1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 10

Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam

6 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 439,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm cơ sở cho việc đánh giá tác động của BĐKH đối với các ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm đề xuất những giải pháp, xây dựng kế hoạch hành động ứng phó, thích ứng với BĐKH của [r]

Trang 1

TÓM TẮT KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG CHO VIỆT NAM

TS Phạm Đức Thi, Trung tâm Nghiên cứu KH Khí tượng thủy văn và môi trường

I Đặt vấn đề

BĐKH đã trở thành vấn đề nóng bỏng, là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21, được cả thế giới quan tâm Các tác động của BĐKH đang hiện hữu và đang gây ra những hậu quả to lớn, toàn diện, ảnh hưởng tiêu cực đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu Vì vậy, trong các nghiên cứu về BĐKH thì xây dựng các kịch bản BĐKH giữ vai trò quan trọng nhất.

II Đôi nét về kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng trên thế giới

Phát thải khí nhà kính (KNK) là sản phẩm trực tiếp của phát triển kinh tế - xã hội và bức tranh phát thải KNK toàn cầu là chiếu xạ của bức tranh kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn thế giới Có nghĩa là, BĐKH trong thế kỷ 21 phụ thuộc chủ yếu vào mức độ phát thải KNK, tức là phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, các kịch bản BĐKH được xây dựng dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội

Các kịch bản về kinh tế, xã hội được sử dụng chính trong xây dựng các kịch bản về

phát thải KNK do WGI thực hiện WGII nêu lại các kịch bản về kinh tế, xã hội nhưng

hướng vào một số đối tượng cần thiết có liên quan như dân số, hoạt động kinh tế, cấu trúc thượng tầng, chuẩn mực xã hội, mô hình thay đổi kỹ thuật

Kịch bản về khí hậu là kịch bản nòng cốt trong việc đánh giá tác động của BĐKH.

Nó gồm nhiều dạng, song phổ biến và hiện đại nhất là các kịch bản được rút ra từ các mô hình khí hậu toàn cầu (GCMs) Dựa trên các kịch bản chung này, ta có thể điều chỉnh, ứng dụng cho các quốc gia, các vùng lãnh thổ nhỏ một cách khoa học bằng phương pháp "hạ thấp quy mô" (downscaling) đã được IPCC nghiên cứu và đang được phát triển ở nhiều nước hiện nay

Kịch bản về nước biển dâng như một hệ quả tất yếu của hiện tượng nóng lên toàn cầu,

rất cần cho việc đánh giá tác động của BĐKH và xây dựng biện pháp thích ứng đối với các đối tượng như khu dân cư, hệ sinh thái tự nhiên, phong cảnh của vùng ven biển và các hải đảo Mức thay đổi tương đối của mực nước biển (có tính đến cả sự sụt lún đất) là đặc trưng

sử dụng chính, cũng được rút ra chủ yếu từ mô hình kép khí quyển-đại dương

Để đánh giá tác động của BĐKH và xây dựng biện pháp thích ứng cho các khu vực

nhỏ, các kịch bản về biến đổi khí hậu và nước biển dâng được quan tâm trước tiên Những

kịch bản khác thường phải gắn với điều kiện cụ thể của địa phương

Theo kết quả tính toán thì đến cuối thế kỷ 21, hàm lượng CO2 trong khí quyển vào năm

2100 có khả năng đạt 540 - 970ppm so với khoảng 280ppm trong thời kỳ tiền công nghiệp

và khoảng 368ppm vào năm 2000 Ứng dụng các kịch bản phát thải SRES vào những mô hình khí hậu khác nhau cho thấy, nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu sẽ tăng từ 1,4 đến 5,80C vào thời kỳ 1990 - 2100 Điều đó có nghĩa là lớn hơn từ 2 đến 10 lần trị số trung vị về nóng lên quan trắc được trong thế kỷ 20

Trang 2

Điều quan trọng là tỷ suất tăng nhiệt độ như trên là chưa từng xảy ra, ít nhất là trong thời kỳ 10.000 năm trước

