1. Trang chủ
  2. » Hóa học

Phát triển nông nghiệp bền vững ven đô Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa

8 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 38,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉnh sửa, hoàn thiện lại các quy hoạch, chương trình, đề án cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay cả về kinh tế, xã hội; xây dựng chương trình, đề án, dự án mới và thực hiện tốt ch[r]

Trang 1

Phát triển nông nghiệp đô thị - Hướng đi bền vững cho nông nghiệp ven đô

Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa

Nông nghiệp đô thị được hiểu là ngành kinh tế trong và ven đô thị, sản xuất, chế biến và cung ứng cho người dân lương thực, thực phẩm tươi sống, hoa, sinh vật và thực vật cảnh; dùng phương pháp canh tác hữu cơ và công nghệ cao không cần nhiều đất đai, không gây ô nhiễm môi trường, sử dụng và tái sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất thải đô thị; tăng thêm không gian xanh và cơ hội thư giãn cho người dân đô thị Từ cuối thế kỷ XX, nông nghiệp đô thị đã trở thành xu thế trong quá trình phát triển đô thị ở các quốc gia Thời gian qua, Hà Nội cũng có chiều chủ trương, chính sách, đề án nhằm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, hiệu quả theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái; ứng dụng công nghệ cao vào vùng sản xuất nông sản thực phẩm chất lượng cao, an toàn vệ sinh thực phẩm gắn bảo vệ môi trường, phát triển du lịch và xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh làm diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, quy mô nhỏ, manh mún; việc ứng dụng kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất hạn chế dẫn đến năng suất, chất lượng, giá trị nông sản Hà Nội còn thấp Điều này đặt ra nhiều thách thức cho phát triển nông nghiệp ven đô Hà Nội trong thời gian tới

Từ khóa: bền vững, công nghệ cao, đô thị hóa, nông nghiệp.

1 Những thách thức đối với nông nghiệp ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa

Hà Nội là một trong hai thành phố (cùng với Thành phố Hồ Chí Minh) có tốc

độ đô thị hóa đạt cao nhất cả nước Quá trình đô thị hóa của Hà Nội đã phát triển mạnh theo chiều rộng Những dự án bất động sản, khu đô thị ở các cửa ngõ Thủ đô đã và đang mọc lên như nấm, điều này khiến cho tốc độ đô thị hóa rất nhanh Các điểm dân

cư ven đô, những khu vực có khả năng tạo động lực phát triển đô thị, cũng liên tục được khoác lên mình những “bộ mặt” đô thị; với 19 Khu CN, 110 cụm công nghiệp được quy hoạch, cũng đã và đang hình thành những trung tâm dịch vụ tại chỗ Theo tính toán của các chuyên gia, nếu như năm 2010, tỷ lệ đô thị hóa ở Hà Nội là 30 - 32%, đến năm 2020 sẽ nhảy vọt thành 55 - 65% Diện tích đất tự nhiên của Hà Nội sau khi

mở rộng địa giới hành chính đã lên tới 3.358,92 ha (tăng lên gấp 3,6 lần so với trước) cùng với đó là dân số gia tăng với tốc độ cao Nếu như năm 1990, Hà Nội mới chỉ có 2 triệu người, đến năm 2000 lên được 2,67 triệu thì đến nay đã đạt tới con số hơn 7,5 triệu dân

Tốc độ đô thị hóa nhanh thể hiện không chỉ ở bộ mặt đô thị đổi thay mà tình hình kinh tế - xã hội phát triển nhanh Điều này thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao (trung bình cao gấp 1,5 – 1,6 lần so với cả nước) Cụ thể, tăng 10,86% (2006 -2010); 9,23% (2011 - 2015) Như vậy, tăng trưởng GRPD trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2006 - 2016 bình quân đạt 10,04% gấp 1,57 lần so với cả nước (6,38%) Trong

đó, các ngành kinh tế có mức tăng trưởng khá (ngành dịch vụ tăng cao bình quân tăng 10,92% (2006 - 2010), 10,00% (2011 - 2015); ngành công nghiệp - xây dựng phục hồi

Trang 2

và duy trì tốc độ tăng trưởng khá, bình quân tăng 12,32% (2006 - 2010), 9,11% (2011

