1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 2016 thcs phan đình giót

25 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 2,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc tích cực hoá tư duy học sinh trong giờ học Vật lý nhằm giúp học sinh có phương pháp học tập tốt, lĩnh hội được toàn bộ các kiến thức trong các giờ họ[r]

Trang 1

MỤC LỤC

1 Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài 3

Trang 2

PHẦN THỨ NHẤT:

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dạy – Học luôn là một vấn đề được Đảng và nhà nước quan tâm Đầu tư chogiáo dục là đầu tư cho thế hệ tương lai của đất nước Mục tiêu chung của đổi mớigiáo dục hiện nay là giáo dục toàn diện để tạo ra những con người có trí dục, đứcdục, mỹ dục, thể dục là những lực lượng sáng tạo năng động góp phần thúc đẩy

sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.Mục tiêu cụ thể của dạy học làđào tạo con người có năng lực, đặc biệt là năng lực tư duy chứ không đơn thuần chỉ làkiến thức Theo đó, vai trò của thầy giáo trong việc xác định mục tiêu dạy học và đổimới phương pháp dạy học là hết sức quan trọng, nhằm đào tạo ra những con ngườinăng động sáng tạo trong cuộc sống, trong khoa học công nghệ, đáp ứng yêu cầu vềnhân lực đối với sự phát triển kinh tế, xã hội trong nước và hội nhập quốc tế

Trong dạy và học hiện nay thì học sinh là trung tâm của quá trình dạy học, giáoviên chỉ có vai trò hướng dẫn giúp đỡ còn học sinh chủ động tham gia vào các hoạtđộng để tự mình chiếm lĩnh được tri thức Để khắc phục nhược điểm thụ động tronghọc tập của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập, việc đổi mới phươngpháp dạy học là hết sức quan trong và cấp thiết Trong đó, ngoài việc vận dụng cácphương pháp dạy học tiên tiến, các phương pháp dạy học truyền thống cũng nên được

sử dụng theo hướng tăng cường tính chủ động, tích cực học tập của học sinh Trongquá trình dạy học, giáo viên dựa vào vốn tri thức, kĩ năng và khả năng học tập củahọc sinh, đề ra các bài tập hay nhiệm vụ phù hợp, có nâng cao hơn so với khả nănghiện có của học sinh, đòi hỏi học sinh phải có những cố gắng nhất định trong học tập,như vậy tư duy của học sinh được phát triển, tính tích cực học tập của học sinh được

Trang 3

Nghiên cứu về vấn đề này đã có rất nhiều tài liệu tham khảo của nhiều tác giảkhác nhau Hầu hết đều đáp ứng được yêu cầu tích cực hoá hoạt động tư duy của họcsinh trong giờ vật lý Song nhìn chung thường mang tính định hướng, chưa cụ thể đốivới các dạng bài học.

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc tích cực hoá tư duy học sinh trong giờ họcVật lý nhằm giúp học sinh có phương pháp học tập tốt, lĩnh hội được toàn bộ các kiếnthức trong các giờ học, từ đó vận dụng được vào trong cuộc sống một cách thiết thực

và có hiệu quả tôi đã chọn và áp dụng sáng kiến: “Tích cực hoá hoạt động tư duy của học sinh trong giờ vật lý ”

Trang 4

PHẦN THỨ HAI:

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài:

Tư duy là những nhận thức khái quát và gián tiếp trong những sự vật và hiệntượng của hiện thực, trong những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của chúng,những mối quan hệ khách quan, phổ biến giữa chúng, đồng thời là sự vận dụng sángtạo những kết luận khái quát đã thu được vào những điều kiện cụ thể, dự đoán đượcthuộc tính, hiện tượng quan hệ mới Tư duy có những đặc điểm sau đây:

+ Tư duy phản ánh hiện thức khách quan vào trong óc Bởi vậy tư duy có quan

hệ mật thiết với nhận thức cảm tính, sử dụng những tài liệu cảm tính những kinhnghiệm thực tế, những cơ sở trực quan sinh động

+Tính trừu tượng và khái quát của tư duy : Tư duy phản ánh cái bản chất chungcho nhiều sự vật hiện tượng cụ thể, đồng thời đã tách được cái chung ra khỏi những

sự vật hiện tượng đó Nhờ tính chất trừu tượng khái quát của tư duy có thể cho phép

ta đi sâu vào bản chất và mở rộng phạm vi nhận thức sang cả những sự vật hiệntượng mới mà trước đây ta chưa biết