Đáng chú ý là sự nóng lên nhiều hơn ở các khu vực phía Bắc của Bắc Mỹ, phía Bắc và Trung Á Ngược lại, mức độ nóng ít hơn (so với trung bình toàn cầu) ở phía Nam và Đông Nam Á trong mùa hè và phía Nam của Nam Mỹ trong mùa đông Nhiệt độ bề mặt tăng lên

ít hơn ở Bắc Đại Tây dương và quanh vùng biển Nam cực

Hình 2.1: Biến đổi của nhiệt độ toàn cầu từ năm 1850 và dự kiến các mức tăng nhiệt độ đến năm 2100 (Nhiệt độ trung bình là 15oC, mức thấp nhất đến năm 2100 là 16,2oC, có

nhiều khả năng là 17,4-17,8oC) Lượng mưa năm và hơi nước trung bình toàn cầu được đánh giá là tăng lên trong thế kỷ

21 cùng với hiện tượng nóng lên toàn cầu, song đối với từng khu vực có thể tăng hoặc giảm

5 đến 20% Rất có thể lượng mưa sẽ tăng ở khu vực thuộc vĩ độ cao cả trong mùa đông và mùa hạ, ở vĩ độ trung bình bán cầu Bắc, vùng nhiệt đới châu Phi và Nam Cực vào mùa đông, Nam và Đông Á vào mùa hạ Ở châu Úc, Trung Mỹ, Nam Phi, lượng mưa giảm vào mùa đông Hàng năm, sự biến động rất lớn xảy ra ở các vùng được dự báo lượng mưa trung bình tăng Hiện tượng nóng lên toàn cầu gây ra sự giãn nở đại dương và tan băng ở cực và trên núi cao, dẫn tới mực nước biển dâng cao Trong 100 năm trở lại đây, mực nước biển trung bình tăng khoảng 1-2 mm/năm

Theo tất cả các mức của các kịch bản trong Báo cáo đặc biệt về các kịch bản phát thải (SRES), mực nước biển trung bình toàn cầu sẽ tăng từ 0,09m đến 0,88m trong thế kỷ 21, nhưng có sự biến động rõ rệt theo vùng Cụ thể, trong thời kỳ 1990 2025 sẽ tăng 0,03 -0,14m và trong thời kỳ 1990 - 2050 sẽ tăng 0,05 - 0,32m

0 C

cm

Trang 3

Hình 2.2: Dự kiến các mức tăng của mực nước biển đến năm 2100

(Mức tăng ít nhất là 40cm, cao nhất đến gần 60cm)

Theo SRES, những biểu hiện chủ yếu của BĐKH trong các mốc thời gian quan trọng của thế kỷ 21 bao gồm sự tăng nồng độ CO2 trong khí quyển, sự tăng nhiệt độ và mực nước biển dâng trên bề mặt trái đất

Theo bảng 2.1, vào năm 2050, nhiệt độ tăng lên 0.8 - 2.60C và mực nước biển dâng lên

5 32cm so với năm 1990 Mức tăng của các đặc trưng yếu tố này vào năm 2100 là 1.4 -5.80C và 9 - 88cm Mặc dù mức tăng nhiệt độ cũng như mực nước biển dâng lên không đồng đều giữa các khu vực cũng như giữa các châu lục, song các biến đổi đó rõ ràng là một thách thức rất lớn đối với mọi hoạt động kinh tế - xã hội trong tương lai của nhân loại

Bảng 2.1: Các kịch bản về phát thải khí nhà kính (SRES), kinh tế, xã hội, khí hậu và nước biển dâng (IPCC, 2001)

Năm

Dân số

thế giới

(tỷ

người)

GDP toàn cầu (10 12

-1 )

Tỷ lệ thu nhập theo đầu người (nước Phát triển/ nước đang phát triển)

Hàm lượng ôzon tầng thấp (ppm)

Hàm lượng

CO 2

(ppm)

Biến đổi nhiệt độ toàn cầu ( 0 C)

Nước biển dâng toàn cầu (cm)

Lưu ý rằng, ngoài các biến đổi trung bình về nhiệt độ và mực nước biển còn có nhiều biến đổi về cực trị của nhiệt độ, các biến đổi không cùng chiều về lượng mưa, các cực trị