- 2015); ngành nông nghiệp đạt kết quả tích cực, bình quân tăng 2,53% (2006 - 2010), 2,46% (2011 - 2015) Thu nhập bình quân đầu người (GRDP/người) năm 2006 là 16 triệu đồng, năm 2010 đạt 37,2 triệu đồng, năm 2016 đạt 79 triệu đồng Hà Nội là địa phương dẫn đầu cả nước về số xã đạt chuẩn nông thôn mới (255/401 xã) Đồng thời, thành phố đã thực hiện dồn điền đổi thửa được hơn 78.000ha (vượt kế hoạch đề ra), đã dần khắc phục được tình trạng manh mún, tạo điều kiện cho ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, đưa công nghệ cao, cơ giới hóa vào sản xuất Nhiều vùng sản xuất rau an toàn, hoa, cây ăn quả, lúa chất lượng cao, vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung quy mô lớn, trong đó đã có một số trang trại trồng trọt, chăn nuôi đưa kĩ thuật vào sản xuất cho năng suất, chất lượng và giá trị thu nhập cao hơn diện tích canh tác sản xuất nông nghiệp truyền thống Nhiều mô hình sản xuất hàng hóa nông nghiệp đem lại giá trị kinh tế cao, đạt từ 1 – 2 tỷ đồng/ha Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp đạt bình quân 2,4%/năm, tăng 0,65% so với mục tiêu Chương trình (khóa XV) đề ra (1,75%); giá trị sản xuất nông nghiệp thực tế đạt 280 triệu đồng/ha Ở các xã ven đô, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại phát triển thì thu nhập bình quân đầu người cao hơn, đạt từ 40 - 45 triệu đồng/năm Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, nhất là

hạ tầng thiết yếu phục vụ đời sống dân sinh không ngừng được đầu tư xây dựng, nâng cấp và hoàn thiện; các thiết chế văn hóa – xã hội được quan tâm đầu tư Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngoại thành Hà Nội ngày một nâng lên

Ngành nông nghiệp Thủ đô xác định rõ mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nông nghiệp đô thị sinh thái, tạo vành đai xanh, góp phần phát triển du lịch, dịch vụ gắn với bảo vệ môi trường, từng bước thích ứng với biến đổi khí hậu Vì vậy, một loạt các đề án phát triển nông nghiệp đã được phê duyệt và triển khai trong thực tiễn Kết quả cho thấy đây là hướng đi đúng và cần tiếp tục được nhân rộng Có thể kể đến một số mô hình tiêu biểu như:

- Mô hình sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao: Hà Nội là một trong hai thành

phố có nhu cầu tiêu thụ lúa gạo tại chỗ lớn nhất cả nước, nhất là lúa gạo chất lượng cao, chỉ tính riêng 10 quận nội thành, trung bình một năm tiêu thụ khoảng 67 nghìn tấn gạo chất lượng cao Ngoài ra, ước tính nhu cầu về lúa gạo dành cho chăn nuôi toàn thành phố sẽ khoảng 1,2 triệu tấn/năm Qua 5 năm (2011 – 2015), Trung tâm phát triển cây trồng đã xây dựng được 120 mô hình cánh đồng mẫu lớn tại 86 HTX nông nghiệp của 14 huyện ngoại thành với quy mô 27.891 ha đạt 75,6% kế hoạch Hiện nay diện tích lúa chất lượng cao đạt 32,5 – 35,5%, trong đó nhiều huyện có diện tích lớn và ổn định như Ứng Hòa, Thường Tín, Phú Xuyên, Đông Anh, Nhiều giống lúa mới với năng suất cao được đưa vào gieo trồng với tổng sản lượng trong 5 năm đạt 150611,4 tấn Phương thức canh tác đã thay đổi theo hướng bảo tồn thiên địch, môi trường, cân bằng hệ sinh thái Đã xây dựng được 3 nhãn hiệu tập thể gạo chất lượng cao là gạo Bồ Nâu – Thanh Văn, gạo thơm Bối Khê – Tam Hưng, gạo nếp cái hoa vàng Sóc Sơn

Trang 3

- Mô hình phát triển một số loại cây ăn quả giá trị kinh tế cao: Giai đoạn 2011 –