+Tính gián tiếp : Trong quá trình tư duy, quá trình nhận thức của con ngườinhanh chóng thoát khỏi những sự vật cụ thể cảm tính mà sử dụng những khái niệm đểbiểu đạt chúng, thay thế những sự vật cụ thể bằng ký hiệu bằng những từ ngữ

+Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: Ngôn ngữ là phương tiện hình thứcbiểu đạt tư duy Ngôn ngữ cố định lại những kết quả của tư duy, nhờ đó làm kháchquan hoá chúng cho người khác và cho cả bản thân chủ thể tư duy Không có ngônngữ thì bản thân quá trình tư duy không thể diễn đạt được, đồng thời các sản phẩm

tư duy cũng không thể sử dụng được

+ Tính có vấn đề : Hoạt động tư duy chỉ bắt đầu khi con người đứng rước mộtcâu hỏi có vấn đề mà mình quan tâm nhưng chưa giải đáp bằng những hiểu biết đã cócủa mình, nghĩa là gặp phải các tình huống có vấn đề

Có nhiều cách phân biệt tư duy, dựa theo những dấu hiệu khác nhau Trong dạyhọc vật lý người ta quan tâm đến những loại tư duy chủ yếu dưới đây:

* Tư duy kinh nghiệm:

Tư duy kinh nghiệm là một loại tư duy dựa chủ yếu trên kinh nghiệm cảm tính và

sử dụng các phương pháp “ thử và sai ” Chủ thể phải thực hiện một nhiệm vụ nào đó,

thử mò mẫn thực hiện một thao tác, hành động nào đó ngẫu nhiên thành công, sau đólặp lại đúng như thế mà không biết nguyên nhân vì sao

Trang 5

Kiểu tư duy này đơn giản, không cần rèn luyện nhiều, có ích trong hoạt độnghàng ngày để giải quyết một số vấn đề trong phạm vi hẹp Thí dụ đứng trước mộtmáy thu hình có nhiều nút bấm, ấn nút thứ nhất thì có hình ảnh, ấn nút thứ hai thì cótiếng mà không hiểu tại sao Kinh nghiệm này không thể áp dụng cho các máy thuhình khác trong đó không có nút bấm mà có núm xoáy hoặc núm gạt.

* Tư duy lý luận:

Tư duy lý luận là loại tư duy để giải quyết nhiệm vụ được đề ra dựa trên sửdụng những khái niệm trừu tượng, những tri thức lý luận các phép suy luận trong óc.Đặc trưng của loại tư duy này là:

- Không dừng lại ở kinh nghiệm rời rạc mà luôn hướng tới xây dựng quy tắc,quy luật chung ngày một sâu rộng hơn

- Tự định hướng hành động suy nghĩ về cách thức hành động trước khi hànhđộng

- Luôn sử dụng những tri thức khái quát đã có để lý giải, dự đoán những sự vậthiện tượng cụ thể

- Luôn lật đi lật lại để đạt đến sự nhất quán về mặt lý luận , xác định đượcphạm vi ứng dụng của mỗi lý thuyết

Tư duy rất cần thiết cho hoạt động nhận thức khoa học phải rèn luyện lâu dàimới có được Nhờ có tư duy lý luận con người mới có thể đi sâu vào bản chất của sựvật hiện tượng, phát hiện được quy luật vận động của chúng và sử dụng những trithức khái quát đó để cải tạo bản thân và làm biến đổi thế giới tự nhiên, phục vụ lợiích của mình

* Tư duy lôgic:

Tư duy lôgic là tư duy tuân theo nguyên tắc, quy luật của lô gíc học một cáchchặt chẽ, chính xác không phạm phải sai lầm trong lập luận, biết hiện ra các mâuthuẫn, nhờ đó mà nhận thức đúng chân lý khách quan

Lôgíc học là một môn khoa học nghiên cứu những tư tưởng của con người về mặthình thức lôgic của chúng và xây dựng những quy tắc, quy luật mà việc tuân theochúng là điều kiện cần để đạt tới chân lý trong quá trình suy luận

Con người bằng những kinh nghiệm của mình đã suy nghĩ theo những quy luậtnhất định rất lâu trước khi những quy luật này được khoa học lôgíc khám phá ra Những quy luật của lôgíc học mà mỗi người sử dụng trong quá trình hoạt động

tư duy không phải là tự ý tái tạo mà là sự phản ánh những mối liên hệ và quan hệkhách quan của các sự vật hiện tượng quanh ta

