1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quản lý nhà nước và vai trò cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản

245 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 245
Dung lượng 22,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không có một mô hình cho tất cả, nhưng một hệ thống quản lý từ trên xuống và từ dưới lên với chức năng chỉ đạo, điều hành của nhà nước và vai trò chủ động, tích cực của cộng đ[r]

Trang 1

PGS.TS NGUYEN THI HIEN

NHA X U A T B A N

V A N HÖA DÄN TQC

Trang 2

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VÀ VAI TRÒ CỘNG ĐỒNG TRONG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN

VẢN HÓA PHI VẬT THỂ

Trang 3

Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam

Nguyên Thị Hiền

Quản lý nhà nước và vai trò cộng đồng trong bảo vộ và phát huy giá trị

di sản văn hóa phi vật thể / Nguyễn Thi Hiền - H : Văn hóa dân tộc, 2018 - 244tr.; 21cm

ISBN 9786047020959

1 Văn hóa phi vật thể 2 Quản lý nhà nước 3 Bảo tổn 4 Việt Nam 306.09597 - dc23

VDM0030p-CIP

Trang 4

PGS.TS NGUYỄN THỊ HIỀN

Quản lý nhà nuòc

và vai trò cộng dồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản

sừH v ệ tịlc ễ

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA DÂN TỘC

Hà N ội-2 0 1 7

Trang 6

M Ở ĐẦU

Hiện nay, Việt Nam có 12 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh trong Danh sách di sản văn hóa phi vật thế đại diện của nhân loại và Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cãn bảo

vệ khẩn cấp, bao gồm: 1) Nhã nhạc - âm nhạc cung đình Việt Nam (2003); 2) Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2 0 0 5 ); 3) Hát Ca trù (2009) 4) Dân ca Quan họ Bắc Ninh (2 0 0 9 ); 5) Hội Gióng

ở đền Phù Đổng và đền Sóc [2 0 1 0 ); 6) Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ (2 0 1 2 ); 7) Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ [2013); 8) Dân ca Ví, Giặm Nghệ - Tĩnh (2 0 1 4 ); 9) Nghi lễ và trò chơi Kéo co (di sản đa quốc gia năm 2015, gồm: Việt Nam, Hàn Quốc, Philippines và Cambodia); 10) Thực hành tín ngưỡng thờ Mau Tam phủ của người Việt (2 0 1 6 ]; 11) Nghệ thuật Bài Chòị ở Trung Bộ Việt Nam (2017); 12) Hát Xoan Phú Thọ (di sản được vinh danh trong Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khấn cấp năm 2011; chuyến sang Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2017]

Dựa trên đặc điểm loại hình và hình thức quản lý di sản, chúng

tôi lựa chọn 5 di sản: Tín ngưỡng th ờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ,

Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, Không gian văn h óa cồn g chiêng của người Lạch ở tỉnh Lâm Đồng, Dân ca ví, Giặm Nghệ - Tĩnh, Trò chơi

K éo m ỏ ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội, làm trường họp nghiên cứu quản lý

nhà nước và vai trò cộng đòng trong bảo vệ, phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam

Trang 7

Đế bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, việc nâng cao vai trò chủ động, tích cực của cộng đồng đang được sự quan tâm lãnh đạo, định hướng, hỗ trợ của Nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế, sự chỉ đạo, quản lý trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể ở các địa phương là chưa thống nhất, chồng chéo và không như nhau Điều này phụ thuộc vào bản chất của di sản văn hóa phi vật thế, truyền thống tự quản của cộng đòng, việc vận hành

cơ chế quản lý tại địa phương, việc có Ban Quản lý di tích hay không,

và sự kết hcrp của các bên tham gia

Đối với một sổ di sản, việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản phụ thuộc rất nhiều vào sự quản lý, điều hành của Ban Quản lý di tích, có

lẽ di sản Hội Gióng ử đền Phù Đổng và đền Sóc là một điển hình "Hội Gióng” ở đền Phù Đổng được quản lý, điều hành bời Ban Quản lý di tích đền Phù Đổng (trực thuộc ủy ban nhân dân xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội); Trưởng ban là Chủ tịch xã, công việc điều hành, triển khai lễ hội, tế lễ do các ông trong Ban Quản lý di tích và Ban Khánh tiết tổ chức theo truyền thống được lưu truyền từ xưa, đã

được ghi chép trong sổ Hội lệ Còn "Hội Gióng" ờ đền Sóc, việc tổ

chức lễ hội lại do Trung tâm quản lý khu Du lịch - Di tích đền Sóc Sơn (trực thuộc ủy ban nhân dân huyện Sóc Son, Hà Nội) quản lý và điều hành Điều này đã gây ra nhiều vướng mắc trong công tác tổ chức lễ hội, cũng như việc phân công các làng xã tham gia lễ rước vào những ngày lễ hội

Đối với một số di sản, việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản lại phụ thuộc trực tiếp vào sự thực hành và trao truyền di sản, vào sự chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền địa phương Chẳng hạn đối với di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, trường hợp của người Lạch ở tỉnh Lâm Đồng: Thực tế, khi người Lạch ử thị

Trang 8

trấn Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng (cách thành phố Đà Lạt 14km, nằm dưới chân núi Lang Biang) cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên chuyển sang trông cà phê, hạt điều, rau màu, cải đạo sang Tin Lành và Công giáo, các lễ hội cộng đồng, nghi lễ truyền thống hầu như vắng bóng, và cồng chiêng không còn được đòng bào diễn tấu trong các lễ hội truyền thống nữa Trong bối cảnh này, từ những năm 1990, do nhu càu phục vụ khách du lịch đến thành phố Đà Lạt

và tham quan núi Lang Biang, các Câu lạc bộ Cồng chiêng được các

cá nhân thành lập tự phát Hay do nhu cầu phục vụ cho các lễ nghi, các sự kiện quan trọng trong nhà thờ Công giáo tại thị trấn, cha xứ thành lập các Đội còng chiêng bao gồm các nghệ nhân nam, hay của các nghệ nhân nữ Đối với các Câu lạc bộ cồng chiêng, cấp chính quyền địa phương chỉ là những người quản lý về mặt hành chính, cấp phép, kiểm tra việc thực hiện theo "tinh thần" giấy phép cấp, còn những vấn đề về bảo vệ, phát huy di sản để phát triển du lịch thì hầu như không có sự kết họp và quản lý chặt chẽ của ban ngành, các cơ quan liên quan

Bên cạnh đó, có những di sản được sự chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền địa phương tương đối tốt như Dân ca Ví, Giặm Nghệ - Tĩnh, nhưng các nguồn lực hỗ trợ cho cộng đồng chưa thực

sự nhiều, chưa đi vào chiều sâu Cộng đồng chưa được hưởng lợi nhiều từ di sản của họ Còn đối với di sản Nghi lễ và trò chơi Kéo co, trường họp Trò chơi Kéo mỏ ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội, nhà nước hoàn toàn chỉ đạo từ cấp vĩ mô, hỗ trợ cộng đồng làm hồ sơ đa quốc gia đệ trình UNESCO vinh danh di sản, và thực hiện công tác kiểm kê trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể của Hà Nội Như vậy, cộng đồng đã và đang tham gia, quyết định và tự chủ vào quá trình bảo vệ

và phát huy di sản Trò chơi Kéo mỏ Điều này góp phần bảo đảm di

Trang 9

sản sống với cộng đồng, phát huy giá trị vổn có của di sản đối với cộng đồng.

Quản lý di sản văn hóa là một hình thức, một thực hành quản lý các sản phẩm văn hóa, các nguồn lực văn hóa được đúc kết từ thực tiễn bảo vệ, phục hồi, trao truyền Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể không đơn giản chỉ có công tác quản lý hành chính, hoạch định các chiến lược, chính sách, mà còn phải thực thi những chức năng như chỉ đạo, điều hành, phối họp, và hỗ trợ cộng đồng về nguồn lực (tài chính, nhân lực, vật lực), về kiểm tra giám sát Trong

đó, cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra những quy định/quy ước bảo vệ di sản phù họp với truyền thống văn hóa và bảo đảm tính pháp lý của nhà nước, để thực thi các biện pháp bảo vệ

di sản trong cộng đồng một cách tự giác và tự chủ

Qua công tác quấn lý 5 di sản mà chúng tôi chọn làm trường hợp nghiên cứu, cho thấy sự đa dạng của các mô hình quản lý trong thực tiễn ở nước ta, và những vấn đề còn tồn tại trong những hình thức quản lý đó Từ đó, chúng tôi dựa trên những cơ sử lý luận, đánh giá và phân tích thực tiễn, đúc kết các bài học trong vấn đề quản lý di sản văn hóa phi vật thể Với những nội dung đề cập, cuốn sách vừa mang tính nghiên cứu ứng dụng, bảo đảm cung cấp những cơ sử lý luận, vừa đề xuất các giải pháp thực hiện mối quan

hệ giữa quản lý nhà nưó-c và vai trò cộng đồng, góp phần xây dựng

cơ chế, chính sách hữu hiệu nhằm đẩy mạnh công tác quản lý, bảo

vệ, phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

CHƯƠNG I

TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu, cơ SỞ LÝ LUẬN

VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ

tiên giới thiệu tổng quan về chính sách văn hóa Việt Nam là tập sách do Nguyễn Văn Kiêu và Trần Tiến biên soạn với nhan đề:

Tổng th u ậ t chính sá ch văn h ó a củ a m ộ t s ố n ư ớ c trên t h ế g i á p ) ,

trong đó các tác giả đã giới thiệu định nghĩa về văn hóa, về chính sách văn hóa và những nguyên lý, nguyên tắc, phương hướng, mục tiêu của chính sách văn hóa Các lĩnh vực, khía cạnh khác nhau của chính sách văn hóa được phân tích trong các công trình

của các tác giả: Trần Quốc Bảng về Chính s á c h văn h ó a đ ố i với

p h á t triểnw-, Lưu Trần Tiêu về T h ập kỷ q u ố c t ế p h á t triến vân h ó a

(!) Nguyễn Văn Kiêu và Trần Tiến, Tổng thuật chính sách văn hóa của một số

nước trên th ế giới, Nxb Hà Nội, 1993.

