1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

Công ước Lahay về luật áp dụng với chế độ tài sản vợ chồng – bản dịch không chính thức

8 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 175,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, luật pháp của nước kí kết nào cũng có thể qui định rằng luật áp dụng đối với chế độ tài sản vợ chồng có thể không được áp dụng bởi một cặp vợ chồng chống lại một bên thứ ba,[r]

Trang 1

www.phamlinhnham.wordpress.com 1

CÔNG ƯỚC VỀ LUẬT ÁP DỤNG VỚI CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG

(kí ngày 14 tháng 3 năm 1978)

Các nước kí kết công ước này,

Mong muốn thiết lập các điều khoản chung liên quan đến luật áp dụng cho chế dộ tài sản vợ chồng,

Đã quyết định kí kết công ước này và đã đồng ý với các điều khoản sau:

CHƯƠNG I: CÁC NỘI DUNG CHÍNH CỦA CÔNG ƯỚC

Điều 1

Công ước này xác định luật điều chỉnh cho chế độ tài sản vợ chồng

Công ước này không áp dụng với -

(1) Vấn đề cấp dưỡng của hai vợ chồng;

(2) Các quyền thừa kế của người còn sống sau khi người kia qua đời;

(3) Năng lực của vợ chồng

Điều 2

Công ước được áp dụng cả trong trường hợp quốc tịch và nơi cư trú thường xuyên của

vợ chồng hoặc luật được áp dụng theo các điều khoản sau đây không phải là của các nước thành viên

CHƯƠNG II –LUẬT ÁP DỤNG

Điều 3

Chế độ tài sản vợ chồng được qui định bởi luật của quốc gia mà vợ chồng đã lựa chọn trước khi kết hôn

Vợ chồng chỉ có thể lựa chọn một trong các luật điều chỉnh như sau:

(1) Luật của quốc gia mà vợ hoặc chồng có quốc tịch tại thời điểm lựa chọn

(2) Luật của quốc gia mà vợ hoặc chồng cư trú thường xuyên tại thời điểm lựa chọn

 Lưu ý trước khi đọc tài liệu:

1 Tài liệu này được dịch từ convention on the law applicable to matrimonial property regimes (kí ngày 14 tháng 3 năm 1978),

2 Tài liệu này là bản dịch không chính thức, thực hiện bởi Phạm Linh Nhâm – sinh viên năm thứ

4 trường Đại học Luật Hà Nội khóa 2006 – 2010 để phục vụ cho việc làm khóa luật tốt nghiệp

3 Quyền tác giả đối với tài liệu này thuộc về Phạm Linh Nhâm

4 Do người dịch không có chuyên môn về dịch thuật nên sai sót của bản dịch là điều không thể tránh khỏi

Trang 2

www.phamlinhnham.wordpress.com 2

(3) Luật của quốc gia nơi cư trú thường xuyên sau đầu tiên khi kết hôn của một bên vợ hoặc chồng

Luật của nước đã được lựa chọn sẽ được áp dụng với tất cả tài sản của họ

Tuy nhiên, vợ chồng, cho dù đã chọn hay không các luật điều chỉnh như ở trên, nhưng trong các vấn đề liên quan đến bất động sản thì vẫn phải tuân theo luật của nước nơi có bất động sản Họ cũng có thể qui định rằng bất kì bất động sản nào có được sau đó sẽ phải được điều chỉnh theo luật của quốc gia nơi có bất động sản

Điều 4

Trước khi kết hôn, nếu vợ chồng không chọn luật áp dụng cho chế độ tài sản của họ thì chế độ tài sản của họ sẽ được điều chỉnh theo luật của quốc gia nơi cư trú thường xuyên đầu tiên của hai người sau khi kết hôn

Tuy nhiên, trong các trường hợp sau đây, chế độ tài sản vợ chồng sẽ được điều chỉnh bởi luật của nước mà vợ chồng đều có cùng quốc tịch:

(1) Trường hợp bản tuyên bố qui định theo Điều 5 đã được nước đó đưa ra và việc áp dụng tuyên bố đó cho vợ chồng không bị loại trừ bởi những điều khoản được qui định tại đoạn thứ 2 của Điều 5;

(2) Trường hợp nước đó không phải là thành viên của công ước này và theo nguyên tắc

về hôn nhân có yếu tố nước ngoài của quốc gia đó thì luật quốc gia được áp dụng và vợ chồng

có nơi cư trú thường xuyên đầu tiên sau khi kết hôn:

a) ở một nước mà đã đưa ra bản tuyên bố được qui định tại điều 5, hoặc b) ở một nước không phải là thành viên của công ước này và qui định về quan

hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài của nước đó cũng qui định áp dụng luật của nước mà

họ có quốc tịch

(3) Trường hợp vợ chồng không có nơi cư trú thường xuyên đầu tiên sau khi kết hôn ở cùng một quốc gia