Trang 6

Bởi thế dù chưa biết lôgíc học, nhưng con người bằng kinh nghiệm sống củamình đã trao đổi tư tưởng với nhau, thông hiểu nhau, thống nhất được với nhautrong một số lập luận phán đoán

Tuy nhiên điều đó chỉ xảy ra trong một số trường hợp đơn giản, còn khi gặpnhững trường hợp phức tạp thì không thể thông hiểu lẫn nhau hoặc khó phân biệtđúng sai nếu không nắm vững và vận dụng đúng những quy tắc, quy luật lôgíc học

Ví dụ: Học sinh có thể đễ dàng tin rằng lập luận sau đây dù không hiểu lý do vì

sao:

+ Tất cả các kim loại đều dẫn điện

+ Vật này là kim loại

= >Vậy : Vật này dẫn điện

Nhưng họ khó có thể biết rằng lập luận dưới đây là đúng hay sai:

+ Tất cả các kim loại đều dẫn điện

+ Vật này dẫn điện

= >Vậy: Vật này là kim loại

Tuy nhiên đối với học sinh THCS, không thể dạy cho họ lôgic học để sau đó

họ mới vận dụng các quy tắc và quy luật lôgic để suy nghĩ lập luận

Trái lại không thể giải quyết những nhiệm vụ cụ thể mà tích luỹ dần kinhnghiệm và đến một lúc nào đó sẽ tự động tổng kết thành những quy tắc đơn giảnthường dùng

Tư duy lôgíc được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động nhận thức khoa học,cho nên phải thường xuyên rèn luyện cho học sinh

* Tư duy vật lý:

Ta hiểu tư duy vật lý là sự quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một hiệntượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng mối quan hệđịnh tính và định lượng của các hiện tượng đó và các đại lượng vật lý dự đoán các

hệ quả mới từ lý thuyết và vận dụng sáng tạo những kiến thức khái quát thu đượcvào thực tiễn

Các hiện tượng vật lý trong tự nhiên rất phức tạp, nhưng những định luật chiphối chúng lại rất đơn giản, vì mỗi hiện tượng bị nhiều yếu tố tác động chồng chéonhau hoặc nối tiếp nhau mà ta chỉ quan sát được kết quả tổng hợp cuối cùng

Bởi vậy muốn nhận thức được những bản chất và quy luật của tự nhiên thì việcđầu tiên phải phân tích được các hiện tượng phức tạp thành những bộ phận, nhữnggiai đoạn bị chi phối bởi một số ít những nguyên nhân, bị tác động bởi một số ít yếu

tố, tốt nhất là một nguyên nhân, một yếu tố

Trang 7

Có như thế ta mới xác lập được mối quan hệ bản chất trực tiếp, những sự phụthuộc định lượng giữa các đại lượng vật lý dùng để đo lường những tính chất của sựvật hiện tượng

Muốn biết những kết luận khái quát thu được có phản ánh thực tế khách quankhông, ta phải kiểm tra lại thực tiễn Nếu thí nghiệm xác nhận là chân lý

Mặt khác, việc vận dụng những kiến thức vật lý khái quát vào thực tiễn tạođiều kiện cho con người cải tạo thực tiễn, làm cho các hiện tượng vật lý xảy ra theohướng có lợi cho con người, thoả mãn được nhu cầu ngày càng tăng của con người.Trong quá trình nhận thức vật lý như trên, con người sử dụng tổng hợp xen kẽnhiều hình thức tư duy, trong đó có hình thức chung như tư duy lý luận, tư duy lôgíc

và những hình thức đặc thù của vật lý học như thực nghiệm, mô hình hoá

Ví dụ: Quan sát hiện tượng các vật nổi hay chìm trong nước, ta thấy rất phức

tạp Thông thường vật nặng thì chìm, vật nhẹ thì nổi, nhưng có những trường hợpvật vật nặng lại nổi vật nhẹ lại chìm Hai vật nặng như nhau cùng thả trong nướcnhưng một vật thì chìm vật kia lại nổi Hình như cả trọng lượng, hình dạng, kíchthước, bản chất của vật, của chất lỏng đều ảnh hưởng đến hiện tượng nổi này

Sự quan sát trực tiếp các hiện tượng đa dạng đó trong tự nhiên khó có thể rút rađiều gì là chung, khó mà phát hiện được quy luật chi phối hiện tượng

