+ Tại sao phải chon con đường đi cho bản thân, vì trước mắt mọi người có nhiều ngả đường, nhiều đích đến đòi hỏi mọi người phải xác định cho mình một con đường phù hợp.. Có rấ[r]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HÀ TĨNH
TRƯỜNG THPT
NGUYỄN TRUNG THIÊN
HƯỚNG DẪN CHẤM KỲ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019 - LẦN THỨ 1
m
2 - Tác giả bài viết mong muốn tuổi trẻ hãy sử dụng máy tính,
smartphone vào việc:
Hãy dùng nó như một công cụ nối liền thế giới bên ngoài
0.5
3 - Việc tác giả dẫn ra các tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế: WTO,
ASEAN, TPP nhằm mục đích:
+ Cho mọi người thấy thời đại ngày nay là thời đại hội nhập kinh
tế
+ Khuyên chúng ta mở rộng tầm nhìn, kết nối với thế giới bên ngoài
1.0
4 - Thí sinh có thể đồng ý, không đồng ý hoặc chỉ đồng ý một phần
với quan điểm “dù đường có xa vạn dặm, nhưng không đi thì chẳng khi nào đến được cả.”
- Thí sinh phải lí giải được quan điểm của mình:
+ Đồng ý: dù đường có xa vạn dặm, nhưng không đi thì chẳng khi nào đến được cả, vì cuộc sống có muôn vàn khó khăn trở ngại, như đường xa vạn dặm, nhưng không phải vì thế mà ta
buông xuôi bỏ mặc Mọi người phải có hành động cụ thể, phải giải quyết từ việc nhỏ nhất, vì việc nhỏ không làm thì cũng chẳng bao giờ xong.Khi đã có đường đi thì đích đến sẽ mở ra
+ Không đồng ý: dù đường có xa vạn dặm, nhưng không đi thì chẳng khi nào đến được cả, vì thấy cuộc sống quá khó khăn, nên
phó mặc cho số phận
+ Đồng ý một phần nào đó (thí sinh có lí giải hợp lí được chấp nhận)
1.0
1 NLXH một đoạn văn (khoảng 200 chữ) nói về con đường mà bản Từ nội dung đã trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết
thân sẽ lựa chọn trong tương lai
2.0
b Xác định đúng vấn đề nghị luận: Lựa chọn con đường đi phù hợp
Trang 2c Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn: Vận dụng tốt các thao tác
lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng Có thể viết đoạn văn theo định hướng sau:
- Giải thích: Con đường là hình ảnh ẩn dụ muốn chỉ công việc,
hướng đi mà bản thân sẽ chọn trong tương lai
- Bàn luận:
+ Tại sao phải chon con đường đi cho bản thân, vì trước mắt mọi
người có nhiều ngả đường, nhiều đích đến đòi hỏi mọi người phải xác định cho mình một con đường phù hợp Có rất nhiều “ngả đường đi đến tương lai”, nhưng không phải ngả nào cũng là “con đường đúng” Cuộc sống là những lựa chọn, nó mở ra cho ta rất nhiều lối đi nhưng vấn đề là phải chọn được lối đi phù hợp nhất, hiệu quả nhất
+ Nếu chọn được con đường phù hợp với năng lực bản thân, phù hợp với nhu cầu xã hội thì sẽ có sự thành công trong cuộc sống
“Con đường đúng” không hẳn là con đường dễ dàng, trải đầy hoa hồng Con đường ấy có thể xa xôi, đầy chông gai thử thách Người bước trên con đường ấy phải đổ mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu của mình để đi được đến đích cuối cùng Tuy nhiên,
đó là con đường tốt nhất, phù hợp nhất với ta, con đường đưa ta tới thành công, thực hiện ước mơ và lí tưởng, hoài bão
+ Nếu chọn hướng đi sai sẽ dễ dẫn đến thất bại, từ sinh ra chán nản, bỏ cuộc, thậm chí sa vào các tai tệ nạn xã hội
+ Làm thế nào để chọn “con đường đúng” ? Xác định được một mục tiêu rõ ràng là yếu tố đầu tiên giúp bạn lựa chọn được đúng con đường cần đi
Hiểu rõ về năng lực bản thân, về hoàn cảnh hiện tại của gia đình, của xã hội thời đại để quyết định lựa chọn con đường phù hợp và có tính khả thi
- Bài học: Phải biết lựa chọn cho mình một con đường phù hợp, sát thực tế, tránh ảo tưởng
