộ t đội trự giúp đa ngành (m u ltid iscip lin ary te a m ) gổm n h à tâm lý học, nhân viên cô n g tác xã hội, y tá, dược sĩ hay n h à vật lý trị liệu T ro n g khi y tá có trách nhiệm chăm sóc, cung cấp cho đối tư ợng điếu kiện th o ải m ái n h ấ t vế thê’ chất, dưới cái nhìn của góc độ b ệ n h h ọ c th ì nhà tâm lý chăm sóc vấn đ ể tin h thần, tâm th ần ; và nhân viên cóng tác xã hội thì q u an tâm tới moi vấn để m ôi trư ờ n g xung q uanh việc chăm sóc đối tượng n h ư cung cấp n h ữ n g lời gợi ý,

giới thiệu, lập k ế h o ạ c h n h ằm bảo đảm tính liên tục từ các dịch vụ ch ăm sóc, h o ặc tư vấn

cho gia đ ìn h về n g u ồ n lực m à họ có thê’ tiếp cận, n h ờ sự h ỗ trợ, cũng có thê’ là xem xét những m ối q u a n h ệ xung q u an h b ệ n h n h ân n h ư người th ân , bạn b è n h ằ m th ay đổi những ảnh h ư ở n g tiêu cực đ ến b ệ n h nhân n ếu có (M o n ro e, D eloach, 2 0 0 4 ); v v

* K h o a X ã h ộ i h ọ c , T r ư ờ n g Đ ạ i h ọ c K h o a h ọ c X ã h ộ i v à N h â n v ãn , Đ H Q G H N

Trang 2

7 9 6 Đ ặ n g Hoàng T h a n h Lan

N g h iên cứu liên n gành có p h ẩn khác với đa ngành Đ ầu tiên n ó cũng là đưa các

n g àn h h ọ c lại gần với nhau, n hư ng sau đó, từ việc k ết hợp những chuyên n g àn h tách

b iệ t lại đ ể dần d ầ n tạo ra nhữ ng n h ó m lý th u y ết m ới, công cụ mới, h o ăc mô h ìn h , cách tiếp cận mới N ó i cách khác đó là tạo ra n h ữ n g tri thứ c m ới - th ứ m à sẽ khó có thê’ có được n ế u chỉ dựa trê n n ế n tản g tri thức của m ộ t n g àn h học (Resnick, 2012) N h ư vậỵ,

th a y vì chỉ h ìn h th à n h n hữ ng đội ngũ cộng tác với n h au n h ư ờ nghiên cứu đa n g à n h thì với tín h chất liên n g ành, tri thứ c của các n g àn h học đã có sự tác động, ảnh h ư ở n g đến

n h a u ; chồng lên n h a u ở m ộ t p h ạ m vi nào đó Biên giới “cứng” cùa các ngành h ọ c b ắt đầu bị p h á vỡ và b iể n th à n h n hữ ng biên giới “m ề m ” có th ể kéo dãn, dịch chuyển Đ ến

lên n h ư ở n g h iên cứu “liên n g à n h ” m à chúng đ ã thực sự giao nhau và b iến đổi to à n diện,

từ đó sin h ra m ộ t cách tiếp cận h o àn to àn m ới mẻ, m ộ t th ứ h o àn to àn khác b iệ t và bất ngờ N ó i cách khác, liên n g àn hchính là sự m óc nối tri thứ c của các n g ành khoa h ọ c khác

n h au và là bư ớc đ ệm chuyển tiếp từ cách thứ c hợp tác nhưng độc lập trong lý luận cùa

đa n g àn h với sự b iế n chuyến to à n diện về lý luận tro n g xuyên ngành

tranh luận N ên hay không nên - bước ra ngoài ranh giới “lãnh thổ” của ngành nghiên cứu mà

m ộ t cá nhân nào đó là chuyên gia để dấn bước nghiên cứu tại ‘lã n h th ổ ” của m ộ t ngành

ngành chuyên biệt m ới đúng là chuẩn mực khoa học T ưởng tượng gióng như chúng ta bước vào m ộ t ngôi n h à chứa đẩy đủ m ọi dụng cụ, từ đồ m ộc cho đến đồ hàn, từ sơn cho tới cọ vẽ