(2) Trần Quốc Bảng, Chính sách văn hóa đôi với phát triên, Tạp chí Văn hóa

nghệ thuật, Sô 6, 1995, Tr.15

Trang 11

và đ ổ i m ớ i chính sách p h á t triển văn h ó a Việt Nam(V; Nguyễn Tri

Nguyên về Chính sách vân h ó a - Điều kiện khu n g củ a qu ản lý văn

hoáW , Nguyễn Danh Ngà về Chính s á c h văn h ó a tron g g ia i đoạn hiện nạy(3); Đỗ Huy với Mấy suy n g h ĩ về p h ạm vi điều chỉnh chính

đi sâu nghiên cứu chính sách văn hóa trên những lĩnh vực cụ thể, như bảo vệ di sản văn hóa®

Thêm vào đó, có nhiều công trìn h nghiên cứu về chính sách văn hóa của Đảng và Nhà n ư ớ c nhấn m ạnh sự đúng đắn của các quyết sách kịp thời tác động đến sự phát triể n văn hóa(6) Bùi Quang Thắng cho rằng "đường lối của Đảng”, hay "nghị quyết của Đảng" tuy chưa phải là toàn bộ chính sách văn hóa nhưng là khâu quyết địnht7) T rong nhiều năm qua đường lối quan trọng của Đảng được th ế hiện ở phương châm "xây dựng m ột nền văn

(!) Lưu Trần Tiêu, Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa và đổi mới chính sách

văn hóa Việt Nam, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, sỗ 10,1997.

hóa, Thông báo khoa học Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, Số 3, 2001,

Tr 32-44

(3) Nguyễn Danh Ngà, Chính sách văn hóa trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí

Văn hóa nghệ thuật, So 9, 2002, Tr 93-99

w Đỗ Huy, Mây suy nghĩ về phạm vi điều chinh chính sách phát triển văn hóa

ở nước ta hiện nay, Tạp chí Di sản văn hóa, Số 3,2007, Tr 10-14.

(5) - Hoàng Vinh, về chính sách bào vệ và phát triển di sản văn hóa dân tộc,

Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 03,1996, Tr 3-5; số 05, Tr 65-68

- Nguyễn Quổc Hùng, Bâo tồn di sán văn hóa phi vật thể, khái niệm và nhận

thức, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 04, 2001, Tr 14-21

(6) Lương Hồng Quang, Nghiên cứu chính sách - Một khoa học, Tạp chí Văn

hóa học, SỔ 1, 2012, Tr 34-46

(7) Bùi Quang Thắng, Cải cách chính sách văn hóa đ ể văn hóa thực sự trở

thành động lực, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 3,2011.

Trang 12

hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" và được th ể chế hóa bằng nhiều "chư ơ ng trình quốc gia về văn hóa"^) Đánh giá về chính

sách văn hóa Việt Nam, trong công trình Văn h ó a Việt N am

trư ớ c xu t h ế to à n câu h ó a - th ờ i c ơ và th á c h thứ c, tác giả Thành

Duy đã đề xuất 5 mục tiêu lớn về chính sách văn hóa vì sự phát triển đối với các dân tộc ở Việt Nam, trong đó mục tiêu th ứ ba

là đảm bảo một chính sách văn hóa nhằm bảo vệ những di sản

văn hóa v ật th ể và di sản văn hóa phi vật th ể của cộng đòng các dân tộc V iệt Nam(2)

Nhiều công trình của các học giả Việt Nam nghiên cứu, đánh giá, phân tích những tác động của các văn bản pháp quy về vấn

đề bảo vệ di sản văn hóa Việt Nam trong đó có di sản văn hóa phi vật thể, đặc b iệt từ thời kỳ đổi mới Những công trình này lý giải khuynh hướng bảo vệ có chọn lọc được áp dụng cho các yếu

tố trong cùng m ột thực hành văn hóa, ví dụ như quan điểm tăng phần "hội", giảm phần "lễ" trong lễ hội, khi m ột số nhà nghiên cứu khẳng định: trong tư ơng lai phần "lễ" của hội lễ sẽ hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại phần "hội" và "hội lễ" sẽ hoàn toàn biến thành "hội"(3l Theo quan điểm này, trong công tác bảo vệ

dỉ sản, m ột số thực hành văn hóa dân gian bị tách khỏi môi trư ờ n g diễn xư ớ ng truyền thống, ví dụ như hát chầu văn tách

í1) Bùi Quang Thắng, Cải cách chính sách văn hóa để văn hóa thực sự trở thành động lực, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Số 3,2011

w Thành Duy, Vân hóa Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa, thời cơ và thách

thức Nxb Văn hóa - Thông tin, 2007.

(3) Lê Hữu Tầng, Hội lễ dân gian truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại:

Văn đề và ý kiến, In trong sách Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng, chủ biên, Tr 293-304 Nxb Khoa học xã

hội, 1994

Trang 13

khỏi nghi lễ lên đồng; cồng chiêng tách khỏi lễ đâm trâu; hát then tách ra khỏi nghi lễ sam an giáoM.

đánh giá tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nư ớ c nhằm phát huy các giá trị của di sản® T ác giả Bùi Hoài Sơn cho rằng,

di sản văn hóa “được xem là m ột ngành công nghiệp"® Do vậy, việc tiếp cận dưới góc độ quản lý di sản văn hóa như m ột loại hình quản lý di sản sẽ đưa đến quan điểm công nghệ quản lý lễ hội nói riêng và di sản văn hóa nói chung Trên thực tế, việc

quản lý di sản được hiểu theo nghĩa rộng hơn nhiều, "không chỉ

hoàn toàn là công việc trự c tiếp liên quan đến di sản, m à chính

(1) - Fjelstad, Karen and Nguyễn Thị Hiền, Introduction (Giới thiệu), in trong

Possessed by the Spirits: Mediumship in Contemporary Vieữiamese Communities (Nhập đồng: Lên đồng ưong các cộng đồng Việt Nam đương đại) Karen Fjelstad

và Nguyễn Thị Hiền, chủ biên, Ithaca: Southeast Asia Program Publications,

2006, Tr 7-17

- Lê Hồng Lý và cộng sự, Báo cáo đánh giá hai dự án cồng chiêng Tây Nguyên và

Nhă nhạc cung đình Huế, Dự án họp tác giữa Văn phòng UNESCO Hà Nội và

Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam họp tác, 2010

- Ngữ Thiên, Bảo tồn chọn lọc vd sự nhầm lẫn khái niệm, Tạp chí Toàn cảnh -

Sự kiện - Dư luận, Số 262, 2012, Tr 48

í2) - Đặng Văn Bài, vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản

văn hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 4,2001, Tr 11-13.

- Nguyễn Quốc Hùng, Quanh việc quản lý và phát huy tác dụng di sản văn

hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Số 2,2000, Tr 50-53.

- Nguyễn Thế Hùng, Phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây

dựng và phát triển đất nước, In trong cuốn Một con đường tiếp cận di sàn văn hóa, Tập 4, Nxb Thẽ giói, Hà Nội, 2008.

- Trương Quốc Bình, Đổi mới hoạt động bảo vệ và phát huy giá ứ ị kho

tòng di sản văn hóa, Tạp chí Cộng sản, Sổ 2, 2009, Tr 19-23.

(3) Bùi Hoài Sơn, Quản lý lễ hội truyèn thống của người Việt ồ châu thổ Bắc

Bộ tìr năm 1945 đến nay, Luận án tiến sỹ Văn hóa học, Viện Văn hóa nghệ

thuật quốc gia Việt Nam, 2007

Trang 14

là quản lý m ột xã hội thu nhỏ"™ Tổ chức, quản lý một di sản văn hóa phi vật thể như lễ hội truyền thống, ngoài việc xây dựng chương trình, bố trí nguồn nhân lực, tìm kiếm nguồn tài trợ, còn phải có kế hoạch về hậu cần, an ninh, y tế, vệ sinh thực phẩm Do vậy, việc quản lý di sản văn hóa cần có chỉ đạo, hướng dẫn của chính quyền Trung ưong và các cấp, các ngànhC2).

* Chỉ đạo, quản lý các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa nói chung, trong

đó có di sản văn hóa phi vật th ể là mối quan tâm hàng đầu ở Việt Nam, m ặc dù nhận thứ c về vai trò của cộng đồng đã được tăng lên Điểm lại m ột số m ặt hoạt động của công tác bảo vệ và phát

huy di sản văn hóa năm 2013, tác giả Nguyễn Thế Hùng trình

bày 11 nhiệm vụ trọng tâm và 7 giải pháp trong thời gian tới, đồng thời nhấn m ạnh hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ngày càng nhận đư ợc s ự quan tâm chỉ đạo của Đảng, nhà nư ớcí3) Tác giả Đặng Thị Bích Liên đánh giá thự c tiễn công tác quản lý di sản văn hóa và cho rằng, tron g thời gian tó i cần nâng cao vai trò chỉ đạo, định hướng của Bộ chủ quản về văn hóa; tăng cư ờ n g kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn triển khai các

M Bùi Hoài Sơn, Một số vđn đề lý thuyết quản lý lễ hội ứuyền thống, Tham luận tại Hội thảo Lễ hội - nhận thức, giá trị và giải pháp quản lý do Hội đồng

Di sản văn hóa quốc gia phối hợp vói Bộ Văn hóa, Thế thao và Du lịch tổ chức tại Hà Nội, tháng 5-2012

[2) - Từ Thị Loan, Cộng đồng chủ th ể của hoạt động lễ hội, Tạp chí Văn hóạ

nghệ thuật, Số 318, 2010

- Từ Thị Loan, Một số mô hình tổ chức, quản lý lễ hội cố truyền, Tạp chí Văn

hóa nghệ thuật, Sổ 340, 2012

(3) Nguyễn Thế Hùng, Công tác bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa năm

2013 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2014, Tạp chí Di sản văn

hóa, Số 1,2014, Tr 5-7

Trang 15

quy hoạch; triển khai có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực di sản văn hóaW.

