Đề tài tập trung nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp với Ireland, và bài học rút ra dành cho các quốc gia khác trong đó có Việt Nam.
Trang 1Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 vừa mới đi qua chưa được bao lâu thì sang năm 2010, thế giới liên tiếp đón nhận tin khủng hoảng tài chính xảy ra tại nhiều quốc gia châu Âu, chưa kể còn nhiều nước khác đang trong vòng xoáy lao đao và có thể cũng lâm vào cảnh vỡ nợ bất cứ lúc nào Khủng hoảng nợ ở Hy Lạp, tiếp theo đó là Ireland và Bồ Đào Nha đã đưa liên minh châu Âu vào một hoàn cảnh hết sức khó khăn, kinh tế trì trệ, hệ thống tài chính rối ren, và uy tín giảm sút Ngoài
ra, cuộc khủng hoảng ở khu vực này cũng có ít nhiều ảnh hưởng tới các quốc gia, các khu vực kinh tế khác trên thế giới Sau sự cố vỡ nợ của Chính phủ Hy Lạp hay
sự sụp đổ hệ thống ngân hàng ở Ireland, đã tới lúc tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang có mức nợ công cao, cần phải nhanh chóng nhìn nhận lại tình trạng nợ công của mình, cần phải có những biện pháp kiểm soát và điều hành chính xác để có thể đảm bảo không rơi vào cảnh khủng hoảng nợ
Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài nhận định trên Chúng ta đang trên đà hội nhập kinh tế thế giới, với tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn đạt ở mức khá cao, do đó nhu cầu về vốn là không nhỏ, việc nhà nước đi vay để hỗ trợ phát triển đầu tư hay tài trợ thâm hụt ngân sách cũng là thực tế tất yếu Những con số thống kê mà giới chức trách liên quan đưa ra những năm gần đây cho thấy tình trạng nợ công của chúng ta dù chưa vượt quá mức nguy hiểm, nhưng đang trên đà gia tăng nhanh chóng Thiết nghĩ sau cuộc khủng hoảng nợ ở Châu Âu, chúng ta cần phải rút ra những bài học cho riêng mình để tránh đi vào vết xe đổ đó, đảm bảo tính bền vững của nợ công trong trung và dài hạn
Khái niệm “nợ công” là một khái niệm tương đối mới Trước đây chúng ta hay nghe nói đến nợ nước ngoài, chỉ vài tháng trước, trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụm từ “nợ công” và “khủng hoảng nợ công” mới xuất hiện thường xuyên với tần số cao, nhận được sự quan tâm lớn của dư luận cũng như các nhà chức trách Đã có rất nhiều bài báo nói về đề tài này nhưng những nghiên cứu hoàn
Trang 2thể mang lại những bài học quý giá cho công tác vay và quản lý nợ công ở nước ta
Đó là lý do thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài “Phân tích cuộc khủng hoảng nợ công ở
châu Âu và bài học rút ra cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt
nghiệp của mình
II Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về Nợ công và quản lý nợ công của một quốc gia
- Tìm hiểu thực tiễn cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra ở một số nước châu
Âu năm qua như Hy Lạp, Ireland
- Tìm hiểu tổng quan về thực trạng quản lý nợ công ở nước ta hiện nay
- Từ thực tiễn cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong công tác quản lý sử dụng nợ công, qua đó đưa ra một
số kiến nghị cụ thể
III Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp với Ireland, và bài học rút ra dành cho các quốc gia khác trong đó có Việt Nam
IV Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được hoàn thiện dựa trên các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát kết hợp với sử dụng các bảng biểu, tài liệu tham khảo
V Bố cục của đề tài
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về nợ công và quản lý nợ công của một quốc gia
Trang 3từ cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu
Để có thể hoàn thành tốt và đúng kế hoạch khóa luận này, em xin chân thành cảm
ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, đặc biệt là thầy giáo Lý Hoàng Phú đã tận tình hướng dẫn giúp em trong quá trình nghiên cứu
và thực hiện đề tài này
Do những hạn chế về kiến thức và khả năng cũng như hạn chế về thời gian lẫn tài liệu nghiên cứu, do đây là một đề tài khá mới và khó, chắc chắn bài khoá luận còn rất nhiều những thiếu sót, vướng mắc Em rất mong nhận được thêm sự chỉ dẫn và nhận xét góp ý từ các thầy cô Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên:
Lê Ngọc Tuấn
Trang 4Chương I: Lý luận chung về nợ công và quản lý nợ công 1
1 Tổng quan về nợ công 1
1.1 Định nghĩa nợ công 1
1.2 Phân loại nợ công 3
1.2.1 Phân loại theo nguồn cho vay 3
1.2.2 Phân loại theo chủ thể đi vay 4
1.2.3 Phân loại theo thời hạn vay 5
1.2.4 Phân loại theo hình thức đi vay 5
2 Vai trò của nợ công 6
2.1 Nợ công đáp ứng các nhu cầu về vốn 6
2.2 Nợ công giúp bù đắp cán cân thanh toán 7
2.3 Các quan điểm về tác động của nợ công đối với nền kinh tế 7
2.3.1 Hai quan điểm cũ về tác động của nợ công tới nền kinh tế 7
2.3.2 Quan điểm hiện đại về tác động của nợ công tới tăng trưởng kinh tế 8
3 Khủng hoảng nợ và quản lý nợ công của một quốc gia 9
3.1 Khái niệm khủng hoảng nợ 10
3.2 Vấn đề quản lý nợ công của một quốc gia 10
3.2.1 Khái niệm quản lý nợ công 10
3.2.2 Những nội dung của hoạt động quản lý nợ công 12
3.2.3 Mô hình quản lý nợ công của Ngân hàng thế giới 13
3.3 Một số chỉ tiêu đánh giá nợ công 14
Trang 53.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ trong nước 18
3.4 Một số vấn đề gặp phải khi tính toán nợ công 18
3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến vay trả nợ, chi phí sử dụng vốn 20
4 Một số cuộc khủng hoảng nợ trong lịch sử 21
4.1 Khủng hoảng nợ ở khu vực châu Mỹ Latinh thập niên 80 22
4.2 Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 23
4.3 Bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng nợ của Argentina năm 2001 26
Chương II: Phân tích cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu 2010 29
1 Khái quát về khủng hoảng nợ công ở châu Âu 2010 29
2 Thực trạng khủng hoảng nợ ở một số quốc gia điển hình 33
2.1 Khủng hoảng nợ ở Hy Lạp 33
2.1.1 Vài nét về kinh tế Hy Lạp trước khủng hoảng 33
2.1.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp 35
2.1.3 Các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ tại Hy Lạp 40
2.1.4 Những biện pháp đối phó được áp dụng 46
2.2 Khủng hoảng nợ ở Ireland 53
2.2.1 Kinh tế Ireland trước khủng hoảng và con đường dẫn tới khủng hoảng 53
2.2.2 Nguyên nhân và bản chất của khủng hoảng nợ ở Ireland 58
3 Một số nhận xét rút ra từ hai cuộc khủng hoảng ở Hy Lạp và Ireland 59
Chương III: Thực trạng quản lý nợ công ở Việt Nam hiện nay và một số bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu vừa qua 63
Trang 61.1.1 Các nguồn hình thành nợ công của Việt Nam 63
1.1.2 Tình trạng nợ công của Việt Nam 64
1.2 Thực trạng quản lý nợ công ở Việt Nam 68
1.2.1 Hệ thống khung pháp lý điều chỉnh nợ công 68
1.2.2 Cơ chế quản lý nợ công 69
1.2.3 Các công cụ quản lý nợ công 70
2 Đánh giá về thực trạng quản lý nợ công ở Việt Nam 72
2.1 Nhận xét chung về tình hình quản lý nợ công giai đoạn 2005-2010 72
2.2 Những hạn chế còn tồn tại 74
3 Một số bài học rút ra từ khủng hoảng nợ công châu Âu, các khuyến nghị đối với công tác quản lý nợ công ở Việt Nam 75
3.1 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu 75
3.2 Một số giải pháp khuyến nghị cho công tác quản lý Nợ công ở Việt Nam hiện nay 79
3.2.1 Các giải pháp tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế 79
3.2.2 Các giải pháp tăng cường hiệu quả vay và sử dụng nợ công 80
3.2.3 Các giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý nợ công, đảm bảo tính bền vững của nợ công 81
KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Bảng 1.1 Danh sách những quốc gia có tỉ lệ nợ công/GDP cao nhất 15
Bảng 1.2 Ngưỡng nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn HIPCs 17
Bảng 1.3 Mức ngưỡng nợ trong nước 18
Bảng 2.1 Tỉ lệ nợ nước ngoài/kim ngạch xuất khẩu của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ireland, Hy Lạp giai đoạn 2003-2009 30
Bảng 2.2 Tổng quát tình hình kinh tế Hy Lạp năm 2009 35
Bảng 2.3 Tình hình tài chính công của Hy Lạp năm 2009 35
Bảng 2.4 Thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai của Hy Lạp giai đoạn 2005-2010 36
Bảng 2.5 Nợ công và thâm hụt ngân sách của Ireland 2007-2010 57
Bảng 3.1 Cơ cấu nợ công Việt Nam giai đoạn 2005 -2009 (%GDP) 67
Bảng 3.2 Các băn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý nợ công 68
Biểu đồ 2.1 tăng trưởng GDP hàng năm của Hy Lạp giai đoạn 2003-2010 34
Biểu đồ 2.2 5 quốc gia thâm hụt ngân sách cao nhất châu Âu năm 2009 38
Biểu đồ 2.3 So sánh tỉ lệ nợ công/GDP của Hy Lạp với một số nước trong khu vực EU, năm 2010 39
Biểu đồ 2.4 Tình hình chi và thu ngân sách của Chính phủ Hy Lạp giai đoạn 2005-2009 (đơn vị: tỉ Euro) 41
Biểu đồ 2.5 GDP bình quân đầu người của Ireland giai đoạn 2003-2008 (đơn vị 1000USD) 54
Biểu đồ 2.6 Tăng trưởng GDP giai đoạn 2003-2007 của Ireland 55
Biểu đồ 3.1 Nợ công của Việt Nam giai đoạn 2004-2010 65
Biểu đồ 3.2 Nợ công của Việt Nam giai đoạn 2004-2010 theo IMF 66
Biểu đồ 3.3 Thâm hụt ngân sách Việt Nam giai đoạn 2007-2010 (% GDP) 66
Trang 8Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 9Chương I: Lý luận chung về nợ công và quản lý nợ công
