Có thể thấy nhu cầu tín ngưỡng, học tập pháp điều Phật giáo của các tín đồ Phật tử và quần chúng nhân dân ngày một tăng lên, đặc biệt là của giới trẻ trong những năm qua đã và đa[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm ơn
sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội trong suốt thời gian em học tập tại khoa, tại trường
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Thị Tố Uyên đã giúp đỡ và hướng dẫn em rất tận tình trong quá trình thực hiện và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô, cùng toàn thể các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2019 Sinh viên
Đỗ Tuệ Quyên
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu : 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHI LỄ CẦU AN 7
1.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.2 Nghi lễ cầu an trong kinh điển của Phật giáo Đại Thừa 11
1.2.1 Nội dung và cách thực hành nghi lễ cầu an theo quan niệm của Phật giáo Đại Thừa ……… 11
1.2.2 Đặc điểm nghi lễ cầu an của Phật giáo Đại Thừa theo kinh điển 24
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 29
CHƯƠNG 2: NGHI LỄ CẦU AN Ở MỘT SỐ NGÔI CHÙA TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY 30
2.1 Sơ lược địa bàn nghiên cứu 30
2.1.1 Chùa Phúc Khánh 31
2.1.2 Chùa Quán Sứ 33
2.1.3 Chùa Bằng 35
2.2 Thực trạng nghi lễ cầu an trên địa bàn Hà Nội hiện nay 37
2.2.1 Tình hình thực hành nghi lễ cầu an ở chùa Phúc Khánh 37
2.2.2 Thực trạng thực hành nghi lễ cầu an tại chùa Quán Sứ 41
2.2.3 Thực hành nghi lễ cầu an ở chùa Bằng 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 49
KẾT LUẬN 50
Danh mục tài liệu tham khảo 54
PHỤ LỤC 56
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tôn giáo hiện đại đã và đang là một vấn đề mang tính thời sự nóng hổi, nó cũng luôn đáp ứng được mọi nhu cầu của con người, giải quyết được những vấn đề mà khoa học chưa lý giải được Nhắc đến tôn giáo Việt Nam không thể nào không nhắc đến Phật giáo Bởi lẽ trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, Phật giáo Việt Nam đã góp phần quan trọng đối với văn hóa cộng đồng, với việc nhận thức về thế giới, về xã hội và về con người, đặc biệt là việc đề cao trách nhiệm của chính con người và của cả dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, tạo sự gắn kết cộng đồng, tạo sức mạnh chung cho cả dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước Do vậy, nói đến lịch sử dân tộc Việt Nam không thể không nói đến Phật giáo Việt Nam và ngược lại Sau khi nước nhà được thống nhất, Phật giáo Việt Nam đã ổn định và phát triển trong ngôi nhà chung: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong sự đồng hành cùng dân tộc, trong
sự đổi mới và phát triển đất nước, trong sự hội nhập và phát triển Có thể nói, Phật giáo Việt Nam đã có sự lớn mạnh cả về chất và lượng Theo Tổng Ðiều tra Dân số và nhà ở năm 2009 thì Phật giáo có khoảng 6,8 triệu tín đồ [Hội đồng trị sự trung ương, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 2014] Ðây là một con
số khá khiêm tốn, bởi lẽ bên cạnh số tín đồ chính thức của Phật giáo, những người có cảm tình với đạo Phật, tham gia vào các nghi lễ Phật giáo chiếm một
số lượng rất lớn Với truyền thống gắn đạo với đời, đạo pháp với dân tộc,Phật giáo đã tham gia vào nhiều hoạt động xã hội như: Cứu giúp người nghèo, người cô đơn cỡ nhỡ, nuôi dạy trẻ mồ côi Phật giáo Việt Nam ngày càng khởi sắc không chỉ ở số lượng và quy mô các lễ hội, ở việc xây dựng, tu bổ, tôn tạo cơ sở thờ tự mà còn ở việc nâng cao sự nhận thức về Phật học và thế học cho các tăng ni, ở việc tổ chức các hội thảo về Phật giáo trong lịch sử và hiện tại
Trang 5Trong thời đại công nghệ mới con người đối mặt bối cảnh đô thị hóa, xã hội biến động, hệ giá trị thay đổi, nguy cơ đối với con người có xu hướng tăng lên Trầm cảm, tự tử, con người tâm không định, hoang mang, dễ khủng hoảng là những vấn nạn lớn của loài người Đời sống nhân sinh là tập hợp của những nỗi thống khổ, cái khổ có xu hướng ngày càng đa dạng Kinh tế thị trường khuếch đại nhân dục và gia tăng cạnh tranh Nhân dục tăng lên tức là
cầu bất đắc khổ gia tăng Nguy cơ đối với đời sống con người tăng lên Chính
vì điều này, người dân đã tìm đến tôn giáo như một liều thuốc tinh thần thông qua những nghi lễ để xoa dịu những lo âu, bất an của họ Đối với trường phái
lý thuyết chức năng, Malinowski nhấn mạnh đến chức năng tâm sinh lý của lễ
nghi Từ ví dụ nổi tiếng của Malinowski về đời sống của người Trobriand ở
một đảo của Thái Bình Dương đã rút ra nhận định là phù phép để trấn an
chính con người về mặt tâm lý, mong được an toàn… Lý thuyết Malinowski
đưa ra giả thuyết là môi trường càng bất trắc và kết quả càng bấp bênh thì con người càng cần đến lễ nghi phù phép
Trong xã hội và con người của thời đại số hóa như vậy, cách nhìn thế giới và con người giác ngộ nhân tâm của Phật giáo, cách thức nhập thế của Phật giáo cần có những thuyên thích và định hướng mới Phật giáo cũng cần có những cửa phương tiện mới phù hợp với thời đại Ngày nay trước những vấn nạn mới của con người, của xã hội và đời sống hiện đại, Phật giáo cần thể hiện vai trò và vị thế mới, phát huy yếu tố nhân văn, vị tha, bác ái truyền thống trong cảnh huống mới và bằng những cách thức mới Để đáp ứng được nhu cầu tinh thần và không phụ lòng tin tưởng của đại chúng, Phật giáo đã đưa đến những nghi lễ, cách thức phù hợp với từng nhu cầu căn bản thiết yếu nhất của Phật tử như : cầu siêu, cầu an, vu lan báo hiếu,…
Trong bối cảnh như vậy, việc tiếp cận nghiên cứu về nghi lễ cầu an của Phật giáo để tìm hiểu và giải thích những yếu tố ảnh hưởng đến với đạo Phật,
Trang 6hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội Vì những lý do trên tôi quyết định chọn đềtài nghiên cứu “Tìm hiểu nghi lễ cầu an qua khảo cứu một
số ngôi chùa ở Hà Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình góp phần nhận diện phần phác họa, miêu tả những hoạt động nghi
lễ cầu an của Phật giáo Đại Thừa, từ đó có thể đánh giá được niềm tin và sự gắn bó với Phật giáo trong đời sống Phật tử, đại chúng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vê Phật giáo ở Việt Nam tư cách là những thiết chế xã hội đã có nhiều công trình nghiên cứu cơ bản, dưới nhiều góc độ như tôn giáo, triết học, xã
