Chế biến các phụ phẩm cá, cá basa thành các sản phẩm hữu ích như bột cá, mỡ cá dùng làm thức ăn và nguyên liệu dùng đế sản xuất thức ăn cho gia súc, gia cầm và thủy sản; mỡ cá có thể đượ
Trang 1CHƯƠNG 4
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẨU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY CHẾ BIẾN PHẾ LIỆU, PHẾ THẢI NGÀNH THỦY SẢN CỦA CÔNG TY
TNHH XUẤT NHẬP KHẨU THIÊN MÃ
4.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN THIÊN MÃ
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 5702000872 do Sở kế hoạch và đầu
tư thành phố Cần Thơ cấp ngày 27 tháng 6 năm 2005
Ngành nghề kinh doanh: Kinh doanh trong lĩnh vực nuôi trồng, sản xuất, chế biến và xuất khẩu các mặt hàng nông, thủy sản
4.1.2 Năng lực tài chính của công ty
Năng lực tài chính của công ty được xem xét qua kết quả hoạt động kinh doanh và một số chỉ tiêu tài chính trong năm 2006, 2007 và chín tháng đầu năm
2008
Trang 2Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH XNK Thiên Mã
Đơn vị tính: triệu đồng Năm
Chêch lệch 2007/2006
10 Lợi nhuận thuần từ
hoạt động kinh doanh 15.522,06 39.033,44 58.195,18 23.511,38 151,47
15 Lợi nhuận sau thuế 15.522,05 39.013,38 58.292,95 23.491,33 151,34
( Nguồn: Phòng quản lý rủi ro)
Trang 3Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2006, 2007 và chính tháng đầu năm 2008 ta thấy tình hình hoạt động của công ty TNHH Thiên Mã trong 3 năm qua đang chuyển biến theo chiều hướng tốt Được thành lập năm
2005 nhưng đến năm 2006 thì nhìn chung tình hình hoạt động của công ty đã đi vào ổn định, cụ thể trong năm 2006 doanh thu bán hàng và cung cấp dịch cụ của công ty đạt 191.053,80 triệu đồng, tổng lợi nhuận trước thuế đạt 15.522,05 triệu đồng, đây là những con số khả quan về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong năm 2006 Trên đà phát triển, trong năm 2007 doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty là 393.748,38 triệu đồng tăng 202.694,58 triệu đồng so với năm 2006, tức tăng 106,09%, qua đó lợi nhuận trước thuế của công ty trong năm 2007 cũng tăng lên đáng kể với tỷ lệ 151,34% so với năm 2006, cụ thể tăng 23.491,33 triệu đồng Riêng 9 tháng đầu năm 2008 tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty là 597.251,67 triệu đồng, lãi gộp bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt 130.665,42 triệu đồng, tổng lợi nhuận trước thuế đạt 58.292,95 triệu đồng, tuy chỉ mới 9 tháng đầu năm nhưng tất cả các con số thể hiện trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh đều hơn cá chỉ tiêu đã đạt được trong năm 2007
đã khẳng định đây là một năm kinh doanh thành công nữa của công ty TNHH Thiên Mã Bên cạnh việc xem xét kết quả hoạt động kinh doanh của công ty thì việc đánh giá các tỷ số tài chính của công ty cũng có ý nghĩa quan trọng vì thông qua việc phân tích các tỷ số tài chính cá thể đánh giá chính xác tính hình tài chính của công ty ở tại thời điểm xem xét Sau đây là một số chỉ tiêu tài chính cơ bản đánh giá tình hình tài chính của công ty qua các năm 2006, 2007 và chín tháng đầu năm 2008
Trang 4Bảng 3: Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của công ty XNH Thiên Mã
(Nguồn: phòng quản lý rủi ro)
Qua bảng 3 ta thấy các tỷ số thể hiện khả năng thanh khoản của công ty là khá tốt Tỷ số khả năng thanh toán hiện thời các năm đều lớn hơn 1 chứng tỏ sự bình thường trong hoạt động kinh doanh của công ty Ta thấy trong năm 2007 thì tỷ số này là 1,70 còn trong năm 2006 là 1,47 điều này thể hiện mức độ trang trải nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động năm 2007 cao hơn 2006, riêng trong 9 tháng đầu năm tỷ số này là 1,12 Bên cạnh đó tỷ số khả năng thanh toán nhanh trong năm
2006 và 2007 tỷ số này hơi cao phản ánh tình hình vốn bằng tiền quá nhiều làm giảm hiệu quả sử dụng vốn Tuy nhiên, trong chín tháng đầu năm 2008 là 0,73 thể hiện khả năng trang trải nợ ngắn hạn là khá tốt
Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho của công ty Năm 2007 số vòng quay hang tồn kho của công ty là 7,04 vòng giảm 5,70 vòng so với năm 2006, còn trong chín tháng đầu năm 2008 thì số vòng quay hàng tồn kho của công ty chỉ đạt 2,66 vòng Nguyên nhân là do mặc dù giá vốn hàng bán năm 2007 là 300.785.404.774 đồng tăng 141.660.881.701 đồng so với năm 2006 là 159.124.523.073 đồng nhưng vẫn không bù đắp được sự tăng lên của hàng tồn kho, trong năm 2007 tổng giá trị hàng tồn kho là 42.721.419.729 đồng tăng 30.233.228.939 đồng so với năm 2006 là 12.488.190.790 đồng Trong năm 2007 hiệu quả sử dụng tài sản của công ty là 2,20 tức bình quân trong năm
Trang 52007 thì 1 đồng tài sản sẽ tạo được 2,20 đồng doanh thu, giảm 1,38 đồng so với năm 2006 Nguyên nhân là do trong năm 2007 tuy doanh thu của công ty đạt 386.911.713,079 đồng tăng giá trị tài sản của công ty có tăng 123.364.684,304 đồng so với năm 2006 nhưng không bù đắp được sự gia tăng của doanh nghiệp Trong các năm qua thì tỷ số về đòn cân nợ của công ty không ngừng tăng lên, điều này cũng dễ hiều vì qua bảng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty chúng ta thấy lợi nhuận qua cá năm của công ty cũng liên tục tăng lên nên việc đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh là điều tất yếu nhất là đối với công ty mới thành lập như công ty TNHH Thiên Mã
Các chỉ tiêu sinh lời của công ty ROS, ROA, ROE đều khá tốt ROS năm 2007 đạt 10,08 tức là 1 đồng doanh thu tạo được 0,1 đồng lợi nhuận tăng 1,86 so với năm 2006 là 8,22 Riêng trong 9 tháng đầu năm 2008 tỷ số này là 9,85 Các tỷ số ROA, ROE tuy thể hiện tình hình kinh doanh khả quan của công ty qua các năm tuy nhiên có xu hường giảm dần qua các năm, điều này cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản cố định và vốn chủ sở hữu của công ty để tạo được lợi nhuận đang
Nâng tỷ lệ sử dụng để tăng giá trị cho con cá tra, các basa Chế biến các phụ phẩm cá, cá basa thành các sản phẩm hữu ích như bột cá, mỡ cá dùng làm thức
ăn và nguyên liệu dùng đế sản xuất thức ăn cho gia súc, gia cầm và thủy sản; mỡ
cá có thể được chiết xuất tinh dầu dùng trong công nghiệp chế biến Mỹ phẩm, thực phẩm, sản xuất dầu biodiezel, Glycerol, chiết xuất từ mỡ cá basa, cá tra, muối kali làm phân bón và mỡ bôi trơn…
Giải quyết lượng phế liệu, phế thải rất lớn cho các nhà máy chế biến thủy sản Giảm thiểu vấn đề ô nhiễm môi trường
Trang 6Góp phần giải quyết việc làm ổn định cho 100 lao động Số lao động sẽ được tăng lên khi công ty phát triển và mở rộng hoạt động
Thúc đẩy ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản phát triển, tăng thu nhập và tạo đầu vào ổn định cho các hộ nông dân nuôi cá
Thúc đẩy ngành chế biến thủy sản xuất khẩu bền vững, ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào
Tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước thông qua việc đóng các loại thuế
4.2.1.2 Sự cần thiết hình thành dự án
Mỗi năm Đồng Bằng sông Cửu Long tiêu thụ khoảng 400.000 tấn cá tra, cá basa nguyên liệu, số lượng này càng ngày càng nhiều theo từng năm Trong đó, phế liệu, phế thải sau khi chế biến phần philê chiếm khoảng 70% khối lượng cá nguyên liệu Những năm trước đây các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu không bán được phế liệu, phế thải này phải xả xuống sông gây ô nhiễm nặng nề Việc phân hủy các chất thải này tuy không gây độc nhưng cũng tạo ra sự thay đổi lớn cho môi trường sống của những ngươi lao động tại các cơ sở chế biến thủy sản cũng như dân cư sống ở vùng lân cận
Với mục đích vừa nâng cao giá trị phế liệu, phế thải thủy sản sau khi chế biến philê cá tra, cá basa xuất khẩu và tạo thêm sản phẩm cho xã hội tiêu dùng và cũng vừa góp phần giảm thiểu vấn nạn ô nhiễm môi trường
Được thành lập năm 2005 và hiện nay Công ty đang tiến hành đầu tư nhà máy chế biến thủy sản số 2 với công suất 400 tấn nguyên liệu/ngày, nâng công suất chế biến của công ty từ 55 tấn nguyên liệu/ngày lên 455 tấn nguyên liệu/ngày Do đó lượng phế liệu đầu cá, xương cá, mỡ cá thải ra trong ngày sau quá trình chế biến philê của nhà máy là rất lớn Trước tình hình đó, Công ty dự kiến xây dựng nhà máy sản xuất bột cá, mỡ cá phế liệu, phế phẩm của nhà máy của Công ty theo công nghệ tiên tiến, hiện đại được nhập từ Trung Quốc hoặc Thái Lan công suất 100 tấn nguyên liệu phế phẩm/ngày phát huy tối đa việc sử dụng nguồn lực của Công ty và những chính sách ưu đãi của địa phương
4.2.1.3 Dự kiến thời gian xây dựng dự án