N hữ ng công cụ đ ó giống như tri thức m à từng ngành khoa học sở hữu vậy Mọi th ứ thì sẵn có: phương pháp, sách vở, m áy móc; tuy nhiên nếu không phải là chuyên gia trong lĩnh vực

đó thì dù cho có m ượn công cụ của người khác cũng chẳng thể làm được gì N ếu khăng khăng

áp dụng những tri thức “trái n gành” khác nào m ộ t anh th ợ sơn cứ cố gấng cắm b ú t chì để vẽ tranh thay việc cho họa sĩ Tuy nhiên, lại có ý kiến khác đông tình với việc nền tăng nghiên cứu liên ngành lên, việc tăng cường nghiên cứu liên ngành là xu hướrig đang có (C o ast et al 2007) M ột giả định vể nguyên nhản của xu hướng gia tăng này có thé là nhờ vào sự phổ biến rộng rãi của những th ô n g tin khoa học trên internet và trên các cơ sở dữ liệu tinh vi mà các

h ọ c m à chỉ có thể giải quyế: bằng cách sử dụng ý tưởng và phương pháp của nhiểu hơn m ột ngành nghiên cứu T ro n g bài viết này, nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn thực trạng của xu hướng

Trang 3

RANH GIỚI M ờ GIỮA XÃ HỘI HỌC VÀ CÁC NGÀNH KHO A HỌC KHÁC: 7 9 7

n g h iê n cứu liên ngành, c h ú n g tôi giới hạn việc bàn lu ậ n sẽ chỉ x o a y q u a n h các vấn đ ể n g h iê n

cứu liên n g à n h của n g à n h xã hội h ọ c

2, Những ranh giới m ờ v à liên ngành trong nghiên cứu Xã hội học

Khi điểm ngược lại những luận điểm thường được đưa ra để chứng m inh xã hội học là

m ộ t ngành khoa học độc lập (có nguồn gốc tư tưởng với các tác giả kinh điển riêng, có hệ thống lý luận, phương pháp luận riêng và có đối tượng nghiên cứu riêng của m ình), chúng

ta lại có thể thấy xã hội học chia sẻ vài phần giống với những ngành khoa h ọ c khác

2.1 Về đối tượng nghiên cứu

K hông th ế p h ủ n h ậ n rằng n h ìn chung xã hội h ọ c hay các n g àn h k h o a h ọ c xã hội khác đ ều quan tâm tới các vấn đề xã hộ i (social p ro b lem s), d ù cách thứ c tiếp cận tới các vấn để có thê’ khác nhau Bởi vậy k hó tránh khỏi việc m ộ t p h á n p h ạ m vi nào đó của các ngành h ọ c nói ch ung và Xã h ộ i h ọ c nói riêng, bị trùng lặp với n h ữ n g n g àn h học khác

Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa Xã hội học và một số ngành khoa học xã hội khác

K in h t ế

h ọ c

c h í n h t r ị

Xã hội học

N h â n ì ậ

c h ủ n g ® V - ' p Ị - Đ ị a lỷ

h ọ c ' N g à n h

n g hiên c ứ u

v ề giao tiế p liên

K g u ổ n : ( Ferris, Kerrỵ; Ị ill Stein, 2 0 0 8 : l )

T h ô n g thường, xã hội h ọ c được phân biệt với T riết học bở i T riế t h ọ c thư ờng được dùng làm cơ sở lí luận và p h ư ơ n g p h áp luận, trong khi Xã hội h ọ c n g h iên cứu lĩnh vực cụ thể của xã hộ i (p h ạ m T ấ t D ong, Lê N gọc H ùng, 2 0 0 8 ) So với N h â n học, Xã hộ i học

quan tâm tới th ế giới bộ lạc; h o ặc tro n g lúc các nhà Xã h ội h ọ c sử d ụ n g n hữ ng phư ơng

Trang 4

7 9 8 D ặng H o à ng T h an h Lan

pháp đ ịn h lượng để th u th ập th ô n g tin thì nhà N h ân h ọ c lại sử dụng phương pháp định tính; và Xã hội h ọ c nghiên cứu xã hội tro n g khi N h ân h ọ c nghiên cứu vấn h ó a (Tischler,