1 Tổng quan về nợ công
1.1 Định nghĩa nợ công
Nợ công là một chủ đề được nhắc tới nhiều trong thời gian vừa qua trên các phương tiện thông tin đại chúng, nó cũng là một vấn đề quan trọng trong nền tài chính của bất cứ quốc gia nào; thế nhưng đối với Việt Nam chúng ta, khái niệm này hiện vẫn chưa trở nên quen thuộc Thay vào đó, chúng ta lâu nay hay nhắc đến khái
niệm Nợ nước ngoài của quốc gia hoặc Nợ Nhà nước (tức là Nợ Chính phủ); khái
niệm nợ công mới chỉ được định nghĩa cụ thể trong Luật Quản Lý nợ công ban hành đầu năm 2010
Trước khi định nghĩa nợ công, ta hãy định nghĩa khu vực công Theo Quỹ Tiền
tệ quốc tế (IMF) thì khu vực công bao gồm Chính phủ, chính quyền địa phương, cơ quan quản lý tiền tệ (thường là ngân hàng Trung ương), và các công ty công Doanh nghiệp quốc doanh là doanh nghiệp mà Nhà nước chi phối hoặc chiếm tỉ lệ cổ phần chi phối và do đó thường vì áp lực chính trị phải chịu trách nhiệm về nợ nần của chúng
Theo Ngân hàng thế giới (WB) và IMF thì nợ công theo nghĩa rộng là nghĩa
vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước (NSNN) quyết định hay trên 50% vốn thuộc
sở hữu Nhà nước, và trong trường hợp vỡ nợ Nhà nước phải trả nợ thay) Còn theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán
Tùy thuộc thể chế kinh tế và chính trị, quan niệm về nợ công ở mỗi quốc gia cũng có sự khác biệt Tại hầu hết các nước trên thế giới, Luật Quản lý nợ công đều
Trang 10xác định nợ công gồm nợ của Chính phủ và nợ được Chính phủ bảo lãnh Một số nước, nợ công còn bao gồm nợ của chính quyền địa phương (Đài Loan, Bungari, Rumani…), nợ của doanh nghiệp Nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan, Macedonia)
Ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công xác định, nợ công bao gồm nợ Chính phủ,
nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương
Như vậy về cơ bản phạm vi xác định nợ công của Việt Nam so với IMF và
WB không khác nhau nhiều Ở đây xin được lấy định nghĩa Nợ công theo Luật quản
lý nợ công ban hành năm 2009
Định nghĩa nợ công: Nợ công là tất cả những khoản nợ mà chính
quyền mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay, cũng như những khoản nợ mà Chính phủ đứng ra bảo lãnh
Để dễ hình dung quy mô của nợ công, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiều phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Cần phân biệt nợ công với khái niệm nợ nước ngoài của quốc gia , là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác theo phương thức tự vay, tự trả
Ở đây đưa ra thêm một khái niệm nữa, đó là Nợ xấu: nợ xấu là khoản tiền cho
vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xoá sổ khỏi dánh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ
Khái niệm nợ xấu được đưa ra nhằm mục đích phân tích sâu hơn về nợ công
dưới góc độ không an toàn Khi tìm hiểu kinh tế thế giới từ năm 2009 trở lại đây,
chúng ta nhận thấy nổi bật lên là bức tranh khủng hoảng nợ xảy ra ở một số quốc gia, trên nhiều khu vực của thế giới; đó là dấu hiệu về một tấm thảm kịch nợ không
an toàn đang ngày càng lan rộng Nợ công về căn bản là một yếu tố không thể thiếu với mọi quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển, với nhu cầu vốn cho đầu tư sản xuất, phát triển kinh tế tăng lên rất nhanh qua thời gian Nếu được sử dụng và
Trang 11quản lý tốt, nợ công sẽ đóng vai trò tích cực trong sự phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên nếu không làm tốt công tác này, nợ công lúc đó sẽ trở thành nợ xấu, không an toàn và có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực đến kết cấu vĩ mô của nền kinh tế
Bản chất nợ công:
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ; khi chi tiêu của Chính phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay (trong hoặc ngoài nước) để trang trải thâm hụt ngân sách Do đó về bản chất, có thể hiểu nợ công là tổng các khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách; nói cách khác nợ công chính là thâm hụt ngân sách (hay còn gọi là bội chi ngân sách) luỹ kế tính đến một thời điểm nào đó Khái niệm bội chi ngân sách là khái niệm có quan hệ mật thiết với khái
niệm nợ công
Khái niệm bội chi ngân sách:
Bội chi ngân sách Nhà nước, hay còn gọi là thâm hụt ngân sách Nhà nước, là tình trạng chi ngân sách Nhà nước vượt quá thu ngân sách Nhà nước trong một năm, là hiện tượng ngân sách Nhà nước không cân đối thể hiện trong sự so sánh giữa cung và cầu về nguồn lực tài chính của Nhà nước Phần chênh lệch giữa chi ngân sách Nhà nước và thu ngân sách Nhà nước chính là bội chi ngân sách Chú ý rằng thu Chính phủ không bao gồm các khoản đi vay
1.2 Phân loại nợ công
Việc phân loại nợ công có vai trò quan trọng trong việc theo dõi, đánh giá và quản lý hiệu quả nợ công
1.2.1 Phân loại theo nguồn cho vay
Đây là cách phân loại phổ biến nhất Theo cách phân loại này, nợ công được phân thành nợ vay trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước)
Vay nợ trong nước (vay dân):
Trang 12Vay nợ trong nước được Chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái, trái phiếu Ở nước ta, Chính phủ thường uỷ nhiệm cho Kho bạc Nhà nước phát hành trái phiếu dưới cá hình thức: tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình
Khi tài trợ bội chi ngân sách bằng vay nợ, Chính phủ không cần tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dự trữ quốc tế, vì vậy đây là một cách hiệu quả để kiềm chế lạm phát, hạn chế về rủi ro hối đoái Tuy nhiên vay trực tiếp từ dân sẽ làm giảm làm giảm khả năng tiếp cận tín dụng của khu vực tư nhân từ đó gây ra sức ép làm tăng lãi suất trong nước Hơn nữa luồng tiền dịch chuyển từ khu vực tư nhân sang hệ thống tài chính ngân hàng làm vốn cho đầu tư sản xuất kinh doanh bị giảm xuống, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế
Vay nợ nước ngoài:
Chính phủ có thể tài trợ thâm hụt ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài thông qua việc nhận viện trước nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các Chính phủ nước ngoài, các định chế tài chính thế giới như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), các tổ chức liên Chính phủ, tổ chức quốc tế
Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức quốc tế cung cấp cho Chính phủ của một nước nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức (ODA)
Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng
1.2.2 Phân loại theo chủ thể đi vay
Phân loại theo các nhày gồm có nợ do Chính phủ; nợ do chính quyền địa phương và nợ do các doanh nghiệp tổ chức được Chính phủ bảo lãnh đứng ra đi
Trang 13vay Theo Luật Quản lý nợ công:
Nợ Chính phủ: là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước
ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Nợ được Chính phủ bảo lãnh: là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài
chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh
Nợ chính quyền địa phương: là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành
1.2.3 Phân loại theo thời hạn vay
Phân loại theo cách này gồm có: nợ ngắn hạn, nợ trung hạn và nợ dài hạn
Nợ ngắn hạn: là loại nợ có thời hạn từ một năm trở xuống Vì thời gian đáo
hạn ngắn, khối lượng thường không đáng kể, nợ ngắn hạn thường không thuộc đối tượng cần quản lý một cách chặt chẽ như nợ dài hạn Tuy nhiên nếu nợ ngắn hạn không trả được sẽ gây mất ổn định cho hệ thống ngân hàng Đặc biệt khi tỉ trọng nợ ngắn hạn trong tổng nợ có xu hướng tăng phải hết sức thận trọng vì luồng vốn rút ra đột ngột có thể gây bất ổn cho nền tài chính quốc gia
Nợ dài hạn: là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã
gia hạn kéo dài trên mười năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày đến hạn khoản thanh toán cuối cùng Nợ dài hạn được quan tâm quản lý nhiều hơn do khả năng tác động rộng và sâu đến nền tài chính của quốc gia
Nợ trung hạn: là những khoản nợ có thời gian đáo hạn từ một đến dưới mười
năm
1.2.4 Phân loại theo hình thức đi vay
Trang 14Gồm có: vay theo hình thức phát hành trái phiếu và vay trực tiếp
Phát hành trái phiếu Chính phủ
Chính phủ có thể phát hành Trái phiếu Chính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Trái phiếu Chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn Tuy nhiên trong thêm tiền có thể gây ra tình trạng lạm phát trầm trọng nên ngày nay hầu như không có quốc gia nào còn sử dụng cách này
Trái phiếu Chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì Chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán và ngoài ra còn có rủi ro về tỉ giá hối đoái
Vay trực tiếp
Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêu quốc gia (ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF) Hình thức này thường được Chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay
nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ của họ không cao
2 Vai trò của nợ công
2.1 Nợ công đáp ứng các nhu cầu về vốn