hội học,… Rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề nghi lễ Phật giáo tiêu biểu như :
Nguyễn Đình Lâm,(2008), Diễn xướng thanh nhạc trong nghi lễ Phật giáo (Trường hợp cầu siêu), Nghiên cứu Tôn giáo (số 12)
Phan Thị Yến Tuyết,(2005), Nghi lễ cầu siêu – cầu an trong cồng đồng các dân tộc tại Nam Bộ , Nghiên cứu Tôn giáo ( số 4)
Nguyễn Tất Đạt,(2013), Công tác nghi lễ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Nguyễn Hữu Sử,(2014), Trai đàn Chẩn Tế Triều Nguyễn, Nghiên cứu Tôn giáo, (số 7)
Nhìn chung những nghiên cứu này đều đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của nghi lễ Phật giáo, đã chạm đến những nét căn bản trong từng nghi lễ qua nhiều chiều cạnh khác nhau Những nghiên cứu này rất bổ ích không chỉ trong việc xem xét và lý giải những nghi thức nghi lễ tôn giáo Việt Nam khoảng hai thập kỷ gần đây, mà còn làm rõ sự ảnh hưởng của những nghi lễ tôn giáo đến đời sống con người và ngược lại Tuy nhiên, trong những công trình này, một số nhấn mạnh đến lý luận cơ bản, đưa ra những cái chung nhất
mà chưa đi tới cái cụ thể Chính vì thế việc nghiên cứ đề tài “Tìm hiểu nghi lễ cầu an qua khảo cứu một số ngôi chùa ở Hà Nội hiện nay” là rất cần thiết
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 7Đề tài nghiên cứu hướng tới sự tham gia hoạt động nghi lễ cầu an đầu năm của Phật tử tại Hà Nội hiện nay qua nghiên cứu trường hợp tại chùa Phúc Khánh, chùa Bằng và chùa Quán Sứ Từđó xem xét phân tích thực trạng thực hành nghi lễ cầu an tại Hà Nội hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ khái niệm, ý nghĩa, cung cách thực hiện của nghi lễ cầu an của Phật giáo Đại Thừa
Mô tả các hoạt động nghi lễ cầu an Phật giáo ở chùa Phúc Khánh, chùa Bằng và chùa Quán Sứ hiện nay
Tìm hiểu sự tham gia của Phật tử chùa Phúc Khánh, chùa Bằng và chùa Quán Sứ trong nghi lễ cầu an: tần suất tham dự, cung cách tham gia
5 Phạm vi nghiên cứu :
Không gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu nghi lễ cầu an ở
một số ngôi chùa trên địa bàn Hà Nội hiện nay Cụ thể là chùa Phúc Khánh; chùa Quán Sứ và chùa Bằng
Thời gian nghiên cứu: Trong khoảng vài năm trở lại đây
Nội dung nghiên cứu: Vì các ngôi chùa ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ nói
chung và ở Hà Nội nói riêng chủ yếu theo Phật giáo Đại Thừa, nên có nhiều nghi lễ khác nhau Vì thế, ở đề tài này, chúng tôi chỉ chọn Nghi lễ cầu an làm đối tượng nghiên cứu chính
6 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Khóa luận được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo Căn cứ Hiến pháp năm 2013 của Quốc hội
Trang 8Phương pháp biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin nhằm tìm ra
và phân tích được bản chất, ý nghĩa thực sự của nghi lễ cầu an đầu năm
Phương pháp phân tích so sánh: nhằm làm rõ nét tương đồng, sự khác biệt của nghi lễ cầu an so với giai đoạn trước đó; làm rõ những đặc trưng riêng của nghi lễ này só với các nghi lễ khác trong Phật giáo
Phương pháp thu thập thông tin định tính: bao gồm các phương pháp như quan sát, phỏng vấn sâu, phân tích các văn bản như tài liệu, tranh, ảnh, tượng Phương pháp này cho phép đề tài mô tả bối cảnh nghiên cứu, sự linh hoạt để phát hiện vấn đềnhằm bổ sung, lý giải cho những vấn đề chưa rõ trong nghi lễ cầu an Đề tài sử dụng phương pháp này ở ba ngôi chùa bao gồm nội thành và ngoại thành, mỗi ngôi chùa dự kiến quan sát phỏng vấn từ 5 đến 10 tín đồ và chức sắc Phật giáo nhằm phục vụ những luận cứ khoa học cho đề tài
Ngoài ra, đề tài này chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu liên quan nhằm làm rõ thực trạng nghi lễ cầu an trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Trang 9CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHI LỄ CẦU AN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Khi nói đến “nghi lễ” chúng ta cần phải hiểu qua về ý nghĩa của nó Hai chữ “nghi lễ” mang trên mình rất nhiều ý nghĩa nội hàm
Nghi : nghi thức , lễ nghi, lễ phép, khuôn phép, oai nghi,
Lễ : lễ giáo, lễ nhạc, lễ bái, cúng tế, tôn thờ, cung kính,
Có thể nói, “nghi lễ” là chỉ chung cho những nghi thức tụng niệm hành
lễ, sinh hoạt trong phạm vi tín nghưỡng thờ phụng của một tôn giáo
Theo Sabino Acquaviva Enzo Place nghi lễ hay còn gọi là sự thực hành tôn giáo: là một tín đồ thực hiện một tập hợp những quy định về nghi thức mà một ng thời gian và chỉ được thực hành ở những không gian thiêng liêng đặc biệt
Trong cuốn “Xã hội học” của tác giả Richard T.Schaefer, nghi lễ hay các nghi thức tôn giáo (religious rituals) là tín ngưỡng tôn giáo nào đó, ít hay nhiều thể chế hóa, bắt phải thực hiện để cho việc theo tín ngưỡng đó có thể nhìn thấy và kiểm tra được [1] Về mặt khái niệm, những yếu tố tham gia thực hành nghi lễ thường nằm theo thứ tự sau đây: có một uy quyền tôn giáo giữ được sự cố kết giữa các thái độ tín ngưỡng và các ứng xử nghi thức bắt nguồn
từ các thái độ đó; có một quy định về những nghi thức lặp đi lặp lại trong những thực tiễn cần thiết hay được cho là các thành viên của một đức tin thì phải có các nghi lễ thường là để tôn vinh quyền năng thần thánh được các tín
đồ kính trọng; chúng cũng nhắc những người đi theo nhớ bổn phận và trách nhiệm tôn giáo của mình Nghi lễ và tín ngưỡng có thể liên thuộc với nhau; các nghi lễ nói chung bao gồm sự khẳng định, tin tưởng [21,45]
Bất cứ một tôn giáo nào đều phải có những hình thức nghi lễ để tiêu biểu
Trang 10có phần sai khác nhưng mục đích vẫn là chí thành cầu nguyện tán than công đức vị giáo chủ mà mình đa quy ngưỡng tôn thờ
Chính vì thế mà nghi lễ vốn là vấn đề quan trọng và có nhiều lợi ích trong đạo phật Cũng vì vậy nên kẻ hành giả cần phải học tập và hiểu rõ ý nghĩa những vấn đề thuộc về nghi lễ trước khi hành lễ
Nghi lễ Phật giáo chính là sự thực hành nghi thức tôn giáo mang đặc trưng của đạo Phật Theo tác giả Hoằng Quảng lễ nghi được hiểu ở đây là những quy định, thiết chế mang tính khuôn mẫu, từ thường được dùng trong kinh điển là các học pháp mà người đệtử Phật cần phải tuân theo, vâng làm