Di sản văn hóa phi vật thể là một loại hình nhạy cảm, cần được quan tâm thích đáng với các nguyên tắc khắt khe của nhiều lĩnh vực khác nhau Do đó việc đầu tư kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, khảo cứu, sưu tãm, bảo tồn và phát huy tác dụng các di sản văn hóa phi vật thế là rất cần thiết, cần được quan tâm và ưu đãK2) Tư liệu hóa, in ấn, lưu trữ bằng văn bản, hình ảnh các loại hình truyền thống cũng là một hình thức quảng bá, phát huy di sản văn hóa phục vụ công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao hình ảnh của cộng đồng

* Giáo dục, đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ quản lý di sản văn hóa: ở Việt Nam, giáo dục tri thức văn hóa truyền thống được quan tâm và đã được đưa vào trong giáo dục phổ thông và trong cuộc sống hàng ngàyt3) về chính sách giáo dục văn hóa qua phương tiện truyền thông, tác giả Lương Hồng Quang cho rằng, thông qua các phương tiện truyền thông của xã huyện, xây dựng các chương trình truyền thông giáo dục nhận thức, bài trừ

M Đặng Thị Bích Liên, Huy động sức mạnh của toàn ngành tiếp tục đẩy mạnh

hoạt động báo vệ và phát huy giá trị di sản văn hỏa, Tạp chí Di sản văn hóa, số 1,

thế ở Việt Nam, nhiều tác giả, Viện Văn hóa Thông tín, 2005, Tr 77-95.

- Lê Hồng Lý và cộng sự, Bảo tồn và phát huy di sán văn hóa trong quá trình

hiện đại hóa: Nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ), hội Gióng (Hà Nội), tháp Bà Poh Nagar (Khánh Hòa) và văn hóa cồng chiêng của người Lạch (Lâm Đòng), trong sách: Di sản văn hóa trong xă hội Việt Nam đương đại, Nxb Tri thức, 2014.

P) Lê Hồng Lý Truyền dạy các tri thức văn hóa dân gian qua lễ hội, Tạp chi Di

sản văn hóa, So 7,2004, Tr 20-23

Trang 16

tệ nạn xã hội, đấu tranh với các hủ tục, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóat1) Một số tác giả khác đề nghị cần có những cơ chế chính sách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo và nâng cao ý thức của cán bộ quản lý và người dân về Công ước

2 0 0 3 , về Luật di sản văn hóa, về các vấn đề liên quan đến bảo vệ

và phát huy di sản văn hóa sau khi được UNESCO vinh danht2)

b N hóm côn g trình về v ai trò củ a cộn g đ ò n g

công tác văn hóa và di sản đều đã nhận thức rõ vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa là trách nhiệm trư ớ c hết của cộng đồngt3) Khuyến nghị đối vói công tác bảo tồn và phát huy di sản

í1) Lương Hồng Quang, Vân hóa cộng đồng làng vùng đồng bằng sông Cửu

Long thập kỷ 80-90, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1997

í2) - Nguyễn Văn Huy, Vấrì đề bảo vệ và phát huy giá trị của lễ hội truyền thống:

thảo luận về một sổ khái niệm cơ bản, Tạp chí Dân tộc học, Số 4, 2012, Tr 44-54.

- Lê Hồng Lý và cộng sự, Vai trò của môi trường thực hành văn hóa trong

việc bảo vệ di sán: Bài học từ các dự án bào vệ di sản còng chiêng và nhã nhạc, In trong sách Bảo vệ vờ phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại (Trường hợp Hội Gióng), Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt

Nam, Nxi) Văn hóa - Thông tin, 2012

(3) - Nguyễn Văn Huy, vấn đè bảo vệ và phát huy giá trị của lễ hội truyền

thống: thảo luận vê một số khái niệm cơ bản, Sđd, Trĩ 44-54.

- Lê Thị Minh Lý, Cộng đồng bảo vệ di sản - Kinh nghiệm thực hành tốt từ Dự

án Nhấnhạc, Tạp chí Di sàn văn hóa, Số 4, 2008, Tr 38-41.

- Nguyễn Chí Bền, Di sản văn hóa phi vật thể, từ sưu tâm, nghiên cứu đến

bảo vệ và phát huy, Sđd, Tr 77-95.

- Tô Ngọc Thanh, Văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số Việt Nam: Vai

trò, địa vị của nó, trách nhiệm của chúng ta và giải pháp, In trong Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam, nhiều tác giả, Viện Văn hóa -

Thông tìn, 2005, Tr 13-23

- Lương Hồng Quang (chủ biên), Câu chuyện làng Giang: Các khuynh hướng,

giá trị và khuôn mâu trong m ộtx ă hội đang chuyển đổi Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nôi 2011

- Hoàng Điệp, Nếu người dân hiểu rõ tín ngưỡng, Bài phỏng vấn Giáo sư Ngô

Đức Thịnh, Tuổi Trẻ Online, 2012

Trang 17

văn hóạ phi vật thể ở Việt Nam, các tác giả Nguyễn Đức Tăng, Dương Bích Hạnh đề xuất 4 giải pháp then chốt, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc khuyến khích sự tham gia tối đa của cộng đồngW Theo tác giả Lê Thị Minh Lý, thành viên cộng đồng, "chính

họ là người làm nên giá trị lễ hội và quyết định cách thức bảo vệ

di sản của họ Họ là đối tác làm việc với các nhà quản lý văn hóa

(1) Nguyễn Đức Tăng, Dương Bích Hạnh, Một s ố khuyến nghị vè công tác bảo

vệ di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam, Tạp chí Di sản văn hóa, Sỗ 1,

2014, Tr 12-19

P) Lê Thị Minh Lý, Tăng cường nhận thức và biện pháp quản lý lễ hội (Một s ố

ý kiến từ tiếp cận quản lý di sản vãn hóa phi vật thể), Tạp chí Di sản văn hóa,

Số 4,2010, Tr.37

P) Ngô Đức Thịnh, về tín ngưỡng lễ hội c ổ truyền, Nxb Văn hóa - Thông tin,

2007, Tr 343

M Lương Hồng Quang, Các tổ chức phi quan phương trong làng - xã vùng

châu thổ Bắc Bộ (Trường hợp Hội đồng niên) In trong sách Hiện đại và động thái của ứuyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học, Lương Văn

Hy, Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2010,Tr 307-329

Trang 18

đền Bà Chúa Kho, tác giả Trần Thị Thủy đi sâu phân tích năng lực tự quản, cố kết cộng đồng trong việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa, dẫn đến một sự đồng thuận cao, tạo ra một hiệu quả quản lý chung đảm bảo việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa một cách bền vững

Thực tế cho thấy, người dân làng Cổ Mễ (Bắc Ninh) đã tạo nên sự

đoàn kết cộng đồng, phát huy sức mạnh tập thể thông qua tổ chức Hội Người cao tuổi để tự quản lý, phục dựng, tổ chức lễ hội

Nguyễn Thu Trang việc cố kết cộng đồng xuất phát từ truyền thống cũng như lợi ích trong hiện tại Theo hai tác giả, "Trong quá khứ, yếu tố huyết thống/cội nguồn dòng giống tổ tiên và noi cư trú/không gian sinh tồn có vai trò hàng đầu trong việc gắn kết cộng đồng Còn ngày nay, lợi ích và sự quan tâm chung là yếu tố quyết định sự bền chặt của cộng đồng"W Để phát huy tối đa các nguồn lực xã hội từ cộng đồng, quan điểm cơ bản là: "Tự nguyện, đồng thuận và cùng có lợi" Cũng cùng quan điểm, tác giả Nguyễn Hồng Hà đề cao nhiệm vụ bảo vệ di sản văn hóa như là nghĩa vụ,

quyền lợi thiết thực của mỗi người, mỗi nhóm xã hội, cộng đồng®

Nguyễn Hữu Thức thẳng thắn chỉ ra rằng, cộng đồng hơn ai hết biết phải tổ chức lễ hội như thế nào tùy thuộc vào khả năng tài chính, ý thức tự giác để đáp ứng các nhu cầu văn hóa lễ hội Vói

cơ chế tự quản của cộng đồng, người dân biết cách điều chỉnh hài hòa các lợi ích xuất phát từ nhu càu của họ®

w Nguyễn Quang Minh và Nguyễn Thu Trang, Vai trò của cộng đồng nhìn tìrgóc

độ bảo tồn di sản văn hóa, Tạp chí Di sản văn hóa, Số 4,2012.

PĨ Nguyễn Hồng Hà, Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa trong bối cảnh toàn

cồu hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 4, 2014, Tr 14-18.

(3) Nguyễn Hữu Thức, Một s â vấn đề đặt ra trong quản lý và tổ chức lễ hội

hiện nay, Tạp chí Di sản văn hóa, Số 2, 2012.

Trang 19

quan phương: Một số tác giả đã nhận thấy sự cần thiết phải phát huy vai trò của các thiết chế truyền thống, luật tục, tổ chức phi quan phương trong quản lý di sản văn hóa phi vật thể Phân tích những vai trò của luật tục trong đòi sống hiện nay, tác giải Bùi Quang Thanh và Phạm Nam Thanh cho rằng, muốn phát huy luật tục, hương ước, quy ước bảo vệ di sản văn hóa cần có sự kết họp họp lý giữa pháp luật của Nhà nước, và ngược lại để pháp luật thực

sự đi vào đời sống xã hội nó cần được cụ thế hóa gắn với luật tục, hương ước, quy ước bảo vệ di sản văn hóaffl

vai trò của cộng đồng

Về mối quan hệ giữa nhà nước và cộng đòng, tác giả Bùi Hoài Sơn cũng cho rằng, công tác chỉ đạo, định hướng của nhà nước không đơn thuần là công tác hành chính mà trên thực tế

"Sự quan tâm của nhà nước đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản cũng giúp cho người dân có ý thức hơn về di sản của chính mình"® Nguyễn Hữu Thức cho rằng, chính quyền sở tại

là cơ quan quản lý, hướng dẫn tổ chức lễ hội, đồng thời cũng là thành phần giám sát và hỗ trợ người dân tổ chức thực hiện các loại hình di sản, trong đó tiêu biếu là lễ hội truyền thốngí3)

w - Bùi Quang Thanh, Phạm Nam Thanh, Xu hướng biến đổi luật tục và những

bất cập ừong việc bảo tồn, phát huy giá trị của luật tục trong đời sống đương đại miền núi Quảng Nam, Tạp chí Văn hóa Dân gian, số 1,2008, Tr 25-35.

- Lương Hồng Quang (chủ biên), Câu chuyện làng Giang: Các khuynh hướng,

giá trị và khuôn mẫu ữong một xã hội đang chuyển đổi, Nxb Đại học Quổc

gia Hà Nội, 2011

- Nguyễn Văn Huy, vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị của lễ hội truyền thống:

thào luận vê một số khái niệm cơ bản, Sđd, Tr 44 - 54.