Ta phải phân tích xem yếu tố nào ảnh hưởng đến hiện tượng nổi và xem xéttừng yếu tố một Chẳng hạn vật nhúng chìm trong nước chịu tác dụng của hai lực:Trọng lực kéo vật xuống và nước đẩy vật lên Lực đẩy của nước lên vật cũng là mộthiện tượng phức tạp phụ thuộc vào cả vật và chất lỏng: Phụ thuộc vào thể tích củavật và trọng lượng riêng của chất lỏng

Cuối cùng hiện tượng nổi của vật nhúng trong chất lỏng rất đa dạng và phức tạplại bị chi phối bởi một loạt những tính chất, quy luật đơn giản sau đây:

- Trọng lượng riêng của vật: P = d.V

- Lực đẩy của chất lỏng tác dụng lên vật nhúng trong nó bằng trọng lượng củakhối chất lỏng bị vật chiếm chỗ: F = d.V

- Vật nổi hay chìm là do mối quan hệ giữa P và F quyết định:

Trang 8

góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh theo mụctiêu đào tạo.

Mỗi môn học có một đặc trưng riêng Môn vật lý là một môn khoa học thựcnghiệm Các vấn đề mà môn vật lý nghiên cứu đều là những vấn đề liên quan đến cáchiện tượng, quy luật, trong cuộc sống, trong lao động Nắm được khoa học kỹ thuậtvừa giúp cho học sinh có cơ sở để đạt được những mục đích, yêu cầu đã đề ra ở trên,đồng thời giúp các em có điều kiện phát triển tốt hơn, hoà nhập được trong tương lai

- Học sinh ngoan ngoãn, lễ phép với thầy cô giáo, một số em có luôn có ý thứcvươn lên trong học tập

Khó khăn:

Học sinh trong lớp không đồng đều, có sự chênh lệch về nhận thức rất rõ rệt,đặc biệt nhận thức về môn học tự nhiên Lý do là các em chưa biết phương pháp họctập, rỗng kiến thức nên sinh ra chán học, không muốn đầu tư thời gian, tâm huyết vàoviệc tìm tòi khám phá Không chỉ vậy mà còn có một số học sinh chưa yêu thích mônhọc

3 Các biện pháp đã tiến hành

Tính tích cực trong hoạt động tư duy của học sinh là một hiện tượng sư phạmbiểu hiện ở sự cố gắng hết sức cao về nhiều mặt trong hoạt động nhận thức của trẻ nóichung Tính tích cực trong hoạt động tư duy là sự phát triển ở mức độ cao hơn trong

tư duy, đòi hỏi một quá trình hoạt động "bên trong" hết sức căng thẳng với một nghịlực cao của bản thân, nhằm đạt được mục đích là giải quyết vấn đề cụ thể nêu ra.Tính tích cực trong hoạt động tư duy của học sinh thể hiện ở những hoạt động trítuệ là tập trung suy nghĩ để trả lời câu hỏi nêu ra, kiên trì tìm cho được lời giải haycủa một bài toán khó cũng như hoạt động chân tay là say sưa lắp ráp tiến hành thínghiệm Trong học tập hai hình thức biểu hiện này thường đi kèm nhau tuy có lúcbiểu hiện riêng lẻ Các dấu hiệu về tính tích cực trong hoạt động tư duy của học sinhthường được biểu hiện:

– Học sinh khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổsung các câu trả lời của bạn và thích được phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêura

Trang 9

– Học sinh hay thắc mắc và đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề các em chưarõ.

– Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã có để nhậnthức các vấn đề mới

– Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mớinhận từ các nguồn kiến thức khác nhau có thể vượt ra ngoài phạm vi bài học, mônhọc

Chính vì vậy để tích cực hóa hoạt động tư duy của học sinh tôi mạnh dạn đưa

ra các biện pháp sau:

3.1 Tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tò mò, ham hiểu biết của học sinh:

Tư duy là một quá trình tâm lý diễn ra trong óc của học sinh Tư duy chỉ thực

sự có hiệu quả khi học sinh tự giác mang hết sức mình để thực hiện

Tư duy chỉ thực sự bắt đầu khi trong đầu óc của học sinh xuất hiện một câu hỏi

mà chưa có lời giải đáp ngay, khi họ gặp phải mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu,nhiệm vụ nhận thức mới phải giải quyết và một bên là trình độ kiến thức hiện cókhông đủ để giải quyết nhiệm vụ đó, cần phải xây dựng kiến thức mới, tìm giải phápmới

