39 Ý muốn của đấng phái tôi đến là tôi không được đánh mất một ai trong số những người mà ngài đã ban cho tôi, nhưng tôi phải làm họ sống lại trong ngày sau cùng.. 40 Vì ý muốn của C[r]
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MỘT SỐ TÁC GIẢ
VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY
(TÍN CHỈ TỰ CHỌN TỰ DO)
Người soạn: Nguyễn Thành Trung Mail: thanhtrungdhsp@yahoo.com; trungnt@hcmup.edu.vn
1 TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TÁC PHẨM
_Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân… (2001).Văn học Phương Tây HN: GD
_Phương Lựu, Trần Đình Sử… (2006) Lý luận văn học HN:GD
_(1986) Kinh Thánh Trịnh Văn Căn (dịch) HN: Toà Tổng giám mục Hà Nội
2 NỘI DUNG CHÍNH
BÀI MỘT- VẤN ĐỀ THỂ LOẠI TRONG PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VĂN HỌC
1 Tiểu thuyết
_Lý luận Văn học (Phương Lựu)
Cần nắm các khái niệm
+Cốt truyện, kết cấu, cấu trúc, bố cục
+Hình tượng, biểu tượng
2 Thơ
_Nhân vật trữ tình
Đó là người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm, không có dáng hình trực tiếp nhưng được bộc lộ qua giọng điệu, cảm xúc, cách cảm, cách nghĩ
Cần phân biệt nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình
Độ khái quát tình cảm của nhân vật trữ tình sẽ quyết định tính phổ quát của bài thơ
_Phân loại
Trong trữ tình, ngoài thơ còn có tùy bút, văn xuôi, ca trù, từ khúc…
Trong thơ trữ tình có thể chia theo kiểu truyền thống gồm: bi ca (elegy), tụng
ca (ode), thơ trào phúng, thơ sonnet,… Ngày nay người ta phân biệt dựa vào đối tượng thành các dạng như: trữ tình tâm tình, trự tình phong cảnh, trữ tình thế sự, trữ tình công dân… Cần ý thức rằng những sự phân chia này mang giá trị tương đối
_Ngôn ngữ
+Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh (imagery)
Đây là những hình ảnh cụ thể (concrete) để biểu đạt những chủ đề có thể trừu tượng hoặc phức tạp
Trang 2Hình ảnh thơ đóng vai trò quan trọng đến một mức độ nào đó sẽ thành biểu tượng Có thể là biểu tượng phổ quát (conventional symbol) hay biểu tượng cá nhân (private symbol)
+Ngôn ngữ thơ mang cảm xúc
Tính trực tiếp của cảm xúc
Sự nâng bậc cảm xúc bằng các phương tiện biểu hiện như tu từ: so sánh (simile), ẩn dụ (metaphor)…
+Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính
Thể hiện ở sự cân đối, trầm bổng và trùng điệp
Ở điểm này thơ Việt dùng đặc trưng thanh điệu của mình để biểu hiện tính trầm bổng, dùng đối sánh và tái lặp để mang đến tính cân đối và trùng điệp
Cần phải đề cập đến tính thơ Anh Mỹ- do có tính chất trọng âm xác định nên
hệ thống thơ được cấu trúc theo cách khác
Trước hết cần xét đến nhịp thơ (scansion) đó là việc quan tâm đến các âm tiết (syllable) có dấu ấn (stressed syllables) và không có dấu nhấn (unstressed syllables), được tuần ký hiệu bằng (′) và (˘); căn cứ vào đây thì mỗi dòng thơ được chia thành các bộ (feet):
Thĕ-woóds¦-ăre-lóve¦-lў,-dárk¦-ănd-deép
Có bốn dạng bộ (nhịp thơ) sau:
1 Iambus, hay iambic foot: có cấu trúc (˘′)
Thĕ cúr¦fĕw tólls¦thĕ knéll¦ŏf pár¦tĭng dáy
2 Anapest, hay anapestic foot: cá cấu trúc (˘˘′)
Ănd thĕ sheén¦ŏf theĭr spéars¦wăs lĭke stárs¦ŏn thĕ seá