Và như vậy, lễ nghi tương đồng với giới luật [14] Theo Phật giáo, một người
sơ cơ quy y Tam bảo thì cần phải dạy họ nói năng thế nào, đi đứng ra sao, lễ bái thế nào Một đời sống chuẩn mực phải là một đời sống thấm nhuần về đạo đức; mà muốn có đạo đức thì phải sống theo giới luật Và sự hiện hữu của giới luật đã đồng thời xác tín sự xuất hiện của nghi lễ Với một người cư sĩ nói chung, thì sống và hành xử theo những thiết chế lễ nghi được Đức Phật minh định có thể coi là một nét đẹp của đời sống và là phương thức sống văn minh tiến bộ
Hoạt động của nghi lễ Phật giáo là sự thực hành nghi lễ Phật giáo mang tính khuôn mẫu theo quy định của pháp tu hoặc tại mỗi ngôi chùa, ngoài tham gia những hoạt động Phật giáo, Phật tử còn tham gia những hoạt động thiện nguyện được tổ chức bởi các ngôi chùa mà mình tín tâm
Đạo phật tuy không phải là một tôn giáo chỉ chú trọng về phương diện nghi lễ mà đưa người vào đạo phật một cách dễ dàng Ví dụ : cầu an cho người bị hoạn, tai nạn Cầu siêu bạt độ cho kẻ lâm chung, Đó là những phương tiện thực tế để điều hòa lý trí, gieo rắc tình cảm cho con người, an ủi tinh thần cho người còn cũng như kẻ mất
Trang 11Tiếp đến là khái niệm của từ “cầu an”, từ “cầu” có nghĩa là theo đuổi, tìm kiếm, mong ước, cầu xin, thỉnh cầu, theo đuổi công việc hết sức trọn vẹn, kết thúc hoàn chỉnh hoàn thành.[5,55] Theo Phật giáo thì từ “Cầu” ở đây không phải là cầu xin, là van xin, là quỵ lụy trước một đấng thần siêu hình có khả năng hô mưa gọi gió, ban ơn giáng nạn mà được hiểu trong từ cầu nguyện, cầu xin hay ước nguyện - một trạng thái tâm lý mong mỏi một điều gì đó sẽ được thực hiện, sẽ được thành tựu hay diễn ra theo chủ ý của người mong đợi Nó phản ánh một thái độ mong chờ một sự kiện diễn ra theo chủ ý của người có ước mong Còn từ “an” thường được hiểu là an yên, bình an, an lành,… – là một trạng thái tâm lý mà ở đó tâm ta được thấy thanh thản, không lăn tăn suy nghĩ, lo sợ về miếng cơm, manh áo, được an yên về cả thể chất lẫn tinh thần “An” ở mỗi con người là thân an, có nghĩa là khỏe mạnh, sống lâu, không bệnh tật, không tai nạn, rủi ro…, tâm an - trạng thái tinh thần thanh thản, thoải mái, không lo âu phiền muộn, không sợ hãi, khủng hoảng, không căng thẳng bức bối…, hoàn cảnh an - gia đình ấm no hạnh phúc, điều kiện sống, hoàn cảnh sống tốt, các mối quan hệ tốt đẹp, gặp nhiều thuận duyên trong cuộc sống…
Ví dụ như ai đó mơ ước học giỏi thì không thể chỉ ngồi đó mà ảo vọng từ năm này qua năm khác, mà phải cần nỗ lực học tập thì ước mơ đó mới có thể thành sự thật; hay ai đó mong muốn có một cuộc sống đầy đủ thì không thể lười biếng, phải hết lòng làm việc dựa trên khả năng, sức lực và nhân đức của mình thì mong muốn ấy mới không còn là giấc mơ, nó sẽ thành sự thật, ai đómong muốn có một cuộc sống đầy đủ thì không thể lười biếng, phải hết lòng làm việc dựa trên khả năng, sức lực và nhân đức của mình thì mong muốn ấy mới không còn là giấc mơ, nó sẽ thành sự thật Cũng như vậy, khi nguyện vọng, ao ước về một cuộc đời bình an cả vật chất lẫn tinh thần thì mình phải biết cách sống trọn vẹn với tâm nguyện đó Phật tử phải thành tâm sám hối, bỏ ác làm lành, làm nhiều phật sự và thiện sự như phóng sinh, bố thí,
Trang 12cúng dường Tam bảo, hồi hướng công đức ấy cho việc gia đình và bản thân tai qua nạn khỏi, khỏe mạnh, tai qua nạn khỏi và sự an lạc nội tâm
Có thể nói cầu an chính là cầu nguyện cho người thân, cho chúng sinh và cho bản thân mình được yên lành, an vui, không bệnh tật hoạn nạn, khổ não
Để có được những điều đó, theo đức Phật là mỗi người phải tự trau dồi đời sống đạo đức và trí tuệ, phát huy các hạnh lợi tha, giúp đỡ mọi người, sống an yên, chính niệm và tỉnh thức trong từng phút giây của hiện tại Không hoài vọng về quá khứ để thoát khỏi thế giới kinh nghiệm đau thương Không hoài vọng về tương lai để không lo âu và sợ sệt Sống một cách sáng suốt, bình thản trong hiện tại để khắc chế mọi tham ưu ở đời Người sống được như vậy thì lúc nào cũng "an" lúc nào cũng khỏe mạnh, cũng hạnh phúc, không cần cầu nguyện và mong mỏi cũng được Trái lại, nếu chúng ta sống buông lung,
sa đọa, bỏ rơi hiện tại, không làm các điều thiện, trái lại rơi vào con đường tội lỗi thì dù có cầu nguyện bao nhiêu cũng không thể an ổn được
Theo một số tín đồ Phật giáo, nếu như cầu an không đúng pháp là cầu an, chỉ cầu cho vui lòng thân nhân của người bệnh, hay làm lấy lệ bài bản theo nghi lễ cầu an cho xong chuyện Trong lúc vị chủ lễ dâng lời cầu nguyện thì người tham dự bận lo nghĩ chuyện khác, đủ thứ vọng tưởng chi phối Đôi khi
họ không biết người bệnh hay người quá cố là ai Cung cách cầu an hay cầu siêu này, người đời thường dè bỉu là "cầu an hay cầu siêu xã giao" nghĩa là làm để trả nợ cho người sống hay làm cho người sống an lòng Người chủ lễ
và người tham dự cầu an hay cầu siêu không ngoài mục đích là giúp nạn nhân
an tâm thoát khổ vậy mà chính tâm của họ đang bất an, đang nghĩ tưởng lung tung tạo thành một dòng năng lượng tạp niệm thì khoá lễ này hoàn toàn thất bại, không mang sự ích lợi nào cho người bệnh hay người mất
Ví dụ: Người thân của xếp mình bị bệnh nặng Sếp thông báo xin Lễ Cầu
An cho thân nhân của xếp tại ngôi chùa nào đó Mình là nhân viên của sếp hay là người có liên hệ làm ăn với sếp, mình đến tham dự Lễ Cầu An để làm
Trang 13đẹp lòng sếp Vì nếu đồng nghiệp đi mà mình không đi thì sợ sếp ghét sẽ "đì" mình, cho nên mọi người cùng đến tham dự Lễ Cầu An, nhưng bằng cái tâm hời hợt lo ra như thế thì đâu tạo được năng lượng tốt đẹp gì để giúp cho người bệnh qua cơn hiểm nghèo
Một số khác lại cho rằng cầu an là một hình thức tín ngưỡng có từ ngàn xưa, khắp nơi trên thế giới dưới những biểu hiện khác nhau tùy theo từng vùng văn hóa và dân tộc Đối với Phật giáo,việc cầu an chỉ là một hình thức, quan trọng là mình muốn an thì phải sống bằng cái tâm, bằng con tim yêu thương, biết giúp đỡ mọi người, sống thiện lương, giữ gìn thân khẩu ý, không tạo nghiệp, sống một niềm vui chính niệm an lạc trong giây phút hiện tại Lễ cầu an có thể diễn ra ở tại gia và mời chư Tăng đến tiến hành nghi thức cầu an đúng pháp, tụng kinh, niệm Phật Nghi thức nên đơn giản, không quá cầu