Dự án dự kiến khởi công thực hiện vào tháng 4/2007 và dự kiến hoàn thành
và đưa vào hoạt động vào tháng 1/2009
Trang 72 Lập thiết kế kỹ thuật công trình
3 Thi công xây dựng
4 Mua sắm máy móc thiết bị
5 Vận chuyển, lắp đạt thiết bị
6 Chạy thử, nghiệm thu
7 Hoạt động chính thức
( Nguồn: phòng quản lý rủi ro )
4.2.2 Đánh giá nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào của dự án
Công ty sẽ tận dụng nguồn phế phẩm cá tra, basa sau khi philê để làm nguồn nguyên vật liệu đầu vào cho dự án Được thành lập năm 2005, công ty TNHH Thiên Mã tổ chức sản xuất sản phẩm tại nhà máy thủy sản số 1 với công suất máy thiết kế là 55 tấn nguyên liệu cá tra, basa/ngày Do mới thành lập nên trong năm 2006 công ty chỉ hoạt động với 80% công suất thiết kế máy, năm 2007 hoạt động với 90% công suất máy, và từ năm 2008 công ty hoạt động với 100% công suất máy
Bảng 5: Sản lượng cá nguyên liệu đưa vào sản xuất hàng ngày từ 2006-2008
Đơn vị tính: Tấn
Sản lượng cá nguyên liệu đưa vào philê 44 49,5 55
(Nguồn: Phòng quản lý rủi ro)
Với định mức một tấn cá tra, basa nguyên liệu sau khi philê sẽ cho ra khoảng 700kg phụ phẩm, qua đó có thể tính toán được sản lượng phụ phẩm cá tra, basa công ty tạo ra hàng ngày từ năm 2006-2008
Trang 8Bảng 6:Sản lượng phụ phẩm cá tra, basa tạo ra hàng ngày từ năm 2006-2008
Đơn vị tính: Tấn
Sản lượng cá nguyên liệu đưa vào philê 44 49,5 55
455 tấn nguyên liệu/ngày Như vậy, khi nhà máy thủy sản số 2 được thành lập thì lượng phụ phẩm tạo ra hàng ngày từ các nhà máy chế biến của công ty là 318,5 tấn phụ phẩm/ngày Với lượng phụ phẩm tạo ra này đủ sức đáp ứng nguồn nguyên liệu đầu vào cho dự án “xây dựng nhà máy chế biến phế liệu, phế thảy ngành thủy sản” có công suất thiết kế 100 tấn nguyên liệu/ngày của công ty
Ngoài ra, công ty có thể thu mua nguyên liệu từ cá nhà máy chế biến thủy sản trong khu vực ĐBSCL Theo Hiệp Hội chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP), nguồn cung dồi dào cùng với việc chinh phục được hàng tỷ người tiêu dùng tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa cá tra, cá basa thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của thủy sản Việt Nam
Bảng 7: Sản lượng xuất khẩu cá da trơn của Việt Nam 2006-2008
Năm Chỉ tiêu
(Nguồn: Website Bộ Ngoại Giao)
Trang 9Năm 2007 sản lượng xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam đạt 383,2 nghìn tấn với kim ngạch 974,12 triệu USD, tăng 31% về lượng và 20,07% so với năm
2006 Năm 2008 đạt tổng sản lượng 657.000 tấn với kim ngạch 1,48 tỷ USD, tăng 69% về sản lượng và 51% về giá trị so với năm 2007; đồng thời chiếm 32,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản
Với định mức 3 kg nguyên liệu cho ra 1 kg thành phẩm, như vậy, lượng phụ phẩm tạo ra từ việc philê cá tra, cá basa chiếm khoảng 70% khối lượng cá nguyên liệu cá đưa vào chế biến Với sản lượng xuất khẩu tăng dần qua các năm thì lượng phế phẩm tạo ra thật khổng lồ Trước đây, thứ phế phẩm này một số ít nhà máy vẫn sử dụng để sản xuất mỡ; phần lớn còn lại bán cho tư nhân; chỉ một
số ít được dùng làm thức ăn chăn nuôi, còn lại đều được “luyện” mỡ cá Nhưng khoảng 5 năm trở lại đây, con cá tra, cá basa mất philê được tận dụng tối đa: đầu, xương sống, ruột, kỳ vi chế biến thành thức ăn công nghiệp phục vụ chăn nuôi sau khi đã nấu lấy mỡ bán với giá 3.000đ/kg Bong bóng cá bán cho những đại lý chuyên thu mua sấy khô cung cấp cho các nhà hàng nấu xúp với giá gần 20.000đ/kg Bao tử cá làm sạch bán cho các quán ăn đặc sản với giá 10.000đ/kg
Da cá xuất khẩu sang châu Âu với giá 5.000đ/kg phục vụ công nghiệp dược phẩm, mỹ phẩm Riêng mỡ cá - chiếm từ 15 - 20% trọng lượng - được các cơ sở chế biến nấu thành mỡ nước cung ứng cho thị trường, giải pháp tận thu những phụ phẩm của cá (đầu,vi, bụng, xương) thải ra trong quá trình chế biến cá tra, cá basa để tách chiết ra mỡ sạch làm dầu biodiesel đã giải quyết được bài toán môi trường, tạo thêm một nguồn nhiên liệu giá rẽ phụ vụ sản xuất, đời sống dân cư trong vùng và đem lại nguồn lợi lớn cho cá vùng sản xuất cá tra, cá basa Tại thời điểm giữa năm 2008, với mỗi 1kg phụ phẩm (giá 3.500 – 4.000đ/kg) có thể cho