3 Trochee, hay trochaic foot: có cấu trúc ('˘)
Thére thĕy¦áre, mў¦fíftў¦mén ănd¦wómĕn
4 Dactyl, hay dactylic foot: có cấu trúc (′˘˘)
Júst fŏr ă¦hándfŭl ŏf¦sílvĕr hě¦léft ŭs
Căn cứ số lượng các bộ thơ, có thể chia thành các loại thơ từ độc vận đến lục vận (monometer, dimeter, trimeter, tetrameter, pentameter, hexameter)
Ví dụ: ngũ vận iambic: "Thĕ cúr¦ fĕw tólls¦thĕ knéll¦ŏf pár¦tĭng dáy" (Câu đầu trong bài "Elegy Written in a Country Church Yard" của Thomas Gray (1751)
Ngoài ra hiển nhiên vần (rhyme) cũng có vai trò quan trọng trong thơ
Có thể chia thành vần bản chất (Internal rhyme) và vần thị giác (Eye rhyme) Vần bản chất là sự trùng âm, điệp âm- alliteration- trùng phụ âm đầu của từ trong cùng một dòng ("round and round the rugged rock the ragged rascal ran), nếu trùng vần thì gọi là assonance ("Thou foster child of silence and slow time") Vần chủ yếu được chỉ định ở phần cuối của câu (end rhyme) Vần thị giác chỉ có sự giống nhau về ký tự nhưng phát âm khác nhau: "Kubla Khan" của Samuel Taylor Coleridge (1816):
Then reached the caverns measureless to man,
Trang 3And sank in tumult to a lifeless ocean:
And 'mid this tumult Kubla heard from far
Ancestral voices prophesying war!
_Tổ chức
+Đề thơ
+Dòng thơ và câu thơ
+Khổ thơ và đoạn thơ (stanza)
Tùy số lượng dòng mà chia thành: couplets (2), tercets (3), quatrains (4)
Trường hợp đặc biệt, nhà thơ dùng biểu hiện thị giác (visual dimension) để tăng cảm xúc thơ, đây là những lối cắt dòng đặc biệt trên nhiều cấp độ: ký tự,
âm, chữ, ngữ, câu,…
3 Truyện ngắn
4 Kịch
4.1 Tính chất chung
_Một trong ba loại chính của văn học: cơ sở của vở diễn, lịch sử lâu đời
_Kịch tính: xung đột kịch, diễn biến giai đoạn
_Thời gian tương ứng với người xem
_Ngôn ngữ kết hợp trần thuật và biểu hiện
4.2 Đặc điểm
_Kịch đương đại tiếp thu nhiều yếu tố tiểu thuyết: lắp ráp, đảo lộn thời gian… _Khuynh hướng chung là tiến cận đời sống, gián cách lạ hóa, kết hợp thể loại
BÀI 2- MỘT VÀI TÁC GIẢ, TÁC PHẨM NỔI BẬT
1.Tự sự
1.1 Ứng dụng lý thuyết văn học vào tiếp cận Kinh Thánh (GV thuyết giảng)
1.1.1 Khảo sát Gn 6,22-71
1.1.2 Câu hỏi
_Kinh sách của Thiên Chúa giáo gồm những quyển nào?
_NỘI DUNG CHÍNH CỦA NHỮNG QUYỂN ẤY LÀ GÌ?
_Jesus là gì trong Do Thái giáo, Hồi giáo và Thiên Chúa giáo?
_SO SÁNH DO THÁI GIÁO, THIÊN CHÚA GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO, ANH GIÁO VÀ TIN LÀNH
_Tin mừng là gì? Tin mừng Thánh John là gì?
_Nội dung chương 6 Tin mừng John là gì?
_Anh/chị hãy phân bố cục chương 6 và hình thành cấu trúc chung của chương này
_Thời gian trần thuật chương 6 kéo dài trong bao nhiêu ngày?
_So sánh phương pháp giáo dục của Thích Ca và Jesus
1.2 Chất hài trong một số nền văn học phương Tây (Gv Thuyết giảng)
Trang 41.2.1 Ôn lại nội dung các tác phẩm có liên quan
_Gargantua và Pantagruel (Rabelaire)
_Lão hà tiện (Molier)
_Don quichote (Cervantes)
_A Christmas Carol (Charles Dickens)
_Rip Van Winkle (W.Irving)
1.2.2 Đọc nội dung giáo trình Văn học Phương Tây có liên quan
1.3 Eudipe (làm vua) và A xà thế (GV thuyết giảng, sinh viên trả lời cầu hỏi)
_Theo anh chị định mệnh là gì?