kỳ Điều quan trọng là người tham gia phải thành tâm sám hối, bỏ ác, làm lành Lễ cầu an cũng có thể tổ chức ở chùa, nơi có cảnh trí yên tĩnh, càng làm cho nội dung của các nghi thức trên thêm phần trang nghiêm và thể hiện lòng thành tín
1.2 Nghi lễ cầu an trong kinh điển của Phật giáo Đại Thừa
1.2.1 Nội dung và cách thực hành nghi lễ cầu an theo quan niệm của Phật giáo Đại Thừa
Lễ nghi trong phật giáo là để bày tỏ lòng thành kính đối với các bậc đáng tôn kính như Tam Bảo, ông bà , cha mẹ và tất cả những người thân kẻ sở đã qua đời của mình Hiến dâng lên lễ vật không cốt mong người đã mất hưởng
mà còn để bày tỏ lòng kính mến của mình để nhớ ơn và để phát nguyện làm những điều tốt lành mà những người đi trước đã làm Điều này chỉ là những biểu hiện tùy theo truyền thống và văn hóa của mỗi dân tộc có ảnh hưởng tư tưởng hiếu niệm trong Phật giáo Như thế hình thức này cần nên đơn giản nhưng phải trang nghiêm thành kính
Trang 14Nghi thức trong các khóa lễ của phật giáo thường có bốn phần
• Phần 1 : Tách bạch : gồm cả phần niệm hương, cúng dường Tam Bảo Phần này như một lời trình về duyên sự của buổi lễ, đây cũng là phần khởi đầu của tất cả buổi lễ
• Phần 2 : Lễ Tam Bảo : gồm phần xưng tán và lễ Tam Bảo Tất cả các thời khóa đều có phần này dù đầy đủ hay giản lược
• Phần 3 : Kinh Văn : gồm những Phật ngôn hay kệ tụng phù hợp với tinh thần của các khóa lễ đã xướng trong lời tác bạch Phần này có thể linh động Vị chủ lễ có thể chọn những bài kinh thích hợp với thời giờ, hoàn cảnh và căn cơ của những người tham dư khóa lễ
• Phần 4 : Hoàn Kinh : là phần sau cùng của mỗi khóa lễ với Bát Nhã tâm kinh , hồi hướng, phục nguyện và tự quy tam tự quy y
Tùy theo mỗi hệ phái phật giáo mà các phần 1,2,4 có thể khác nhau về những hình thức, lễ nghi có thể khác nhau nhưng nhìn chung vẫn có sự thống nhất, vẫn giữ được sự trang nghiêm và hướng về phật
a Nội dung nghi lễ cầu an của phật giáo Đại Thừa
Nghi lễ cầu an đầu năm là một trong những nghi lễ quan trọng của phật giáo nên nó cũng không nằm ngoài những nghi quy của phật giáo, nghi lễ cầu
an vẫn phải có đầy đủ bốn phần đầy đủ như những lễ nghi khác của phật giáo như là tách bạch, lễ tam bảo, kinh văn và hoàn kinh
Khóa lễ cầu an này thường được tổ chức vào tháng giêng âm lịch Khóa
lễ được diễn ra một cách uy nghiêm và trang trọng tại ban Tam Bảo và thường có
• Chủ lễ (chủ sám) : là người hay mặt toàn thể kinh sư và gia chủ thưa thỉnh, điều khiển buổi lễ Chủ lễ thường là sư trưởng của chùa, có thể là thượng tọa, bậc đại đức, hòa thượng, trưởng thượng,… Trước khi lễ phải sắp
Trang 15xếp, kiểm soát kinh sách, kinh sư, gia chủ, lễ vật và sớ điệp với sự phụ giúp của công văn, phân nhiệm, mời thỉnh hay cắt cử nhân sự cho buổi lễ Trong khi hành lễ, chú tâm hướng thượng, quán chiếu, trình thỉnh, tán tụng với lòng chí thành Tư cách khiêm cung, kính cẩn, tránh lời nói hay hành động thô, ngoài cuộc lễ có trách nhiệm hướng dẫn buổi lễ từ lúc bắt đầu đến lúc hoàn tất Một sự việc vô cùng nghiêm trang kính cẩn Thông thường ở chốn thiền môn, tịnh viện ngày trước được giao phó cho một số thầy chuyên môn cung hành nghi lễ, nên việc lễ lạy rất long trọng, hài hòa phát triễn tốt đẹp Tình trạng ngày nay, qua chiến tranh lâu dài, chúng ta tỵ nạn nơi xứ lạ quê người Phần nghi lễ truyền thống đã phần nào bị biến chất hoặc không được đào luyện đến nơi đến chốn nên việc hành trì có rất nhiều thiếu sót Chúng tôi một
số cư sĩ có may mắn học được từ quí thầy nghi lễ ở quê nhà từ xưa Xin trình bày một số nét căn bản phải làm của một chủ sám, tạm thời ứng phú đạo tràng
• Cử chuông (duy na) : hay còn được biết đến là người đánh chuông trong buổi lễ Kiểm soát kinh sách, pháp khí (chuông), chuẩn bị nhang đúng chỗ, đúng lúc để buổi lễ được uy nghiêm, thanh tịnh Đại chúng thi lễ theo tiếng chuông như mệnh lệnh Tránh điểm tiếng chuông khi chưa dứt câu, thường gọi là đánh chuông vào họng Phụ giúp chủ lễ thỉnh diên hai hay phần duy nguyện, tiếp hơi,…
• Cử mõ (duyệt chúng) : là người đánh mõ trong buổi lễ.Kiểm soát kinh sách, pháp khí (mõ), chuẩn bị nhang cho chủ lễ Thông thường duy na đốt nhang cho chủ lễ, duyệt chúng nhận nhang từ chủ lễ cấm vào lư hương sau khi chủ lễ kỳ nguyện xong Tư thế đứng, cầm dùi mõ nghiêm trang Xử dụng
mõ đúng bài bản; thông thường mõ giữ đều về trường canh và cao độ (lớn nhỏ), chỉ thay đổi khi cần, không nên tùy tiện làm mất tính cách thiền vị trong buổi lễ Phụ chủ lễ thỉnh diên ba hay phần duy nguyện, hòa, tiếp hơi
Trang 16• Kích tử : là người sử dụng tan, linh, Tùy theo bài bản của buổi lễ, mục đích làm tăng phần uy nghiêm, trang trọng của buổi lễ Cần được thực tập nhiều, tránh lắc người, nhảy nhót, đứng nghiêng một bên
• Công văn : là người có nhiệm vụ thiết lập bàn lễ, sớ điệp.Một chức vụ nặng về công việc nhưng nhẹ về hình thức, ít ai biết và hiện nay hầu như các nơi hành lễ đã không mấy để ý phần việc nầy nhiều nên các buổi lễ trở nên đơn điệu, thiếu sót.Thường công văn phải tìm hiểu hoàn cảnh của gia chủ để
cố vấn cách hành lễ Sau khi phối hợp bài biện lễ xong, công văn phải hoàn thành bản văn dâng cúng gọi là sớ, điệp
• Kinh sư : gồm những người tham gia hộ niệm, góp nguyện lực hất tâm thành kính tụng niệm và sẵn sàng giúp đỡ xử dụng pháp khí để buổi lễ tăng thêm nguyện lực
Ðể có những buổi lễ trang trọng , chúng ta cần phải có một ban nghi lễ đơn giản như trên, nhưng phải thành thục khoa nghi
Ngoài những tổ chức thực hiện khóa lễ cầu an còn có những người tham dự khóa lễ Những người này có thể là bất kỳ ai, già trẻ lớn bé, không kể sang nghèo hay đã quy y hay chưa quy y, tất cả mọi người đều có thể tham dự khóa lễ này bởi lẽ Phật thương chúng sinh như mẹ thương con, chúng sinh nhớ Phật như con nhớ mẹ, chính vì vậy nên chỉ cần có tâm hướng Phật, thành khẩn với đầy đủ đức tin đều có được sự cảm ứng gia hộ của Chư Phật và Bồ Tát
Việc sửa soạn đi lễ chùa, sắm lễ vật để đi lễ chùa cũng có những quy định mà người hành lễ phải tuân thủ như là Đến dâng hương tại các chùa chỉ được sắm lễ chay: hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi chè,… Không được sắm sửa lễ mặn chư cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt mồi, gà, giò, chả, Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cùng lên bàn thờ Phật Hoa