ra 0,2kg mỡ cá (với giá bán 13.000 – 14.000đ/kg) và 0,3kg bột cá (9.000 – 10.000đ/kg) Sau khi trừ các chi phí, việc chế biến phụ phẩm có thể đem lại lợi nhuận từ 500 – 1.000đ/kg Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân, động lực chính làm xuất hiện ngày càng nhiều các cơ sở chế biến phụ phẩm cá tra với quy mô vừa và nhỏ Năm 2006 cả ĐBSCL có 50 nhà máy chế biến phụ phẩm cá tra, cá basa, sang năm 2007 tăng lên 70 nhà máy và đến năm 2008 thì có khoảng 80 nhà máy chế biến phụ phẩm cá tra, cá basa đang hoạt động
Trang 10Với nhu cầu hiện tại của thị trường đã làm cho giá trị phụ phẩm cá tra, cá basa gia tăng và có xu hướng tiếp tục tăng trong những năm tới, vì vậy việc thu mua mua nguyên vật liệu từ thị trường bên ngoài có thể sẽ gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, việc tận dụng được nguồn phụ phẩm tạo ra từ nhà máy chế biến thủy sản
số 1 đang hoạt động của công ty sẽ là nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định cho
dự án Bên cạnh đó công ty còn dự tính mở rộng quy mô sản xuất, nếu nhà máy chế biến thủy sản số 2 của công ty được thành lập thì sản lượng phụ phẩm tạo ra hàng ngày của công ty không những đủ khả năng cung ứng nguồn nguyên liệu đầu vào cho dự án mà còn có thể tạo thêm thu nhập cho công ty khi bán lượng phụ phẩm tiêu dùng không hết ra thị trường bên ngoài
4.2.3 Phân tích thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm đầu ra của dự
án
Mỡ cá: được chế biến từ phụ phẩm đầu và thân cá tra, cá basa đã chế biến
philê, được dùng làm nguyên liệu thức ăn cho gia súc, gia cầm và thủy hải sản, hoặc được chiết xuất tinh dầu trong công nghiệp chế biến mỹ phẩm, thực phẩm, sản xuất dầu biodizel, Glycerol chiết xuất từ mỡ cá tra, cá basa, muối kali làm phân bón và mỡ bôi trơn
Khi nghề nuôi cá Tra của ĐBSCL chưa phát triển thì mỡ cá tra, basa xem như phế phẩm bỏ đi Theo nhịp thời gian, nghề nuôi cá tra của ĐBSCL phát triển, nông dân cùng doanh nghiệp đua nhau nuôi cá tra, basa Các nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu cũng đua nhau mọc lên Phế phẩm mỡ cá tra ngày càng nhiều, các
cơ sở sản xuất dầu bôi trơn nghĩ đến việc tận dụng mỡ cá tra để chế biến mỡ bôi trơn động cơ tung ra thị trường Sản phẩm này được người tiêu dùng rất ưa chuộng Nhưng các cơ sở chế biến mỡ bôi trơn từ mỡ cá tra cả khu vực ĐBSCL cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay Năm 2004, giá nhiên liệu bắt đầu tăng lên nhất
là dầu diesel, một số doanh nghiệp bước vào nghiên cứu thử nghiệm lấy mỡ cá tra chế biến dầu sinh học Giữa năm 2006 toàn vùng ĐBSCL có 3 cơ sở sản xuất thành công dầu biodiesel từ mỡ cá tra, cá basa là Công ty Agifish ở An Giang, công ty TNHH Minh Tú ở T.p Cần Thơ và công ty TNHH thương mại thủy sản Vĩnh Long tỉnh Vĩnh Long, việc sử dụng dầu biodiesel từ mỡ cá sẽ khắc phục được tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt góp phần nâng cao giá trị cho con
cá tra, cá basa Theo báo điện tử Cần Thơ số ra ngày 24/07/2008 thì từ đầu năm
Trang 112007 thì thị trường mỡ cá đã có sự biến động khi có sự thu mua một lượng lớn
mỡ cá từ Trung Quốc, HongKong, Đài Loan và Campuchia nên mặc dù sản lượng mỡ cá hàng năm tạo ra có tăng nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, dẫn đến giá mỡ cá không ngừng tăng cao Nhưng tăng mạnh nhất là từ đầu năm 2008 mỡ cá tra, basa đang được nhiều nước đặt hàng khối lượng lớn, nhiều nhà máy chế biến mỡ cá Tra tại ĐBSCL không đủ hàng cung ứng Các doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh tranh nhau đến ĐBSCL mua mỡ cá tra để xuất khẩu Các nhà máy chế biến mỡ cá Tra tại ĐBSCL cho rằng, nhu cầu mỡ cá tra, basa để các doanh nghiệp trong nước dùng chế biến thức ăn gia súc và khách hàng nước ngoài (Trung Quốc, Hongkong, Đài Loan, Campuchia) nhập khẩu để chế biến thực phẩm và dầu biodiesel tăng mạnh, đáp ứng không đủ Khoảng giữ tháng 8/2008 theo tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), giá mỡ cá tra đang ở mức 14.500 - 15.000 đồng/kg, nhưng nhiều doanh nghiệp chế biến thức ăn giá súc, chế biến thực phẩm, dầu biodiesel vẫn
rất “khát” hàng, tại Cần Thơ mỡ cá tra đã qua sơ chế đang được nhiều nhà máy