_Trình bày và phân loại khái niệm cốt truyện
_Lập bảng so sánh cốt truyện hai câu chuyện trên
_Yếu tố văn hóa ảnh hưởng như thế nào đến hai cốt truyện trên?
2.Phân tích thơ hiện đại (SV thuyết trình)
2.1 Robert Hayden, Those Winter Sundays
Sundays too my father got up early
And put his clothes on in the blueback cold,
then with cracked hands that ached
from labor in the weekday weather made
banked fires blaze No one ever thanked him
I'd wake and hear the cold splintering, breaking
When the rooms were warm, he'd call,
and slowly I would rise and dress,
fearing the chronic angers of that house,
Speaking indifferently to him,
who had driven out the cold
and polished my good shoes as well
What did I know, what did I know
of love's austere and lonely offices?
2.2 William Carlos Williams, The Red Wheelbarrow
so much depends
upon
a red wheel
barrow
glazed with rain
water
beside the white
chickens
2.3 Câu hỏi
_Thử dịch nghĩa những bài thơ trên
_Phân tích lớp ngôn ngữ thơ
_Những hình tượng nổi bật nào thể hiện trong các bài thơ?
Trang 5_Chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các bài thơ trên
_Những ý nghĩa cơ bản nào có thể được rút ra thông qua phân tích các bài thơ trên?
_Thử liên hệ ý tưởng, hình thức văn bản thơ trên với Kim Cương Kinh
3 Truyện ngắn
3.1.Khảo sát Cinderella (Giảng viên thuyết giảng)
3.1.1 Câu hỏi
_Ai là tác giả câu chuyện Cinderella?
_Tóm tắt câu chuyện Cinderella
_Đặc điểm nào của cổ tích thể hiện qua câu chuyện này?
_Thử kể một số cốt truyện tương tự mà anh/chị biết
_Rút ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa các câu chuyện? Lý giải trên cơ sở văn hóa, xã hội
_Chủ đề câu chuyện là gì?
_Phân đoạn như thế nào? Vì sao?
_NHỮNG THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT GÌ ĐƯỢC SỬ DỤNG?
BÀI HỌC ĐẠO ĐỨC LÀ GÌ?
_Vì sao truyện Tấm Cám của VN có thêm đoạn về cung vua?
_Tên gọi của các nhân vật chính có gì đáng lưu ý?
_Câu chuyện Tấm Cám có gì mâu thuẫn không?
4 Truyện ngắn Cừu đen – Italo Calvino (Sinh viên thuyết trình)
_Hoàn cảnh thời đại, cuộc đời có ảnh hưởng gì đến tác phẩm này?
_Phân tích câu chuyện theo sơ đồ cốt truyện 05 phần
_Đối sánh logic khởi nguyên luận của truyện ngắn này với Phật giáo (tham khảo: Kinh Khởi thế nhân bổn)
_Nhân vật người đàn ông gợi cho quý thầy cô hình ảnh nhân vật nào trong kinh điển Phật giáo, hãy so sánh hai hình tượng đó
5 Truyện ngắn Thánh Đường – Raymond Carver (Sinh viên thuyết trình)
_Phân tích biểu tượng nghệ thuật Thánh đường
_Làm rõ nghệ thuật tự sự của truyện ngắn này
_Liên hệ tác phẩm Thánh đường đến một nội dung, hình ảnh trong kinh
điển Phật giáo
6 Tiểu luận cuối khóa: sinh viên chọn 1 trong các đề tài sau
_Đối sánh phương pháp giáo dục của Thích Ca và Jesus trên tinh thần khoa học giáo dục
_So sánh về mặt văn học nghệ thuật ý nghĩa câu chuyện học mà không tin, không hành của môn đồ Jesus (Gn 6,22-71) và Anan (Kinh Lăng Nghiêm) _Nhìn nhân vật Rip VanWinkle dưới ánh sáng Phật giáo (tự giới hạn luận điểm, kinh điển)
Trang 6_Bài học thiên nhiên dành cho Santiago (Ông già và biển cả - Hemingway)
nhìn từ ý nghĩa Phương tiện trong Pháp hoa Kinh