Trang 4

lượng mưa và tổng hợp của các biến đổi đó giữa các địa phương trên cùng khu vực và giữa các khu vực (bảng 2.2)

Bảng2.2: Các biến đổi về cực trị có thể có trong thế kỷ XXI

Trên hầu hết khu vực

- Nhiệt độ cao nhất cao hơn

- Nhiều ngày nóng hơn

- Nhiều đợt nóng hơn

Trên hầu hết vĩ độ trung bình, mùa hè ít mưa hơn dẫn đến nguy cơ hạn hán

Trên hầu hết các khu vực

- Nhiệt độ thấp nhất cao hơn

- Ít ngày lạnh hơn

- Ít ngày sương giá hơn

- Ít đợt lạnh hơn

Tăng sức gió mạnh nhất, lượng mưa trung bình và lượng mưa lớn nhất trong các xoáy thuận nhiệt đới

Trên nhiều khu vực

- Nhiều đợt mưa lớn hơn

Gia tăng hạn hán và lũ lụt liên quan đến ENSO trên nhiều lĩnh vực khác nhau

Gia tăng biến động của lượng mưa gió mùa châu Á

Gia tăng cường độ bão vĩ độ trung bình

III Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam

3.1 Biểu hiện của BĐKH ở Việt Nam (1958 – 2014):

- Nhiệt độ trung bình tăng 0,62 độ C;

- Nhiệt độ cực trị tăng ở hầu hết các vùng;

- Số ngày nóng tăng (34 ngày/thập kỷ) Số đêm lạnh giảm (11 đêm/thập kỷ);

- Mưa cực đoan tăng mạnh ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên;

- Bão mạnh có xu hướng tang;

- Hiện tượng El Nino/La Nina tác động mạnh mẽ đến thời tiết, khí hậu Việt Nam;

- Mực nước biển tăng 2,45mm/năm (1960 – 2014);

- Số trận lũ quét tăng

3.2 Xây dựng kịch bản BĐKH

3.2.1 Cơ sở và phương pháp xây dựng kịch bản BĐKH

Để làm cơ sở cho việc đánh giá tác động của BĐKH đối với các ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm đề xuất những giải pháp, xây dựng kế hoạch hành động ứng phó, thích ứng với BĐKH của các Bộ, ngành, địa phương trong tương lai, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam đã giao cho Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu xây dựng kịch bản BĐKH và nước biển dâng chi tiết cho Việt Nam

Kịch bản BĐKH là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, tổng thu nhập quốc dân, phát thải khí

Trang 5

nhà kính, BĐKH và mực nước biển dâng, thể hiện mối ràng buộc giữa phát triển và hành động toàn cầu trong tương lai Các kịch bản BĐKH luôn tồn tại những điểm chưa chắc chắn, vì thế tính chưa chắc chắn của các kịch bản BĐKH cần được xét đến trong đánh giá tác động, tính dễ bị tổn thương và xác định các giải pháp thích ứng với BĐKH Về cơ bản, tính chưa chắc chắn trong các kịch bản BĐKH phụ thuộc vào việc xác định các kịch bản phát thải KNK, nồng độ KNK trong khí quyển trong tương lai, những hiểu biết còn hạn chế

về hệ thống khí hậu toàn cầu và khu vực, phương pháp xây dựng các kịch bản

Tính chưa chắc chắn của các kịch bản phát thải khí nhà kính được cho là nguyên nhân chính gây ra những điểm không chắc chắn của các kịch bản BĐKH Những điểm chưa chắc chắn của các kịch bản phát thải KNK liên quan đến các mối quan hệ ràng buộc giữa sự tăng dân số, phát triển kinh tế - xã hội và thay đổi công nghệ trong tương lai

Để xây dựng kịch bản BĐKH cho Việt Nam năm 2016, các chuyên gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã sử dụng các phương pháp:

- Kịch bản nồng độ khí nhà kính;

- Chi tiết hóa các mô hình động lực;

- Sử dụng 16 phương án tính theo kết quả mô hình toàn cầu;

- Phương pháp thống kê hiệu chỉnh kết quả mô hình;

- Đánh giá mức độ tin cậy của kết quả.