P) Bùi Hoài Sơn, Di sản đ ể làm gì và một số cởu chuyện quản lý di sản ờ Việt

Nam, Tạp chí Di sản Văn hóa, Số 3,2013.

nay, Sđd.

Trang 20

T rong xu th ể hiện nay và trong các diễn ngôn về di sản văn hóa, vai trò của cộng đồng đang được sự quan tâm từ phía quản

lý nhà nước, đề cao và khuyến khích sự tham gia tích cực của họ, cũng như tôn trọng tiếng nói và ý kiến của họ Tuy nhiên, vai trò thực hiện, tham gia tích cực của cộng đồng cần được chỉ ra rõ ràng và đư ợc thể chế hóa trong các văn bản pháp luật và trong việc th ự c hiện các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật th ể trong thực tiễn Khi áp dụng các điều khoản của Công

ư ớc 2 0 0 3 về vai trò của cộng đồng vào các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật th ể thì ử Việt Nam, đối với m ột

số loại hình di sản, sự tham gia của họ còn m ờ nhạt Thay vào đó

là hình ảnh của các nhà quản lý, của sự chỉ đạo, công tác điều hành của các cấp chính quyền, các cơ quan nhà nư ớ c liên quan

từ trên xuống, còn cộng đồng là những người thực hiện nhiệm

vụ, phân công của nhà nước Trong những trư ờ n g họp này, tiến g nói và vai trò chủ động của cộng đồng ít có trọng lượng, cộng đồng chưa được làm chủ di sản của m ìnht1)

Đối với m ột số di sản văn hóa, sự can thiệp của nhà nư ớc quá sâu, dẫn đến tình trạng "làm hộ dân”, làm giảm sự chủ động của cộng đồngC2) Điều này th ể hiện ở m ột nhận xét khá tinh tế của tá c giả Nguyễn Văn Huy Tác giả cho rằng, "Về lý thuyết, vai trò cộng đồng nay đã được công nhận, nhung trên thự c tế thì việc

(1) - Bùi Hoài Sơn, Di sản đ ể làm gì và một số câu chuyện quản lý di sán ở Việt

Nam, Sđd.

- Nguyễn Văn Huy, văn đè bào vệ và phát huy giá trị của lễ hội truyền thống:

tháo luận vẽ một số khái niệm cơ bán, Sđd, Tr 44 - 54.

(2) - Lê Thị Minh Lý, Cộng đồng bảo vệ di sản - Kinh nghiệm thực hành tốt từ

Dự án Nhã nhạc, Sđd, Tr 38-41.

- Nguyễn Văn Huy, vân đễ bảo vệ và phát huy giá trị của lễ hội truyền thống:

thảo luận về một số khái niệm cơ bản, Sđd, Tr 44 - 54.

Trang 21

tôn trọng vai trò của cộng đông như những chủ thế của di sản, của lễ hội truyền thống có quyền quyết định đối với các hoạt động của di sản thì lại có khoảng cách rất xa giữa lời nói và hành động, giữa lý thuyết và thực tế"M Đối với trường họp thờ cúng Hùng Vương Phú Thọ, tác giả Nguyễn Văn Huy đặt ra nhiều vấn

đề, câu hỏi và cho rằng, "Nếu chúng ta giải quyết thỏa đáng mối tương quan nhà nước và cộng đông trong mô hình quản lý lễ hội

ở đền Hùng thì sẽ là bài học tốt cho nhiều lễ hội khác"®

Các quy định pháp luật về vấn đề xếp hạng, quản lý, sân khấu hóa, bảo vệ có chọn lọc trong công tác bảo vệ và phát huy

di sản của các tác nhân bên ngoài (nhà nghiên cứu, cán bộ văn hóa, tổ chức kinh tế ] có khả năng dẫn đến sự suy giảm quyền (quản lý, tổ chức, sáng tạo, hưởng lợi ) đối với di sản văn hóa của cộng đồng Một số nghiên cứu về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam gần đây đã đề cập đến vấn đề về sự tác động, can thiệp ở bên ngoài làm giảm vai trò chủ động, tích cực của cộng đồng Họ trông chờ vào sự hỗ trợ, tài trợ và chỉ đạo từ các cơ quan nhà nước và các tổ chức bên ngoàiP)

thống: thảo luận vè một số khái niệm cơ bản, Sđd, Tr 44 - 54.

C3) Nguyễn Chí Bền, Di sản văn hóa phi vật thế, từ sưu tâm, nghiên cứu đến

bảo vệ và phát huy, Sđd, Tr 77-95.

- Lê Thị Minh Lý, Cộng đồng bảo vệ di sản - Kinh nghiệm thực hành tốt từ Dự

án Nhả nhạc, Sđd, Tr 38-41.

- Lương Hồng Quang, Câu chuyện làng Giang: Các khuynh hướng, giá trị và

khuôn mẫu trong một xã hội đang chuyển đổi, Sđd.

- Tô Ngọc Thanh, Văn hoá phì vật thê của các dân tộc thiểu số Việt Nam: Vai

trò, địa vị của nó, trách nhiệm của chúng ta và giải pháp, Sđd, Tr 13-23.

- Nguyễn Văn Huy, Đừng biến tín ngưỡng thành cuồng si, Khánh Linh thực

hiện, www.tuanvietnam.net, 16/3/2010

- Lê Hồng Lý và cộng sự, Vai trò của môi trường thực hành văn hóa trong việc

bảo vệ di sản: Bài học từ các dự án bảo vệ di sản cồng chiêng và nhă nhạc, Sđd.

Trang 22

Khi nghiên cứu về quản lý di sản văn hóa phi vật thể, trong

đó có lễ hội, tác giả Từ Thị Loan đưa ra m ột số vấn đề quản lý trên phương diện nội dung hoạt động lễ hội, tài chính, bảo vệ môi trường, an ninh, xã hội, và m ột số mô hình quản lý tổ chức mang tính cộng đồng tự quản, kết hợp vai trò tự quản của cộng đồng với sự hỗ trợ của nhà nước Dù theo mô hình nào, công tác quản lý cũng cần phải đảm bảo các nguyên tắc tôn trọng các chủ thể văn hóa, trao quyền tự quyểt và tự quản cho cộng đồng, đảm bảo trách nhiệm , sự chủ động của người dân Tác giả cho rằng,

"Mô hình phối kết hợp giữa sự tự quản của cộng đồng và sự quản lý, điều tiế t hợp lý của nhà nước tỏ ra có tính khả thi nhất"m Và vì vậy, "Nên trao trả vai trò tự quản lễ hội cho cộng đồng Nhà nư ớ c chỉ làm công tác quản lý về m ặt hành chính, pháp luật, còn việc quản lý nhân lực, vật lực, tài lực thì nên để cộng đồng tự quản”(2l T ừ thực tế nghiên cứu về Hội Gióng ở xã Phù Đổng, người dân cũng cho rằng, "Nhà n ư ớ c nên đầu tư về việc trùng tu, tôn tạo cơ sở hạ tầng, tư liệu hóa về lễ hội, và có định hướng cho công tác phát triển du lịch m ột cách có hiệu quả, không ảnh hưởng đến di tích Nhà nư ớ c can thiệp và quan tâm đến công tác an ninh trậ t tự Cùng với UNESCO, nhà nư ớc cần quan tâm chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ đối với di sản của cộng đòng, còn quyền quyết định và quyền tổ chức là của cộng đồng, theo cha ông để lại như đư ợc ghi tron g sổ Hội lệ”(3)

w Từ Thị Loan, Một số mô hình tổ chức, quân lý lễ hội cố truyền, Sđd, Tr 15.

(2) Từ Thị Loan, Cộng đồng chủ thể của hoạt động lễ hội, Sđd, Tr 41.

UNESCO vinh 'danh, Bài ừình bày tại Hội thảo quốc tế, 10 năm thực hiện Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thế của UNESCO - Bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai, Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt

Nam tổ chức tại Hội An, tháng 6 năm 2013

Trang 23

Mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và vai trò của cộng đồng

được tác giả Lưong Hồng Quang phân tích trong một số công trình nghiên cứu của mình Qua phân tích trường họp quản lý ở các làng, xã vùng châu thổ sông Hồng, tác giả nhấn mạnh đến sự tác động từ dưới lên, từ các tổ chức phi quan phương tói nhà

nước, thậm chí " sự tác động của các làng - xã thông qua các

truyền thống mới về văn hóa đã khiến nhà nước phải điều chỉnh chính sách của mình Đây được coi là một hệ quả tất yếu của quá trình đổi mới mà trong đó có một phần không nhỏ bắt nguồn từ những đòi hỏi thực tiễn của các làng - xã, từ dưới lên, đối với nhà nước"W Tác giả chỉ ra rất rõ vai trò quản lý của các tổ chức phi quan phương trong việc tổ chức, thực hiện các thực hành văn hóa truyền thống, nhưng cũng chưa chỉ ra sự tham gia của người dân, cộng đồng nói chung vào các tổ chức này Đồng thời, sự phân cấp, mối quan hệ giữa các tổ chức phi quan phương này với nhà nước như thế nào thì vẫn chưa được xem x é t Trong công trình "Câu chuyện làng Giang - Các khuynh hướng, giá trị và khuôn mẫu trong một xã hội đang chuyển đổi", tác giả Lương Hồng Quang cho rằng, tổ chức phi quan phương có vai trò quyết định trong

việc hồi sinh và giữ gìn di sản văn hóa phi vật thế Theo tác giả,

“Lễ hội làng có được sự vận hành và sức sống như ngày nay là nhờ các tổ chức xã hội phi quan phương, từ các tổ chức vận hành trong lễ hội như Ban Khánh tiết, Ban Nghi lễ, Ban Tể sát, Ban Hậu cần , đến Ban Quản lý di tích đều là những tổ chức có vai trò trong làng xã, theo một sự phân công chức năng riêng, tạo nên một sức mạnh tổng thể của đời sống xã hội dân sự”C2)

(1) Lương Hồng Quang, Các tổ chức phi quan phương trong làng - xã vùng

châu thổ Bắc Bộ (Trường hợp Hội đòng niên), Sđd, Tr 325.

P) Lương Hồng Quang, Câu chuyện làng Giang: Các khuynh hướng, giá trị và

khuôn mẫu trong một xã hội đang chuyển đổi, Sđd.