Trang 17tươi lễ Phật là: Hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu, không dùng các loại hoa tạp, hoa dại
Về hương cúng dàng, người Việt Nam đã quen chọn số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) lúc thắp nhang, nhưng cũng có trường hợp người ta đốt cả nắm nhang chứ không chú trọng vào ý nghĩa con số Còn theo lý giải của nhà Phật cho rằng,
số lẻ mang nhiều ý nghĩa linh thiêng hơn Con số 3 thì có nhiều quan niệm khác nhau: Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) , Tam giới (Dục giới, sắc giới và Vô sắc giới) , Tam thời (Quá khứ, Hiện tại, Vị lai) ,Tam vô lậu học (Giới, Định, Tuệ) Nén hương, cũng có thêm một ý nghĩa đặc biệt khác nữa, đó là thắp hương để nhớ đến sự vô thường Vô thường là không vĩnh viễn, tất cả đều giả tạm, cho nên lúc nén hương tắt cháy thì cũng tượng trưng cho đời người tắt, ngắn ngủi vô thường Tàn tro của hương nhắc nhở chúng ta chớ để thời gian trồi qua, uổng phí tháng ngày Trong nghi lễ Phật giáo, hương là một trong sáu lễ vật dâng cúng, gồm có: Hương, hoa, đăng (đèn), trà, quả, thực (thức ăn) Tuy nhiên nhiều người không rõ về ý nghĩa sâu xa của việc cúng Phật nên bày biện đủ thức ăn uống như yến tiệc, không những uổng phí mà lại còn làm sai lạc ý nghĩa
Theo quan niệm của Phật giáo, lòng thành thể hiện qua làn khói hương nghi ngút, không cần cỗ bàn yến tiếc tiệc thịt cá linh đình vì đúng ý nghĩa sự cúng Phật thì chỉ nên dùng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi, trái ngọt, nưóc trong là đủ Phật không phải ở trên bàn thờ, trong những pho tượng, mà là ở trong tâm của con người Ngoài những nén hương dùng ngọn lửa nóng để đốt cháy lên, chúng ta còn có thể dùng đức tin của mình thắp lên những nén tâm hương - tức là hương từ trong tâm Bởi vậy mới có năm thứ hương dùng để cúng dường chư Phật: Giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương
và giải thoát tri kiến hương
Trang 18b Nghi thức thực hiện khóa lễ cầu an đầu năm của Phật giáo Đại thừa Mỗi thầy mỗi phép, mỗi chùa mỗi cách lễ, mỗi khóa lễ lại có những cách thực hành nghi lễ theo cách khác nhau với những bài kinh kệ phù hợp với mục đích thực hiện khóa lễ Tuy nhiên, dù có sự khác nhau giữa các chủ lễ, giữa các chùa, giữa các vùng nhưng luôn có sự đồng nhất, thống nhất chung nhất định Lễ cầu an cũng vậy, tuy mỗi nơi mỗi khác nhưng vẫn luôn tuân thủ thực hiện đầy đủ nghiêm trang những bước căn bản, cốt lõi của khóa lễ, thời kinh Mỗi một nghi lễ sẽ có những văn sớ riêng, tùy theo mục đích của khóa
lễ mà sẽ có thời kinh phù hợp Khi thực hiện lễ cầu an, chủ lễ có thể đọc kinh cầu an, kinh Phổ - Môn, kinh dược sư,….nhưng chủ yếu những vị chủ lễ hoặc chủ sám thường tụng kinh Phổ - Môn, kinh Dược – Sư
• Khi bước vào buổi lễ, trước hết phải chuẩn bị kỹ càng về nhang, đèn, hoa quả, mâm chay, đồ lễ,… trên bàn Phật,sau đấy chủ lễ sẽ bắt đầu đỉnh lễ Tam Bảo với toàn bộ sự cung kính kính lạy Phật pháp tăng ở khắp mười phương
• Tiếp đến là dâng hương, hương hay còn được gọi là nhang hoặc thượng hương, khói hương tỏa nghi ngút làm tăng sự trang nghiêm của ngôi chùa cũng như buổi lễ Nhà Phật cho rằng hương có thể làm tăng thiện căn của chúng sinh, đồng thời mượn khói hương để truyền đạt thông tin đến chư Phật
và chư Bồ Tát, tâm hương chính là dùng cái tâm chí thành của mình để trực tiếp đối diện với Phật Trước tiên phải đốt 3 Lần nén hương, dùng ngón giữa
và ngón trỏ của hai bàn tay kẹp lấy phần thân hương, ngón còn lại chống ở phần cuối cây nhang, đặt nhang trước ngực, đầu nhang hướng về phía tượng Phật hoặc Bồ Tát, tiếp đó đưa hương lên cao ngang mày rồi đặt về phía trước ngực, sau đó dùng tay trái phân nhang ra cắm Cây nhang đầu tiên đặt chính giữa, khi cắm trong lòng phải thầm niệm: “cúng bái mười phương thế Tam Bảo” , cây nhang thứ 2 cắm bên phải, lúc cắm thầm niệm : “cúng bái sư trưởng cha mẹ”, cây nhang cuối cùng cắm bên trái, khi cắm thầm niệm :
Trang 19“cúng bái mười phương pháp giới tất cả chúng sinh” Tuy nhiên, tùy mỗi hoàn cảnh, mỗi vị chủ lễ mà nội dung quán trưởng thầm niệm khi dâng hương khác nhau, có thể có người nén hương đầu cúng Phật, nén thứ 2 cúng pháp, nén thứ 3 bái tăng,…tất cả đều sử dụng được Sau khi cắm hương, chắp tay khấn cầu : “Nguyện rằng làn hương sẽ bay thẳng đến nơi chư Phật cư ngụ, cầu đại từ bi, ban niềm vui cho chúng sinh” hoặc xướng tụng bài “Hương kệ” [8,31]
• Sau đấy đến nghi thức thỉnh chuông mõ hay khai chuông mõ Ở trong Chùa chuông luôn luôn để bên tay trái của tượng Phật hay Bồ Tát, mõ bên tay phải Người thỉnh chuông sẽ thỉnh 6 tiếng chuông với ý nghĩa giữ cho sáu căn thanh tịnh để tụng kinh Mỗi khi người chủ lễ, chủ sám vái hoặc lạy, thỉnh 1 tiếng, khi vị chủ lễ lạy xuống, thỉnh một tiếng chuông và khi trán vị chủ lễ chạm nền chính điện thì dập chuông (dùng dùi gõ vào vành chuông rồi giữ dùi chuông lại trên vành chuông, như thế âm thanh của chuông không vang ra) Khi nghe được tiếng dập chuông thì chủ lễ và đại chúng cùng tham dự đứng lên.Tiếng chuông phát ra âm thanh lắng động, đêm khuya nghe tiếng chuông lòng chúng ta sẽ lắng động, thanh thản, phiền não dường như tiêu tan
Ở trong chùa có bài kệ khi thỉnh chuông như sau:
Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới, Thiết vi u ám tất giai văn,
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông, Nhứt thiết chúng sinh thành chính giác
Bài kệ đọc khi nghe có tiếng chuông:
Văn chung thinh phiền não khinh, Trí huệ trưởng Bồ đề sinh,
Ly Địa ngục xuất hỏa khanh Nguyện thành Phật độ chúng sinh
Án Dà Ra Đế Da Ta Bà Ha (3 lần)
Trang 20(Nghĩa là: Nguyện cho tiếng chuông này vang khắp nơi, ở Địa ngục u
ám Thiết vi cũng được nghe, ở trần thếđược thanh tịnh chứng quả, hết thảy chúng sinh đều thành chính giác và bài kệ sau: Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ đi, trí tuệ tăng trưởng thêm, sinh tâm Bồ đề, rời khỏi địa ngục, không
bị lửa địa ngục thiêu đốt, nguyện thành Phật để độ hết chúng sinh.)