chế biến cá tra xuất khẩu tại TP Cần Thơ bán ra với giá 14.000 đồng/kg Theo Hiệp hội Thủy sản TP Cần Thơ, mỗi tháng các nhà máy chế biến thủy sản ở Cần Thơ chế biến được trên 4.000 tấn mỡ cá, chưa kể các cơ sở chuyên thu gom phụ phẩm của các nhà máy chế biến thủy sản để chế biến mỡ cá xuất khẩu, nhưng đều có đầu ra ổn định
Việc sản xuất mỡ cá từ phế phẩm cá tra, cá basa theo phương pháp công nghiệp thì lượng mỡ cá sẽ thu được khoảng 20-22% nguyên liệu ban đầu Sau khi philê thì một tấn cá tra, basa cho ra 700kg phụ phẩm Như vậy, cứ một tấn cá tra, basa sẽ có thể chế tạo ra khoảng 140 kg mỡ cá Với sản lượng cá tra, cá basa từ năm 2006-2008 tại khu vực ĐBSCL và với tình hình tiêu thụ mỡ cá tra, basa thì
có thể ước lượng được sản lượng mỡ cá được tạo ra và tiêu thụ qua các năm như sau
Trang 12Bảng 8: Sản lượng mỡ cá tiêu thụ qua cá năm 2006-2008
Đơn vị tính: Nghìn tấn Năm
Chỉ tiêu
Từ bảng 8 cho biết sản lượng mỡ cá được tạo ra và tiêu thụ hàng năm tương được với sản lượng cá tra, cá basa được nuôi trong toàn khu vực ĐBSCL Qua
đó, chúng ta có thể dự trù được nhu cầu của thị trường mỡ cá trong những năm sau khi dự án được thực hiện
Bảng 9: Sản lượng thực tế và sản lượng dự trù trong quá khứ
182
* 1 168
* 0 2 , 116
−
+ +
−
=
1 0 1
182 0 ) 2 , 116 (
+ +
+ +
− = 32,29
Trang 13Bảng 10: Dự báo nhu cầu mỡ cá từ 2009-2018
Đơn vị tính: Nghìn tấn Năm Nhu cầu sản lượng mỡ cá
mỡ cá tra đang “sốt”, đang hút hàng nhưng theo các nhà kinh doanh mỡ cá tra, viễn cảnh sẽ còn sáng sủa hơn nhiều Đó là giá dầu thế giới tăng cao hơn, nhu cầu sử dụng dầu biodiesel nhiều hơn Hơn nữa, mỡ cá tra, basa có hàm lượng omega3, hàm lượng cholesterol thấp hơn mỡ heo và cá biển, tiềm năng chế biến
mỡ cá tra để làm thực phẩm, dược phẩm sẽ có nhiều cơ hội khai thác hơn Qua
đó cho thấy thị trường mỡ cá tại ĐBSCL đang có khoảng trống lớn, sản phẩm của dự án đang có thị trường tiêu thụ ổn định, và nhu cầu đều tăng qua các năm,
đó là cơ sở vũng chắc cho việc thực hiện dự án
Bột cá: Bột cá khô được xấy mịn từ phụ phẩm thịt và xương cá tra, cá basa
sau khi được thắng lấy mỡ và sấy khô Bột cá Basa, cá tra cung cấp dinh dưỡng
Trang 14cho động vật như nguồn đạm tối ưu dùng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thuỷ sản Bột cá được sử dụng chủ yếu như là nguồn protein dễ tiêu hoá, cung cấp các acid béo cần thiết, ít cholesterol, giàu chất khoáng, phospholipis…và các chất thu hút vị ngon, giúp tiêu hoá tốt, đảm bảo mức độ dinh dưỡng, năng lượng cho vật nuôi nặng cân, chóng lớn…vì vậy, nhu cầu bột cá như một dạng protein trong thức ăn chăn nuôi ngày càng trở nên cấp thiết
Tại Việt Nam bột cá được sử dụng như thành phần chủ yếu trong thức ăn chăn nuôi, trong những năm gần đây cùng với sự gia tăng của việc nuôi trông thủy sản
và chăn nuôi gia súc thì kèm theo đó là việc tăng lượng bột cá dùng để sản xuất Tuy nhiên, sản lượng bột cá sản xuất trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cả về chất lượng lẫn số lượng, vì vậy hàng năm Việt Nam phải bỏ ra một lượng ngoại tệ không nhỏ để nhập khẩu hàng trăm tấn bột cá từ các nước Pêru, ChiLê, Thái Lan, Malaysia…Theo báo cáo của Cục chăn nuôi – Bộ NN-PTNT thì năm 2006 sản lượng thức ăn chăn nuôi trong nước sản xuất được đạt 5.118 triệu tấn Để sản xuất được 5.118 triệu tấn thức ăn chăn nuôi nói trên chúng ta không đủ nguyên liệu phải nhập từ nước ngoài như ngô, khô dầu, cám mì, bột
mì, bột cá…trong đó lượng bột cá nhập khẩu là 55 ngàn tấn chiếm khoảng 60% nhu cầu bột cá, năm 2007 Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 100 ngàn tấn bột cá, theo số liệu thống kê ước tính kim ngạch nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi về Việt Nam đạt 1,66 tỷ USD tăng 35,4% so với năm
2007 Qua đó ta có thể tính toán được nhu cầu sản lượng bột cá cần phải nhập khẩu của nước ta 2006-2008 như sau
Bảng 11: Nhu cầu sản lượng bột cá của Việt Nam 2006-2008
Đơn vị tính: Ngàn tấn Năm
Chỉ Tiêu
(Nguồn: Website http://www.ctns.hdu.edu.vn)
Từ bảng trên cho thấy nhu cầu bột cá cần phải nhập khẩu của Việt Nam qua các năm 2006-2008, qua đó có thể dự báo được nhu cầu bột cá cần cung cấp cho thị trường Việt Nam trong những năm tới
Trang 15Bảng 12: Sản lượng thực tế và sản lượng dự trù trong quá khứ
4 , 135
* 1 100
* 0 55
−
+ +
−
=
1 0 1
4 , 135 0 ) 55 (
+ +
+ +
− = 40,2