_Phân tích một tác phẩm văn học phương Tây tự chọn dưới góc nhìn Phật giáo (tự giới hạn luận điểm, kinh điển) [Với đề tài này, học viên cần thông qua đề tài với giảng viên trước khi làm để tránh không phù hợp]
3 ĐÁNH GIÁ
Chuyên cần Thuyết trình Tiểu luận
4 VĂN BẢN TÁC PHẨM
GN 6,22-71
Hôm sau, đoàn dân còn ở bờ bên kia nhìn thấy nơi đó chỉ có một chiếc thuyền nhỏ, họ cũng không thấy Chúa Giê-su lên thuyền với các môn đồ, nhưng chỉ có các môn đồ đi mà thôi 23 Tuy nhiên, có những chiếc thuyền từ Ti-bê-ri-át cập bến gần nơi mà Chúa đã cho họ ăn bánh sau khi ngài tạ ơn 24
Vì đoàn dân không thấy Chúa Giê-su cũng chẳng thấy các môn đồ ở đó nên họ lên những chiếc thuyền ấy và đến Ca-bê-na-um tìm ngài
25 Khi tìm thấy ngài bên kia biển, họ hỏi: “Thưa Thầy, Thầy đến đây khi nào?” 26 Chúa Giê-su trả lời: “Quả thật, quả thật, tôi nói với anh em, anh
em tìm tôi không phải vì đã thấy dấu lạ mà vì được ăn bánh no nê 27 Hãy làm việc, không phải vì thức ăn hay bị thối rữa, nhưng vì thức ăn tồn tại mãi và mang lại sự sống vĩnh cửu, là thức ăn mà Con Người sẽ ban cho anh em; vì đó
là đấng mà Cha, chính là Đức Chúa Trời, đã đóng dấu chấp nhận”
28 Thế là họ hỏi ngài: “Chúng tôi phải làm gì để thực thi công việc của Đức Chúa Trời?” 29 Chúa Giê-su trả lời: “Công việc của Đức Chúa Trời là anh em thể hiện đức tin nơi đấng ngài phái đến” 30 Rồi họ hỏi: “Thầy sẽ làm dấu lạ nào+ để chúng tôi thấy và tin Thầy? Thầy sẽ làm việc gì? 31 Tổ phụ chúng tôi đã ăn ma-na trong hoang mạc như có lời viết: „Ngài cho họ ăn bánh
từ trời‟”.+ 32 Chúa Giê-su bèn phán: “Quả thật, quả thật, tôi nói với anh em, Môi-se không cho anh em bánh từ trời, nhưng Cha tôi cho anh em bánh thật từ trời 33 Vì bánh của Đức Chúa Trời thì từ trời xuống và ban sự sống cho thế gian” 34 Họ bèn nói: “Thưa Chúa, xin luôn ban cho chúng tôi bánh đó”
35 Chúa Giê-su phán: “Tôi là bánh sự sống Ai đến với tôi sẽ không bao giờ đói, và ai thể hiện đức tin nơi tôi sẽ chẳng hề khát 36 Nhưng như tôi nói với anh em, anh em đã thấy tôi mà lại không tin 37 Tất cả những người mà Cha ban cho tôi sẽ đến với tôi, và tôi sẽ không bao giờ xua đuổi người đến với tôi; 38 vì tôi từ trời xuống, không phải để làm theo ý riêng mà theo ý đấng phái tôi đến 39 Ý muốn của đấng phái tôi đến là tôi không được đánh mất một ai trong số những người mà ngài đã ban cho tôi, nhưng tôi phải làm họ sống lại trong ngày sau cùng 40 Vì ý muốn của Cha tôi là ai nhận biết và thể hiện đức tin nơi Con thì có được sự sống vĩnh cửu, tôi sẽ làm người ấy sống lại trong ngày sau cùng”
Trang 741 Thế là người Do Thái bắt đầu lầm bầm về ngài vì ngài đã nói: “Tôi
là bánh từ trời xuống” 42 Họ cũng nói: “Đây chẳng phải là Giê-su con của Giô-sép mà chúng ta đều biết cả cha và mẹ ông ta sao? Sao giờ ông ta lại nói:
„Tôi từ trời xuống‟?” 43 Chúa Giê-su đáp: “Đừng lầm bầm nữa 44 Không ai
có thể đến với tôi trừ khi Cha, là đấng phái tôi, kéo người ấy đến;+ và tôi sẽ làm người ấy sống lại trong ngày sau cùng 45 Có lời viết trong sách của các nhà tiên tri rằng: „Hết thảy họ sẽ được Đức Giê-hô-va dạy dỗ‟ Ai đã nghe và học từ Cha thì đến với tôi 46 Không người nào đã thấy Cha, ngoại trừ đấng đến từ Đức Chúa Trời Đấng ấy đã thấy Cha 47 Quả thật, quả thật, tôi nói với anh em, ai tin thì nhận được sự sống vĩnh cửu