Trang 24

Qua thực tế câu chuyện ở làng Giang, tác giả Lương Hòng Quang nhận thấy vai trò, sức mạnh của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể tại các làng xã và cho rằng,

" Sự tham gia gần như hoàn toàn của tất cả các thành viên trong cộng đồng vào các hoạt động tế tự tại đình, chùa, đặc biệt là vào dịp hội làng Họ tham gia vói tình thần tự nguyện sâu sắc và ý thức rõ trách nhiệm của mình vói "việc làng”W Trên thực tế, các lễ hội hiện được tổ chức dưới sự điều hành của Ban Khánh tiết, Ban Quản lý di tích và Ban Tổ chức vói sự đứng đầu và tham gia của đại diện chính quyền các cấp Cộng đồng cần phát huy hết nội lực trong quản lý và bảo vệ di sản văn hóa, bởi lẽ đó không chỉ là nghĩa

vụ mà còn là quyền lợi thiết thực của mỗi con ngườK2)

Tóm lại, các vấn đề về quản lý nhà nước với vai trò chỉ đạo, định hướng, phối họp, hỗ trợ và vai trò chủ động, tự chủ, sự cố kết của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể đã được một số học giả trong nước bắt đầu quan tâm Các công trình đã đề cập đến sự tác động của chính sách, của Luật di sản văn hóa, và sự chỉ đạo, định hướng của nhà nước, đôi khi là sự can thiệp quá sâu vào lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể Tuy nhiên, những công trình này chưa đặt lĩnh vực quản

lý di sản văn hóa phi vật thể trong một hệ thống với sự chỉ đạo, định hướng của nhà nước và vai trò chủ động của cộng đồng, các bên tham gia, cũng như sự hài hòa của các bên để cả hệ thống quản lý vận hành một cách hiệu quả Hơn nữa, chưa có một công trình nào mang tính tổng thể phân tích sâu về các mối quan hệ

cn Lương Hồng Quang, Câu chuyện làng Giang: Các khuynh hướng, giá trị vàkhuôn mẫu trong một xã hội đang chuyển đối, Sđd

(2) Hà Nhi, Di sán vắn hóa: Mối tương thích bảo tồn và phát triển, Tạp chí

Văn hóa nghệ thuật, Số 283, 2008, Tr 8-11

Trang 25

biện chứng giữa quản lý nhà nước và vai trò của cộng đồng Cụ thể, chỉ rõ chức năng của nhà nước là chĩ đạo, quản lý, phối hợp,

hỗ trợ, tạo điều kiện, còn cộng đồng thực hiện các chính sách của nhà nước và chủ động, tích cực thực hành, bảo vệ di sản của chính họ Trong cuốn sách này chúng tôi đi vào nhận diện, phân tích cụ thể, rõ ràng hơn về mối quan hệ giữa quản lý nhà nước, vai trò cộng đồng về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn quản

lý một số di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu

2 Những công trình nghiên cứu bằng tiẽng nước ngoài

a Nhóm công trình về chính sách di sản văn hóa nói chung

Một số tác giả ngước ngoài viểt vè những vấn đề chung của chính sách di sản văn hóat1), về chính sách văn hóa của khu vựđ2) Tác giả Lewis trong công trình Phác thảo về chính sách

hóa và sự phát huy quyền lực nhà nước trong quản lý di sản văn hóa® Trong khi đó, tác giả Mercer lại bàn kỹ hơn về vai trò của người dân và quyền của họ trong việc hoạch định chính sách và tham gia vào các hoạt động quản lý di sảnW Các công trình này nói khá rõ về vai trò của người dân không chỉ thực hiện các chính

í1) Borelli, Silvia và Federico Lenzerini, Cultural Heritage, Cultural Rights,

Culturaỉ Diversity: New Developments in International Law (Di sản văn hóa, quyèn văn hóa và sự đa dạng vân hóa: Những hướng phát triển mới trong luật quốc tẽ), Martinus Nijhoff Publishers, 2012.

cách tiếp cận của châu Âu về chính sách văn hóa), UNESCO Publishing, 2001.

(3) Levvis, J, Designing a Cultural Policy, (Phác thảo về chính sách văn hóa),

Journal of Arts Management, Law and Society, Spring, Vol 24 (1), Tr 41-56

Development (Hướng tới quyền công dân vè văn hóa: Công cụ đối với chính sách văn hóa và phát triển), Fingraf Tryckeri, Soedertaelje, 2002.

Trang 26

sách mà còn là những người trực tiếp tham gia vào công tác hoạch định chính sách, bởi lẽ các chính sách là dành cho họ và vì

họ, vì di sản văn hóa của cộng đòng

vật thể

Nhiều công trình nổi tiếng về quản lý di sản văn hóa đã được các học giả quốc tế nghiên cứu chuyên sâu Tiêu biểu là công trình

Asian Heritage Management - Contexts, Concerns, and Prospects

(Quản lý di sản văn hóa châu Á - Bối cảnh, sự quan tâm, và viễn cảnh) của tác giả Kapila D Silva và Neel Kamal Chapagain Những bối cảnh văn hóa, lịch sử, địa lý phong phú ở châu Á yêu cầu phải

có những cách tiếp cận cụ thể về quản lý di sản văn hóa nói chung

và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng Cuốn sách đưa ra sự cần thiết phải có các cách tiếp cận quản lý di sản văn hóa hỗn họp (integrated heritage management approaches) mà chúng bao quát được đặc tính đa dạng của di sản văn hóa ử các nước châu Á Các loại hình di sản bao chứa trong chúng cả các yếu tố vật thể lẫn phi vật thể, và có sự tham gia quản lý cũng như thực hành không chỉ có cộng đồng mà có nhiều cơ quan, đơn vị, các bên tham gia Cuốn sách cho rằng, quan điểm quản lý di sản văn hóa hỗn họp cần được áp dụng trong thực tiễn quản lý và bảo vệ di sảnW

Các học giả quốc tế cũng đánh giá cao công trình On Intangible

trị bảo vệ di sản phi vật thể - Bối cảnh châu Á - Thái Bình Dương) của tác giả Park, Seong-Yong Cuốn sách đề cập đến việc quản trị di sản văn hóa phi vật thế thông qua bối cảnh châu Á - Thái Bình

(!) Kapila D Silva và Neel Kamai Chapagain, Asian Heritage Management:

Contexts, Concerns, and Prospects (Quản lý di sản châu Á: Bối cảnh, mối quan tâm và triển vọng), London: Routledge, 2013.

Trang 27

Dương, cung cấp những tham chiếu cho việc phát triển mang tính lịch sử về công cụ quốc tế hướng dẫn chính sách di sản văn hóa phi vật thể Đây là một cuốn sách quan trọng trực tiếp hướng tói việc quản lý di sản văn hóa phi vật thể, cung cấp cho người đọc những quan điếm, tham chiếu về chính sách di sản văn hóa phi vật thể Những công trình về di sản văn hóa phi vật thể ở châu Á giúp cho cuốn sách có thông tin sâu rộng hơn về Công ước 2003 và sự đa dạng của di sản, cũng như việc cần có những phương thức quản lý, bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể phù họp với bối cảnh kinh tế,

xã hội, văn hóa, chính trị ở Việt NamW

Từ một cách nhìn liên Đông Á, từ di sản của hai quốc gia Hàn Quốc và Nhật Bản, tác giả Hyung II Pai trong cuốn sách Herítage Management in Korea and Ịapan The Politics o f Antíquity and

và bản sắc) đã phân tích di sản văn hóa phi vật thể như là tài sản quốc gia thu hút hàng triệu du khách đến tham quan Cuốn sách chỉ

ra nhiều vấn đề về quản lý di sản, luật di sản và sự can thiệp, hỗ trợ của nhà nước vào lĩnh vực di sản Nhật Bản và Hàn Quốđ2)

Trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, có một số công trình đánh giá Công ước 2003 cũng như nhận định các xu hướng phát triến trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, tiêu biểu như cuốn sách Intangible Heritage (Di sản phi vật thể) do Laurajane

(1) Park, Seong-Yong, On Intangibỉe Heritage Saỷeguarding Governance: An

Asia-Pacific Context (Quản trị bảo vệ di sàn phi vật thể: Bối cành châu Á-Thái Bình Dương), Cambridge Scholars Publishing, 2013

p) Hyung II Pai, Heritage Management in Korea and Japan The Politics o f

Antiquity and Identity (Quản lý di sản ở Hàn Quốc và Nhật Bản Chính trị hóa về cố tục và bản sác), University of VVashington Press Han, Sangvvoo, Cultural heritage

management in South Korea, Luận án tiễn sĩ, Đại học Hồng Kông, 2014

Trang 28

Smith và Natsuko Akagawa chủ biêní1) Cuốn sách đã thu hút sự quan tâm của các học giả về di sản văn hóa phi vật thể bởi tính phản biện, phê phán khái niệm di sản văn hóa phi vật thế, về ý nghĩa và bản chất cũng như vấn đề quản lý di sản Ngoài ra, còn

có những công trình nghiên cứu khác bàn về những vấn đề nên có

m ột Công ước như vậy, nhưng cũng cần phải thận trọng về những nhận định mang tính chính trị, học thuật và những cách hiểu về Công ước 2 0 0 3 và về vai trò của cộng đồng(2)

w Smith, Laurajane, Natsuko Akagavva, Intangibỉe Heritage (Di sàn phi vật

thể), London: Routledge, 2008.

w - Kurin, Safeguarding Ịntangibỉe Cultural Heritage: Key Factors in Ịmpỉementing the 2003 Converìtion (Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: Những nhân tố chủ yếu trong việc thực hiện Công ước 2003), International Ịournal

of Intangible Heritage, Vol.2, 2007, Tr 9-20

- Brown, M.F., Heritage troubỉe: recent work on the protection o f intangibỉe

cultural property (Vân đề phiền toái vê di sản: công việc gân đây về bảo vệ tài sản vân hóa phi vật thể), International Journal of Cultural Property, 12,

2005, Tr 40-61

' heritage protection (Đóng hộp Pandora: Những vấn đê hâc búa về quyên corì người trong bảo vệ di sản vân hóa), trong sách Cuỉturaỉ Heritage and Human Rights (Di sản vân hóa và quyền con người), H Silverman và D.F Ruggles

chủ biên, New York: Springer, 2007, Tr 30-52

- Van Zanten, w., Constructing new terminoỊogy fo r intangibỉe cuỉtural

heritage (Sự kiến tạo thuật ngữ mới cho di sản vân hóa phi vật thể), Museum Internationaỉ, 56 ( i and 2), Tr 36.