2016, Trung tâm phát triển cây trồng Hà Nội đã tổ chức triển khai phát triển trồng mới, thâm canh, chăm sóc và ghép cảo tạo được diện tích 1521 ha cây ăn quả giá trị kinh tế cao.Năng suất trung bình 19,8 tấn/năm/ha so với 4,78 tấn/năm/ha Hiệu quả kinh tế cao hơn 15 – 25% so với phương pháp trồng cây truyền thống Đặc biệt cho hiệu quả kinh tế cao đối với mô hình thâm canh bưởi Diễn đạt 250 – 300 triệu đồng/ha/năm; cam canh 400 – 500 triệu đồng/ha/năm, nhãn chín muộn đạt 250 – 300 triệu đồng/ha/năm, chuối đạt 190 triệu đồng/ha/năm Đã xây dựng được 7 nhãn hiệu tập thể (01 nhãn hiệu Bưởi đường Quế Dương, 01 nhãn hiệu cam canh Kim An, 01 nhãn hiệu bưởi Phúc Thọ, 01 nhãn hiệu bưởi Chương Mỹ, 01 nhãn hiệu Phật thủ Đắc Sở Hoài Đức, 01 nhãn hiệu chuối Cổ Bi, 1 nhãn hiệu chuối Vân Nam Ngoài ra, Trung tâm giống cây trồng Hà Nội còn phối hợp cấp giấy chứng nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGap cho 55ha Nhãn chín muộn, 47ha Bưởi diễn, 18ha cam canh

- Mô hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn: Đến nay, diện tích cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sản xuất đạt 5044 ha, 224 ha rau Vietgap

và gần 50 ha rau hữu cơ Ban hành 30 quy trình kỹ thuật sản xuất RAT, 10 quy trình rau hữu cơ Năm 2016, Chi cục Bảo vệ thực vật xây dựng và vận hành thí điểm 11 chuỗi RAT áp dụng hệ thống đảm bảo có sự tham gia (PGS) của người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng Xây dựng 8 cơ sở sơ chế RAT gắn với vùng sản xuất tập trung công suất 3 – 7 tấn/ngày (Văn Đức, Yên Mỹ, Duyên Hà, Thanh Đa, Tiền Lệ, Chúc Sơn, Đặng Xá, Nam Hồng và 9 dự án được phê duyệt); 64 cơ sở sơ chế nhỏ của các HTX, doanh nghiệp công suất 200 – 1000kg/ngày Đã thí điểm gắn tem mác, nhãn hiệu RAT bán buôn tại Văn Đức (Gia Lâm) năm 2011 và nhân rộng gắn tem mác, nhãn nhận diện RAT bán lẻ ra các vùng: Duyên Hà, Thanh Đa, Tráng Việt đến nay

có 40 cơ sở dán tem nhận diễn, mỗi cơ sở được cấp 1 mã số, sản phẩm dãn tem được

đi tiêu thụ rộng rãi ở Hà Nội và các tỉnh Năng suất rau tăng 28,1%, sản lượng rau tăng 33,8%, đạt gần 400 tấn/năm đáp ứng được 40% nhu cầu tiêu dùng, giá trị sản xuất dạt

từ 300 – 500 triệu/ha/năm Riêng tại các vùng che phủ nilong, nhà lưới trồng rau trái

vụ hiệu quả kinh tế tăng thêm đạt 600 triệu/ha/năm Tỷ lệ sử dụng thuốc thảo mộc, thuốc sinh học khoảng 60%, chi phí sử dụng thuốc BVTV giảm 50%, tuân thủ thời gian cách ly khi thu hoạch

- Mô hình sản xuất và tiêu thụ chè an toàn: Mô hình trồng mới được 357 ha chè, trong đó Trung tâm phát triển cây trồng triển khai được 182ha, các huyện triển khai được 175ha tại vùng đồi gò xã Trần Phú – huyện Chương Mỹ; Yên Bài, Ba Trại, Thuần Mỹ, Cẩm Lĩnh huyện Ba Vì; Bắc Sơn huyện Sóc Sơn; Hòa Thạch – huyện Quốc Oai bằng những giống ché mới có năng suất, chất lượng tốt như LDP1, LDP1, Phúc Vân Tiên Kết quả triển khai đề án đã làm chuyển dịch cơ cấu giống chè trong sản xuất từ các giống có năng suất, chất lượng kém sang các giống mới có năng suất, chất lượng cao Cụ thể, trước năm 2012, cơ cấu giống mới chỉ đạt 18,3%, đến năm

2016 đạt 35,2% Năng suất chè đạt 4 -4,5 tấn chè búp tươi/ha có chất lượng ngon Mô

Trang 4

hình này đã giúp nông dân lựa chọn và sử dụng những loại thuốc BVTV sinh học, ít độc hại và giảm số lần sử dụng thuốc BVTV 2-3 lần/năm, tăng năng suất, tăng chất lượng, tăng giá trị sản phẩm Trong 5 năm phát triển thâm canh chè theo VietGap được