2 011) K hác T â m lý học, các n h à Xã hội h ọ c luôn n h ìn hư ớng tới m ột xã hội, m ộ t giai cấp xã hộ i h ay m ộ t n h ó m xã hộ i chứ k h ô n g nghiên cứu riêng vể riêng lẻ m ộ t cá nhân; cũng k h ô n g quan tâ m vào n h ữ n g ngu ổ n sản sinh nội tại của h àn h vi mà họ chú tâm tới những yếu tố b ên ngoài sản sin h ra h à n h vi (S hepard, G reene, 2001: 7) So với K inh tế

h ọ c thì Xã hộ i h ọ c khác với k in h tế, bởi m ộ t b ên là k h o a h ọ c về cách thứ c tận dụng nhữ ng n g u ồ n lực k h an hiếm để sản xuất hàng hóa và dịch vụ n h ằm đạt được sự thỏa

m ãn tối đa của n h u cấu k inh tế (K inh tế h ọ c )(M cC o n n e ll: 13) còn m ột b ên lại là ngành nghiên cứu các m ố i quan hệ, các m ô h ìn h tương tác tro n g kinh tế (Xã hộ i h ọc) N ếu

n h ư tro n g cái n h ìn của K inh tế học, các cá n h ân và các th iết chế luôn tạo ra m ọi quyết định m ộ t cách lý tín h và dựa trê n sự so sánh giữa chi p h í giới hạn, các p h ú c lợi b ên lể (M cC onnell: 13) th ì cái n h ìn của Xã hội h ọ c lại đa chiểu cạnh hơn vể các hành vi cùa con người, tìm h iểu n hữ ng y ếu tố b ên ngoài khác tác đ ộ n g tới h àn h vi của họ, chứ

k h ông chi tập tru n g vào n h ữ n g lý giải h à n h vi th u ần lý tính

Đ ây là n h ữ n g đư ờ n g ran h giới m à người ta thư ờ n g h ay đặt ra, kẻ giữa Xã hội học và

m ộ t SỐ n g à n h k h o a h ọ c g ầ n g ũ i T u y n h i ê n , sự p h â n b i ệ t n h i ề u khi c ũ n g c h ỉ m a n g tín h

tương đối bở i k h ô n g p h ải lúc n ào cũng có thê’ p h ân b iệt được n hữ ng ngành học ấy với

n h au m ộ t cách ràn h m ạch, th e o lý tưởng Đ ặc biệt, đ ối với Xã hộ i h ọ c là n g àn h h ọ c bao trù m khá n h iéu các m ặt của xã h ộ i thì lằn ran h p h â n b iệt của n ó lại càng mờ Riêng tên gọi của n hữ ng chuyên n g àn h Xã hộ i h ọ c đã p h ẩn nào thê’ hiện điểu này như: Xã hội học văn hóa, Xã h ội h ọ c tô n giáo, Xã hộ i h ọ c giáo dục, Xã hộ i h ọ c m ôi trường, v v

Gần đây có m ộ t bộ sách được dịch ra tiếng Việt tên là “Kinh tế học hài hư ớc” và “Siêu

Kinh tế học hài hước”(Levitt, 2005, 2009) Lời chào m ời ngoài bìa cuốn sách ghi: “Khảm

phá những khía cạnh bất ngờ còn ẩn khuất đâng sau mọi hiện tượng xã hội từ quan điểm Kinh tế

học” Bộ sách là tập hợp từ đa dạng các chủ để: từ sự gian lận của các giáo viên phổ thông,

những ẩn ý nằm dưới quảng cáo m ua bán nhà, kết bạn qua m ạng cho đến nguyên nhân dẫn đến hiệu ứng “ngược” từ Đ ạo luật về người tàn tật (Disabilities Act) và Đạo luật các giống loài bị đe dọa (E ndangered Species A ct), từ lý do khiến cho những tên buôn bán ma túy vẫn sống cùng m ẹ cho tới mối liên hệ giữa luật cho phép phá thai và tỉ lệ tội phạm giảm, v.v