- Nas, p., Masterpieces o f Oraỉ and Intangible Culture: reỷìections on the

UNESCO World Heritage list (Kiệt tác di sárì vân hóa truyền khâu và phi vật thể: Nhận xét về danh sách di sán thế giới của UNESCO), Current Anthropology,

43 (1), 2002, Tr 139-148

- Amselle, J.L., Intangible heritage and contemporary Africarì Art (Di sán phi

vật thể và nghệ thuật châu Phi đương đại), Museum International, 56 (1-2),

2004, Tr 84-89

- Arizpe, L., Irìtangible cuỉtural heritage, diversity and coherence (Di sản văn

hóa phi vật thể, sự đa dạng vù thống nhất), Museum International, 56 (1-2),

2004, Tr 130-135

Trang 29

về Công ước 2003, các công trình của Giáo sư Ịanet Blake,

có một ý nghĩa quan trọng, vì tác giả là "người trong cuộc” của Công ước 2003 Giáo sư là giảng viên Đại học Shahid Beheshti University (Tehran), Iran, chuyên gia quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể và đã làm tư vấn cho UNESCO trong một số dự thảo Công ước và báo cáo đánh giá Cuốn sách Commentary on the 2003 UNESCO Convention on the Safeguarding ofthe ỉntangibỉe Culturaỉ

sản văn hóa phi vật thể) đã cung cấp một phần chung giói thiệu

về Công ước 2003 và sự phát triển trong lịch sử của nsó cũng như phân tích kỹ lưỡng các điều khoản của Công ướcW Công trình thứ hai của Giáo sư Janet Blake là cuốn Safeguarding

vệ di sản văn hóa phi vật thể - Thách thức và cách tiếp cận) tập họp các bài viết từ các ngành khoa học khác nhau như nhân học, luật pháp, lịch sử và những ngành liên quan khác đến lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể(2) Đây là chủ đề đã thu hút sự quan tâm của nhiều chính phủ và người thực hành trên toàn thế giới Dù sao, vấn đề này vẫn được hiểu một cách mơ hồ nên cần có sự quan tâm sâu hon và chia sẻ những ý tưởng, trải nghiệm đ ể thực

sự có những chính sách về bảo vệ phù hợp, hiệu quả, thiết thực.Cuốn sách Anthropologicaỉ Perspectives on Intangible Cuìturaỉ

w Blake, Ịanet, chủ biên, Commentary on the 2003 UNESCO Conventim on the

Safeguarding o f the Intangible Cuỉturaì Heritage (Nhận xét vẽ Công urớc 2003 của UNESCO vè bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Institute of Art and Laiw, 2006

P) Blake, )anet, chủ biên, Safeguarding Intangible Cultural Meritage:

Challenges and Approaches (Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: Thách thức và cách tiếp cận), Institute of Art and Law, 2006.

Trang 30

của Lourdes Arizpe được xuất bản đúng 10 năm sau khi Công ước 2003 có hiệu lực Cuốn sách như một cẩm nang liên quan đến khái niệm, quan điểm, tinh thần của Công ước, cũng như là phân tích vai trò của cộng đồng Cộng đồng cũng nhận diện và nhận thức rõ hơn về chính di sản của họ; tự hào, quan tâm đến bảo vệ di sản Nhà nước càng nỗ lực hơn trong việc xây dựng danh mục kiểm kê quốc gia, quan tâm xây dựng chính sách, tập trung nguồn lực, đầu tư vào lĩnh vực di sản cùng vói cộng đồngW.

Trong hơn một thập kỷ qua, từ khi Công ước 2003 ra đời, trên thế giới cũng xuất hiện nhiều công trình hơn về vai trò chủ

Heritage and Intellectual Property - Genetic Resources, Traditional

hữu trí tuệ - Nguồn lực phát sinh, trí thức truyền thống và văn hóa dân gian) do Silke Levvinskin chủ biên Các bài viết trong cuốn sách phân tích sâu về quyền của những tộc người bản địa, các nguồn lực địa phương trong sáng tạo, duy trì các loại hình văn hóa truyền thống Quyền của các dân tộc bản địa về di sản văn hóa còn được các luật liên quan khác như Di sản bản địa và Tài sản trí tuệ của các dân tộc bản địa (Indigenous Herítage and

di sản văn hóa phi vật thể sống, về lợi ích cùng chia sẻ trong các nguồn lực văn hóa, cũng như nguồn lực tự nhiên Các tác giả cho rằng, cộng đồng bảo vệ tài sản văn hóa, tri thức bản địa của họ tốt hơn khi những công việc liên quan như tư liệu hóa, thực

M Arizpe, Lourdes, Anthropologicaì Perspectives on Intangible Cultural

Heritage (Cách tiếp cận nhân học tới di sản văn hóa phi vật thể),

Ưniversidad Nacional Autonoma, Cristina Amescua, 2013

Trang 31

hành, trao truyền được sự hỗ trợ, tư vấn của các nhà chuyên môn, của chính phủW.

Cuốn sách Intangible Cultural Heritage in C on tem p orary

vật thế ở Trung Quốc đương đại - Sự tham gia của các cộng đồng địa phương) do Khun Eng Kuah và Liu Zhaohui chủ biên, đưa ra một đánh giá tương tối toàn diện về vai trò của cộng đồng trong bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ở Trung Quốc và Hòng Kông Cuốn sách phân tích chính sách của Trung Quốc, về việc nhấn mạnh vai trò của cộng đồng địa phương trong việc truyền thừa, thực hành, sáng tạo và phát huy di sảnt2)

d Nhóm công trình về quản lý nhà nước và vai trò cộng đồng

Tác giả Michelle Stefano và cộng sự trong cuốn Safeguarding

đưa ra nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể

do nỗ lực phê chuẩn các Công ước của UNESCO cũng như việc thực thi các điều khoản của Công ước 2003 trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể Cuốn sách đề cập đến quyền lực của các bên tham gia quản lý và thực hành di sản, không chỉ nỗ lực của các quốc gia thành viên đã phê chuẩn Công ước mà còn là vai trò chủ động, tích cực của cộng đồng địa phương Ngày nay, nhận thức về di sản văn hóa phi vật thể ngày càng cao đã đưa đến một sự hiểu biết rõ ràng

về bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ngay trong

(!) Lewinskin, Von Silke, Indigenous Heritage and Inteỉìectual Property:

Genetic Resources, Traditional Knowledge and Foỉklore (Di sản vàn hóa bản địa và quyền sở hữu trí tuệ: Nguòn lực phát sinh, trí thức ừuyền thống và văn hóa dân gian, Kluvver Law International, 2008.

(2) Kuah, Eng Khun, Liu Zhaohui, ỉntangible Cultural Heritage in Contemporary

China: The participation oflo caỉ communities (Di sán vân hóa phi vật thể ở Trung Quốc đương đại), New York: Routledge, 2017.

Trang 32

chính cộng đồng chủ nhân Cuốn sách này thể hiện các quan điếm quốc tế về vấn đề bảo vệ và quản lý di sản, khám phá những quan điểm, cách tiếp cận quản lý hỗn hợp với nhiều bên tham gia, nhà nước cũng như cộng đồng Các quản điểm quản lý được thể hiện không chỉ từ phía nhà nước mà còn từ "những quyền lực tạo nên”, và từ các nhà chuyên môn và những người thực hành, từ "những quyền lực mới”, từ những tiếng nói của các cộng đồng bản địa, ở đó di sản sống và tồn tại qua nhiều năm, nhiều thế kỷ Cuốn sách đề xuất một quan điểm trong quản

lý di sản bao gồm “nhiều quyền lực” của cả nhà nước, cộng đồng, các bên tham gia tạo nên một chỉnh thể hòa hợpM

Trong các nước châu Á và khu vực Thái Bình Dương, Hàn Quốc là một quốc gia khá quan tâm đến lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể Cụ thể, chính phủ đã điều chỉnh lại Luật di sản văn hóa cho tương thích vói Công ước 2003, cũng như quan tâm, đầu

tư nguồn lực cho công tác bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Trong bài viết Đánh giá về Công ước UNESCO 2003 ở Hàn Quốc,

tác giả Yim Dawnhee nhấn mạnh vai trò quan trọng của cộng đồng trong việc phục hòi di sản của Hàn Quốc, đòng thời đánh giá cao sự hỗ trợ về tài chính của chính phủ cho những nghệ nhân trong việc trao truyền, trình diễn di sản Chính phủ Hàn Quốc đặc biệt quan tâm, chỉ đạo, phối họp, hỗ trợ đầu tư kinh phí xây dựng các cơ sở hạ tàng cho việc khôi phục và trình diễn di sản (Nhà hát, Trung tâm di sản văn hóa, Bảo tàng) Hệ thống báu vật nhân văn sống của Hàn Quốc được thiết lập chứng tỏ nhà nước quan tâm đển việc vinh danh các nghệ nhân Họ được trả lương hàng tháng,

O) Steíano, Michelle L., Peter Davis, Gerard Corsane, chủ biên, Safeguarding

Intangible Culturaỉ Heritage (Bảo vệ di sán văn hóa phi vật thể), Boydell

Press, 2012

Trang 33

được hỗ trợ các khoản kinh phí khác liên quan đến truyền dạy, trình diễn và thực hành di sản Không chỉ vậy, chính phủ Hàn Quốc còn đàu tư trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo về di sản văn hóa phi vật thể tại các trường đại học, các viện nghiên cứu, cũng như quan tâm đến việc phục hồi, xây dựng các khu làng văn hóa truyền thống, các nhà hát trình diễn nhằm quảng bá hình ảnh đất nước thông qua di sản và thu hút khách du lịchro.Bên cạnh những công trình về một chỉnh thể hài hòa giữa sự quan tâm nhà nước, về đầu tư nguồn lực, tài chính trong lĩnh vực

di sản châu Âu và châu Á, còn có những công trình đánh giá về

sự ra đi của các di sản vô giá trong bối cảnh các nước đang phát triển, do không có sự quan tâm của chính phủ và không có nguồn lực châu Phi Cuốn sách của tác giả Rosabelle Bosvvell (2008) với tựa đề Challenges to Identijỳing and Managing Intangible

thức nhận diện và quản lý di sản văn hóa phi vật thể Mauritius, Zanzibar và Seychelles) đã đưa ra những thảo luận bước đầu về những thách thức quản lý di sản văn hóa phi vật thể của các cộng đồng châu Phi Zanzibar, Mauritius và Seychelles Châu Phi, một lục địa giàu có với nhiều loại hình di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, nguồn lực văn hóa cho châu lục phát triển Tác giả cho rằng, quản lý di sản thiếu sự chỉ đạo, quan tâm của chính phủ và không có sự đầu tư về nguồn lực, vật lực, và tài lực, thì di

(!) - Yim, Davvnhee, Đánh giá vẽ Công ước UNESCO 2003 ở Hàn Quốc, Bài trình bày tại Hội tháo quốc tế “10 năm thực hiện công ước bào vệ di sản văn

hóa phi vật thể của UNESCO - Bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai",

Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam tổ chức tại Tp Hội An, 2013

- Park, Seong-Yong, On Intangible Heritage Safeguarding Govemance: An Asia ■

Paciịìc Context (Quản trị bảo vệ di sản phi vật thể: Bối cảnh châu Á - Thái Bình Dương), Cambridge Scholars Publishing, Sđd.