Bảng 13: Dự báo nhu cầu bột cá từ 2009-2018
Đơn vị tính: Nghìn tấn Năm Nhu cầu sản lượng bột cá
Trang 16trong nước Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ bột cá trong nước thì bột cá làm từ phụ phẩm cá tra, basa còn được xuất khẩu ra nước ngoài Theo báo cáo từ
Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (Jetro), xuất khẩu bột cá làm từ phụ phẩm cá tra, basa của Việt Nam sang Nhật năm 2007 tăng khoảng 39%, đạt 15.538 tấn Hàng năm, Nhật nhập khẩu khoảng 340.000 tấn bột cá, trong đó, nhập khẩu từ Pêru chiếm khoảng 44% Hiện nay, Việt Nam là nhà cung cấp bột
cá lớn thứ tư cho thị trường Nhật Bản
Qua phân tích cho thấy, thị trường bột cá trong nước đang thiếu hụt một lượng lớn, sản lượng tạo ra không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước Việc đầu
tư nhà máy với máy móc hiện đại để tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước, ngoài khả năng tiêu thụ trong nước thì một số nước khác cũng đang có nhu cầu nhập khẩu bột cá Do đó, sản phẩm bột
cá của dự án làm ra sẽ có thị trường tiệu thụ
4.2.4 Đánh giá, nhận xét các nội dung về phương diện kỹ thuật
4.2.4.1 Địa điểm thực hiện dự án
Để thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh cũng như tiêu thụ sản phẩm Dự án được thực hiện tại Lô số 2.11B khu công nghiệp Trà Nốc II, phường Trà Nốc, quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ Với vị trí này thì nhà máy rất thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất, chế biến Có các tuyến quốc lộ giao thông thuận lợi chuyển hàng hóa đến cảng Cần Thơ, Cảng Sài Gòn, sân bay Trà Nóc Hệ thống ngân hàng, bưu điện đặt tại khu công nghiệp rất thuận lợi cho việc thông tin liên lạc và thanh toán, chuyển tiền….Các dịch vụ khác phục vụ công nhân như hệ thống chợ, các dịch vụ cá nhân gần nhà máy đều
có bảo đảm nhu cầu sinh hoạt cần thiết của công nhân
Đây cũng là nơi xây dựng phù hợp với quy hoạch khu công nghiệp của thành phố, được hưởng chế độ ưu đãi về thuế nên chi phí cũng giảm
Tuy nhiên bên cạnh đó thì có một điều bất lợi là điều kiện giao thông chủ yếu
là đường bộ, trong khi hiện nay đường thủy cũng được vận chuyển khá nhiều làm cho doanh nghiệp mất thêm một khoản chi phí vận chuyển
4.2.4.2 Thiết bị công nghệ của dự án
Để đảm bảo an toàn cho môi trường (không gây mùi hôi, ô nhiễm môi trường)
và chất lượng sản phẩm; công ty quyết định nhập khẩu dây chuyền máy móc,
Trang 17thiết bị sản xuất bột cá, mỡ cá mới 100% từ công ty TNHH A&S Thai Work của Thái Lan Dây chuyền sản xuất bột cá, mỡ cá mà công ty dự kiến nhập khẩu từ Thái Lan bao gồm các máy móc, thiết bị chính như sau:
Máy chặt cá thành từng miếng nhỏ với motor 30 Kw, gồm vít tả và phuễ
Bộ phận nhập liệu, phuễ nối với vít tải đảm bảo nạp liệu chính xác vào nồi hấp, hộp số cơ cấu đa tốc độ 3.7 Kw có xích và đĩa
Nồi hấp nguyên liệu loại PH-9, công suất 3.5 tấn/giờ Nồi hơi hấp gián tiếp trong rotor và bao nhiệt Nồi hấp quay rất chậm để tránh nguyên liệu bị quánh lại như cháo trước khi ép
Hộp số động cơ đa tốc 5.5 Kw, cửa kiểm soát, thiết bị hơi và bảo ôn
Vít trộn và nghiền từ máy ép ra máy sấy, máy bằng thếp không gỉ và vít bằng thếp mềm Vít tải bẻ vỡ các mảng bột cá, trộn cặn từ máy ly tâm và nước cốt cá hoặc cô đặt trước khi đến máy sấy
Máy sấy Rotadisc TST 10.0C Máy sấy hơi gián tiếp dựa trên đĩa quay được thiết kế với diện tích sấy lớn có tác dụng tự làm sạch bảo đảm vận hành liên tục
và hữu hiệu
Thiết bị sàn quay để tách đá, mảng ghép, dây nhợ và nhựa
Bộ phận nập bột Nối phễu và vít tải nơi tạm trữ để tiếp liệu chính xác cho máy nghiền Động cơ hộp số 2.2 Kw
Máy nghiền loại M21, nghiền bột cá trước khi cho vào bao Máy được hoàn chỉnh với tấm lưới thay thế được, búa nghiền cứng, nam châm và motor 22.0kw
Bộ phận làm sạch khư mùi đông tụ hơi nước và làm giảm mùi hôi hơi ga từ máy sấy, bộ phận này được làm bằng thép không gỉ lường đầu vào 9.200 m3/giờ Lượng nước làm nguội 150 m3/giờ Máy bơm 15.0 Kw, quạt bằng thép không gỉ
11 Kw, lắp sau bộ phận khủ mùi và ống dẫn tối đa là 30 m, ống khói cao 10m
Hệ thống của A&STW được đánh giá tiết kiệm 10-12% lượng hơi nước tiêu thụ Bơm đặt biệt chuyển lượng nước nóng được nén trực tiếp trở lại nồi hơi Bình ly tâm 3 pha hiệu Westfalia 450-05-00 hoặc G-tech để tách cặn, dầu và nước cốt từ nước ép Motor điện 30 Kw, bảng điều khiển, dụng cụ thông thường, phụ tùng và 1 thùng chứa công suất 6-8m3/giờ