110 ha tại các xã Yên Bài, Ba Trại; Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn; Hòa Thạch, huyện Quốc Oai Năng suất chè trong các mô hình thâm canh VietGap đạt 9 -11 tấn búp tươi/ha, cao hơn 12% so với sản xuất chè ngoài mô hình nhưng hiệu quả gấp 2,56 lần, hiệu quả kinh tế cao hơn so với áp dụng biện pháp cũ từ 60 – 80 triệu đồng/ha/năm, đạt 150 – 220 triệu đồng/ha, tính mỗi hỗ tăng thu nhập 35 triệu đồng/năm Ngoài ra, hiệu quả

về môi trường cũng thấy rõ khi việc sử dụng phân bón hóa học giảm, hình thành các vành đai cây xanh, đảm bảo môi trường sinh thái cho vùng trồng chè

Dù được đánh giá là có nhiều lợi thế trong phát triển nông nghiệp đô thị nhưng trên thực tế, nông nghiệp Thủ đô vẫn chưa thực sự bứt phá Thời gian qua, Trung ương

và thành phố cũng đã quan tâm đầu tư hàng nghìn tỷ đồng nhưng so với yêu cầu phát triển nông nghiệp đô thị thì vốn đầu tư vẫn còn ở mức thấp, chỉ chiếm khoảng 4-6% trong tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của thành phố nên chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là phát triển nông nghiệp chất lượng cao Số vốn đầu tư vào ngành nông, lâm, thủy sản trong 5 năm trở lại đây chỉ chiếm khoảng 1% trong tổng vốn đầu tư vào Hà Nội; tốc độ tăng vốn đầu tư qua các năm tăng chậm, thậm chí giảm mạnh vào các năm

2010, 2015 Đặc biệt, số lượng các dự án FDI đầu tư vào nông nghiệp còn quá ít, tổng vốn đăng ký và vốn thực hiện quá nhỏ Năm 2016, chỉ có 8/2511 dự án đầu tư vào ngành nông nghiệp với tổng vốn đăng ký là 13 triệu USD, tuy nhiên, vốn thực hiện chỉ đạt 5 triệu (chưa đạt 50%) Số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng chỉ chiếm 1% trên tổng số doanh nghiệp trên địa bàn

Hộ gia đình vẫn là đơn vị sản xuất phổ biến ở nông thôn, mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố đã có nhưng chiếm tỷ trọng rất nhỏ Giá trị sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao toàn thành phố chỉ đạt 25% trong đó, với lúa, ngô, rau, hoa, cây

ăn quả, chè đạt tỷ lệ 17,9%, chăn nuôi đạt 33,5% và thủy sản 13% Thực phẩm chính được sản xuất mới chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu tiêu dùng của người dân Thủ đô, khoảng 40% còn lại phải nhập khẩu từ các nước và các tỉnh, thành phố lân cận nên nhu cầu còn rất lớn

Đặc biệt, chưa có nhiều chính sách hấp dẫn nhằm khuyến khích, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn bởi việc tiếp cận đất đai, liên kết với nông dân trong sản xuất còn nhiều khó khăn, vướng mắc Một số quy hoạch, đề án và cơ chế chính sách hỗ trợ trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao

đã có, nhưng việc triển khai thực hiện còn nhiều bất cập, nhất là nguồn lực thực hiện

và thủ tục hỗ trợ Nhiều doanh nghiệp, trang trại và bà con nông dân chưa được hưởng đầy đủ các ưu đãi của Chính phủ và thành phố Những khó khăn, tồn tại nêu trên đã và đang trở thành điểm nghẽn cho phát triển nông nghiệp đô thị thời gian qua

Trang 5

2 Quan điểm, giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị Hà Nội trong thời gian tới

Hà Nội xác định phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2016 – 2020 đối với lĩnh vực nông nghiệp đó là: Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, ứng dụng công nghệ cao và kỹ thuật sản xuất tiên tiến, tạo ra sản phẩm sạch, chất lượng cao Mở rộng các vùng chuyên canh, các vành đai xanh, nông nghiệp sinh thái và xây dựng các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy hoạch