48 Tôi là bánh sự sống 49 Tổ phụ anh em đã ăn ma-na trong hoang mạc nhưng rồi họ cũng chết 50 Còn đây là bánh từ trời xuống, hầu cho bất cứ
ai cũng có thể ăn bánh ấy và không chết 51 Tôi là bánh sự sống đến từ trời Nếu ai ăn bánh này thì sẽ sống mãi mãi; và thật vậy, bánh mà tôi sẽ ban để thế gian được sống chính là thịt tôi”
52 Thế là người Do Thái bắt đầu cãi nhau: “Làm sao người này có thể cho chúng ta ăn thịt của ông ta?” 53 Chúa Giê-su bèn nói với họ: “Quả thật, quả thật, tôi nói với anh em, nếu không ăn thịt và uống huyết của Con Người thì không có sự sống trong anh em 54 Ai ăn thịt và uống huyết tôi thì có sự sống vĩnh cửu, tôi sẽ làm người ấy sống lại trong ngày sau cùng; 55 vì thịt tôi
là thức ăn thật và huyết tôi là thức uống thật 56 Ai ăn thịt và uống huyết tôi thì hợp nhất với tôi, và tôi hợp nhất với người ấy 57 Như Cha là đấng hằng sống
đã phái tôi đến và tôi nhờ Cha mà sống, cũng vậy, ai ăn thịt tôi thì sẽ nhờ tôi
mà sống 58 Đây là bánh từ trời xuống, không giống như bánh mà tổ phụ anh
em đã ăn nhưng rồi cũng chết Ai ăn bánh này sẽ sống mãi mãi” 59 Ngài nói những lời đó khi giảng dạy tại một nhà hội ở Ca-bê-na-um
60 Khi nghe những điều ấy, nhiều môn đồ ngài nói: “Lời này thật chướng tai, ai nghe cho được?” 61 Nhưng Chúa Giê-su biết các môn đồ lầm bầm về lời của ngài nên nói: “Điều đó làm anh em vấp ngã sao? 62 Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi ngài đã ở trước kia thì sao? 63 Chính thần khí ban sự sống, xác thịt chẳng ích chi Những lời tôi nói với anh em đến từ thần khí và là sự sống 64 Nhưng trong anh em có một số người không tin” Vì ngay từ đầu, Chúa Giê-su đã biết những ai không tin và ai là kẻ sẽ phản ngài
65 Ngài nói tiếp: “Đó là lý do tôi đã nói với anh em, nếu Cha không cho thì không ai có thể đến với tôi”
66 Bởi thế, nhiều môn đồ ngài đã quay lại cuộc sống trước kia, không
đi theo ngài nữa 67 Chúa Giê-su bèn nói với 12 sứ đồ: “Các anh cũng muốn
bỏ đi sao?” 68 Si-môn Phi-e-rơ đáp: “Thưa Chúa, chúng tôi sẽ theo ai? Chúa
có những lời mang lại sự sống vĩnh cửu 69 Chúng tôi đã tin và nhận biết ngài
là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời” 70 Chúa Giê-su phán: “Chẳng phải tôi đã chọn 12 người các anh sao? Nhưng một trong các anh là kẻ vu khống” 71 Ngài nói về Giu-đa con của Si-môn Ích-ca-ri-ốt, vì người này sẽ phản ngài, dù hắn là một trong 12 sứ đồ
CỪU ĐEN
Italo Calvino; Hoàng Ngọc Tuấn dịch
Trang 8Ở một miền đất nọ, mọi người đều là kẻ trộm Về đêm mọi người đều rời khỏi nhà với chùm chìa khóa cùng chiếc đèn lồng được che chắn và đi ăn trộm nhà hàng xóm Họ trở về lúc bình minh, mang theo nhiều tài sản, và thấy chính nhà họ cũng bị mất trộm Cho nên, mọi người sống rất hạnh phúc, không
ai thấy thua thiệt gì, vì lẽ rằng từng người ăn trộm người khác và người khác lại
ăn trộm người khác nữa, và cứ tiếp tục như thế đến khi kẻ trộm cuối cùng ăn trộm của kẻ đầu tiên Chuyện buôn bán ở xứ đó chắc chắn là trò bịp bợm của