Chuông thỉnh trước: thỉnh 3 tiếng chuông
Mõ gõ sau khi chuông chấm dứt: thỉnh 7 tiếng mõ (bốn tiếng rời, tiếp theo hai tiếng liền nhau, cuối cùng một tiếng rời ra)
Sau đó chuông mõ hòa nhau như sau: 1 tiếng chuông 1 tiếng mõ 1 tiếng chuông 1 tiếng mõ 1 tiếng chuông 3 tiếng mõ 1 tiếng chuông
Chuông thỉnh một tiếng rồi mõ tiếp theo một tiếng, chuông đủ ba tiếng ngưng chờ, mõ đánh thêm tiếng thứ tư, tiếng thứ năm và sáu liền nhau, rồi chuông dập cùng lúc với tiếng mõ thứ bảy
• Chủ lễ tụng bài tán Phật với ý nguyện xưng dương công đức của Phật, tán thân tướng tốt của Phật, xưng dương các thứ mỹ đức của Phật, tán thán các thứ diệu hạnh của Phật Như trong kinh có ghi “Bấy giờ vua Ba Tư Nặc thỉnh Phật và Tăng chúng vào cung thọ trai Khi ấy có một thầy Tỷ kheo, miệng thở ra thơm như hoa sen Vua sinh tâm nghi hoặc, sợ quyến rũ người trong cung, vua sai bảo thầy Tỷ kheo súc miệng, thầy Tỷ kheo càng xúc miệng càng thơm Vua thân hành đến thưa Phật, Phật xác chứng rằng: Trong
vô lượng kiếp về trước, thầy Tỷ kheo này, thường thăng tòa tán thán về công hạnh chư Phật khắp mười phương, bởi do nhân duyên này, nay được quả báo thù thắng” Chúng ta thấy rõ nhân quả rất là tương ứng, khi ta tán thán ca ngợi công hạnh của người nào đó, bằng vào tấm lòng từ bi - hỷ - xả, thì chính trong giờ phút thực tại này, từ nơi năng lực của tự thân, phát khởi chất liệu an vui hạnh phúc, chính nhờ vào năng lực này, nó đi theo chúng ta từ đời này sang kiếp khác Đây chính là hạt giống thiện pháp, gieo vào trong tâm thức của chúng ta Do đó mỗi một lời nói, một ý nghĩ ta phải luôn luôn chính niệm
và tỉnh giác, cẩn trọng trong từng lời nói
Trang 21• Tiếp đến là 3 lần Nhất tâm đỉnh lễ với kinh Phổ Môn hoặc 9 lần nhất tâm đỉnh lễ với kinh Dược Sư - một lòng, với thân, khẩu, ý thanh tịnh con xin cúi đầu quỳ lạy Mỗi lần nhất tâm đảnh lễ như vậy xong, chủ sám đứng lên lạy 1 lạy và tất cả đại chúng đằng sau cũng như vậy, lúc đỉnh lễ 2 tay phải chắp khép lại như hoa sen búp, tuyệt đối không nên để ở giữa trống Đại Giải Thoát Kinh chép: Như hoa sen búp 2 tay chắp khép lại, vô lượng thân nhóm họp đỉnh lễ 10 phương Phật, đỉnh lễ là để đối trị ngã kiến, ngã mạn của chúng
ta, mượn hình thức bên ngoài để rèn luyện bản thân, khiến cho chúng ta tiêu trừ kiêu mạn, còn Ấn Quang Đại Sư Văn Sao chép: Cúi đầu đỉnh lễ đây cũng
là một phương pháp tốt để rèn luyện thân, như giảm béo, và giúp cho thân thể kiện khang, đây cũng chính là tác dụng phụ của việc cúi đầu đảnh lễ.Kính lễchúng ta thấy chỉ là hình thức bên ngoài nhưng hàm tàng bằng tất cả lòng thiết tha ngưỡng mộ Do vậy, khi đỉnh lễ chúng ta phải thể hiện được tinh thần đó Đây cũng là một nét đẹp trong tín ngưỡng, đỉnh lễ cũng giúp ta đưa tâm trở về với thực tại bình an, nhận diện rõ rệt được sự mầu nhiệm của sức sống nội tâm
• Trong nghi thức cầu an đầu, mong muốn một năm mới tốt đẹp hơn, yên hàn về tâm trí lẫn cơ thể, mọi chuyện thuận buồm xuôi gió Tuy nhiên không thể thiếu được phần sám hối Trong suốt năm cũ, bản thân ta đã xảy ra nhiều
va chạm trong cuộc sống để bảo vệ sinh tồn, có thể đã gây ra những sự việc đáng tiếc, không hay trong thân, khẩu , ý Sang năm mới, mình sám hối trong từng ý nghĩ, việc làm, lời nói những việc làm xấu trong năm cũ với cửa Phật, với tổ tiên, sang năm mới xin không phạm phải những lỗi cũ Mong tâm niệm thanh tịnh, cao đẹp, có những ý nghĩ tốt đẹp, nói không với ác khẩu, không nói vọng ngôn, nói những điều xấu gây chia rẽ nội bộ, chỉ nói lời chính ngữ Không sát sinh, sống hòa bình, không phạm tà dâm ngũ giới Tất cả luôn phải khắc phục những mầm mống gây họa, luôn phải phòng hộ những điều sai, không được làm những điều ác, giữ cho mình không được phạm vào 3 nghiệp
Trang 22mong năm mới không phạm phải những lỗi ấy nữa, giữ thân không làm điều xấu là đủ mà còn phải làm nhiều việc thiện thì mới trọn vẹn
• Lúc này, khói hương đã bốc nghi ngút, chủ sám sẽ vào bài “Hương tán” hoặc “Hương kệ” để nói đến hình dạng của khói hương giống như những đám mây Trong kinh Phật, “Trong số các loại hương thì hương vân có uy thần nhất”, nhà Phật luôn cho rẳng hương chính là biểu tượng thành kính nhất của tín đồ trước Chư Phật và Bồ Tát, thông qua việc đốt hương mà đạt đến cảnh giới “Chư Phật hiện toàn thân” Tiếp sẽ tụng những bài chân ngôn, thần chú làm sạch nghiệp, an thổ địa, phả cúng dàng, … ngoài ra riêng với kinh Phổ Môn còn tụng thêm chân ngôn như là “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại Đại
Bi Tâm Đà La Ni”, “Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni”, “Tiêu tai cát tường thần chú”,…
• Khi bắt đầu vào Kệ khai kinh, dù là kinh Phổ Môn hay kinh Dược Sư trước khi vào bài kinh đều phải có câu dẫn
“Pháp Phật cao sâu rất nhiệm màu
Muôn đời khó gặp dễ hay đâu
Con nay nghe thấy được trì thụ
Chân nghĩa Như Lai nguyện hiểu sâu
Nam mô Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật.” [9,67]
Lặp lại liên tục 3 lần với thỉnh 3 chuông ở cuối mỗi bài dẫn Sau đó vị chủ sám sẽ tụng bài kinh phù hợp với buổi lễ, ví như kinh Phổ Môn thì tụng
“Kinh Diệu Pháp Liên Hoa” phẩm “Phổ Môn Quán Thế Âm Bồ Tát” , kinh Dược Sư thì tụng bài kinh nói về công đức bản nguyện của Đức Dược Sư Lưu
Ly Quang Như Lai
• Một phần quan trọng trong thời kinh đó là tụng kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, bản kinh này do Đức Thế Tôn nói mà điều đẩu tiên Ngài nói đến vị
Bồ tát Quán tự tại tức Quán Thế âm rằng Bồ tát do hành trì một cách thâm sâu phép Bát nhã Ba la mật mà thấy chân tướng của các pháp và đạt được vị quả
bồ đề và các chư Phật ba đời đều nương vào pháp Bát nhã Ba la mật đa để đạt
Trang 23đến giải thoát và giác ngộ tức chứng được quả vô thượng bồ để và khuyên mọi người con Phật hãy mau mau tu chứng vì kinh và chú Bát nhã rất là diệu dụng cứu cánh, giúp người tu hành mau lên bờ giác.Có tụng Bát Nhã Tâm Kinh mới mở lối cho ta sám hối những ác nghiệp trước kia, mới có đủ duyên
để hồi hướng về chư Thiện Thánh hiền, Già lam Hộ pháp, Long thiên và cho mọi chúng sinh trong tất cả các cõi
• Tiếp theo là niệm những kệ niệm phù hợp theo từng bài kinh, đối với kinh Phổ Môn thì là “Kệ niệm Bồ Tát Quán Âm” , kinh Dược Sư là “Kệ niệm Phật” Niệm Phật chính là con đường nhanh nhất để thoát khỏi vòng luân hồi đau khổ của cõi Ta Bà, do đó, phương pháp tu tập này trở thành một trường phái phổ biến nhất trong Phật giáo hiện đại