Trang 34

sản ít được trao truyền và được phát huy hiệu quả Việc không quan tâm đến di sản, cũng như không phát huy vai trò chủ động của cộng đòng cùng với di sản của họ đã làm xói mòn bản sắc và suy giảm cảm giác thuộc về dân tộc của mình Tác giả cho rằng, cần có sự chỉ đạo, hỗ trợ về tài chính và sự quan tâm của chính phủ trong công tác quản lý di sản ở châu Phi và ở những cộng đòng người Phi ở nước ngoài nhằm phát huy những tiềm lực của

di sản cho chính cộng đồng và bảo vệ sức sống của di sản cho thế

hệ mai sau Nếu không có những sự quan tâm của chính phủ kịp thời và khuyến khích cộng đồng thực hành di sản, di sản sẽ bị kiệt quệ và không thể khôi phục lại được Điều quan trọng, tác giả nhấn mạnh vào việc quản lý di sản đúng mức sẽ đem lại nhiều lợi thế từ nhận thức, đàu tư, tới việc đem lại lợi ích cho chính cộng đồng và phát huy giá trị của di sản trong việc duy trì bản sắc và

vệ di sản văn hóa, thì cá c tác giả cũng chỉ ra những hậu quả tron g việc phát triển, duy trì các th ự c hành di sản truyền thống Nhà n ư ớ c hạn chế tổ ch ứ c các nghi lễ phong kiến có nhiều yếu

(') Boswell, Rosabelle, Challenges to Identifying and Managing Intangible

Cultural Heritage in Mauritius, Zanzibar and Seychelles ( Thách thức nhận diện và quản lý di sản văn hóa phi vật thế ở Mauritius, Zanzibar và Seychelles,

Aírican Books Collective, 2008

Trang 35

tố lạc hậu, mê tín dị đoan trong các ngôi đền từ khi cải cách ruộng đấtW Điều này khiến các tục lệ, lễ hội trong giai đoạn này

bị thay thế bằng các hoạt động văn hóa văn nghệra Từ cuối những năm 1980, lễ hội và nhiều thực hành văn hóa truyền thống được phục hồi, nhưng có nhiều thay đổi so với lễ hội trước những năm 1954 về nhiều khía cạnh do thòi gian, do bối cảnh, đồng thời cũng do những chính sách mang tính định hướng, chỉ đạo về văn hóa của nhà nước nhưng thiếu sự tham gia tích cực của cộng đồng trong hoạch định chính sách Cộng đồng là những người thực thi chính sách, mà đôi khi các chính sách lại không đáp ứng đúng với thực tiễn thực hành di sản của cộng đồng Việc chỉ đạo, điều hành xa rời với thực tế đã khiến cho các nội dung của các thực hành văn hóa truyền thống, các nghi lễ, lễ hội, tuy dựa trên các truyền thống cũ, nhưng chúng lại được tái tạo, xây dựng lược

bỏ những yếu tố "lạc hậu”, "mê tín dị đoan”, kết họp vói những yếu

tố mới của xu hướng thời đại Kết quả, các biểu đạt của vări hóa thực sự là kết quả của việc phục hồi có chọn lọcP), đã làm xói mòn,

và làm mai một một số giá trị của di sản cộng đồng

w Kleinen, Ịohn, Facing the ĩuture, Revising the Past: A Study o f Sociaỉ

Change in a Northern Vietnamese village (Đối mặt với tương lai, phục hồi quá khứ: Nghiên cứu về sự biến đổi xă hội ở một làng Bác Việt Nam),

Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1999

P) Honm, Choi, Chính trị văn hóa của lễ hội làng ở Hà Nội, ĩn trong sách Bảo

vệ và phát huy lễ hội cổ truyền ừong xã hội Việt Nam đương đại (Trường hợp Hội Gióng), Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Nxb Văn hóa -

Thông tin, 2012

Hy Vãn Lương, Economic Re/orms and the Intensi/ìcation o f Rituals in Two

North Vienamese Villages, 1980-90 ( Cải cách kinh t ế và sự căng thằng nghi lễ ở hai làng Bắc Bộ Việt Nam, 1980-1990) Trong sách The Challenge ofReform in /ndochina [Thách thức cải cách ở Đông Dương), Borje Llunggren chủ biên,

Cambridge: Harvard University, Institute for International Development,

1993, Tr 259-292

Trang 36

Các nhà nghiên cứu quốc tế về Việt Nam như Shaun Malarney

và Oscar Salemink quan tâm đến chính sách và sự can thiệp, quyền lực của nhà nước trong việc quản lý văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể nói riêngW Malarney đưa ra quan điểm về "chủ nghĩa chức năng nhà nước” (State functionalism) như một quá trình mà trong đó Đảng và Nhà nước quản lý, can thiệp sâu vào các hình thức nghi lễ và tác động đến sự thay đổi các hình thức thực hành này(2l Salemink cho rằng khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua Nghị quyết Trung ương 5 vào năm 1998 về việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tạo

ra một điểm tựa vững chắc về mặt pháp luật mà dựa vào đó nhà nước có thể phát huy vai trò quản lý và quyền lực trong việc tổ chức các nghi lễ và lễ hộiP) Các tác giả đã nhấn mạnh đến sự tác động nhiều chiều của các chính sách và quyền lực của nhà nước

Sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đã tạo ra hành lang pháp lý cũng như các nguồn lực cho sự phục hồi nhiều loại hình

(!) - Malamey, Shaun, The Limits o f 'State Functionalism'and the Reconstruction

o f ĩunerary Rituals in Contemporary Northern Vietnam (Giới hạn chức năng Nhà nước và tái kiến thiết tang ma ờ miền Bắc Việt Nam đương đại),

American Ethnologist, 23.3,1996, Tr 540-560

- Salemink, Oscar, The 'Heritagization' o f Culture in Vietnam: Intangible

Cuìtural Heriưtge between Communities, State and Market (Di sản hóa văn hóa ở Việt Nam: di sàn văn hóa phi vật thể giữa cộng đồng, Nhà nước và thị

trường, Hội thảo Việt Nam học lần thứ 4 tại Hà Nội, 2012

p) Malamey, Shaun, The Limits o f 'State Functionaỉism’ and the Reconsù-uction

o/Funerary Rituals in Contemporary Northern Vietnam (Giới hạn chức năng Nhà nước và tái kiến thiết tang ma ở miền Bắc Việt Nam đương đại), Sđd, Tr

540-560

í3) Salemink, Oscar The 'Heritagization' o f Culture in Vietnam: Intangible

Cultural Heritage between Communities, State and Market (Di sản hóa văn

hóa ở Việt Nam: di sản văn hóa phi vật thế giữa cộng đồng, Nhà nước và thị trường), Hội thảo Việt Nam học lần thứ 4 tại Hà Nội Sđd.

Trang 37

di sản bị mai một trong thòi kỳ chiến tranh Bên cạnh đó, một số loại hình di sản được phục hồi, thực hành lại theo sự chỉ đạo của các cấp chính quyền và người ngoài, không phải do cộng đồng chủ động tham gia vào quá trình phục hòi và thực hành, khiến cho di sản bị thay đổi quá nhiều, làm sai lệch ý nghĩa của di sản Điển hình là sự tham gia của các lãnh đạo cấp cao và chính quyền địa phương trong việc tổ chức Giỗ tổ Hùng Vương ử Khu

di tích lịch sử đền Hùng và việc phục hồi các lễ hội truyền thống trong chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóaW

Tác giả Choi Horim đánh giá cao nỗ lực của chính phủ Việt Nam quan tâm đến việc khôi phục văn hóa địa phương, đến quá trình của lễ hội làng, từ khi lập kế hoạch và chuẩn bị đến khâu tổ chức, nhưng cũng làm giảm vai trò của cộng đồng(2) Nhà nước chủ động can thiệp vào các hoạt động nghi lễ dân sụ*3), có thể làm giảm đi sự tự chủ của cộng đồng Nhà nước đã chuẩn hóa

(!) - Salemink, Oscar, Contemporary Ancestors or Younger Siblings? Vietnam's

Ethnic Minorities in the National Narratíve and in Ritual Practice (Những vị

tổ tiên đương thời hay người em nhỏ? Những dân tộc thiểu số Việt Nam ừong câu chuyện dân tộc và thực hành nghi lễ), Tham luận hội thảo Tín ngưỡng thờ cung tổ tiên ữong xá hội đương đại (Nghiên cứu ơường hợp tín ngưỡng thờ Hùng Vương ở Việt Nam), Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia

Việt Nam, 2011

- Salemink, Oscar, The "Herítagization“ o f Culture in Vietnam: Intangible

Cuỉturaỉ Heritage between Communities, State and Market (Di sản hóa văn hóa ở Việt Nam: di sản văn hóa phi vật thể giữa cộng đồng, Nhà nước, và thị trường), Sđd.

(2) Honm, Choi, Chính trị văn hóa của ìễ hội làng ở Hà Nội, In trong sách Bảo

vệ và phát huy lễ hội cổ truyền trong xổ hội Việt Nam đương đại (Trường hợp Hội Gióng), Sđd!