kẻ mua và kẻ bán Chính phủ là một tổ chức tội phạm ăn trộm của dân và dân chúng chỉ chăm chăm ăn trộm của chính phủ Vì vậy, cuộc sống thật dễ chịu, chẳng ai giàu và chẳng ai nghèo Một ngày, không hiểu sao lại có một người đàn ông lương thiện đến chốn này Đêm tới, thay cho việc ra đi vác theo bao bố
và đèn lồng, anh ta ngồi ở nhà hút thuốc lá và đọc tiểu thuyết Những tên trộm đến, chúng thấy đèn sáng và không vào nhà Tình trạng này diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn: sau đó họ đành phải giải thích cho anh ta rằng ngay cả nếu anh muốn sống không làm việc thì cũng có lý do gì ngăn cản công việc người khác Mỗi đêm, anh ở nhà thì y rằng hôm sau một gia đình nào đó chẳng
có gì để ăn Người đàn ông lương thiện khó có thể phản đối lý lẽ trên Anh ra đi vào đêm tối và sáng hôm sau quay về giống như họ, nhưng anh ta không ăn trộm Anh ta vẫn lương thiện và bạn không thể làm gì để thay đổi căn tính đó Anh ta đi cho đến tận cây cầu và nhìn làn nước trôi phía dưới Khi anh ta trở về nhà anh thấy mình ta bị mất trộm Chưa đến một tuần lễ người đàn ông lương thiện chẳng còn một xu dính túi, anh ta chẳng có gì để ăn và nhà anh ta thì trống không Nhưng đó không phải là vấn đề, vì lẽ rằng đó là lỗi của chính anh ta; không, vấn đề là lỗi của anh ta làm mọi sự đảo lộn Bởi anh để cho những
kẻ khác ăn trộm tất cả tài sản anh ta, mà anh ta lại không ăn trộm của bất cứ ai, nên luôn luôn có kẻ trở về lúc bình mình và thấy nhà mình còn nguyên vẹn: anh ta lẽ ra phải ăn trộm nhà ấy Một thời gian sau, những kẻ không bị trộm thấy mình giàu có hơn kẻ khác và không muốn đi ăn trộm nữa Tệ hơn, những
kẻ đến nhà người đàn ông lương thiện để ăn trộm thấy nhà luôn luôn trống không, do đó họ nghèo đi Trong lúc đó, những kẻ giàu có lại có thói quen của người đàn ông lương thiện là đi đến cây cầu về đêm để ngắm dòng nước trôi bên dưới Điều này càng làm tăng thêm sự rối loạn bởi nó khiến cho nhiều kẻ khác trở nên giàu có và nhiều kẻ khác trở nên nghèo đói Đến lúc này, người giàu thấy rằng nếu họ đi đến cầu vào mỗi đêm họ cũng dần trở thành nghèo đói Và họ có ý muốn: “Hãy trả lương cho những người nghèo để họ đi ăn trộm cho mình” Họ lập hợp đồng, tính mức lương cố định, tính phần trăm ăn chia:
dĩ nhiên họ vẫn là những kẻ trộm, và họ vẫn muốn lừa gạt kẻ khác Điều phải đến là người giàu càng giàu thêm và kẻ nghèo càng nghèo đi Một vài người giàu nứt đố đổ vách cho rằng họ không cần phải đi ăn trộm hoặc thuê kẻ khác
ăn trộm để mình giàu hơn Nhưng nếu họ dừng ăn trộm thì họ sẽ nghèo đi bởi những kẻ nghèo ăn trộm của họ Vì vậy, họ trả lương cho những người nghèo nhất trong đám người nghèo giữ tài sản tránh bị bọn nghèo lấy trộm và từ đó tạo ra lực lượng công an và xây dựng nhà tù Chỉ trong vòng vài năm người đàn ông lương thiện xuất hiện, chẳng ai còn nhắc đến chuyện ăn trộm và mất trộm,
mà nói đến người giàu và kẻ nghèo, nhưng họ vẫn còn là những kẻ trộm Chỉ
Trang 9một người lương thiện chính là đàn ông lúc đầu ấy, nhưng anh ta đã chết từ trước đó, vì đói
THÁNH ĐƯỜNG