1.0
d Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề
nghị luận
0.25
e Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp,
ngữ nghĩa tiếng Việt
0,25
2
NLVH Anh/chị hãy phân tích vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của con
sông Đà, từ đó làm nổi bật góc độ nhìn, cách nhìn của nhà
5.0
Trang 3văn về hình tượng này
a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân
bài và kết bài (Mở bài nêu được vấn đề; thân bài triển khai được vấn đề gồm các ý, đoạn văn và kết bài kết luận được vấn đề)
0.25
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Phân tích vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của con sông Đà, từ đó làm nổi bật góc độ nhìn, cách nhìn của nhà văn
0.25
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt
các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng;
diễn đạt trôi chảy, có cảm xúc, lập luận chặt chẽ có sức thuyết phục; biết cách chọn và phân tích dẫn chứng để làm rõ được vấn
đề
- Giới thiệu khái quát các tác giả, tác phẩm; vấn đề cần nghị luận 0.5
1, Phân tích vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của con sông Đà
a, Con sông đà hung bạo:
Con sông Đà hũng vĩ, hung bạo được tác giả khắc họa theo trình
tự không gian, bằng nhiều chi tiết đặc sắc
- Cảnh “đá bờ sông dựng vách thành”: mặt sông chỗ ấy chỉ lúc
“đúng ngọ” (lúc giữa trưa) mới có mặt trời Có vách đá chẹt lòng sông “như một cái yết hầu”, có quãng con nai, con hổ có lần vọt
từ bờ này sang bờ kia Vì lòng sông hẹp, bờ sông là vách đá cao,
nên ngồi trong khoang đò ở quãng sông ấy “đang mùa hè mà cũng thấy lạnh.”
- Sự hùng vĩ, hung bạo của Sông Đà còn thể hiện ở quãng mặt
ghềnh Hát Loóng với hàng cây số “nước xô đá, đá xô sóng, sóng
xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm” Đây là nơi nguy
hiểm, người lái đò nào đi qua khúc sông này mà không thận trọng
tay lái thì “dễ lật ngửa bụng thuyền ra”
- Các “hút nước” trên sông: Đó là những xoáy nước khổng lồ, được tác giả so sánh “giống như cái giếng bê tông thả xuống sông
để chuẩn bị làm móng cầu” Nước ở đây “thở và kêu như của cống cái bị sặc nghe ặc ặc như rót dầu sôi” Tác giả tưởng
tượng: có người quay phim táo tợn, ngồi trên chiếc thuyền thúng, rồi cho cả thuyền, cả người, cả máy hút xuống đáy xoáy nước Sông Đà, từ ở dưới chếch ngược ông kính lên mà quay sẽ có những thước phim ấn tượng, gây cảm giác sợ hãi cho người xem
Đây là nơi rất nguy hiểm, sẵn sàng nuốt chửng con thuyền nào
dám khinh suất tiến vào
- Thác Sông Đà: Tác giả cảm nhận sự hung bạo bằng âm thanh
3.0
1.25
Trang 4dữ dội, nhiều thái cực của nó: Còn xa lắm mới đến cái thác dưới
mà đã nghe thấy tiếng nước “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, so sánh độc đáo: tiếng nước thác nghe như là “oán trách”, như là
“van xin”, như là “khiêu khích”, rồi rống lên “như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa.” Một lối so sánh đậm chất Nguyễn
Tuân
- Thạch trận sông Đà: Mỗi hòn đá mang một dáng vẻ, mỗi sở thích, tính cách riêng nhưng mặt hòn đá nào trong cũng “ngỗ ngược… nhăn nhúm, méo mó” Sông Đà hình như đã giao nhiệm
vụ cho mỗi hòn đá và bày ra “thạch trận” để gây khó khăn, nguy hiểm cho những con thuyền “Thạch trận” Sông Đà có ba vòng vây Vòng thứ nhất, thác Sông Đà mở ra “năm cửa trận”, có bốn
“cửa tử”, một “cửa sinh” nằm lập lờ ở phía tả ngạn Vòng thứ hai, Sông Đà lại “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền”, cũng chỉ có một “cửa sinh” nhưng lại bố trí lệch qua