Hiện nay ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nhu cầu đầu tư Nhà nước, chi ngân sách Nhà nước ngày càng mở rộng và tăng lên, nhưng thu ngân sách Nhà nước luôn bị hạn chế bởi những giới hạn nhất định như tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, các định chế pháp lý Thiếu hụt vốn cho đầu tư không những làm cho Nhà nước thiếu hậu thuẫn về ngân sách để điều chỉnh kinh tế
vĩ mô mà còn làm cho việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng phải dựa chủ yếu vào ngân sách Nhà nước gặp phải nhiều khó khăn Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ đi vay hoặc bảo lãnh cho các pháp nhân khác có điều kiện vay thêm vốn
có thể nói là một nguồn lực bổ sung cần thiết để phát triển kinh tế
Trang 15Đây là vai trò căn bản và quan trọng nhất của nợ công
2.2 Nợ công giúp bù đắp cán cân thanh toán
Như đã nêu trên, nợ công bao gồm hai hình thức huy động là vay trong nước
và vay nước ngoài So với vay trong nước, vay nợ nước ngoài thường chiếm tỉ lệ cao hơn do những ưu điểm và tác dụng mang tính tích cực của nó Bên cạnh vai trò đáp ứng nhu cầu vốn nêu trên, một vai trò khác của vay nợ nước ngoài đó là giúp bù đắp cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán có thể tạm thời bị thâm hụt do điều kiện bất lợi tạm thời trong thương mại quốc tế Chẳng hạn khi giá hàng xuất khẩu các sản phẩm của một nước bị giảm sút mạnh so với giá hàng nhập khẩu, nước đó cũng có thể sử dụng biện pháp vay nợ nước ngoài để duy trì tiêu dùng trong ngắn hạn Các nước đang phát triển cũng sử dụng hình thức đi vay tín dụng thương mại ngắn hạn để tham gia vào thương mại quốc tế Bằng cách nhận tín dụng thương mại của đối tác, nước đi vay sẽ tránh dược việc phải huy động nguồn ngoại tệ dự trữ của mình để thanh toán cho các khoản nhập khẩu hàng hoá, các chi phí xuất khẩu hoặc chi phí khác
2.3 Các quan điểm về tác động của nợ công đối với nền kinh tế
2.3.1 Hai quan điểm cũ về tác động của nợ công tới nền kinh tế
Từ bản chất là các khoản Chính phủ đi vay để tài trợ ngân sách, có nhiều quan điểm về tác động và ảnh hưởng của nợ công tới sự phát triển trong ngắn và dài hạn của nền kinh tế
Do Chính phủ bù đắp cho thâm hụt ngân sách bằng cách đi vay nên luỹ kế các khoản thâm hụt ngân sách đến một thời điểm sẽ chính là mức nợ công tại thời điểm
đó Khi đến hạn, Chính phủ sẽ phải hoàn trả gốc và lãi của những khoản đã vay, khi
đó Nhà nước phải tăng thu thuế để bù đắp Như vậy có thể thấy rằng nợ công suy cho cùng chỉ là sự lựa chọn thời gian trong việc đánh thuế:hiện tại hay tương lai thế
hệ hôm nay hay thế hệ ngày mai, mà mục đích cuối cùng vẫn là bù đắp thiếu hụt ngân sách Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, nợ quốc gia thể hiện sự
Trang 16chuyển giao của cải từ thế hệ sau (thế hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế
hệ được giảm thuế) Từ nhận định này, có hai quan điểm cơ bản về nợ công:
Quan điểm thứ nhất, là quan điểm truyền thống, đại diện là Keynes, cho rằng
việc vay nợ của Chính phủ làm giảm tiết kiệm của quốc gia và mức tích luỹ vốn, vì
số thuế cắt giảm được bù đắp bằng cách vay nợ nên khuyến khích thế hệ hiện tại tiêu dùng nhiều hơn, số người thất nghiệp giảm đi tuy nhiên lạm phát có thể cao hơn Tuy nhiên sự gia tăng tiêu dùng trong ngắn hạn sẽ dẫn đén khối lượng tư bản ít hơn (do đầu tư giảm) và thu nhập quốc dân thấp hơn trong dài hạn Không những vậy, thế hệ tương lai sẽ phải chịu những gánh nặng nợ lớn
Quan điểm thứ hai, quan điểm của trường phái kinh tế học vĩ mô cổ điển ra
đời vào khoảng thập niên 70 thế kỷ trước, đứng đầu là Barro-Ricardo cho rằng, biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ quốc gia không kích thích chi tiêu trong ngắn hạn, vì không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai Các cá nhân dự tính rằng, hiện giờ Chính phủ giảm thuế và phát hành trái phiếu để bù đắp thâm hụt, thì đến một thời điểm trong tương lai Chính phủ sẽ lại tăng thuế để có tiền trả nợ hoặc in tiền trả nợ (mà hậu quả là lạm phát tăng lên); do đó, người ta gia tăng tiết kiệm hiện tại để có tiền đóng thuế trong tương lai
2.3.2 Quan điểm hiện đại về tác động của nợ công tới tăng trưởng kinh tế
Gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ công lớn (dựa trên tỉ lệ cao giữ nó so với GDP của quốc gia) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại Những lí do mà các nhà kinh tế đưa ra bao gồm:
Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường xuất khẩu dể trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng trong nước giảm sút
Một khoản nợ công lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ Nhà nước (trái phiếu Chính phủ) Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã chuyển thành nợ Chính phủ Hệ quả là lãi suất tăng và các doanh nghiệp phải hạn chế đầu
Trang 17tư
Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là một tổng thể thì Chính phủ chỉ nợ chính công dân nước mình, tuy vậy nếu nợ trong nước lớn thì Chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay Thuế làm méo mó nền kinh
tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội
Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc Chính phủ sử dụng công cụ
nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu tư cho chi tiêu của Chính phủ tăng lên)
Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành trái phiếu Chính phủ Phát hành thêm trái phiếu Chính phủ thì giá trái phiếu Chính phủ giảm, thể hiện qua việc Chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy động được người mua Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền kinh tế cũng tăng Điều này tác động tiêu cực đến động cơ đầu tư của khu vực tư nhân, khiến họ giảm đầu tư Nó còn tác động tích cực đến động cơ tiết kiệm của người tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng Nó còn làm cho lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước ngoài đổ vào trong nước khiến cho tỉ giá hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu ròng Tóm lại, phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì có những tác động phụ làm giảm tổng cầu
Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu Chính phủ là một hình thức nắm giữ tài sản thì khi Chính phủ tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng thời phải tăng lãi suất, người nắm giữ tài sản thấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều hơn Tổng cầu nhận được tác động tích cực từ việc tăng chi tiêu Chính phủ (nhờ phát hành công trái) và tăng tiêu dùng nói trên Tuy nhiên, tăng tiêu dùng dẫn tới tăng lượng cầu tiền Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng thực (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỉ lệ lạm phát)
3 Khủng hoảng nợ và quản lý nợ công của một quốc gia
Việc quản lý nợ công trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động như hiện nay là một vấn đề cần đặc biệt quan tâm, chú ý Việc quản lý không
Trang 18chỉ dừng lại ở việc sử dụng, giám sát yếu tố nợ công sao cho hợp lý, mà còn phải dựa trên khía cạnh đảm bảo tính bền vững của yếu tố nợ công
3.1 Khái niệm khủng hoảng nợ
Trong thời gian gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng, thường xuất hiện các cụm từ khủng hoảng tài chính, khủng hoảng nợ, vỡ nợ bên cạnh những cái tên quốc gia hay được nhắc đến như Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha Vấn nạn về một làn sóng khủng hoảng nợ xuất phát từ châu Âu, đang trở thành một vấn
đề thời sự và kinh tế nóng hổi, nhận được nhiều sự quan tâm từ dư luận Trước khi tìm hiểu cụ thể tình hình khủng hoảng nợ ở Châu Âu trong chương hai, chúng ta sẽ tìm hiểu những khái niệm cơ bản và một số lý luận tiên đề
Khủng hoảng nợ là gì? Về cơ bản có thể hiểu Khủng hoảng nợ là tình trạng một quốc gia phải đề nghị thương thảo với chủ nợ của mình để tái cơ cấu các khoản
nợ vay; hoãn trả lãi và vốn gốc; hoặc phải nhận một khoản cứu trợ tài chính từ IMF
Ở một cách tiếp cận khác, mới đây IMF định nghĩa một quốc gia được xem là lâm vào khủng hoảng nợ khi bị Standar & Poor (một tổ chức xếp hạng tín dụng lớn trên thế giới) xếp vào hạng không thể chi trả hoặc là quốc gia đó phải nhận một khoản cho vay cứu trợ lớn, vượt quá 100% hạn mức ấn định trước từ IMF Định nghĩa này bao gồm cả những trường hợp vỡ nợ (không còn khả năng chi trả) và những trường hợp “gần vỡ nợ” tức là không còn khả năng chi trả nhưng nhờ vay IMF nên vẫn có thể trả được nợ
3.2 Vấn đề quản lý nợ công của một quốc gia
3.2.1 Khái niệm quản lý nợ công
Về khái niệm, căn cứ trên khái niệm nợ công đã đề cập phần trên đồng thời
dựa trên kinh nghiệm quản lý đúc kết từ các quốc gia, chúng ta có thể hiểu: Quản lý
nợ công là quá trình thiết lập và thực thi chiến lược vay nợ của một quốc gia nhằm gây dựng được một lượng vốn theo yêu cầu, đạt được các mục tiêu về chi phí và rủi
ro, và đáp ứng được các mục tiêu quản lý nợ khác của Chính phủ đề ra
Trang 19Theo đó, những yếu tố nền tảng của cơ chế quản lý nợ công là phải xác định được