N h ư vậy, với m ộ t cuốn sách được trô n g đợi là viết từ góc nhìn của các n h à Kinh tế học thì nó được coi là “không có chủ đề thống nhất" - như lời của các biên tập viên nhà xuất bản

Trang 5

RANH GIỚI Mờ GIỮA XÃ HÔI HỌC VÀ CÁC NGÀNH KHOA hỌC KHÁC: 7 9 9

đã nhận xét Thật đáng tiếc cho các tác giả khi họ nhận được lời nhận xét như vậy Bởi nếu soi xét mọi chủ đề được nêu ra dưới ánh sáng của lý thuyết xã hội học, thì chúng là một

xã hội), đúng như các tác giả đã tự nhận Hơn nữa, các chủ đề và cách tiếp cận của một cuốn sách ‘lạ ” đối với Kinh tế học lại thực sự là rất “quen” đối với Xã hội học Sự lúng túng của nhà xuất bản và một số độc giả trong việc nhận ra sợi chi kết nối “mạch” của các câu chuyện xã hội đến từ việc họ không được cung cấp nến tảng về lv thuyết xã hội Ý nghĩa của

diệu nào ảược xây dựng dựa trên cơ sở là những câu chuyện này hết, chỉ có một con số đáng kể đượctính bắng tổng số các câu chuyện cộnglại (Levitt, 2009:12-13)”

V í dụ trên đây đã thể hiện được hai điếu: thứ nhất, trong một số trường hợp, đối tượng nghiên cứu của Kinh tế học chỉ cần thay đổi đi một chút là nó thậm chí đã có thể trở thành đối tượng nghiên cứu của Xã hội học Hai ngành học này gần gũi hơn chúng ta vẫn tưởng

T h ứ hai, việc thiếu kết hợp giữa hai ngành, trong trường hợp cụ thể này, là thiếu kết hợp nền tảng lý thuyết của Xả hội học với những gi các tác giả Levitt và Dubner tìm được dẫn tới việc lảng phí - hoặc chí ít củng là sử dụng chưa đạt đượcđến hiệu quảmong muốn - số lượng dữ kiện khổng lổ về xã hội mà các tác giả đã bỏ công nghiên CƯU

T ớ i đây, một câu hỏi nữa được đặt ra là: Phải chăng “khám phá những điểu ẩn khuất” trong những sự kiện dường như là bình thường, diẽn ra hàng ngày là đặc quyền riêng của Xã hội học? Không Câu trả lời rút ra được từ hai cuốn sách “K in h tế học hài hước” và “Siêu K inh tế học hài hước” (Le vitt) đã cho thấy không hẳn là như vậy Bởi thế, nếu chăng có ai cố tình kẻ đậm lằn ranh phân biệt giữa Xã hội học và các ngành học khác bằng cách này thì có lẽ người đó sẽ không thành công

(L ờ i mời đến với X ã hội học: một góc nhìn nhân văn) dã so sánh những phát hiện gây sốc của Xã hội học với khám phá của các nhà Nhân học (m ột ngành khoa học vốn tìm hiểu các nền văn hóa xa lạ và thường tìm ra cái gọi là “cú sốc văn hóa”, ví dụ tục ăn thịt người) (Berger, 1963: 3 5 ) “Khác với Nhân học, nhà X ã hội học không đi tìm hiểu những

xã hội khác lạ, mà thường say mê với cái quen thuộc Sự độc đáo ìà nhãn quan X ã hội học giúp ta nhìn cái đã quen thuộc - thậm chí nhàm chán - dưới một ánh sáng mới mẻ và thanh

những chủ để nghiên cứu gắn đầy của ngành Nhân học xã hội Nhân học đã không chỉ

Trang 6

8 0 0 Đặng Hoàng Thanh Lan

dừng việc nghiên cứu lại ở những tộc người thời nguyên thủy, bộ lạc hoặc thời kỳ tiến văn tự nữa mà đã có bộ phận Nhân học ứng dụng (applying anthropology), Nhân học văn hóa, Nhân học xã hội Những quan tâm của các bộ phận Nhân học nàv cũng chẳng khác nhiều so với ngành Xã hội học Dưới đây là bảng so sánh một số vấn để được coi là cốt lõi, nhập môn nằm trong hai cuốn sách đại cương vế Nhân học và Xã hội học:

Bảng 1 So sán h nội dung tổ ng q u á t của m ột số c h ư ơ n g g iữ a 2 cuố n sách "N hân học:

S ự kh ám phá đa dạng lo ài n g ư ờ i" (K o tta k , 2008) và "X ã hội h ọ c" (S c h a e íe r, 2008)

Nhân học: Sự khám phá đa dạng loài

Phần 1.2 Nhân học ứng dụng

(Nhân học và giáo dục, Nhân học đô

thị, Nhân học y tế, Nhân học kinh

doanh)

Kỉnh tế và nơi làm việc Sức khỏe và y tế Các cộng đồng và đỏ thị hóa

390-409;

432-499

Phần 111.13: Đa dạng văn hóa

(Văn hóa là gi - Là học tập, biếu

trưng, chia sẻ ; Văn hóa và cá nhân;

Tính phổ biến, tổng quát và đặc thù,

khuôn mẫu văn hóa; Biến đồi cơ giới

của văn hóa; Toàn cầu hóa)

111.13: Ngôn ngữ và giao tiếp

279-298;

327-354

Văn hóa (Văn hóa và xã hội;

Sự phát triển của văn hóa trên thế giới; Các thành tổ của văn hóa - ngôn ngữ, chuẩn mực, giá trị, thưởng phạt; Đa dạng văn hóa; Văn hóa và sự thống trị của tư tưởng), Xã hội hóa

56-107

111.14: Sắc tộc và chủng tộc

(Cơ cấu xã hội theo chủng tộc; Phân

tầng và "trí thông m inh"; Nhóm/Quốc

gia/Quốc tộc theo chủng tộc; Cùng

chung sống hòa bình; Nguồn gốc của

xung đột chủng tộc)

chủng tộc (Nhóm dân tộc, sắc tộc, thiểu số; Định kiến và phân biệt; Các khuôn mẫu quan hệ trong nhóm)

266-287

111.17: Hệ thống chính trị

(Loại hình và xu hướng; Thị tộc và bộ

lạc; Thủ lĩnh; Nhà nước; Kiểm soát

xã hội)

(Các loại nhóm, Các tố chức chính thức và quan liêu; Văn hóa tổ chức và quan liêu ) Lệch chuẩn và kiểm soát xã hội

134-155;

182-211

111.18, 19, 20, 21 Gia đình, họ tộc, các

thể hệ; Hôn nhân; Giới; Tôn giáo

409-506 Gia đình và các mối quan hệ

thân thiết; Tôn giáo

338-389

IV Thế giới thay đổi

(Hệ thống thế giới hiện đại; Chủ

nghĩa thực dân và sự phát triển; Trao

đổi và Lưu giữ văn hóa)

biến đổi xã hội

544-561

Bảng so sánh trên đã phần nào thê’ hiện được sự đồng quan tầm của Xã hội học và Nhân học đổi với một số chủ đế như tổ chức, thiết chế, văn hóa, các khuôn mẫu, Trong bài viết "Xã hội học và Nhân học có thực sự ỉà hai ngành khoa học riêng biệt không?”, tác giả

Trang 7

RANH Giới Mờ GIỮA XÃ HỘI HOC VÀ CÁC NGÀNH KHOA HỌC KHÁC: 8 0 1

Annuska Derks ( 2011) đã lấy ví dụ vế một số quyển sách mà nếu chỉ nghe tên thì đến các

nhà nghiên cứu cũng rất dễ để xếp nhấm chuyên ngành của nó Chẳng hạn, cuốn “Lễ hội và khỏng gian văn hóa công cộng” có thê’ bị nhầm là sách Nhân học, thực ra là một cuốn thuộc

bộ “Những bước tiến trong Xã hội học” (Advances in Sociology); hay cuốn “Giới trẻ đô thị