• Sau cùng tất cả, chủ sám cùng toàn thể đại chúng sẽ tụng bài kệ hồi hướng - có nghĩa là gom về, là một phương pháp đem công đức niệm Phật, niệm kinh gom về một nơi Gom về việc cầu sinh về Tây Phương Cực Lạc thế giới Vì thế, người học Phật phải nên đem hết công đức hồi hướng vãng sinh Tây Phương thì lúc lâm chung mới có hy vọng được sinh về Tây Phương Cực Lạc thế giới Nhưng niệm bài kệ Hồi Hướng cũng giống như niệm Phật từng câu phát xuất từ nội tâm, chẳng thể niệm xuông nơi cửa miệng được
• Phần sau là Tam tự quy và xin lạy Chư Thánh Hiền Chúng sinh xin được quy Phật với mong cầu thấu hiểu đạo lớn, phát tâm vô thượng, quy Pháp với mong cầu thông thuộc Kinh Tạng, trí tuệ như biển và cuối xin được quy Tăng với mong cầu chúng sinh được hòa hợp đại chúng Lạy Chư Thánh Hiền không phải điều gì xa lạ với chúng ta, thậm chí đã trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của những người Phật tử,ta tin Phật, ta cảm mến ân đức
vô lượng của ngài đối với chúng ta, cảm mến trí tuệ tuyệt vời và công đức vô biên của ngài, mà hằng ngày gần gũi tôn tượng của ngài để lễ lạy và xưng tán,
để tụng đọc kinh văn, làm cho những lời dạy có giá trị vượt thoát thời gian của Chư Thánh Hiền thấm sâu vào từng tế bào của cơ thể làm nên sự sống
Trang 24• Mỗi một người, một gia đình tín chủ khi đăng ký lễ cầu an đều được chùa viết cho một tấm lá sớ cầu an với văn cầu an , cầu tiêu tai ương, nghiệp chướng, giảm hết phiền não, tăng tuổi thọ ,… ngoài ra nếu chùa tụng kinh Dược Sư thì lá sớ cầu an sẽ được thay bằng văn cầu an đảo bệnh với mong cầu bách bệnh tiêu tán, tự tại an tâm,…
• Sau cùng, kết thúc một khóa lễ được trọn vẹn, các thầy trưởng hoặc vị chủ lễ sẽ đọc bài tuyên biểu như một lần nữa nhấn mạnh lời thỉnh cầu của chúng sinh đến với Đức Phật, cầu mong cho được sở nguyện ý cầu, khấn xin Đức Phật cứu độ chúng sinh
Khi tham lễ cầu an mọi người sẽ được sống với những phút giây chính niệm, quán tưởng làm theo những lời răn dạy của Phật,trong giây phút ấy bản thân mỗi người từ suy nghĩ đến hành động đều một mực giữ gìn, không tạo những điều xấu, ác để một năm mới được bình an Biết sống theo lời Đức Phật dạy chính là đang gieo cái nhân bình an cho cuộc đời chúng ta Đã gieo trồng bình an như thế thì cây phước đức của ta sẽ ngày một lớn mạnh hơn
c Những điều cần lưu ý khi hành lễ
Trong khi thực hiện nghi lễ có những điều căn bản cần lưu ý đó là cung cách hành lễ và âm điệu của buổi lễ Phật giáo luôn có chủ trương tĩnh lặng,
tư duy và chuyển hóa lắng dừng các tư tưởng loạn động, để tập trung vào một cảnh giới, một đối tượng để chuyển hóa ác nghiệp thành thiện nghiệp, để đạt tới giác ngộ và giải thoát
*Âm điệu của buổi lễ cầu an
Để buổi lễ đạt kết quả cao nhất thì âm điệu của buổi lễ phải trầm hùng, tha thiết và thành khẩn Âm thanh của pháp khí phải dược điều hòa trầm bổng
để tăng phần trang nghiêm và linh cảm trong buổi lễ cần phải có những pháp khí để làm phương tiện hỗ trợ trong các buổi lễ như chuông và mõ Khi nghe được tiếng chuông, mọi người sẽ cảm thấy tinh thần được an lạc, thư thái vì
Trang 25chuông có năng lực làm cho người sống được an yên, người khuất được siêu thoát Tiếng chuông cảnh tình luôn thong thả đều đặn, trầm ấm, nếu tiếng chuông dồn dập làm tâm loạn thì nhất định đấy không phải tiếng chuông chùa Ngoài ra, khi tiếng kinh được hòa theo tiếng mõ, sâu sắc, trầm lắng , đại chúng sẽ lắng dừng được các si mê vọng tưởng, mở rộng đôi mắt tuệ nhìn thẳng vào nội tâm của mình để chuyển ác nghiệp thành chất thiện nghiệp, để biến khổ đau thành an lạc, biến thế gian này thành Niết bàn
Ngoài những âm điệu của pháp khí, Phật giáo còn rất coi trọng thanh giọng của đạo tràng Thanh giọng chính của việc tụng kinh là thanh giọng trầm Trong cách hành trì, truyền thống Tịnh độ tong, Mật tông và Thiền tông đều đã triển khai các phong cách tán tụng và hình thành lên một nền lễ nhạc Phật giáo phong phú Căn bản của các điệu tán tụng vẫn là lấy thanh âm trầm
ấm làm âm thanh căn bản và nhịp điệu đều đặn theo nhịp của tim và của hơi thở trong mục đích an tâm Thỉnh thoảng cũng có khi vị chủ sám xướng giọng cao nhưng việc đó chỉ là để gia tăng sự hùng lực của buổi lễ Khi lên cao cũng không đến mức là động tâm hay loạn tưởng Tựu chung lại có một làn điệu căn bản trong các cách tán của Phật giáo Việt Nam đó chính là làn hơi trầm ấm nhịp nhàng với âm điệu giải thoát, khiến người nghe tỉnh ngộ, phát tâm hướng thiện
* Cung cách hành lễ
Để lời nguyện cầu của chúng ta có thể truyền tải được đến Đức Phật thì cần phải chú ý rất nhiều trong cung cách hành lễ, cần bày tỏ sự thành tâm, sự tán thán, sám hối, cầu độ, qua nghi lễ truyền thống
Quý thầy đấp Pháp y vải vàng.Vì ảnh hưởng Lão giáo và Khổng giáo nên việc hành lễ để được nghiêm trang, hài hòa và có uy tín với triều đình, thần, dân, vua chúa nên dần dà được trang sức: Vị chứng minh đội nón Quan Âm
Trang 26Vị chủ sám đội nón Hiệp chưởng hoặc nón Tỳ Lư, tay cầm tích trượng tuỳ theo buổi lễ
Cư sĩ mặc áo tràng màu lam hay màu nâu tuỳ theo địa phương, một phong cách nhu nhã, thanh thảng Chúng ta nên duy trì trong các buổi lễ, tối thiểu vị chủ sám và duy na, duyệt chúng (chuông mõ) nên mặc áo tràng
Ngay khi bắt đầu và xuyên suốt nghi lễ, đại chúng đằng sau chủ lễ với tâm thế trang nghiêm, thanh tịnh thực hiện nghi lễ theo sự hướng dẫn của chủ
lễ Chủ lễ đứng phía bên chuông, quay mặt về mõ Chủ sám luôn trang nghiêm, thanh tịnh, bình tĩnh giữ chính niệm quán trưởng thích hợp qua từng đoạn kinh, kệ, chú,… Tránh thái độ vội vàng, khó chịu, bất bình, nhất là hành động bất kính và ngôn ngữ thô, lớn tiếng, ngoài cuộc lễ Khi kết thúc, chủ lễ vái tả hữu để tỏ lòng biết ơn: Long Thiên, Hộ pháp, Thiện thần, quý vị đạo tràng đã bảo vệ, hộ đàn, giúp đỡ cho buổi lễ thành tựu viên mãn
1.2.2 Đặc điểm nghi lễ cầu an của Phật giáo Đại Thừa theo kinh điển
Cầu bình an có hai khuynh hướng: Thứ nhất là cầu an hướng nội tức là quay về bên trong, mong cho tâm chúng ta được bình an Thứ hai là cầu an hướng ngoại là cầu những việc bên ngoài tâm, đó là mong cho công việc, sự nghiệp, danh vọng, đời sống vật chất của chúng ta được hanh thông tốt đẹp
Đa số các Phật tử về chùa chỉ để ý cầu an loại thứ hai là mong sao cho gia đình được hạnh phúc, con cái nên người, sự nghiệp phát triển, lên lương lên chức, danh vọng cao xa, nổi tiếng trong thiên hạ mà ít ai để ý đến loại cầu
an thứ nhất là cầu an cho tâm hồn của mình được thanh thản bình an Như vậy
vô hình chung, chúng ta đã bỏ gốc theo ngọn Chúng ta quên rằng sự bình an trong tâm hồn của con người là yếu tố cần thiết để mang lại sự bình an trong cuộc sống đời mình Phần đông, người ta mong cầu sự bình an về vật chất, thế
mà khi đạt được vật chất rồi, tâm tư của họ vẫn còn lo âu đến sự được mất,