hệ thống mục tiêu quản lý nợ công; việc quản lý này phải được minh bạch và cơ quan quảy lý chính phải có trách nhiệm giải trình về mức độ nợ và hiệu quả sử dụng các khoản nợ vay, cũng như khả năng trả nợ của Chính phủ; xây dựng khuôn khổ thể chế quản lý; xây dựng chiến lược quản lý nợ; xây dựng khuôn khổ quản lý rủi ro; phát triển và duy trì một thị trường trái phiếu Chính phủ hiệu quả
Yêu cầu của công tác quản lý nợ công xuất phát từ một số nhu cầu thực tế sau đây:
Thứ nhất, đối với một quốc gia, trong quá trình phát triển, do nhu cầu về vốn ngày càng tăng, danh mục nợ của Chính phủ cũng ngày càng lớn và phức tạp hơn,
nó có thể gây ra những rủi ro lớn đối với sự ổn định vĩ mộ, như mất khả năng thanh toán quốc gia đối với phần còn lại của thế giới, mất ổn định hệ thống tài chính trong nước
Hơn nữa, tình trạng nợ Chính phủ không được kiểm soát có thể gây ra những hậu quả kinh tế cụ thể, chẳng hạn như làm cho việc đánh thuế trở nên không hiệu quả và làm triệt thoái vốn đầu tư tư nhân: (i) vì để trả lãi cho khoản đi vay, Chính phủ buộc phải đánh thuế, hoặc tăng thuế, để có thêm nguồn thu Việc đánh thuế thêm đó sẽ làm giảm tiết kiệm và bóp méo hoạt động đầu tư sản xuất; (ii) khi nợ Chính phủ tăng lên, mọi người mua nhiều trái phiếu Chính phủ hơn nên vốn dành cho đầu tư khu vực tư nhân sẽ giảm đi tương ứng Điều này càng tệ hại khi những khoản chi tiêu của Chính phủ là không hiệu quả Kết quả dài hạn là, tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế và làm giảm phúc lợi của người dân
Thứ hai, quản lý nợ công hợp lý có thể giúp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn vay cũng như làm giảm thiểu chi phí và rủi ro phát sinh trong quá trình đi vay và sử dụng vốn vay Mục tiêu chính trong quản lý nợ công là đảm bảo đáp ứng nhu cầu tài cính và các nghĩa vụ thanh toán của Chính phủ với chi phí thấp nhất trong trung hạn và dài hạn, tương ứng với mức rủi ro ở mức an toàn Rủi ro tiềm ẩn của nợ công
là không ít, trong đó, sự biến động của tăng lãi suất, tỉ giá sẽ tác động làm các
Trang 20khoản nợ vay trở nên lớn hơn Do vậy, một cơ cấu nợ hợp lý về đồng tiền, về cấu trúc kỳ hạn, lãi suất, cấu trúc vay trong và ngoài nước là rất cần thiết
3.2.2 Những nội dung của hoạt động quản lý nợ công
Những nội dung chính của hoạt động quản lý nợ công bao gồm:
Xây dựng, ban hành khung thể chế và tổ chức bộ máy quản lý nợ công Một nhiệm vụ quan trọng trong quản lý nợ công là xây dựng dược một khung pháp lý và cơ chế cho hoạt động quản lý nợ công, bao gồm sự phân định rõ ràng giữa trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan chức năng có trách nhiệm thay mặt cho Chính phủ trong việc vay, trả nợ; bảo lãnh nợ; ban hành các quy định riêng dưới dạng văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động vay và sử dụng nợ công
Tổ chức bộ máy quản lý nợ công cũng là một yếu tố quan trọng Bộ máy quản
lý nợ công bao gồm các cơ quan lập pháp với nhiệm vụ thông qua các Luật, qui định, văn bản pháp qui; cùng với các cơ quan hành pháp với nhiệm vụ triển khai hoạt động quản lý nợ công
Xây dựng chiến lược và kế hoạch vay trả nợ
Nội dung này bao gồm: xây dựng, ban hành chỉ tiêu an toàn về nợ; mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công trong từng giai đoạn; hệ thống các chỉ tiêu giám sát nợ Chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia và
kế hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm
Phát huy vai trò song song với đảm bảo tính bền vững của nợ
Đây là nội dung then chốt, vai trò của nó là làm sao đảm bảo việc vay và sử dụng nợ mang lại hiệu quả cao nhất, đáp ứng nhu cầu và mục đích cấp thiết trong quá trình phát triển kinh tế của quốc gia, nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững của nợ công, nghĩa là khả năng thanh toán nợ lẫn lãi được đảm bảo Nội dung này bao gồm
ba nội dung cụ thể hơn:
Tổ chức huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công đúng mục
Trang 21đích, hiệu quả, bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ
Giám sát việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay, trả nợ, quản lý nợ công, quản lý rủi ro tài khoá, bảo đảm an toàn nợ và an ninh tài chính quốc gia
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay, hiệu quả quản lý nợ công
3.2.3 Mô hình quản lý nợ công của Ngân hàng thế giới
Các định chế tài chính thế giới là WB và IMF đều cho rằng: các quốc gia đều
có nhu cầu phát triển rất lớn Vấn đề là làm sao để đáp ứng được các nhu cầu này ở mức chi phí thấp nhất với mức rủi ro thận trọng, đặc biệt khi các điều kiện của thị trường tài chính bị hạn chế nghiêm trọng, lãi suất ngày càng cao Bên cạnh đó, do kiềm chế lạm phát và thực hiện các mục tiêu, yêu cầu cân đối vĩ mô khác, thị trường
nợ trong nước ở các nước đang phát triển cũng thường rất hạn chế Vấn đề vẫn là làm thế nào để khai thác lợi nhuận tiềm năng từ việc phát triển thị trường trong nước với chi phí và mức rủi ro thấp Để giải quyết được các vấn đề này, đồng thời
ổn định kinh tế vĩ mô, củng cố cán cân thanh toán quốc gia, duy trì cơ cấu nợ công lành mạnh và tránh khả năng khủng hoảng, cần tổ chức quản lý nợ công tốt, theo các chuẩn mực quốc tế
Chương trình quản lý nợ công của Ngân hàng Thế giới (DMF) được đưa ra với mục đích tài trợ cho các hỗ trợ kỹ thuật nhằm tăng cường thể chế và năng lực quản lý nợ thông qua: ứng dụng hệ thống Đánh giá kết quả quản lý nợ (DeMPA); chiến lược quản lý nợ trung hạn (MTDS), các chương trình đào tạo, chia sẻ kiến thức, trao đổi kinh nghiệm đối với cơ quan, đơn vị quản lý nợ
Hệ thống Đánh giá kết quả quản lý nợ (DeMPA) là phương pháp đánh giá kết
quả quản lý nợ công thông qua một tập hợp toàn diện các chỉ số kết quả hoạt động, hướng tới mục tiêu đánh giá năng lực thực hiện quản lý nợ công, giám sát kết quả hoạt động, tạo điều kiện thiết kế chương trình cải cách, thúc đẩy việc hài hòa các nhà tài trợ trên cơ sở hiểu rõ các thứ tự ưu tiên Phương pháp DeMPA bao gồm 15
Trang 22chỉ số kết quả hoạt động bao gồm: cơ sở pháp lý; cơ cấu quản lý; đánh giá hoạt động quản lý nợ; kiểm toán; phối hợp với chính sách tài khóa; phối hợp với chính sách tiền tệ; vay trong nước; vay nước ngoài; bảo lãnh nợ; quản lý dòng tiền dự báo
và dòng tiền cân đối; quản lý nợ và an ninh dữ liệu; trách nhiệm và năng lực đội ngũ cán bộ; ghi nhận nợ và báo cáo nợ
Chiến lược nợ trung hạn (MTDS) được hoạch định nhằm hướng dẫn về quy
trình xây dựng kế hoạch Chính phủ định thực hiện trong trung hạn để có được cơ cấu mong muốn trong danh mục quản lý nợ Chính phủ và đánh giá chi phí rủi ro phải chịu với các chiến lược khác Phương pháp thực hiện bao gồm: tài liệu hướng dẫn về quy trình xây dựng MTDS, công cụ phân tích cho phép phân tích chi phí rủi
ro để chỉ dẫn cho quá trình ra quyết định của MTDS và sổ tay giải thích cách sử dụng công cụ phân tích Xây dựng MTDS nhằm: xác định mục tiêu quản lý nợ công
và quy mô của MTDS; xác định chiến lược quản lý nợ hiện hành và phân tích chi phí, rủi ro; xác định và phân tích các nguồn tài chính tiềm năng, bao gồm cả các đặc điểm chi phí, rủi ro; xác định rủi ro và dự báo cơ sở trong lĩnh vực chính sách tài chính - tài khóa, tiền tệ và thị trường; đánh giá các yếu tố cơ cấu dài hạn cơ bản; xác định rủi ro chi phí bỏ ra, xếp hạng các chiến lược lựa chọn; đánh giá tác động của các chiến lược nợ; báo cáo và đảm bảo sự thống nhất về chiến lược nợ trung hạn
3.3 Một số chỉ tiêu đánh giá nợ công
Do vai trò quan trọng của nợ công và những tác động to lớn của nó đến nền tài chính quốc gia một khi xảy ra khủng hoảng nợ, nên hiện nay đối với tất cả các nước trên thế giới, quản lý nợ công nhận được nhiều sự quan tâm chú ý của các ban ngành, các cơ quan quản lý kinh tế Vấn đề quản lý nợ công hay nợ quốc gia còn nhận được sự quan tâm của các tổ chức, các quỹ tín dụng và ngay cả các Chính phủ nước ngoài, bởi những lợi ích và nghĩa vụ tài chính mật thiết, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, trao đổi nguồn vốn quốc tế đang ngày càng trở nên sâu rộng Quản lý nợ công hiệu quả cần phải nhìn nhận và đánh giá theo các tiêu chí phù hợp với mục tiêu quản lý và với thông lệ quốc tế để qua đó hướng tới hoàn thiện thể
Trang 23chế, chiến lược, chính sách trong quản lý nợ công nhằm tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu chi phí, góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Hệ thống các chỉ tiêu
là một công cụ quan trọng trong việc giám sát, quản lý nợ công
3.3.1 Chỉ tiêu tổng quát đánh giá mức độ nợ công
Chỉ tiêu phổ biến được các quốc gia và tổ chức tài chính sử dụng trong công
tác quản lý, đánh giá nợ công là tỉ lệ giữa Tổng dư nợ so với Tổng sản phẩm quốc
nội của quốc gia đó (tổng nợ/GDP), thể hiện dưới dạng phần trăm (%)
Bảng 1.1 đưa ra danh sách 10 quốc gia có mức nợ công cao nhất tại thời điểm cuối năm 2010, dựa trên thống kê của CIA World Factbook về nợ công của các nước:
Bảng 1.1: Danh sách những quốc gia có tỉ lệ nợ công/GDP cao nhất
Nguồn: CIA World FactBook tháng 3/2011
(Trong danh sách này, Việt Nam đứng thứ 41 với mức nợ công ước tính vào 52,6% GDP.)