Raymond Carver, Lê Huy Bắc dịch Người mù này, bạn cũ của vợ tôi, tối nay sẽ ở lại qua đêm Vợ ông đã qua đời Ông đang đi thăm họ hàng đằng nhà vợ ở Connecticut Ông gọi điện cho vợ tôi từ nhà của một trong những người bà con ấy Việc đón tiếp đã được thoả thuận Ông sẽ đến bằng chuyến tàu chạy suốt năm giờ, vợ tôi đón ông tại
ga Đã mười năm nay, cô ấy không gặp ông kể từ mùa hè làm việc cho ông ở Seattle Nhưng cô ấy và người mù vẫn liên lạc với nhau đều đặn Họ gởi cho nhau những cuốn băng và thư từ Chuyến viếng thăm của ông không làm tôi hào hứng lắm Tôi không biết ông Hơn nữa, hình ảnh một người mù thì luôn khiến tôi rờn rợn Những suy nghĩ của tôi về sự mù loà xuất phát từ những cảnh được đưa lên màn hình Trong phim, người mù đi lại chậm chạp và chẳng hề cười Đôi lúc, họ được dẫn đường bởi các chú khuyển Một người mù ở lại nhà
là điều tôi chẳng lấy làm thú vị cho lắm
Mùa hè năm ấy ở Seattle, nàng cần kiếm việc làm Nàng không có tiền Gã đàn ông sẽ cưới nàng vào cuối mùa hè ấy đang học trường huấn luyện
sĩ quan Hắn cũng không có tiền Nhưng nàng yêu hắn và hắn cũng mê nàng như điếu đổ Nàng đọc mục "Cần người giúp việc" trên tờ báo với tít: Đọc cho người mù và số phôn Nàng gọi điện đến, bàn bạc, rồi được thuê làm Nàng làm việc cho người mù này suốt mùa hè Nàng đọc thư từ tài liệu cho ông ta, trao đổi ý kiến, viết báo cáo công việc chỉ có thế Nàng giúp ông ta mở một văn phòng nhỏ trong khu dịch vụ - xã hội của quận Vợ tôi và người mù dần trở nên thân thiết Nhưng làm sao tôi biết được những chuyện ấy? Nàng kể cho tôi Và nàng còn kể nhiều chuyện khác Vào ngày làm việc cuối cùng của nàng tại văn phòng, người mù xin phép được sờ tay nên mặt nàng Nàng đồng ý Nàng bảo tôi ông ấy đặt tay lên từng bộ phận của khuôn mặt, mũi nàng và cả cổ nữa! Nàng chẳng bao giờ quên được cảm giác ấy Thậm chí nàng đã cố lột tả cảm xúc của mình trong một bài thơ Thỉnh thoảng nàng làm thơ Mỗi năm nàng viết một hoặc hai bài Những bài thơ thường xuất hiện ngay sau khi một sự kiện quan trọng nào đó xảy ra trong đời nàng
Ngày hai đứa quen nhau, nàng cho tôi xem bài thơ ấy Trong thơ, nàng miêu tả những ngón tay của ông ta và cách chúng lần đi trên mặt mình Trong thơ, nàng gởi gắm những xúc cảm trào dâng vào khoảnh khắc khi tay người mù chạm đến mũi và môi mình Cảm giác ấy chẳng hề phai mờ Tôi nhớ mình đã không bận tâm nhiều về bài thơ ấy Dĩ nhiên, tôi không hiểu thơ mấy Tôi phải thú nhận rằng thơ không phải là loại ấn phẩm đầu tiên mà tôi tìm kiếm khi cần một cuốn sách nào đó để đọc
Dẫu sao thì gã sĩ quan tương lai - người tình đầu tiên của nàng - vẫn hiện diện trong đời nàng như một cuộc tình thời hoa mộng Mọi chuyện là thế Tôi đang kể về những ngày cuối cùng của mùa hè năm ấy, nàng cho phép người mù sờ tay lên mặt, chào từ biệt ông rồi đi lấy chồng Bấy giờ chồng của nàng là một sĩ quan đương nhiệm và nàng phải theo hắn rời xa Seattle, song người mù và nàng vẫn thông tin đều đặn cho nhau Tuy nhiên, khoảng chừng
Trang 10một năm sau thì cuộc nói chuyện đầu tiên của nàng mới được thực hiện Một tối nọ, từ doanh trại của lực lượng không quân ở Alabama nàng gọi cho ông Nàng muốn nói chuyện Họ trò chuyện với nhau Ông yêu cầu nàng gửi cho mình cuốn băng kể về cuộc đời nàng Nàng thực hiện điều ấy Nàng gửi cuốn băng Trong băng nàng kể cho người mù nghe về chồng nàng, về cuộc sống của