Để đạt mục tiêu đó cần xây dựng quan điểm phát triển xuyên suốt đó là việc phát triển nông nghiệp đô thị phải đảm bảo theo hướng bền vững trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Nghĩa là nâng cao năng suất, giá trị giá gia tăng sản phẩm hàng hóa nông nghiệp Xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân cũng như giảm thiểu những tác động tiêu cực và tạo ra những tác động có lợi cho môi trường; cân bằng hệ sinh thái Trên cơ sở đó, Hà Nội cần thực hiện một số giải pháp sau:

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn đặc biệt là hoàn thiện các cơ chế, chính sách về đất đai, chính

sách thuế, chính sách tín dụng,…Đồng thời, tiếp tục rà soát và hoàn thiện các quy hoạch, đề án, chương trình phát triển nông nghiệp Chỉnh sửa, hoàn thiện lại các quy hoạch, chương trình, đề án cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay cả về kinh tế, xã hội; xây dựng chương trình, đề án, dự án mới và thực hiện tốt chương trình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp; tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp theo vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh tập trung; củng cố và phát triển các tổ chức hợp tác của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (HTX, trang trại, Hội, Nhóm); phát huy vai trò nòng cốt của doanh nghiệp trong các chuỗi giá trị, trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới Ngoài ra, cần bổ sung và hoàn chỉnh lại quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho phù hợp với chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi; pháp lý hóa quy hoạch chi tiết cho các quận, huyện có sản xuất nông nghiệp, thực hiện quy chế dân chủ trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Tăng cường công tác quản lý các sản phẩm giống cây trồng, vật nuôi; vật tư phục vụ sản xuất và sản phẩm nông lâm thủy sản, Đẩy mạnh hoạt động hợp tác xúc tiến thương mại nông nghiệp trong nước và quốc tế để nghiên cứu, khảo sát, giao thương và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản Xây dựng và phát triển các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn Thành phố và với các tỉnh thành trong

cả nước; xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm nông nghiệp; tạo điều kiện cho việc kết nối giữa các doanh nghiệp phân phối với các đơn vị sản xuất, chế biến trong việc tiêu thụ nông sản,

- Phát triển nông nghiệp kết hợp với du lịch sinh thái Đây là giải pháp nhằm

nâng cao hiệu quả sản xuất, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân, đồng thời góp phần phát triển nông nghiệp ở các vùng đô thị, cận đô thị theo hướng sinh thái, bền vững Để thực hiện các mô hình tổ chức sản xuất này cần phải có quy

Trang 6

hoạch sản xuất phù hợp, lâu dài, tổ chức quản lý sản xuất theo vùng chuyên canh tập trung, theo chuỗi giá trị và liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động Tăng cường vai trò của chính quyền địa phương đồng hành cùng doanh nghiệp

và người dân trong việc tạo cơ chế, có chính sách đầu tư, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, giải phóng mặt bằng và có sự giám sát chặt chẽ để đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như bảo vệ quyền lợi của người nông dân Để mô hình được phát triển bền vững cũng cần

có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ và chia sẻ lợi ích, lợi nhuận hợp lý giữa người nông dân và doanh nghiệp

Phát triển du lịch nông nghiệp bền vững không thể chỉ gói gọn trong một ranh giới hành chính với bán kính di chuyển hẹp mà còn cần phải có sự liên kết, mở rộng để

có thể từ các điểm hình thành lên các tuyến du lịch Các sản phẩm du lịch có thể khai

thác: Thăm quan vườn cây trái đặc sản, vườn hoa, khu canh tác rau sạch, tham gia vào các quá trình trồng, chăm sóc và thu hoạch Thăm quan các công trình di tích lịch sử,

văn hóa tại địa phương Thăm quan khu công nghệ sinh học với các hoạt động nghiên

cứu, nuôi trồng đặc biệt Tham gia vào các lễ hội truyền thống Tổ chức các hoạt động

dã ngoại như cắm trại, đạp xe thăm quan Mua sắm tại các khu chợ đầu mối, phố thương mại Thưởng thức ẩm thực địa phương và các sản phẩm nông nghiệp Ngoài ra

cần nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm quà tặng, quà lưu niệm từ những sản vật địa phương

- Tăng cường thu hút đầu tư vào phát triển nông nghiệp công nghệ cao Muốn

vậy, phải cho doanh nghiệp thấy được mức độ hấp dẫn, tính khả thi của dự án, sự thuận lợi trong quá trình triển khai và sự minh bạch, rõ ràng về thông tin trong khâu thực hiện Bởi thực tế cho thấy các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư của Chính phủ và thành phố hiện nay về thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp mức độ hấp dẫn kém, tính khả thi chưa cao vì các rào cản về chính sách thuế, đất đai, đi kèm đó là các thủ tục hành chính phức tạp, tốn thời gian công sức đòi hỏi hồ sơ giấy tờ Chính vì vậy