Trang 24Ngưỡng an toàn được IMF và các tổ chức tín dụng quốc tế khuyến cáo là tổng
nợ của một quốc gia không được vượt quá 50% GDP của nước đó Tuy nhiên không hẳn cứ có tỉ lệ Tổng nợ/GDP cao thì đồng nghĩa với việc tình hình tài chính dễ bất
ổn Chẳng hạn, Mỹ có tỉ lệ nợ bằng 96% GDP, nhưng vẫn được xem là đang an toàn bởi năng suất lao động cao, hiệu suất sinh lời của vốn cao là cơ sở đảm bảo bền vững cho việc trả nợ Tương tự, Nhật Bản với con số nợ trên 200% GDP cũng được coi là ở trong tình trạng an toàn Trong khi đó, nhiều nước có tỉ lệ nợ trên GDP thấp hơn rất nhiều nhưng đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ như: Venezuela năm
1981 với tỉ lệ nợ/GDP là 15%, Argentina năm 2001 với 45% hay Ukraina năm 2007 với chỉ 13%
Vấn đề ở đây không phải cứ nợ nhiều là xấu, mà quan trọng là cơ cấu nợ như thế nào; hơn nữa nợ nhiều nhưng sử dụng hiệu quả, đảm bảo sinh lời và duy trì khả năng trả nợ lẫn lãi thì không có gì đáng lo ngại thậm chí còn nên đi vay thêm để phục vụ phát triển kinh tế
Chính vì vậy, để xác định, đánh giá đúng đắn mức độ an toàn của nợ công, không thể chỉ dựa vào tỉ lệ tổng nợ/GDP, mà cần phải xem xét nợ công một cách toàn diện trong mới liên hệ với đặc điểm tình hình vĩ mô của nền kinh tế như: năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn (qua chỉ tiêu ICOR), mức thâm hụt ngân sách,
dự trữ nội địa và dữ trữ ngoại tệ của quốc gia… Bên cạnh đó, những yếu tố như: cơ cấu nợ công, tỉ trọng các loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời hạn nợ, mức độ nợ đáo hạn phải trả… cũng cần được phân tích xem xét kỹ lưỡng khi đánh giá tính bền vững nợ công
3.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá tình trạng nợ nước ngoài
Trong cơ cấu hình thành nợ công, yếu tố nợ nước ngoài của Chính phủ đóng vai trò rất quan trọng, xuất phát từ tính rủi ro cao nếu so với nợ vay trong nước Đánh giá tính ổn định của nợ nước ngoài được thức hiện dựa trên các chỉ tiêu sau:
- Tỉ lệ Tổng nợ so với tổng kim ngạch xuất khẩu: Đo lường hiện giá thuần của
Trang 25nợ công liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia từ nguồn thu xuất khẩu Tiêu chí này phản ánh nguồn thu xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ là phương tiện mà một quốc gia có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài Khó khăn khi sử dụng tiêu chí này là: nguồn thu từ xuất khẩu dễ biến động từ năm này qua năm khác
- Tỉ lệ Tổng nợ so với tổng thu ngân sách: đo lường hiện giá thuần của nợ
công liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn thu ngân sách Nhà nước Một quốc gia được xem là an toàn nếu như tỉ lệ này nhỏ hơn 250%
- Tỉ lệ nợ phải trả/Kim ngạch xuất khẩu và tỉ lệ nợ phải trả/tổng thu ngân
sách: là những chỉ tiêu đo lường tính lỏng được ngân hàng thế giới và IMF đưa vào
để đánh giá mức độ bền vững của nợ công Nợ phải trả bao gồm cả gốc và lãi đến kì
đáo hạn phải thanh toán cho chủ nợ, còn gọi là Dịch vụ nợ Một quốc gia đảm bảo tính lỏng khi tổng nợ phải trả/thu xuất khẩu thấp hơn 15% và tổng nợ phải trả/thu
ngân sách cùng năm thấp hơn 10% Đây là tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ an
toàn nợ công của một quốc gia
Bảng 1.2 thể hiện các mức ngưỡng an toàn cho từng chỉ tiêu, được HIPCs1 đưa
ra, kèm theo số liệu thống kê ở Việt Nam năm 2005:
Bảng 1.2: Ngưỡng nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn HIPCs
Trang 263.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ trong nước
Tuy cùng sử dụng các chỉ tiêu như trong đánh giá nợ nước ngoài nhưng vì đặc điểm và ý nghĩa khác nhau giữa vay nợ trong nước so với vay nợ nước ngoài nên mỗi yếu tố đều có những mức ngưỡng riêng cho mình Điều này giúp cho dễ theo dõi và đánh giá tình trang nợ và cơ cấu của nợ công
Nguồn: Tạp chí Phát triển Kinh tế tháng 9/2008
3.4 Một số vấn đề gặp phải khi tính toán nợ công
Việc theo dõi và kiểm soát tính ổn định của nợ công hiện nay đã được lượng hoá, chỉ tiêu hoá bằng các chỉ tiêu nêu trên Điều này giúp công tác đánh giá, phân tích được dễ dàng và tiện lợi Tuy nhiên trong quá trình tính toán, lượng hoá các khoản nợ của quốc gia, có nhiều khoản chưa rõ ràng, hoặc khó đánh giá Trên thực
tế, cách tính toán nợ công giữa các tổ chức hay Chính phủ cũng đôi lúc chưa thống nhất Có mấy vấn đề thường gặp phải khi tính toán nợ công như sau:
Bỏ qua lạm phát
Chỉ tiêu thâm hụt ngân sách khi tính toán thường không điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát vì trong tính toán chi tiêu của Chính phủ, người ta chỉ tính toán các khoản trả lãi vay theo lãi suất danh nghĩa, trong khi đáng lẽ chỉ tiêu này nên tính theo lãi suất thực tế Do lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỉ lệ lạm
Trang 27phát, nên thâm hụt ngân sách đã bị phóng đại Trong thời kỳ lạm phát ở mức cao hoặc nợ công ở mức lớn thì độ lệch và ảnh hưởng của yếu tố này không phải là nhỏ
Tài sản đầu tư
Nhiều ý kiến cho rằng tính toán nợ công cần phải trừ đi tổng giá trị của tài sản của Chính phủ có được dựa trên việc sử dụng những khoản vay đó Điều này cũng tương tự như khi xử lý tài sản của cá nhân: khi một cá nhân vay tiền để mua nhà thì không thể tính anh ta đã thâm hụt ngân sách bằng số tiền đã vay mà phải trừ đi giá trị của căn nhà Tuy nhiên khi tính toán theo phương pháp này lại gặp phải vấn đề những gì nên coi là tài sản của Chính phủ và tính toán giá trị của chúng như thế nào,
ví dụ: đường quốc lộ, kho vũ khí hay chi tiêu cho giáo dục
Các khoản nợ tiềm tàng
Hiện nay cách tính nợ công của nhiều quốc gia đã bỏ qua các khoản nợ tiềm tàng như trợ cấp hưu trí, các khoản bảo hiểm xã hội mà Chính phủ sẽ phải trả cho người lao động trong tương lai, hay những khoản nợ của cá nhân, doanh nghiệp một khi bị phá sản mà Chính phủ, vì áp lực kinh tế hay chính trị, phải tự mình đứng ra nhận nợ và thanh toán
Trong đó, phần lương hưu phải trả cho người lao động là quan trọng nhất Phần này có thể rất lớn, thí dụ như ở Singapore nó lên tới 50% GDP Theo nguyên tắc tính nợ theo tiêu chuẩn quốc tế, thì mỗi khi một công chức nhận lương, họ phải đóng vào quỹ về hưu, còn một phần khác, có thể bằng hoặc gấp đôi, Chính phủ phải đóng vào quỹ này Nhiều nước, không thiết lập ra quỹ này, mà đem chi hết, như thế Nhà nước hàng năm cứ lấy tiền ngân sách ra chi trả và quên đi cái quỹ kia Nguyên tắc là phải tính và cái quỹ đó chính là nợ của Nhà nước với công chức (bao gồm công chức, giáo viên và nhân viên y tế trong khu vực công, quân đội, cảnh sát, và có thể cả những người làm việc cho doanh nghiệp Nhà nước) Phần Nhà nước đóng góp đáng lẽ phải có (dù không đóng) vẫn phải tính vào chi tiêu Trong trường hợp dựa vào hợp đồng đã ký về hưu trí, nếu đóng góp không đủ để chi trả trong tương lai thì phải tính vào nợ
Trang 28Nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam đã và đang tính toán nợ công mà không đưa phần này vào Trong các nước châu Á thì Singapore đã đưa vào
tính toán và vì thế tỉ lệ nợ của họ rất cao, đứng thứ 9 thế giới (theo bảng 1.1) Hầu
hết các nước phát triển trong đó có Mỹ, Canada, Úc, Nhật và các nước trong khối Liên hiệp châu Âu (EU) đã tính nợ theo đúng tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc Ở EU, việc tính này đã thành luật Đó là lý do các nước này đều có tỉ lệ nợ trên GDP cao hơn 50% nhiều Tỉ lệ trên 100% đối với các nước này là bắt đầu vượt ngưỡng an toàn Còn đối với các nước đang phát triển, khi không tính nợ hưu trí thì có lẽ là
50%