ở Trung Qụốc: Hiện đại hóa, internet và cái tôi” dễ bị lấm là sách Xã hội học thì lại do tác

giả là người có bằng tiến sĩ vế Nhân học viết (Derks, 2011) Đây là một minh chứng rõ ràng

cho cái gọi là ranh giới mờ về đối tượng nghiên cứu giữa Xã hội học và Nhân học Nhiều khi rất khó để phân biệt được giữa công trình của các nhà Xã hội học và Nhân học bởi họ nghiên cứu những vấn để tương tự nhau

T ó m lại, ở phần này, chúng tôi đã trình bày về sự chổng đè trong ranh giới của

X ã hội học và một số ngành khoa học xã hôi khác Sự trùng lặp này có thê’ trở thành một điểu kiện đê’ các ngành khoa học cùng hợp tác nghiên cứu những vấn để xã hội mà họ chia sẻ sự quan tâm với nhau

2.2 S ự kết hợp về lý thuyết và phương pháp luận

Nhấc tới nền tảng lý thuyết của Xã hội học, không thể không nhắc tới các tác giả kinh điển

cuốn “Thế giới thực: Một giới thiệu vế Xã hội học” (Perris, Stein, 2008) đã lập ra:

M ũỉhtl Koucault

( ] 1 Hirold liiríinkcl

\ ỵ r i I PPltMntẬchỆe

K / Ị ị ơ i l h n « n i í i h i X t o ! f l » \ ]

-KaudnlUrd Ị Ị — —;■ — A

Truùiiii ị'hái C lik ã g o I \

Jac\|Uffs ĨXtniiU E n m ạ GolYman Ị ì

^ DiỉiMAtiBtty k Y

1 tãe h i t t t t n m g

~N .

I Rolicil Mcitiai

ự-Chú ttghìa h4u hi<jn 4ai

r " ị

( ÌHI* tíK xa tiọi Ị/

Ị ĩbuyíl Itư quy in ị VV.E.B DuBois V )

' '\

1 írooiựt phái frankfurt \y Vhuvát xiutí -.tột i

K » l Msre

Smicv dioiiorm v

V _1

; siíímund Frtud Ị

’ 1 Wiluutt ĩữutíi

J«IXÌC» D tv v ie v !/

1 Cểc ; ị \

l nhể

XI hột ;

/ ^

M k x \ V í b e r

Ị r.rniỉe Diniheim

Các nha

MÍ học

Auịíuưc

Ccmic

Các uhá kinh fc hoc

H m ĩic i

Martincan

( k lihà

V tricihọc

Chailcs

\ Danvìn ỵ '

H rtbcri ' '

S i’“ c a C ả c n h à

, thán hoc

S ơ đồ 2: C ây phả hệ của ngành Xã hội học

Nguồn: ( FerriSj Stein 2 0 0 8 :3 4 )

Trang 8

8 0 2 Đăng Hoàng Thanl Lan

K h i đưa sơ đổ cây phả hệ này vào bài viết, chúng tôi có niếm tin rằng các nhà râm

lý học, Nhân học, Dân tộc học,Triết h ọ c có thể đã biết đến một hoặc một vài cá tên bên trên

Kê’ về “gốc cây” - đó là những tác giả được coi là đặt nền móng cho sự ra đờ của

ngành X ã hội học Cũng bởi vậy mà đa số họ hầu như đều không phải nhà chuyên nôn

Xã hội học (v ì X ã hội học lúc đó còn chưa ra đời) Họ xuất phát từ nhiều ngành ìhoa học khác như T riế t học, Thần học, Kinh tế học, Sử học, nhưng cách họ tìm kiếm một cái nhìn mới để khám phá xã hội đã tạo ra những khởi đầu cho một số trường phá Xã hội học vẫn còn tổn tại cho tới ngày nay (Ferris, Stein, 2008: 35) như: Auguste Cunte (1798-1857) - nhà T riế t hpc, H arriet M artineau (1802-1876) - phóng viên và nhà

K in h tế học chính trị, Herbert Spencer - nhà T riế t học, Xã hội học

“T á c dụng” của liên ngành tại thời điếm này cũng đã thấy được tương đối rõ Liên ngành góp phần đặt nển tảng tạo ra các ngành học mới từ những ngành học cũ Nlững con người thuộc thế hệ vế sau sáng tạo ra phương pháp mới để tiếp cận với nghiên cứu khoa học xã hội, trưởng thành từ cái nển tảng là những tri thức của ngành học (ó từ trước mà họ kế thừa