Lúc đó học sinh vừa ở trạng thái tâm lý hơi căng thẳng, vừa hưng phấn khaokhát vượt qua được khó khăn, giải quyết được mâu thuẫn đạt được trình độ cao hơn

trên con đường nhận thức Ta nói rằng học sinh được đặt vào “Tình huống có vấn đề"

Có thể tạo ra nhu cầu hứng thú bằng cách kích thích bên ngoài, chẳng hạn như:khen thưởng, sự ngưỡng mộ của bạn bè, gia đình, sự hứa hẹn của một tương lai đẹp,thực tế xây dựng quê hương đất nước …Những kích thích này không được thườngxuyên, bền vững và phụ thuộc vào nhiều hoàn cảnh của mỗi học sinh Nhu cầu hứngthú có thể nảy sinh ngay trong quá trình học tập, nghiên cứu môn học, mỗi bài họcnghĩa là nội dung môn học, từ mâu thuẫn nội tại của quá trình nhận thức Những tìnhhuống có vấn đề điển hình trong dạy học vật lý là:

a Tình huống phát triển:

Học sinh đứng trước một vấn đề được giải quyết một phần, một bộ phận, trongphạm vi hẹp, cần phải được tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh, mở rộng sang nhữngphạm vi mới, lĩnh vực mới

Phát triển hoàn thiện vốn kiến thức của mình luôn là niềm khao khát của thế hệtrẻ Ngoài ra, như Risa Fâyman nói: Đó cũng là con đường phát triển của khoa học

Quá trình phát triển hoàn thiện vốn kiến thức sẽ đem lại những kết quả mới ( kiến thức mới, kỹ năng mới và phương pháp mới ).

Trang 10

Nhưng trong quá trình đó vẫn sử dụng những vốn kiến thức, kỹ năng vàphương pháp đã biết cho đến lúc gặp mâu thuẫn không thể giải quyết được bằng vốnkiến thức cũ.

Ví dụ 1: Tình huống phát triển kiến thức mới bài : “Sự nở vì nhiệt của chất

rắn”: Sau khi học xong chương cơ học lớp 6, học sinh bước sang phần chương IInhiệt học Tình huống dẫn dắt vào bài: GV chiếu cho học sinh quan sát hình ảnhtháp epphen ở thủ đô nước pháp và giới thiệu chiều cao của tháp đo được vào tháng

1 và tháng 7 có sự khác nhau Đo chiều cao của tháp vào tháng 7 thì kết quả đođược cao hơn đo tháng 1 là 10cm Tại sao lại có sự kỳ là này phải chăng tháp cũnggiống con người cũng lớn lên từng ngày?

Ví dụ 2 : Ở lớp 6 khi học về bài “ Sự nở vì nhiệt của chất rắn ”, sau khi học

sinh học đã biết một thanh đồng hay một thanh nhôm khi bị nung nóng sẽ đều nởdài thêm ra, vấn đề cần xét thêm là: liệu đồng và nhôm có nở giống nhau không?

Rõ ràng là những kiến thức đã biết không thể trả lời được câu hỏi này, cần phảinghiên cứu để hoàn thiện thêm sự hiểu biết về sự nở của chất rắn Giáo viên giớithiệu học sinh tiếp phần sau

Tháng 7 Tháng 1

Trang 11

Ví dụ 3: Tình huống giới thiệu bài đòn bẩy : Giáo viên cho học sinh quan sát

bức tranh 1 và giới thiệu ống bê tông nặng khoảng 2 tạ Làm thế nào để nâng đượcống bê tông?

Giáo viên nhận xét và đưa ra hình ảnh sau cho học sinh quan sát và giới thiệungười ta không kéo trực tiếp vật lên mà sử dụng đòn bẩy

Ví dụ 4: Ở lớp 6, khi học bài “ Đòn bẩy ”, học sinh học xong phần I Tìm hiểu

cấu tạo của đòn bẩy, thì học sinh đã chỉ ra được các bộ phận 0; 01; 02 và F1; F2 ởchiếc kéo Nhưng vấn đề hỏi thêm là tại sao kéo cắt kim loại có tay cầm dài hơnlưới kéo

Trang 12

Vậy kiến thức phần I không thể giải quyết được, học sinh cần nghiên cứu phầnII.

Ví dụ 5: Tình huống giới thiệu bài sự bay hơi sự ngưng tụ: GV cho học sinh

quan sát bức tranh và hỏi học sinh:

* Tại sao vào một số buổi sáng sớm lại thấy những giọt sương long lanh đọngtrên lá cây?

Ngày đăng: 08/02/2021, 06:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w