3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến vay trả nợ, chi phí sử dụng vốn
Việc vay nợ có tầm quan trọng nhất định đến sự phát triển của các quốc gia đang phát triển Các nước thường mong muốn vay được càng nhiều càng tốt để phục vụ cho nhu cầu vốn hoặc là để bù đắp thiếu hụt ngân sách của mình Tuy nhiên
có nhiều yếu tố khiến cho việc đi vay trở nên tốn kém, hoặc khiến gánh nặng nợ trở nên lớn hơn, thậm chí vượt ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ dẫn đến hậu quả là
vỡ nợ, khủng hoảng tài chính quốc gia
Chi phí sử dụng vốn là giá mà một quốc gia phải trả cho việc sử dụng vốn vay cho các nhu cầu của mình Giá phải trả này ngoài khoản tiên lãi trả định kỳ, còn bao gồm phí môi giới, chi phí phát hành nợ (phát hành trái phiếu), hoặc những chi phí
vô hình là những ràng buộc (trong trường hợp vay nợ ưu đãi nước ngoài)…
Chi phí và rủi ro sử dụng vốn có thể gia tăng do những biến động của kinh tế thế giới cũng như sự thiếu linh hoạt của cơ quan điều hành vĩ mô trong chính sách tài chính – tiền tệ; nhất là với các khoản vay từ nước ngoài Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí sủ dụng vốn và khả năng vay trả nợ được đề cập ở đây bao gồm:
Lạm phát:
Lạm phát là vấn đề khó khăn luôn gặp phải tại các quốc gia đang phát triển Khi tỉ trọng nợ nước ngoài trong tổng nợ công cao, lạm phát thực sự gây ra gánh nặng với quốc gia đi vay nợ Mức lạm phát thông thường sẽ cao hơn ở những nước
Trang 29đi vay nợ - là những nước đang phát triển so với ở nước chủ nợ - những nước phát triển Khi lạm phát trong nước cao hơn so với lạm phát nước ngoài thì tỉ giá hối đoái sẽ tăng lên, ngoại tệ trở nên đắt giá tương đối so với nội tệ; do đó các khoản nợ nước ngoài phải trả sẽ lớn lên theo, bởi vì đồng tiền thanh toán sẽ là ngoại tệ Lạm phát càng lớn gánh nặng nợ nước ngoài càng trở nên nghiêm trọng
Đối với nợ trong nước, lạm phát cao khiến người dân không thiết tha với việc
bỏ tiền ra để mua trái phiếu Nhà nước, do vậy muốn vay được vốn, Chính phủ buộc phải nâng lãi suất huy động trái phiếu, điều này sẽ dẫn đến một khoản nợ phải trả trong tương lai (bao gồm lãi) lớn hơn nhiều
Tỉ giá hối đoái:
Các nước đang phát triển thường phải đi vay nợ nước ngoài một lượng lớn, thường là bằng ngoại tệ mạnh Những nước đi vay tiền, thì thường có đồng tiền yếu,
vì thế tại thời điểm đi vay, mức giá của đồng nội tệ thường cao hơn tại thời điểm trả
nợ Điều này gây nên hậu quả là lãi suất thực sẽ cao hơn nhiều so với lãi suất danh nghĩa Việc đầu tư trong nước bằng nội tệ sau đó đổi sang ngoại tệ để đi trả nợ có thể làm cho tỉ suất sinh lời giảm đi đáng kể Vì vậy các quốc gia cần phải có một chính sách quản lý tỉ giá linh hoạt đồng thời phải cân nhắc kỹ lưỡng khi đi vay dài hạn với lãi suất cao
Rủi ro quốc gia
Rủi ro quốc gia là những biến cố có thể xảy ra đối với một quốc gia như thay đổi thể chế chính trị, chiến tranh, khủng hoảng kinh tế Những rủi ro đó khi xảy ra,
sẽ khiến niềm tin của nhà đầu tư giảm sút, lượng vốn cung cấp cho nhu cầu vay của quốc gia bị hạn chế, làm quốc gia đó gặp khó khăn khi muốn vay các khoản mới để trả nợ cũ đến hạn; hoặc nghiêm trọng hơn, khiến cho chủ nợ đồng loạt rút tiền ra khỏi hệ thống tài chính của một nước Khi đó khủng hoảng nợ là điều khó tránh khỏi, điều này đã xảy ra ở nhiều nước
4 Một số cuộc khủng hoảng nợ trong lịch sử
Trang 304.1 Khủng hoảng nợ ở khu vực châu Mỹ Latinh thập niên 80
Trước cuộc khủng hoảng, các nước châu Mỹ Latinh liên tục có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm liên tiếp, hơn hẳn các nước ở khu vực châu Á và châu Phi Thời kỳ 1950 - 1970, nhiều nước Mỹ Latinh như Brazil, Mexico, Argentina… đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao liên tục, và các nước này được đưa vào danh sách các nước công nghiệp mới – NICs Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng nợ bùng nổ vào năm 1982 và kéo dài trong những năm sau đó đã khiến cho các nước này không thể tiếp tục nằm trong nhóm NICs nữa Hơn nữa, trong thập kỷ sau đó nền kinh tế của các nước này đã rơi vào tình trạng kinh tế suy thoái
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ này là do vào những năm 60, 70, các nước Châu Mỹ Latinh như Brazil, Argentina và Mexico vay mượn một số tiền lớn
từ các nhà cho vay tín dụng quốc tế để thực hiện công nghiệp hóa, đặc biệt là đầu tư vào các chương trình cải thiện và xây dựng cơ sở hạ tầng Những nước này thời đó
có tốc độ tăng trưởng kinh tế rất nhanh vì vậy các nhà cho vay tín dụng rất tin tưởng vào khả năng trả nợ Giữa năm 1975 và 1982, Châu Mỹ Latinh nợ các ngân hàng thương mại tăng với tốc độ tích lũy 20,4%/năm Vay mượn tràn lan khiến Mỹ latinh
bị nợ nhiều gấp 4 lần từ 75 tỉ đôla vào 1975 đến hơn 315 tỉ đôla vào năm 1983, chiếm tới 50% tổng thu nhập quốc nội của khu vực
Khủng hoảng nợ ở các nước châu Mỹ Latinh chủ yếu liên quan đến chính sách quản lý nợ của tư nhân với các ngân hàng thương mại nước ngoài, song nó xuất phát từ những mất cân đối về thương mại và tài khoá tích tụ trong nhiều năm trước
đó và có sự tham gia tích cực của Chính phủ thông qua các chính sách kinh tế vĩ
mô
Năm 1982, khủng hoảng nợ bùng nổ, bắt đầu bằng việc Mexico tuyên bố không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán Trong khoảng từ năm 1976 đến năm 1981, doanh thu từ xuất khẩu dầu mỏ hàng năm của Mexico tăng từ 600 triệu đôla lên 14
tỉ đôla Tuy nhiên, cùng lúc đó nhập khẩu tăng 30%/năm, tạo nên lượng thâm hụt cán cân thanh toán 12,5 tỉ đôla vào năm 1981 Để tài trợ cho thâm hụt này, cả
Trang 31khu vực công lẫn khu vực tư nhân ở Mexico đều đi vay nợ nước ngoài, phần lớn là vay ngắn hạn
Tình trạng nợ càng trở nên trầm trọng khi các nước Mỹ Latinh lại bị chảy máu vốn, khi dòng vốn chảy ra nước ngoài của các nước này lên đến 151 tỉ đôla trong giai đoạn 1973 - 1985, bằng 40% tổng nợ của các nước này Như vậy, một thực tế nghịch lý xảy ra khi các nước không sử dụng lượng vốn nước ngoài để đầu tư phát triển trong nước và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân trong nước mình Chính sự vô lý này đã khiến các nước châu Mỹ Latinh rơi vào tình trạng rối loạn hơn, do không thể tạo được một lượng cân bằng, đủ bù đắp cho lượng vốn vay nước ngoài, làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách ngày càng trầm trọng hơn
Dòng vốn chảy ra nước ngoài đã khiến tỉ giá hối đoái giảm ở một số nước trong khu vực, do đó làm tăng lãi suất lãi suất thực ở các nước này Các ngân hàng cho vay bắt đầu đòi nợ Số lãi nợ không trả được lại được các ngân hàng cộng vào vốn gốc Cứ như vậy, lượng lãi phải thanh toán của các nước Mỹ Latinh tăng vọt Vào năm 1984, lãi nợ phải trả bằng 5% GNP2 của toàn khu vực
Khủng hoảng nợ ở các nước Mỹ Latinh để lại những bài học đắt giá về sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài, trong đó có nguồn vốn ODA Khủng hoảng là hệ quả của những mất cân đối tích tụ trong nhiều năm, do chính sách kinh tế dựa quá nhiều vào nguồn vốn vay nước ngoài và buông lỏng quản lý nguồn vốn này Trên thực tế, tăng trưởng kinh tế ở các nước Mỹ Latinh giai đoạn 1960 - 1970 được tài trợ bằng cách đi vay, một nửa là vay ODA Đồng thời, quá nhiều vốn vay đã được
sử dụng để bù đắp cho các khoản tiêu dùng và đầu tư kém hiệu quả của Chính phủ
và khối kinh tế công cộng Các Chính phủ cũng thiếu sự quan tâm cần thiết đối với
sự ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là đối với lạm phát và quản lý nợ
4.2 Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997
Cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực châu Á năm 1997-1998 diễn ra dưới
tác động của nhiều yếu tố khác nhau, từ những nguyên nhân yếu kém nội tại của
2
Tổng sản phẩm quốc dân của quốc gia
Trang 32nền kinh tế, đến tác động của những yếu tố ngoại sinh – dòng vốn nước ngoài Cuộc khủng hoảng nổ ra như một hệ quả tất yếu của những năm tháng tập trung cho phát triển nóng của các nước, đặc biệt lá Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc – ba nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuốc khủng hoảng
Thái Lan, ngòi nổ đầu tiên bộc phát vào ngày 2/7/1997, đã kéo theo sự sụp đổ của hệ thống tài chính, chứng khoán ở hàng loạt quốc gia khác Yếu tố nợ nước ngoài nổi lên như một hệ quả tất yếu của những chính sách sai lầm của Chính phủ các nước Trong quá trình thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Chính phủ các nước đã không chú trọng đến việc kiểm soát, chỉ tập trung vào lượng mà không quan tâm đến chất Khủng hoảng nợ nói riêng, hay khủng hoảng kinh tế - tài chính nói chung diễn ra như một hậu quả tất yếu Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của
nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brazil và Hoa Kỳ
Ở thời điểm đó, chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các nước phát triển Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á
Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của Chính phủ và những bảo hộ ngầm của Chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bất chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để
đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro Bên cạnh đó, một vần đề làm cho yếu tố nợ nước ngoài ở các nước châu Á trở nên trầm trọng thêm là vấn đề tỉ giá hối đoái Theo Giáo sư Paul A Samuelson, bàn tay vô hình là một chính sách thích hợp cho mọi nền kinh tế, nhất là các nước có
Trang 33khuynh hướng theo tư bản tài chính Thị trường là một công cụ giúp điều chỉnh các chính sách vĩ mô một cách hợp lý nhất Và trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động, Nhà nước chỉ được xem như một thực thể quản lý xã hội, hơn là tham gia điều chỉnh nền kinh tế tài chính của quốc gia mình
Vấn đề tỉ giá hối đoái ở các nước châu Á vào thời điểm 1997 - 1998 đã thực hiện đầy đủ sứ mạng của mình khi quá tôn sùng vào lý thuyết bàn tay vô hình Chính việc để cho tỉ giá tự động điều chỉnh theo thị trường, không có sự can thiệp của Chính phủ, đã đẩy tỉ giá hối đoái lên cao, là cơ hội tấn công cho các nhà đầu cơ quốc tế Chính các nhà đầu cơ này đã thao túng thị trường tài chính của các nước trong một thời gian dài, làm cho thị trường hối đoái của các nước mất cân bằng giữa cung và cầu Khi Chính phủ kịp nhận ra và điều chỉnh bằng việc tung ra lượng ngoại tệ lớn để điều tiết thị trường – thì mọi chuyện đã quá trễ Tỉ giá liên tục leo thang, khiến cho Chính phủ các nước không thể kìm giữ được, buộc phải phá giá đồng tiền quốc gia mình kéo theo lãi suất giảm
Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ cần được Chính phủ thực hiện đồng
bộ trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn Chính việc để cho hai chính sách này lệch pha trong thời gian dài đã đẩy tình hình nợ của các nước thêm trầm trọng Sự chênh lệch giữa lãi suất quốc gia của các nước và lãi suất quốc tế đã đưa các nước vào vòng xoáy lãi suất Yếu tố lãi suất trong nước lớn hơn bên ngoài ban đầu là một nguyên nhân khiến các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường của các nước, bên cạnh các yếu tố khác như tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực dồi dào với chi phí rẻ Khi lãi suất không còn là mãnh đất màu mỡ cho các nhà đầu tư và cả nhà đầu cơ thực hiện chênh lệch lãi suất, thì theo quy luật thị trường họ sẽ rút vốn ra khỏi các nước với khối lượng lớn và trong thời gian ngắn
Tựu chung lại, nguyên nhân cơ bản dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính Châu
Á 1997 bao gồm ba yếu tố: Phát triển quá nóng trong khi nền tảng vĩ mô chưa đủ vững mạnh; dòng vốn nước ngoài chảy vào ồ ạt thiếu sự kiểm soát; và cuối cùng là
do sự tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt
Trang 34Cuộc khủng hoảng này mang lại những ý nghĩa nhất định: đầu tiên nó khiến các quốc gia nhận thức rõ ràng hơn việc phải có một hệ thống tài chính – ngân hàng vững mạnh, minh bạch; thứ nữa đã làm cho các Chính phủ nhiều nước đang phát triển nhận thấy rằng nguồn vốn đầu tư nước ngoài và vốn vay từ ngân hàng nước ngoài có thể mang lại những tác động bất lợi đối với họ, nhờ đó nhiều nước đã tiến tới ban hành những cơ chế nhằm điều tiết nguồn vốn này
4.3 Bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng nợ của Argentina năm 2001
Cuộc khủng hoảng nợ toàn diện của Argentina từ cuối năm 2001 rất đáng để chúng ta nghiên cứu Trước hết, cũng giống như Việt Nam hiện tại, Argentina đã có những thành công vượt bậc trong tăng trưởng kinh tế
Liên tục trong 10 năm của thập niên 1990, Argentina đã thực hiện các chương trình tái cấu trúc nền kinh tế rất mạnh mẽ, nổi bật nhất là chương trình tư hữu hóa hàng loạt xí nghiệp quốc doanh Cũng giống như các nền kinh tế đang chuyển đổi hiện nay, việc tư hữu hóa ào ạt, nhất là việc bán chúng cho các ông chủ nước ngoài, bước đầu đã đem lại một lượng dự trữ ngoại tệ khá lớn cho quốc gia này
Nguồn thu từ chương trình tư hữu hóa cùng với việc vay nợ nước ngoài đã giúp Chính phủ Argentina ổn định giá trị của đồng nội tệ Tất cả điều này đã làm nền tảng cho các tăng trưởng ngoạn mục sau đó Thêm vào đó, những thành tựu kinh tế và sự ổn định trong giá trị đồng nội tệ đã dẫn tới một hệ quả đương nhiên,
đó là dòng vốn quốc tế chảy ồ ạt vào Argentina
Những yếu tố đó khiến Argentina được ngợi khen như là một điển hình của sự thần kỳ mới và là một trong những điểm sáng được IMF thừa nhận trong các tình huống nghiên cứu, giống như Việt Nam cũng đang được thế giới xem như là một điển hình về tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên cùng với sự thần kỳ đó là thái độ thiếu cảnh giác với những nguy hiểm tiềm ẩn
Chính phủ Argentina đã tận dụng uy tín đang lên của quốc gia để liên tục vay
nợ nước ngoài Cứ như thế các khoản nợ nước ngoài không ngừng tăng lên dần, bắt đầu là ngưỡng an toàn từ tỉ lệ nợ dưới 50% GDP (35% trong năm 1995 cho đến gần
Trang 3565% năm 2001) Khoản nợ nước ngoài này dẫn đến hậu quả tai hại là làm Chính phủ mất đi sức đề kháng trước những rủi ro trong thâm hụt ngân sách Hiện tỉ
lệ nợ của Việt đang ở mức xấp xỉ ngưỡng an toàn mà WB khuyến cáo đối với các nước đang phát triển là 50% GDP, nhưng cũng không thừa nếu như không cảnh báo
về một nguy cơ có thể đi vào vết xe mà Argentina đã trải qua Nhưng còn một yếu
tố vô cùng quan trọng thường được Chính phủ các nước lờ đi, đó là lãi suất thực phải trả Nếu tính đến lãi suất thực trong khoảng từ 7-10% thì đó lại là một khoản
nợ khổng lồ (lãi suất trái phiếu quốc tế Chính phủ Việt Nam phát hành năm 2010 ở mức gần 7%) Nếu quốc gia nào không có tốc độ phát triển thần kỳ thì không thể nào vay nợ ở mức cao như vậy, nhất là vay bằng ngoại tệ mạnh
Đây là bài học xương máu mà người ta chỉ trả giá bằng thực tế từ cuộc khủng hoảng nợ Argentina Tỉ lệ nợ nước ngoài củaViệt Nam năm 2009 là 39%, nếu tính đến lãi suất phải trả và cả việc đồng Việt Nam có khả năng mất giá trong tương lai thì số thực nợ phải trả là không hề nhỏ, nó không thể lạc quan thái quá như việc một
số quan chức Chính phủ cho rẳng tỉ lệ nợ vẫn ở mức an toàn?