Trang 27như vậy người đó làm gì có hạnh phúc Cầu an là tại vì tâm của chúng ta bất
an, mà tâm bất an là khổ Nhưng tại sao ta lại khổ? Đó là tại chúng ta không hiểu và không sống đúng với lời Phật dạy Phật dạy gì? Phật dạy ở đời cái gì cũng có nguyên nhân gây ra nó Khổ cũng có nguyên nhân gây ra khổ Chúng
ta không có tri kiến chân chính để nhìn cuộc đời này vốn vô thường, khổ, vô ngã, nên chúng ta khổ Vì không hiểu nên chúng ta sống không đúng với luật tương quan nhân quả, luôn tạo nhân bất thiện đến khi quả bất thiện trổ thì chúng ta than khổ
Hiện nay, rất nhiều người đang có sự lầm lẫn nghi lễ cầu an với nghi thức dâng sao giải hạn, đây là một sự lầm lẫn hết sức là nghiêm trọng bởi lẽ hai nghi lễ này hoàn toàn khác nhau và tách biệt “Giải hạn” là một khái niệm không hề có trong phật giáo đại thừa cũng như tiểu thừa từ xưa đến nay “Giải hạn” là một nghi lễ, nghi thức của đạo giáo Còn về lễ cúng sao giải hạn: Hằng năm, cứ vào dịp đầu năm Âm Lịch, nhất là tuần lễ thứ hai trong tháng Giêng mà cao điểm là ngày Rằm, người Phật tử Việt Nam và Trung Hoa thường có lệ đi chùa dâng sớ cầu an cúng sao giải hạn Lễ Rằm Tháng Giêng, còn gọi là lễ Thượng Nguyên là lễ hội dân gian ở Việt Nam, được du nhập từ nước láng giềng Trung Hoa phương Bắc Gọi thượng nguyên là cách phân chia theo Âm lịch: thượng nguyên (Rằm tháng Giêng), trung nguyên (Rằm tháng Bảy) và hạ nguyên (Rằm tháng Mười) của hệ thống lịch tính theo mặt trăng
Theo Đường Thư Lịch Chí, quyển 18 thì có chín ngôi sao phát sáng trên trời Có sách nói là bảy sao, rồi về sau có sách thêm vào hai sao La Hầu và Kế
Đô Chín vì sao đó là Nhật Diệu, Nguyệt Diệu, Hỏa Diệu, Thủy Diệu, Mộc Diệu, Kim Diệu, Thổ Diệu, La Hầu và Kế Đô Có sách thêm sao Thái Bạch nữa thành mười sao1[39] Chín vì sao này hay còn gọi là Cửu Diệu là các sao phối trí theo các phương, sắp xếp theo mười hai chi và ngũhành Theo sách
Trang 28này cho rằng hàng năm mỗi tuổi âm lịch chịu ảnh hưởng của một vì sao gọi là sao chiếu mạng.Tử vi dựa theo những chòm sao này mà cho phép luận đoán cuộc đời con người căn cứ vào sự giao cắt của các chòm sao trong lá số Tử vi Theo vòng quay của sao Thái Tuế mà mỗi người sinh ra sẽ có một vì sao chiếu mệnh tùy theo năm, mỗi năm sẽ căn cứ vào vị trí cát hung của các sao
mà luật ra số phận của người đó vào năm đó, tử vi có thể xấu hoặc có thể tốt Những ngôi sao xấu như Kế Đô hay La Hầu - sao xấu, là loại ám hư tinh vì hai sao này chẳng thấy được mặt trời, những ngôi sao này thường mang lại những điều hung, tai họa rất lớn nên người ta làm lễ cầu cúng để đề phòng bất trắc, mong tai qua nạn khỏi
Lễ cầu an và lễ cúng sao giải hạn là những nghi lễ đáp ứng nhu cầu của Phật tử nhưng lại mang ý nghĩa cũng như cách thức thực hiện hoàn toàn khác nhau Ở mục hướng dẫn cúng sao giải hạn trong cuốn Văn khấn cổ truyền Việt Nam, Thượng tọa Thích Thanh Duệ-Phó trưởng ban Nghi lễ Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã viết: Người xưa làm lễ dâng sao giải hạn tại chùa hoặc tại nhà [Thượng Tọa Thích Thanh Duệ, 2010] Ngoài hương hoa, phẩm oản, tiền vàng và 36 đồng tiền, mỗi ngôi sao phải dùng số nến (xếp theo hình sao), bài vị, mũ có màu tương ứng với ngũ hành của từng sao và lễ theo hướng khác nhau Ví dụ, sao Thái Dương cúng ngày 27, phải thắp 12 ngọn nến, hướng chính Đông làm lễ Sao Thái Âm cúng ngày 26 với 7 ngọn nến, bài vị vàng, mũ vàng, hướng chính Tây Sao Mộc Đức cúng ngày 29, với
15 ngọn nến, bài vị đỏ, mũ đỏ, hướng Nam Sao Kế Đô cúng ngày 18, với 21 ngọn nến, bài vịvàng, mũ vàng, hướng chính Tây Tuy nhiên, theo kinh sách liễu nghĩa của nhà Phật thì không có ngôi sao nào chiếu vào con người mà nhờ đó được phúc lợi hay mang tai họa và cũng không có một nghi lễ nào gọi
là cúng sao giải hạn cho Phật tử Bởi vì, tất cả họa và phước mà con người có được đều là do nhân quả của chính người ấy làm nên.Đức Phật dạy chúng ta
về nhân quả, ngài dạy rằng không có quả nào từ trên trời rơi xuống, hoặc
Trang 29dưới đất hiện lên, mà đều do các hành động qua thân, khẩu và ý của con người tạo ra Mọi sự thành công hay thất bại trong đời của mỗi người không phải do ai ban phát cho, mà do những cái nhân chúng ta tạo nên từ trước, khi nhân duyên đầy đủ thì quả thành Những nhân duyên xấu do chúng ta tạo sẽ trổ quả xấu, những nhân duyên tốt sẽ trổ quả tốt Như vậy,bên cạnh những nghi thức thuần túy Phật giáo, mục tiêu cuối cùng cũng vẫn là dùng phương tiện để hóa độ chúng sinh, từ từ chuyển tâm họ quay về bờ Giác
Còn nghi lễ cầu an lại đề cao sự giản dị, không được quá cầu kỳ, tuy nhiên thực hành nghi thức cầu an phải đúng pháp, tụng kinh, niệm Phật ở nơi có cảnh trí yên tĩnh, càng làm cho nội dung của các nghi thức trên thêm phần trang nghiêm và thể hiện lòng thành tín như nhà chùa hoặc tại gia nhưng phải
là nơi trang nghiêm nhất trong gia đình Điều quan trọng là người tham gia phải thành tâm sám hối, bỏ ác, làm lành
Nguyên nhân của sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm “cầu an đầu năm” và
“dâng sao giải hạn” ở đây chính là do sự tín trong tư tưởng của người dân cùng với nhu cầu cho cuộc sống tốt đẹp hơn, khi cuộc sống của người dân gặp khó khăn , trắc trở hay gặp một sự việc bất hạnh nào đó gây nên một sự bất an trong tâm trí không thể giải quyết được trong thế giới hiện thực họ liền tìm đến thế giới tâm linh với mong muốn có một sức mạnh vô hình siêu nhiên nào đó có thể giúp đỡ họ vượt qua khó khăn, cải thiện điều bất hạnh, hóa dữ thành lành Thuở ban đầu, mỗi khi có việc gì, nhà có đám thường thầy cúng sẽ đứng
ra làm lễ, lập đàn, cầu,cúng,… Nhưng từ khi phật giáo du nhập vào nước ta và chiếm một vị trí quan trọng trong thế giới tín ngưỡng tôn giáo của Việt Nam thì người dân ít mời thầy cúng đến nhà, thay vào đó họ thường đến chùa cầu, cúng, bất kỳ có mong nguyện ý cầu gì đều đến chùa chắp tay cầu khẩn nhà phật, thành tâm cầu mong phật “phù hộ độ trì” Khi môi trường càng bất trắc
và kết quả càng bấp bênh thì con người lại càng cần đến lễ nghi, khi lòng bất
an mà không đâu giải quyết được theo thói quen người dân tìm đến cửa Phật,
Trang 30mong nhờ Phật, tăng, sư giúp đỡ , và đến bây giờ khi đến chùa đăng ký làm
lễ, sư , tăng trong chùa thường hỏi “cầu an hay cầu siêu”, chính điều này đã dẫn đến sự thiếu hiểu biết của nhiều người dân về bản chất của hai nghi thức này mà gây nên,họ chỉ quan tâm đến bề nổi ý nghĩa của những nghi thức này dâng sao giải hạn cũng là mong cho một năm bình an , tai qua nạn khỏi và cầu
an cũng là cầu mong một năm an bình mà không hiểu đến những căn nguyên nội hàm của những nghi thức trên