3.2.2 Số liệu sử dụng:

+ Số liệu khí tượng:

- Nhiệt độ, mưa của 150 trạm khí tượng, thủy văn cập nhật đến 2014;

- Kết quả tính toán từ mô hình khí hậu khu vực của Nhật Bản, Anh, Úc, Ý và Mỹ; + Số liệu bản đồ địa hình;

+ Số liệu mực nước triều

3.2.3 Kịch bản BĐKH:

a) Nhiệt độ:

- Nhiệt độ ở tất cả các vùng đều có xu thế tăng so với thời kỳ cơ sở (1986 – 2005), lớn nhất là ở phía Bắc;

- Đến cuối thế kỷ 21, theo Kịch bản RCP4.5: ở phía Bắc nhiệt độ tăng 1,9 – 2,40C, ở phía Nam tăng 1,7 – 1,90C Nhiệt độ thấp nhất trung bình và cao nhất trung bình tăng rõ rệt Theo Kịch bản RCP8.5: nhiệt độ ở phía Bắc tăng 3,3 – 4,00C, ở phía Nam tăng 3,0 – 3,50C

b) Lượng mưa:

- Lượng mưa năm tăng trên phạm vi toàn quốc;

- Đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm tăng phổ biến 5 – 15% Lượng mưa mù khô ở một số vùng giảm (theo Kịch bản RCP4.5)

- Mức tăng nhiều nhất có thể > 20% ở hầu hết Bắc Bộ, Trung Trung Bộ, một phần Nam Bộ và Tây Nguyên (theo kịch bản RCP8.5);

- Mưa cực trị: Giá trị trung bình của lượng mưa 1 ngày lớn nhất trung bình tang trên (10 – 70%) so với trung bình thời kỳ cơ sở

c) Các hiện tượng thời tiết cực đoan:

Trang 6

- Số lượng bão mạnh đến rất mạnh có xu hướng tăng;

- Thời điểm bắt đầu của gió mùa mùa hè có xu hướng bắt đầu sớm hơn, kết thúc muộn hơn;

- Mưa gió mùa tăng;

- Số ngày rét đậm, rét hại giảm;

- Số ngày nắng nóng (Tx = > 35 độ C) tăng, lớn nhất là ở Bắc Trung Bộ, Nam Trung

Bộ và Nam Bộ;

- Hạn hán trở nên khắc nghiệt hơn do nhiệt độ tang và lượng mưa giảm trong mùa khô

d) Nước biển dâng (NBD) ven biển Việt Nam:

Đến năm 2100, theo Kịch bản RCP4.5, NBD cao nhất tại:

- Hoàng Sa: 58cm (36 – 80cm);

- Trường Sa: 57cm (33 – 83cm);

- Khu vực Cà Mau – Kiên Giang: 55cm (33 – 78cm);

- Móng Cái – Hòn Dáu và Hòn Dáu – Đèo Ngang: 53cm (32 – 75cm)

Theo Kịch bản RCP8.5, NBD cao nhất tại:

- Hoàng Sa: 78cm (52 – 107cm);

- Trường Sa: 77cm (50 – 107cm);

- Khu vực Cà Mau – Kiên Giang: 75cm (52 – 106cm);

- Móng Cái – Hòn Dáu và Hòn Dáu – Đèo Ngang: 72cm (49 – 101cm)

Nguy cơ ngập úng với NBD 100cm:

- 16,0%: Đồng bằng sông Hồng;

- 1,5%: Các tỉnh ven biển Miền Trung (Thanh Hóa – Bình Thuận);

- 17,8%: TP Hồ Chí Minh;

- 38,9%: Đồng bằng sông Cửu Long;

- Cụm đảo Vân Đồn, Côn Đảo và Phú Quốc có nguy cơ ngập cao;

- Nguy cơ ngập đối với QĐ Trường Sa là không lớn, QĐ Hoàng Sa có nguy cơ ngập lớn hơn, nhất là các đảo thuộc nhóm Lưỡi Liềm và đảo Tri Tôn

( Nguồn: Viện Khoa học KTTV và BĐKH)

Ngày đăng: 08/02/2021, 06:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w