phía bờ hữu ngạn Đến vòng thứ ba, ít cửa hơn nhưng bên phải,
bên trái đều là “luồng chết” cả, cái “luồng sống” ở ngay giữa bọn
đá hậu vệ của con thác Đá còn biết khiêu khích, nghênh chiến
“một hòn ấy trông nghiêng thì i như là đang hất hàm hỏi ”
=> Sông Đà quả thực đã trở thành một loài thủy quái khổng lồ với tâm địa độc ác Với đặc điểm này, trong cái nhìn của tác giả,
Sông Đà có nhiều lúc đã trở thành “kẻ thù số một” của con người
b Con sông Đà trữ tình, thơ mộng
- Hình dáng con sông Đà: Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của Sông Đà
được tác giả quan sát và miêu tả ở nhiều góc độ, điểm nhìn, không gian và thời gian khác nhau Quan sát từ trên cao, Sông Đà
có dòng chảy uốn lượn, con sông như mái tóc người thiếu nữ Tây
Bắc kiều diễm Sông Đà “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”
- Nước Sông Đà biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp
riêng: mùa xuân “dòng xanh ngọc bích”, mùa thu “lừ lừ chín đỏ”
Những chi tiết miêu tả của tác giả gợi lên một liên tưởng thú vị: giữa khung cảnh ngày xuân thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc, Sông Đà hiện lên như một mĩ nhân tràn đầy xuân sắc
- Sông Đà có vẻ đẹp nên thơ Nhà văn xem sông Đà “như một cố
nhân” Nhìn mặt nước Sông Đà thấy “loang loáng như như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy” Đó là “màu nắng tháng ba Đường thi”, trong câu thơ nổi tiếng của Lí Bạch:
“Yên hoa tam nguyệt há Dương châu” Tác giả cũng nhận ra nỗi vấn vương của “một người tình chưa quen biết” trong thơ Tản
1.25
Trang 5Đà: “Dãi sông Đà bọt nước lênh bênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình”
- Sông Đà mang trong mình vẻ đẹp tĩnh lặng, nguyên sơ: “Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi.” “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử như nỗi niềm cổ tích tuổi xưa.”
- Tiềm năng của sông Đà, nhà văn hình dung có đoàn tàu lên Tây Bắc với tiếng còi xúp - lê làm giật mình những con hươu đang cúi đầu ngốn những búp cỏ gianh đẫm sương đêm
=> Sông Đà như một bài thơ trữ tình của Đất nước, dưới góc độ
này sông Đà là cố nhân của người dân Tây Bắc
c, Đánh giá:
- Qua hình tượng sông Đà, nhà văn thể hiện tình cảm yêu mến tha thiết và say mê đối với thiên nhiên đất nước
- Tác giả đã miêu tả Sông Đà bằng những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị
- Từ ngữ trong bài tùy bút thật phong phú, sống động, giàu hình ảnh, giàu chất thơ và có sức gợi cảm cao
- Câu văn của tác giả rất đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì chậm rãi, trữ tình Con Sông Đà vô tri, dưới ngòi bút của nhà văn đã trở thành một sinh thể có tâm hồn, tâm trạng
2 Góc độ nhìn, cách nhìn của nhà văn về hình tượng:
- Nguyễn Tuân tiếp cận đối tượng ở phương diện văn hóa, thẩm
mĩ để khám phá, phát hiện, khen hay chê.Nhìn đối tượng ở nhiều chiều để thấy được vẻ đẹp toàn diện của nó
- Nhà văn vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật
để quan sát hiện thực, sáng tạo hình tượng
- Nguyễn Tuân tô đậm cái phi thường xuất chúng, gây cảm giác mãnh liệt: dữ dội thì phải đến mức khủng khiếp, đẹp thì phải đến mức tuyệt vời
0.5
0.5
d Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc,
mới mẻ về vấn đề nghị luận; biết cắt nghĩa, lí giải để làm nổi bật, sâu sắc vấn đề cần nghị luận
0.25
e Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo yêu cầu, không mắc lỗi 0.25
Trang 6ĐIỂM TOÀN BÀI THI: PHẦN I+II= 10,00 điểm