Bộ lọc dầu tự động để làm sạch dầu thô từ bình ly tâm Motor điện 3.0 Kw Lọc nước và cặn tự động công suất 1.500 lít/giờ
Trang 18Nhà máy cung cấp cá thiết bị dụng cụ thông thường, thùng 4x15 kg Mobilith SHC 1.500 mỡ chịu nhiệt cao, 2 bộ dây đai chữ V, 18 kính thủy tinh chịu nhiệt,
128 lưỡi búa nghiền, 10 lưới (2.5, 3, 4.5mm) cho máy nghiền, 2 bộ bơm trục vít,
2 bộ vòng carbon, 36 thành gạt máy sấy
Giải pháp xây dựng
Công ty dự kiến xây dựng nhà máy với tổng diện tích 5.000 m2 bao gồm: Nhà xưởng, nhà kho có diện tích chung là 3.500 m2Diện tích sân đường nội bộ, cây xanh 1.500 m2
Nguyên liệu chính là phế liệu, phế phẩm ngành thủy sản, chủ yếu là phần đầu
và thân đã lấy phần thịt philê của cá tra, cá basa của công ty và được công ty thu mua về từ các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu
Đầu và thân cá tra, cá basa phụ phẩm này được đưa vào máy nghiền sau đó được truyền bằng vít tải qua máy hấp để hấp chín nguyên liệu
Hổn hợp cá nghiền sau khi được hấp được truyền qua máy sấy để sấy khô Còn phần dung dịch được đưa qua hệ thống ly tâm nhằm để tách phần xác cá
và dung dịch còn lại là mỡ cá, nước và một phần xác cá còn lẫn lại Phần xác cá được tách ra ở giai đoạn này được đưa vào máy sấy để sấy khô
Phần dung dịch ở giai đoạn này được tiếp chuyển qua máy quay ly tâm đứng
để tách phần mỡ và nước Ở giai đoạn này nước được tách ra vẫn còn lẫn một phần xác cá còn sót lại
Phần nước được tách ra vẫn còn lẫn một phần xác cá còn sót lại sẽ chuyển qua máy cô đặc để làm bốc hơi nước và thu phần xác cá Phần xác cá ở giai đoạn này
sẽ được đưa qua máy sấy khô
Trang 19Phần mỡ cá sau khi được tách nước sẽ chuyển qua hệ thống gia nhiệt để làm bốc hơi nước còn sót lại Sau khi tách triệt để hơi nước, mỡ cá sẽ được chuyển qua bồn chứa và xuất kho giao cho khách hàng
Phần xác cá được tách và sấy khô ở các giai đoạn trên được chuyển qua máy nghiền đạt độ mịn 1,5mm Sau khi được nghiền mịn và đồng thời bột cá này có thể trộn thêm một số thành phần khác như bắp, tấm, cám, sắn, đậu nành, bột đá vôi, bột cá, bột sò, bột thịt, bột xương và chất khoáng, Premix…Độ mịn và tỷ lệ trộn thêm phụ gia tùy thuộc vào yêu cầu của quy trình chế biến thức ăn gia súc
và của khách hàng Sau đó vô bao và xuất bán cho khách hàng
4.2.4.4 Cơ sở vật chất của dự án
Nguồn cung cấp điện
Nguồn cung cấp điện cho nhà máy được lấy từ mạng trung thế chạy dọc theo các trục lộ đường nội bộ khu công nghiệp Trà Nóc II, cách nhà máy không quá
100 m Dự án sẽ xây dựng một trạm hạ thế 750 KVA để cung cấp điện cho toàn
bộ hoạt động của nhà máy
Nguồn cung cấp nước
Hiện tại dự án có thể sử dụng giếng nước ngầm công suất 60 m3/giờ Hệ thống
xử lý nước thải và nước cấp được sử dụng chung của dự án nhà máy chế biến thủy sản số 2 của công ty
Nguồn cung cấp lao động
Dự kiến khi đi vào hoạt động Dự án thu hút trên 100 lao động, trong đó số lao động gián tiếp khoảng 10 người được trả mức lương ổn định theo công việc được giao, còn lại là lao động trực tiếp sẽ nhận mức lương khoán sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành Lực lượng lao động chủ yếu là lao động địa phương
và sẽ được tăng thêm khi doanh nghiệp phát triển và mở rộng hoạt động Lao động luôn được khám, kiểm tra sức khảo định kỳ, khi làm việc được trang bị ủng, găng tay, tạp dề, quần áo bảo hộ lao động phù hợp từng công đoạn sản xuất Nhà xưởng được trang bị hệ thống quạt hút, quạt đẩy luân chuyển không khí tránh gây ngạt, tạo sự thông thái, thoải mái khi sản xuất Hệ thống điện thắp sáng phục vụ sản xuất luôn được đảm bảo
Phương tiện vận chuyển
Trang 20Công ty sử dụng các phương tiện vận tải của công ty hoặc thuê ngoài để vận chuyển nguyên liệu và thành phẩm của công ty
4.2.4.5 Đánh giá tác động môi trường và biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường
Qua khảo sát thực tế tại một số nhà máy chế biến thì ảnh hưởng đến môi trường từ việc sản xuất của nhà máy chủ yếu ở các mặt như sau:
Nước thải: Nguồn phát sinh nước thải chủ yếu từ việc sản xuất (rửa nguyên liệu, vệ sinh nhà xưởng, dụng cụ sản xuất…) và nước thải sinh hoạt