(3) Malamey, Shaun, The Limits o f ‘State Functionalism'and the Reconsữuction

ofFunerary Rituaỉs in Contemporary Northern Vietnam (Giới hạn chức năng Nhà nước và tái kiến thiết tang ma ở miên Bâc Việt Nam đương đại), sđd,

Tr 540-560

Trang 38

các nghi lễ truyền thống và tái tạo các giá trị và quan hệ xã hội sinh ra qua các nghi lễ, khiến cho các di sản bị thay đổi bản chất,

ý nghĩa đối với cộng đồng địa phương và tác động đến vai trò tích cực của họ tham gia thực hành và trao truyền

Về việc trao quyền cho cộng đồng, tác giả Salemink cho rằng, biện pháp bảo vệ di sản tốt nhất là trao cho các dân tộc quyền trao truyền di sản văn hóa của họ từ thế hệ này sang thế

hệ khác Nói một cách khác, các dân tộc có quyền bảo vệ bản sắc văn hóa riêng của họ, theo tập tục, truyền thống và song hành với những chính sách, quy định của Nhà nước, quốc gia Chẳng hạn, đối với các cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên, công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa này chỉ có thể được thực hiện bởi chính họ, "vì họ là hiện thân của văn hóa cồng chiêng đang bị

đe dọa biến mất"W

Bên cạnh đó, khi bàn về hậu di sản sau khi được UNESCO vinh danh, SaleminkC2) và MeekeH3) đã nói đến những vấn đề di sản hóa Theo Salemink, di sản hóa là quá trình biến đổi của nền

(*) Salemink, Oscar, Where is the Space fo r Vietnam's Gong Culture?

Economic and Social Chalìenges fo r the Space o f Gong Culture, and Opportunities fo r Protection (Đâu íà không gian văn hóa còng chiêng của Việt Nam? Thách thức kinh tế và xã hội của không gian văn hóa cồng chiêng

và những cơ hội bảo vệ), Tham luận hội thảo quốc tế "Sự thay đối đời sống kinh tể, xã hội và bảo vệ văn hoá cồng chiêng ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, tổ chưc tại Pleiku, 2009.

<2) Salemink, Oscar, The "Heritagization" o f Culture in Vietnam: Intangibìe

Cultural Heritage between Communities, State and Market (Di sản hóa văn hóa ở Việt Nam: di sản vân hóa phi vật thể giữa cộng đòng, Nhà nước và thị ù-ường),Sãà.

Meeker, Lauren, Tìm kiếm chỗ đứng trên sân khâu văn hóa thế giới: “Di

sán văn hóa", In trong sách Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học, Lương Văn Hy và cộng sự, Nxb Đại học

Trang 39

văn hóa sống trở thành một cái gì đó mà càn đến việc nghiên cứu, xem xét, công nhận, bảo vệ, quản lý do bên ngoài Đó chủ yếu là các nhà nghiên cứu và các chuyên gia về văn hóa khác, là chính quyền và các cán bộ nhà nước, các tổ chức phi chính phủ

và quốc tế cũng như UNESCO Xu hướng di sản hóa lấy quyền quyết định, tổ chức và rút lợi từ cộng đồng địa phương ra và giao quyền đó cho những người, cơ quan, tổ chức ở bên ngoài cộng đồng Đây là một thách thức lớn đối vói việc bảo vệ di sản, khi nhà nước quan tâm và các bên tham gia cùng cộng đồng quản lý, bảo vệ di sản, nhưng vẫn tuân thủ nguyên tắc cộng đồng được tham gia một cách tự nguyện, chủ động như Công ước 2003 và theo nguyên tắc đạo đức mà ủy ban Liên chính phủ mới thông qua Salemink cũng đề xuất rằng, nhà nước quản lý một cách gián tiếp, còn quyền quyết định về việc thực hành, bảo

Trang 40

công trình nước ngoài cũng chỉ ra những quan điểm học thuật

về hệ thống quản lý hiệu quả, quản lý di sản hỗn hợp, không tách bạch di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể và với sự tham gia của chính quyền, của nhiều bên liên quan, cộng đòng, cá nhân Một số công trình trong nước và quốc tế đã đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa nhà nước và cộng đông Nhà nước thực hiện chức năng lãnh đạo, định hướng, chỉ đạo và tạo điều kiện, hỗ trợ cho cộng đồng Cộng đồng là những chủ thể sáng tạo, thực hành, thi hành chính sách của nhà nước và đòng thời họ cũng là những người thừa hưởng những chính sách vinh danh, đãi ngộ, hỗ trợ về vật lực, tài chính của nhà nước Những quan điểm lý luận về mối quan hệ này sẽ được chúng tôi vận dụng, phân tích kỹ trong những phần tiếp theo và xây dựng thành một khung phân tích các nhiệm vụ về quản lý nhà nước, vai trò cộng đồng và mối quan hệ giữa nhà nước và cộng đồng

II MỘT S ố KHÁI NIỆM C ơ BẢN

1 Di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa nói chung bao gồm các sản phẩm và các quá trình của văn hóa được sáng tạo, thực hành, bảo vệ và trao truyền qua các thế hệ Các di sản được coi như là tài sản văn hóa (ở Nhật Bản và Hàn Quốc còn gọi là tài sản văn hóa - cultural properties), bao gồm vật thể như nhà cửa, công trình kiến trúc, các tác phẩm nghệ thuật; phi vật thể như bài hát, âm nhạc, ca kịch, kỹ năng và tri thức truyền thống, tri thức về nấu ăn, về thủ công mỹ nghệ, lễ hội, thực hành nghi lễ dân gian những biểu hiện văn hóa phi vật thể này có thể được ghi lại, mô tả lại, mang nhiều ý nghĩa đối với cộng đồng, nhung không thể chạm vào được, hay lưu giữ bằng hình thức hiện vật vật thể ở trong các bảo tàng Chúng chỉ được trải

Ngày đăng: 08/02/2021, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Văn Bài, vấn đề quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo tòn di sản văn hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Số 4,2001, Tr. 11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: vấn đề quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo tòn di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Năm: 2001
2. Nguyễn Chí Bền, Di sản văn hóa phi vật thể, từ sưu tâm, nghiên cứu đến b ả o vệ và p h á t huy. In trong sách B ảo vệ vò p h á t huy di sản vănhóa phi vật thể ở Việt Nam, Nhiều tác giả, Viện Văn hóa - Thông tin, 2005, Tr. 77 - 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Viện Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
3. Nguyễn Chí Bền và cộng sự, Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa trong quá trình hiện đại hóa: Nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ), hội Gióng (Hà Nội), tháp Bà Poh Nagar (Khánh Hòa) và văn hóa cồng chiêng của người Lạch (Lăm Đồng), Báo cáo lưu trữ tại Văn phòng UNESCO Hà Nội, 2012, bản đánh máy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa trong quá trình hiện đại hóa: Nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ), hội Gióng (Hà Nội), tháp Bà Poh Nagar (Khánh Hòa) và văn hóa cồng chiêng của người Lạch (Lăm Đồng)
Tác giả: Nguyễn Chí Bền, cộng sự
Nhà XB: Văn phòng UNESCO Hà Nội
Năm: 2012
4. Nguyễn Chí Bền, Nhà nước và công tác bảo tòn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam, những bài học từ lịch sử..., Tạp chí Văn hóa học, Số 4,2013, Tr. 8-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và công tác bảo tòn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam, những bài học từ lịch sử
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa học
Năm: 2013
5. Trưong Quốc Bình, Xây dựng cơ chế chính sách và giải pháp bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thế của Việt Nam là di sản thế giới, Báo cáo cuốn sách cấp Bộ, Tài liệu đánh máy lưu trữ tại thư viện Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế chính sách và giải pháp bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thế của Việt Nam là di sản thế giới
6. Bùi Xuân Đính, Cha ông ta với việc bảo vệ di sản văn hóa, Tạp chí Di sản văn hóa, Số 2,2003, Tr. 67-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha ông ta với việc bảo vệ di sản văn hóa
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Tạp chí Di sản văn hóa
Năm: 2003
8. Nguyễn Thị Phương Châm, Khi làng vươn ra phố: Những xu hướng biến đối văn hóa (Nghiên cứu trường hợp làng Đòng Kỵ, Đồng Quang, Từ Sơn, Bắc Ninh]. In trong sách Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học, Lương Văn Hy, Ngô Văn Lệ chủ biên, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Quyến 2, 2010, Tr. 485-499 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
9. Thành Duy, Văn hóa Việt Nam ứvớc xu thế toàn cầu hóa, thời cơ và thách thức, Nxb. Văn hóa, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam ứvớc xu thế toàn cầu hóa, thời cơ và thách thức
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 2007
10. Nguyễn Văn Kiêu và Trần Tiến, Tống thuật chính sách văn hoá của một số nước trên thế giới, Nxb. Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tống thuật chính sách văn hoá của một số nước trên thế giới
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
11. Nguyễn Hồng Hà, Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Số 4, 2014, Tr.14 -18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Hồng Hà
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Năm: 2014
12. Nguyễn Thị Hiền, Thách thức bảo vệ và phát huy Hội Gióng sau khi được UNESCO vinh danh, Bài trình bày tại Hội thảo quốc tế, 10 nămthực hiện công ư ớc b ả o vệ di sản văn hóa phi vật t h ể của UNESCO - Bàihọc kinh nghiệm và định hướng tương lai, Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tổ chức tại Hội An, tháng 6 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức bảo vệ và phát huy Hội Gióng sau khi được UNESCO vinh danh
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam
Năm: 2013
13. Nguyễn Thị Hiền, Cái thiêng: Đi làm ông hiệu, Cô tướng ở Hội Gióng, đền Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội, Tạp chí Văn hóa học, số 2, 2012, Tr. 58 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái thiêng: Đi làm ông hiệu, Cô tướng ở Hội Gióng, đền Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa học
Năm: 2012
14. Nguyễn Thị Hiền, Hoàng câm, Sáng tạo truyền thống: Nghiền cứu trường hợp Giỗ tổ Hùng Vương vào ngày mồng 10-3 âm lịch hàng năm, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tể: Tín ngưỡng thờ cúng tố tiên trong xã hội đương đại (Nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam), Nxb. Văn hóa - Thông tin, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo truyền thống: Nghiền cứu trường hợp Giỗ tổ Hùng Vương vào ngày mồng 10-3 âm lịch hàng năm
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền, Hoàng câm
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 2013
15. Nguyễn Quốc Hùng, Quanh việc quản lý và phát huy tác dụng di sản vân hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Số 2, 2000, Tr.50 - 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quanh việc quản lý và phát huy tác dụng di sản vân hóa
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w