để giải được các bài toán này cần nhìn nhận thẳng thắn các vấn đề hạn chế trong chính sách để có thể sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo hướng thiết thực hơn; có cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù nhằm thu hút, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Đồng thời, tăng cường hỗ trợ vốn tín dụng trung và dài hạn với lãi suất hợp lí nhằm hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp, phát triển giống mới, đầu tư các thiết bị cơ giới để tăng hiệu quả sản xuất

Quan tâm, bố trí kinh phí đầu tư cho các chương trình, đề án phát triển nông nghiệp đô thị; cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp; hạ tầng của vùng sản xuất chuyên canh tập trung; cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp; sơ chế, chế biến và bảo quản sản phẩm; tranh thủ nguồn vốn của các Bộ, ngành ở Trung ương; của các tổ chức trong và ngoài nước (ODA, FDI, NGO, ); vốn trong các

Trang 7

Chương trình hợp tác song phương giữa thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố của các nước về nông nghiệp và phát triển nông thôn,

- Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp đô thị Theo đó, các

đơn vị có liên quan, tổ chức dạy nghề và doanh nghiệp phải chủ động phối hợp với viện, trường để mở các lớp đào tạo, huấn luyện, chuyển giao khoa học kỹ thuật mới, các giống cây con mới cho nông dân, các trang trại, nhà vườn,… cũng như kỹ năng phục vụ hoạt động du lịch

Ngoài ra, vai trò của cán bộ khuyến nông cơ sở cũng rất quan trọng vì đây là đội ngũ trực tiếp tổ chức vận động nông dân tham gia vào các chương trình nông nghiệp đô thị tại các địa phương Bởi vậy, cần củng cố và nâng cao đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở về chuyên môn để đảm nhiệm được các nhiệm vụ chuyển giao tiến

bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp (các kiến thức về trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản,….)

- Đảm bảo sản xuất nông nghiệp theo hướng bảo vệ môi trường, cân bằng hệ sinh thái Thực hiện nông nghiệp tốt (Good Agriculture Practices – GAP) với những

nguyên tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong trồng trọt, như: giống mới, nhà kính, nhà lưới, tự động và bán tự động trong tưới tiêu, sử dụng phân bón hữu cơ Chăn nuôi: sử dụng nguồn giống chuẩn hóa, hiện đại hóa hệ thống chuồng trại gắn sản xuất với chế biến và xử lý môi trường trong sạch như mô hình biogas, ủ phân sinh học,…

Có thể nói, đô thị hóa là quá trình tất yếu trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay Bên cạnh những yếu tố tích cực, nhiều vấn đề bất cập đã và đang nảy sinh trong quá trình này Trước thực tế đó, phát triển nông nghiệp đô thị là hướng đi đúng đắn và phù hợp nhất Mặc dù, các mô hình nông nghiệp đô thị trên địa bàn Hà Nội mới hình thành, đang dừng lại ở quy mô nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp nhưng bước đầu đã cho thấy hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường Do đó, Hà Nội cần tiếp tục đưa ra những giải pháp căn cơ và có lộ trình để phát triển nông nghiệp đô thị thực sự theo hướng bền vững trong thời gian tới./

TS Trịnh Kim Liên, Ths Đào Ngọc Lưu (Viện Nghiên cứu phát triển kinh

tế - xã hội Hà Nội)

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Ngọc Tuấn (chủ biên), Những vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường vùng ven các đô thị lớn trong quá trình phát triển bền vững, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003

Trang 8

2 Báo cáo “Điều tra, khảo sát kết quả thực hiện Nghị quyết HĐND thành phố Hà Nội

về một số cơ chế, chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn trên địa bàn thành phố

Hà Nội giai đoạn 2011 - 2016”, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội, tháng 6/2017

3 Các báo cáo tổng kết đề án phát triển cơ giới hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất hoa cây cảnh, sản xuất và tiêu thụ rau an toàn, sản xuất và tiêu thụ chè an toàn, sản xuất lúa hàng hóa,….Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội, 2016

Ngày đăng: 08/02/2021, 07:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w