họ ở trong quân ngũ Nàng nói với người mù là nàng yêu chồng nhưng nàng không thích môi trường họ đang sống, nàng không thích cuộc sống ấy bởi lẽ chồng nàng là một bộ phận của nền công nghiệp quân sự Nàng kể với người
mù rằng ông là nhân vật trong bài thơ nàng vừa mới viết xong Nàng bảo với ông nàng sẽ viết bài thơ miêu tả đời sống của vợ một sĩ quan thuộc lực lượng không quân Bài thơ vẫn chưa kết thúc Nàng hãy đang còn viết Người mù cũng thu băng của mình và gửi cho nàng Việc liên lạc theo kiểu ấy vẫn kéo dài trong mấy năm Gã sĩ quan của vợ tôi cứ luôn bị điều từ căn cứ này đến căn cứ khác Nàng gửi những cuốn băng từ Moody, AFB, McGuire, MrConnell và sau cùng là Travis, một địa danh gần Sacramento, nơi mà tối nọ nàng cảm thấy cô đơn vì bị tách ra khỏi thế giới nhân quần bởi cuộc sống cứ chuyển dời liên tục Nàng cảm nhận đời mình không thể trôi theo hướng ấy Nàng tìm tất cả các thứ thuốc ở trong tủ, uống cùng với một chai rượu gin Sau ấy nàng đi tắm nước nóng và đợi tử thần đưa đi Nhưng thay vì chết, nàng chỉ ốm Nàng vật vã Gã
sĩ quan của nàng - tại sao hắn cần một cái tên? Hắn chỉ là người lính thuở xuân sắc của nàng và cớ sao chúng ta lại cứ phải biết thêm về hắn? - từ đâu đó trở về nhà, phát hiện ra nàng rồi gọi xe cứu thương Lần ấy nàng kể mọi chuyện trong cuốn băng và gửi đến người mù Nhiều năm trôi qua, nàng đã ghi tất cả sự kiện trong đời mình vào băng và cuối cùng đã gửi đi những cuốn băng kể về sự tan
vỡ Hàng năm, mỗi độ nàng làm thơ tôi nghĩ từng kỷ niệm trong băng ấy là chất liệu chủ yếu nhất để nàng tái hiện tâm trạng, tái hiện cuộc đời Trong một cuốn băng, nàng bảo người mù rằng nàng quyết định ly thân với gã sĩ quan của mình một thời gian Ở cuốn băng khác nàng kể cho tôi nghe về việc ly hôn của nàng Dĩ nhiên nàng cũng kể cho người mù của mình biết chuyện nàng và tôi quen nhau Nàng kể cho ông ta mọi thứ như đã từng kể với tôi Một dạo, nàng hỏi tôi có thích nghe cuốn băng gần đây nhất của người mù? Chuyện ấy xảy ra cách đây một năm Nàng nói cuốn băng đó nhắc tới tôi Thế là tôi đồng ý nghe cuốn băng ấy Tôi đi lấy đồ uống và chúng tôi ngồi trong phòng khách Chúng tôi bắt đầu nghe Đầu tiên nàng trở cuốn băng rồi tiếng một người nào đó nói bằng giọng khá to, nàng vặn nhỏ volume Sau vài mẩu chuyện tán gẫu vô hại, tôi nghe tên mình trong giọng nói của con người xa lạ, người mù mà tôi chưa từng biết Rồi sau đó là những lời này: “Từ những điều cô nói về anh ấy, tôi chỉ
có thể kết luận” Nhưng một tiếng động hay một tiếng gõ cửa nào đó đã ngăn không cho chúng tôi nghe tiếp Chúng tôi không có thời gian để tiếp tục nghe cuốn băng Có lẽ ngần ấy là đủ Tôi đã nghe hết những gì tôi cần
Bây giờ chính người mù này sắp đến ngủ tại nhà tôi
“Anh sẽ đón tiếp ông ấy chu đáo”, tôi nói với vợ Nàng đang đứng cạnh bàn để làm món khoai tây cắt theo hình vỏ sò Nàng đặt con dao đang dùng xuống rồi quay lại: “Nếu anh yêu em”, nàng nói, “anh có thể làm điều ấy
vì em Còn nếu anh không yêu em, thì cũng chẳng sao Nhưng nếu anh có bạn,