Sociologique do Em ile Durkheim làm chủ bút, một phần nhân loại học đã được hình tlành

Bộ phận Xâ hội học tôn giáo do Marcel Mauss đảm nhiệm đã “điểm chuyển từ Xã hộ học sang Nhân loại học” bởi nghiên cứu tôn giáo “mở đầu sự phân tích phương diện biếu tưng của xã hội” (Lojkine, Treglode, 1997: 18-19) Ngược lại, Xã hội học của Durkheim :ũng chịu ảnh hưởng của những quan điểm mang đặc trưng của Nhân học: “Chính sự nịhiên cứu tôn giáo đã bắt Durkheim phải quan tâm tới Dân tộc học miêu tả, môn học lúc bar đầu ông rất ít quan tâm”(Lojkine, Treglode, 1997: 18-19) Lấy ví dụ, nghiên cứu nổi bật ve tôn

gắn kết xã hội của tôn giáo Đê’ làm được điểu này, ồng chọn nghiên cứu những ngii lẻ trong T ô Tem giáo của người Mélanésie (châu Đại Dương) - như vậy là áp dụng phíơng pháp nghiên cứu định tính Dân tộc học khá đặc trưng của Nhân loại học

Năm 1892, trong "Những quy tắc của phương pháp X ã hội học”, ông đố lập

“những quan sát lộn xộn và nhanh chóng của các nhà du lịch với những văn bản cúnh xác của lịch sử” H ai mươi năm sau, năm 1912, ông đặt lịch sử và Dân tộc học mi;u tả ngang hàng với nhau và nhấn mạnh tính chất bổ ích của những quan sát Dân tộc học

Trang 9

RANH GIỚI Mờ GIỮA XÃ HỘI HỌC VÀ CÁC NGÀNH KHOA HOC KHÁC: 8 0 3

đối với nhà Xã hội học Sự quan tâm ngày càng tăng đối với tôn giáo đã làm cho D ân tộc học thành một trong những bộ môn quan trọng bậc nhất trong lâu đài Xã hội học (Lojkine, Treglode, 1997: 18-19)

Marcel Mauss (cháu của Durkheim), người được coi là nên được kể đến trong việc dẫn

là một minh chứng cho sự “thừa kế” và “biến đổi” “kế hoạch” của Durkheim N ói cách khác, yếu tố liên ngành được nhận thấy rất rõ ràng trong trường hợp này: từ những lý luận, phương pháp luận Xã hội học kế tục từ Durkheim, Mauss đã phát triển tạo thành khung lý luận của Mauss Một mặt “không bao giờ Mauss có cảm giác rằng mình tách rời khỏi đường

đi của Durkheim” (Lévi-Strauss); mặt khác “Mauss quay về phía các sự kiện” đúng như một nhà “Nhân loại học thực địa” Nếu như Durkheim nghiên cứu T ô Tem giáo chi giới hạn

tiếng nhất, dùng phương pháp so sánh, là phương pháp Durkheim đã phê phán nghiêm khãc Trong Khảo luận vê' quả tặng, M auss đưa ra rất nhiều thí dụ: từ người Đ a Đảo, tới các cư dân Andaman, người Mélanésie, Indian, cho tới L a M ã, Ân Độ, Giccman, Celte, Trung Quốc cổ đại

và các xã hội hiện đại chúng ía(Lojkine, Treglode, 1997: 32-33) phương pháp xã hội học gốc mà Mauss học tập từ Durkheim (chỉ chọn một đại diện để nghiên cứu, ví dụ Durkheim chọn duy nhất T ô Tem giáo - là trường hợp giản đơn, sơ đẳng đê’ giải mã xem mọi tôn giáo

là gì), đã chuyển đổi thành sự quan tâm tới cái đa dạng, cái khác biệt Ông chọn cách đưa ra