Và điều gì đến đã phải đến, ở Argentina hay như bất kỳ quốc gia nào đã từng rơi vào khủng hoảng tài chính, khi mà nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu giảm đi và cùng với đó là các khoản nhập khẩu tăng lên liên tục thì mọi thứ đều dần bộc lộ Do kinh tế quá lệ thuộc vào nguồn thu từ xuất khẩu dầu thô, khi mà nguồn tài nguyên này cạn kiệt có thể sẽ kéo theo các tan vỡ về những ảo tưởng trước đây
Thực tế, từ những năm 1999, Argentina đã bắt đầu gặp phải những mất cân đối trong chi tiêu ngân sách Do đã tư hữu hóa hàng loạt các xí nghiệp quốc doanh trong thời gian ngắn trước đó, Chính phủ giờ đây đã không còn nguồn thu nào khác ngoài thuế để bù đắp thâm hụt, đó là chưa kể vấn đề còn bị trầm trọng thêm bởi Chính phủ liên tục phải trả nợ cho các hóa đơn vay nợ nước ngoài trước đây
Đối với các nhà tài trợ quốc tế, khi kinh tế đang còn trong giai đoạn khoẻ mạnh thì điều gì cũng là tốt đẹp, thậm chí ngợi khen hết lời, nhưng khi những bất
ổn xảy ra thì sự quay lưng sẽ diễn ra rất nhanh Bằng chứng là ngay sau khi Quốc
Trang 36hội Argentina họp khẩn cấp để triển khai cái gọi là “kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách xuống bằng 0” vào ngày 11-7-2001, các nhà tài trợ quốc tế đã phản ánh rất tiêu cực về kế hoạch này Moody's và S&P đã hạ thấp điểm xếp hạng tín nhiệm quốc gia Argentina ngay sau khi quốc hội thông qua kế hoạch hoang tưởng này, các chỉ số niềm tin liên tục sút giảm như một tín hiệu phản ứng trước sự phản ứng chậm trễ và yếu ớt của Chính phủ nước này Thêm vào đó, IMF lại ngưng không hỗ trợ tín dụng cho Argentina, khủng hoảng kinh tế toàn diện là điều tất yếu phải xảy đến sau đó Bên cạnh sự yếu kém của nền kinh tế trong bối cảnh có biến động, hệ thống chính trị liên quan đến một Chính phủ tham nhũng và lãng phí, đã làm thị trường mất niềm tin về khả năng trả nợ của quốc gia đối với những trái phiếu phát hành trước đây, đã đẩy Argentina đến cuộc khủng hoảng nợ
Cuộc khủng hoảng nợ của Argentina chính là bài học về sự ảo tưởng quá mức
về những thành công trong tăng trưởng mà quên đi những vấn đề nội bộ Các vấn đề nội bộ mà từ kinh nghiệm của Argentina, chúng ta cần phải chú ý giải quyết triệt để,
đó là tình trạng tham nhũng, cổ phần hóa ào ạt và thất thoát, bộ máy hành thu thuế yếu kém, vay nợ nước ngoài thiếu tính toán Nhưng vượt lên trên tất cả những điều này, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, chính là việc quốc gia thiếu cơ chế giám sát hữu hiệu các khoản vay nợ nước ngoài, điều mà chúng ta đã thấy ở phần trên về
sự phản ứng rất quyết liệt của các nhà tài trợ và người dân về việc quốc hội nước này vào cuộc quá chậm trễ để cứu vãn tình hình
Chừng nào chưa có cơ chế giám sát hữu hiệu các khoản vay nợ nước ngoài của Chính phủ, chừng đó nguy cơ về một cuộc khủng hoảng tài chính toàn diện cũng không phải là điều quá xa vời
Trang 37Chương II: Phân tích cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu 2010
Trong chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu thực trạng vấn đề khủng hoảng nợ công châu Âu bùng phát năm 2010, với hai trường hợp điển hình là Hy Lạp và Ireland, 2 quốc gia mà tình trạng nợ nần nghiêm trọng nhất, và là 2 quốc gia đầu tiên đã phải kêu gọi sự cứu giúp tài chính từ EU lẫn IMF Trên thực tế, khủng hoảng
nợ châu Âu đến hiện tại vẫn chưa có hồi kết, khi hàng loạt các nền kinh tế yếu của khu vực như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng đang lao đao trong vòng xoáy của nợ nần, tuy đang nỗ lực chống cự nhưng mọi chuyện vẫn có thể xảy ra, như trường hợp
Hy Lạp và Ireland
Mục đích nghiên cứu của Chương tập trung vào tìm hiểu những nguyên nhân
cơ bản dẫn đến tình trạng khủng hoảng nợ và các biện pháp đối phó của các quốc gia này để qua đó, rút ra bài học cho Việt Nam trong quá trình sử dụng và quản lý
nợ công của mình Cũng vì vậy mà người viết sẽ không đề cập quá sâu vào phần diễn biến cũng như hậu quả của hai cuộc khủng hoảng này
1 Khái quát về khủng hoảng nợ công ở châu Âu 2010
Từ cuối tháng 11 năm 2009, châu Âu và thế giới đã bắt đầu lo ngại về một cuộc khủng hoảng nợ công đang chờ trực bùng nổ ở khu vực này, khi Chính phủ mới của Hy Lạp vào ngày 05/11/2009 công bố mức thâm hụt ngân sách trong năm của nước này là 12,7% GDP, cao gấp 4 lần mức cho phép mà Liên minh các nước
sử dụng đồng Euro (Eurozone) quy định
Lo ngại đó đã trở thành sự thực khi hai cuộc khủng hoảng nợ ở Hy Lạp và Ireland, một diễn ra đầu năm, một diễn ra cuối năm 2010, đã làm rung động thị trường tài chính châu Âu, trở thành đề tài kinh tế thời sự nóng hổi của thế giới trong năm 2010, và vẫn còn kéo dài sang những tháng đầu năm 2011 Ngoài Hy Lạp và Ireland đã mất khả năng trả nợ, 2 quốc gia khác là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng ở trong tình trạng nợ nần cao, nguy cơ khủng hoảng là rất lớn Bảng 2.1 mô tả trình trạng không an toàn của các khoản nợ nước ngoài của nhóm 4 quốc gia nói trên dựa theo tiêu chí Tổng nợ/tổng kim ngạch xuất khẩu
Trang 38Bảng 2.1 Tỉ lệ nợ nước ngoài/kim ngạch xuất khẩu của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,
Ireland, Hy Lạp giai đoạn 2003-2009
Nguồn: tổng hợp từ World Databank
Các con số cho thấy tỉ lệ Nợ nước ngoài/thu xuất khẩu của 4 quốc gia nói trên đều ở mức rất cao, dư nợ nước ngoài luôn ở mức từ 6 đến 8 lần tổng doanh thu xuất khẩu hàng hoá dịch vụ, cao hơn gần gấp 3 lần mức trung bình trong khu vực châu
Âu3 Trong đó nguy hiểm nhất là tình trạng của Hy Lạp và Ireland với tỉ lệ này đã xấp xỉ 9% Và thực tế cũng đã phản ánh đúng theo các con số nói trên, khi Hy Lạp
là nước đầu tiên rơi vào khủng hoảng nợ, tiếp đó là Ireland và mới nhất là Bồ Đào Nha (07/05/2011)
Dưới đây là những mốc chính của làn sóng khủng hoảng tại châu Âu; khởi đầu
từ thời điểm Chính phủ Hy Lạp làm sửng sốt thế giới bằng việc tuyên bố con số thâm hụt ngân sách lớn gấp đôi trước đó, cho đến thời điểm Ireland chính thức phải
3
Nguồn: http://www.areppim.com/stats/stats_xdebtxexports_pigs.htm
Trang 39viện tới sự cứu trợ của IMF và EU:
- 5/11/2009: Chính phủ mới Hy Lạp công bố thâm hụt ngân sách năm 2009 sẽ
ở mức 12,7% GDP, cao gấp đôi con số công bố trước đó và cho biết sẽ nỗ lực tránh khả năng vỡ nợ
- 22/12/2009: Liên tiếp sau Standard & Poor’s và Pitch, đến lượt Moody, một
cơ quan xếp hạng tín dụng uy tín thế giới đã hạ mức xếp hạng tín dụng của Hy Lạp;
- 05/3/2010: Chính phủ Hy Lạp chấp thuận kế hoạch giảm lương và tăng thuế
để tiết kiệm 4,8 tỉ Euro
- 11/4/2010: Bộ trưởng Tài chính các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu chấp thuận kế hoạch 30 tỉ euro dành cho Hy Lạp, tuy nhiên Hy Lạp tuyên
bố không cần
- 22/4/2010: Cơ quan thống kê châu Âu cho biết thâm hụt ngân sách năm 2009 của Hy Lạp thực ra là 13,6% GDP chứ không phải 12,7% GDP theo công bố của Chính phủ nước này
- 23/4/2010: Hy Lạp chính thức cầu cứu EU và IMF
- 2/5/2010: Thủ tướng Hy Lạp cho biết Chính phủ nước này đã đạt được thỏa thuận với EU và IMF để nhận được gói giải cứu, đổi lại nước này phải giảm chi tiêu
30 tỉ euro trong 3 năm tới
Gói giải cứu Hy Lạp nhận được bao gồm 110 tỉ euro trong 3 năm Đây là nước đầu tiên tại khu vực đồng tiền chung châu Âu được hỗ trợ Chính phủ Đức đồng ý
Trang 40góp 22,4 tỉ euro tương đương 30 tỉ USD cho kế hoạch cứu Hy Lạp
- 6/5/2010: Quốc hội Hy Lạp chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách
- 10/5/2010: Các nhà hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu đưa ra kế hoạch khẩn cấp trị giá 750 tỉ euro để hỗ trợ thị trường tài chính và vực dậy đồng euro, ngăn đồng tiền này chịu ảnh hưởng tệ hại từ khủng hoảng nợ Hy Lạp
Gói giải cứu bao gồm 440 tỉ euro từ các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu, 60 tỉ Euro từ công cụ nợ của châu Âu IMF đóng góp 250 tỉ Euro, tổng số tiền lên tới 750 tỉ Euro tương đương khoảng gần 1.000 tỉ USD tính theo tỉ giá ở thời điểm đó
- 25/5/2010: Nội các Italia bỏ phiếu thông qua kế hoạch thắt chặt ngân sách, tiết kiệm 24 tỉ Euro với mục tiêu đến năm 2012 đưa thâm hụt ngân sách về mức 2,7% GDP từ mức 5,3% của năm 2009
- 27/5/2010: Quốc hội Tây Ban Nha chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách nhằm tiết kiệm 15 tỉ Euro tương đương 18,4 tỉ USD
- 28/5/2010: Fitch hạ xếp hạng tín dụng của Tây Ban Nha từ AAA xuống AA+ bởi nợ tiêu dùng và doanh nghiệp tại nước này tăng lên mức quá cao, đó là chưa kể đến nợ công đang ở mức đáng báo động
- 7/6/2010: Đảng của Thủ tướng Đức chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách
và thuế để hoàn thành mục tiêu đưa thâm hụt ngân sách của Đức về mức quy định của Liên minh châu Âu trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2013
- 8/6/2010: Công đoàn Tây Ban Nha công bố 75% người lao động trong lĩnh vực công không đi làm để thể hiện sự phản đối kế hoạch thắt chặt chi tiêu của Chính phủ Tỉ lệ lạm phát của Hy Lạp tháng 5/2010 tăng 5,4%, vượt mọi kỳ vọng của các chuyên gia và lên mức cao nhất từ tháng 8/1997
- 13/7/2010: Moody hạ xếp hạng tín dụng của Bồ Đào Nha từ Aa2 xuống A1 bởi nền tài chính yếu kém và triển vọng tăng trưởng chậm chạp