Chất thải rắn: Nguồn phát sinh chất thảy rắn cũng từ quá trình sản xuất và sinh hoạt
Ô nhiễm không khí: Nguồn gốc phát sinh các chất gây ô nhiễm không khí xung quanh và khu vực sản xuất của công ty chủ yếu là khói thải từ quá trình đốt than đá để nấu và sấy nguyên liệu, mùi hôi của nguyêu liệu
Đối với nước thải sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt được thu gom và dẫn đến hệ thống xử lý nước thải riêng theo phương pháp bể tự hoại hoàn chỉnh theo các thong số tính toán để đảm bảo thời gian lưu lăng, phân hủy trước khi thải ra môi trường
Trang 21Đối với chất thải rắn trong quá trình sản xuất bao gồm nguyên liệu, phụ liệu rơi rã trong quá trình sản xuất, vận chuyển sẽ được quét dọn và thu gom ngay, đảm bảo nhà xưởng luôn sạch sẽ, bao bì hư hỏng thải bỏ trong quá trình đóng gói bao bì sẽ được thu gom và bán phế liệu
Đối với chất thải sinh hoạt chủ yếu là chất hữu cơ, dễ phân hủy sinh học lượng rác thải này công ty tổ chức thu gom tập trung giao cho Công ty công trình
đô thị đến chuyển đi chở về bãi rác xử lý mỗi ngày
4.2.5 Đánh giá hiệu quả tài chính của dự án
Dự án được tính toán trên cơ sở dùng tiền VNĐ
Thời gian hoạt động bình quân: 25 ngày/tháng; 300 ngày/năm, thời gian còn lại là để dự phòng rủi ro, thị trường nguyên liệu khang hiếm, sửa chữa máy móc…
Năm thứ tư là năm sản xuất ổn định của dự án
Khấu hao và trích khấu hao cơ bản căn cứ Quyết định 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài Chính về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định
Hợp đồng thuê đất số 05/HĐ/TLĐ.KCN ngày 10/04/2007 giữa công ty TNHH XNK thủy sản Thiên Mã và công ty xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Cần Thơ
Giá điện, nước lấy tại thời điểm lập dự án và nguồn dự báo của Bộ Tài Chính Thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong 15 năm kể từ khi dự án đi vào hoạt động Căn cứ điểm 16, mục III, phần A của phụ lục A danh mục đặc
Trang 22biệt ưu đãi đầu tư nghị định số 108/2006/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 22 tháng 9 năm 2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật đầu tư: thu gom xử lý nước thải, khí thải chất rắn; tái chế sử dụng chất thải Do công ty đầu
tư, mở rộng trong lĩnh vực chế biến phế liệu, phế thải ngành thủy sản (thuộc ngành nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư) nên được miễn thuế TNDN trong bốn năm đầu và giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong bảy năm tiếp theo cho phần thu nhập tăng thêm do dự án đầu tư mang lại theo quy định tại điểm 6, điều 36 của Nghị định 24/2207/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 14/02/2007 quy định chi tiết thi hành luật thuế TNDN
Lãi suất chiết khấu của dự án
Lãi suất vay trung hạn 10,5%/năm, lợi tức vốn tự có mong muốn là 13% Vậy lãi suất chiết khấu của dự án là
%25,11
%100
*050
.582.062.20450.249.598.8
%5,10
*050.582.062.20
%13
*450.249.598.8
%100
*
*
=+
r
4.2.5.2 Kết quả kinh doanh dự kiến của dự án
a Doanh thu dự kiến của dự án
Sản phẩm chủ yếu của dự án là bột cá và mỡ cá được bán chủ yếu ở khu vực ĐBSCL Với công suất thiết kế 100 tấn nguyên liệu/ngày thì công suất hoạt động
dự kiến là: năm thứ nhất công suất hoạt động đạt 70% công suất thiết kế, năm thứ
2 công suất hoạt động đạt 80% công suất thiết kế, năm thứ tư công suất hoạt động đạt 90 % công suất thiết kế, từ năm thứ tư trở về sau công suất hoạt động
ổn định đạt 100% công suất thiết kế Khoảng giữa năm 2008 thì giá 1 kg mỡ cá
là 14.000 đồng, bột cá được bán với giá 10.000 đồng/kg Với giá bán như vậy thì doanh thu dự kiến của dự án được thể hiện trong bảng sau
Trang 23Bảng 14: Doanh thu dự kiến khi dự án đi vào hoạt động
Đơn vị tính: Triệu đồng
(Nguồn: Phòng quản lý rủi ro)
b.Khấu hao tài sản cố định
Do vòng đời hoạt động của dự án được lập là 10 năm Trong đó tài sản được khấu hao gồm có bộ phận xây lắp và máy móc thiết bị Phương pháp khấu hao được áp dụng là khấu hao theo đường thẳng Bộ phận xây lắp và máy móc thiết
bị khấu hao trong thời gian 10 năm Giá trị thu hồi cuối dự án án là 0 đồng
Doanh thu (triệu đồng)
Sản lượng (tấn)
Đơn giá (triệu đồng /tấn)
Doanh thu (triệu đồng)
Tổng doanh thu