đôi - buôn bán. Ông cũng góp phân trong sự phủ nhận tiến hóa luận - một điều kiện chủ yếu cho sự xuất hiện của một tư duy nhân ỉoại luận Mauss không sùng bái đơn giản sự tiến bộ như Auguste Comte hay Durkheim làm (Lojkine, Treglode, 1997: 48) Những nghiên cứu của Marcel Mauss (1872-1950) có thể được coi là một “khía cạnh Xã hội học của đời sống kinh

tế dược tiết lộ qua cách nghĩ của Nhân học” (Smelser, 1963: 18)

T ro n g tòa soạn báo do D urkheim chủ biên, không chỉ có sự tương tác riêng giữa

ra một nhóm làm việc liên ngành điển hình.Dưới đây là sơ đồ thê’ hiện cấu trúc của tòa

“lầu đài” Xã hội học từ tập hợp tri thức của rất nhiều ngành nghiên cứu khác nhau:

Trang 10

8 0 4 Đặng Hoàng Thanh Lan

S ơ đô 3 : N hóm làm v iệ c liên n gàn h: Các tác giả báo L' A n n é e Sociologique

(E m ile D u rk h e im ch ủ b ú t)

Paul

Giáo dục đạo đửc

vấn để thực dàn

'"P OommQu* Parcel

Các nén tảnc triết học

Arrarte

Khu \1K ngón ngừ

Khao cỏ học

Chùng tộc, tu tucmg hệ tư tường.

F*»£ổnn«t

Giáo dục đạo đức

- Sj*iỊHLỄj£hinj

E n tíí OỤRKHẸIM

Có két đòng ahàt

lý tuớiig đạo đức, các thict chc

JcanRây Luật quốc te, các quoc gia

lụ c a ạ o a ư c

O 0 9 w D i f - y £ đ m ù n 3

Chủ quyền, cic Issiarvii

L /

Marceỉ Mttítt

Htnrt HuOtrt Than thoại, sự hy sinh, nen V ẳn minh

Stetan &A3nxw5*Ị

Toàn thẻ cóng đán, quỏc gia

phán loại

vắn để thực dán

phần khúc, phản loại

Chính trị

Fr«ncữi»

Luật

Kiiih tể học

thuyct ứiản thoại, biều tượne Robert Htyti

Hy sinh, chủ nghía anh hùnỉ

Mềurkt Hềlbwảch» \

Trí nhớ tập thê, quản lý

xà hội (cadrcs), van đc táiig lớp

tộc học vê tôn

Matoeỉ Granet

Văn minh, nghi

lễ dán gian

Ar*>r* Vacn#

B iê n g iớ i, k h u \-ực

Địa lý

\

\

A&êít Dema^geộrt Địa lỷ chinh trị ranh eiới và giới hạn ngòn ngừ

Nguồn: (jennifer Mergy, 2004)

Trên đây chi là một ví dụ nhỏ trong thực tế chứng minh rằng: quan hệ trong truyền thống học thuật giữa các ngành họclà mối quan hệ qua lại Chính từ những phát triển

thành những nhóm lý thuyết hay hệ thống lý thuyết mới, thậm chí là trở thành một môn học, ngành học mới Những ví dụ vể “nhánh cây”, bởi vậy càng có nhiếu hơn

Phải chăng đây chính là cách mà Xã hội học đã phát triển: T ừ những điểm giao thoa với các ngành học khác mà dần dần Xã hội học xây dựng nên bức tường lịch sử của chính mình? T ừ chủ để phân công lao động - như điểm nút giữa Xã hội học, Kinh tế học và khoa học chính trị mà Herbert Spencer tìm thấy 2 quy tắc quản lý với mức độ tự

do khác nhau tương ứng với 2 kiểu hình xã hội công nghiệp và quân sự, Em ile Durkheim lại chia ra xã hội thành hai với nguyên tắc đoàn kết của tính đổng nhất và tính khác biệt

T ừ chủ đề tôn giáo - vừa là Xã hội học nhưng lại vừa gần với Nhân học và T ô n giáo học,

thậm chí gần với Kinh tế học mà những tác phẩm Xã hội học nổi tiếng được ra đời nhu’:

Các hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo (Em ile D urkheim ), Đạo đức Tin lành và tinh thần cùa chủ nghĩa tư bản (M ax W e b e r),

Ngày đăng: 08/02/2021, 20:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w