Nếu vợ chồng không có cùng nơi cư trú thường xuyên và cũng không có cùng quốc tịch thì chế độ tài sản vợ chồng của họ sẽ được điều chỉnh bởi luật của quốc gia mà có mối liên hệ gần gũi nhất sau khi xem xét tất cả các trường hợp

Điều 5

Trước thời điểm phê chuẩn, chấp nhận, phê duyệt hoặc tán thành, bất cứ quốc gia nào cũng có thể đưa ra bản tuyên bố yêu cầu áp dụng luật của nước mình theo khoản 1 đoạn thứ 2 Điều 4

Bản tuyên bố này sẽ không được áp dụng cho vợ chồng mà cả hai đều tiếp tục có nơi cư trú thường xuyên ở quốc gia khác trước thời điểm kết hôn 5 năm và sau khi kết hôn lại tiếp tục

cư trú ở quốc gia đó trừ khi quốc gia nơi mà vợ chồng cùng cư trú cũng đưa ra một bản tuyên

bố tương tự hoặc quốc gia mà vợ chồng cùng cư trú không phải là thành viên của công ước này

Trang 3

www.phamlinhnham.wordpress.com 3

và các nguyên tắc trong quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài của nước đó yêu cầu phải áp dụng luật quốc tịch

Điều 6

Trong thời kì hôn nhân vợ chồng có thể lựa chọn một luật khác điều chỉnh chế độ tài sản vợ chồng

Vợ chồng có thể lựa chọn chỉ một trong các luật sau đây:

(1) Luật của bất cứ nước nào mà vợ hoặc chồng có quốc tịch ở thời điểm lựa chọn (2) Luật của nước mà vợ hoặc chồng có nơi thường trú tại thời điểm lựa chọn

Luật được lựa chọn sẽ áp dụng cho toàn bộ tài sản của họ

Tuy nhiên, vợ chồng, dù đã lựa chọn luật theo các đoạn trước hoặc theo Điều 3 hay chưa, có thể lựa chọn luật của nơi có tất cả hoặc một số bất động sản Họ cũng có thể qui định rằng bất cứ bất động sản có được sau đó sẽ được điều chỉnh bởi luật của nơi có các bất động sản đó

Điều 7

Miễn là vợ chồng chưa lựa chọn luật áp dụng khác thì luật áp dụng theo công ước này vẫn tiếp tục được áp dụng bất chấp mọi sự thay đổi về quốc tịch hay nơi thường trú của vợ chồng

Tuy nhiên, nếu vợ chồng không lựa chọn luật áp dụng hoặc không có hôn ước thì thay

vì luật đã áp dụng trước đó luật của quốc gia nơi mà họ cùng thường trú sẽ được áp dụng khi

(1) vợ chồng đã thiết lập nơi thường trú tại quốc gia đó, nếu họ có cùng quốc tịch của quốc gia đó, hoặc từ thời điểm họ trở thành công dân của quốc gia đó, hoặc

(2) sau thời điểm kết hôn, thời gian cư trú của họ trên quốc gia đó không ít hơn 10 năm, hoặc

(3) họ đã có được nơi thường trú, trong trường hợp chế độ tài sản vợ chồng tùy thuộc vào luật của quốc gia mà họ có cùng quốc tịch theo như ý 3 của đoạn thứ 2 Điều 4

Điều 8

Việc thay đổi về luật áp dụng theo đoạn thứ 2 của Điều 7 sẽ chỉ phát sinh hiệu lực trong tương lai, và tài sản thuộc về vợ chồng trước khi diễn ra sự thay đổi đó không phải là đối tượng của luật áp dụng mới

Tuy nhiên, bất cứ khi nào thay đổi luật áp dụng, việc thay đổi này phải tuân theo thể thức được ghi ở Điều 13 Luật mới được áp dụng đối với toàn bộ tài sản của họ nhưng không làm tổn hại và tôn trọng các vấn đề về bất động sản như các qui định của đoạn thứ 4 Điều 3

và đoạn thứ 4 Điều 6 Việc thay đổi luật áp dụng này không được ảnh hưởng theo chiều hướng bất lợi đến quyền lợi của các bên thứ ba

Trang 4

www.phamlinhnham.wordpress.com 4

Điều 9

Các quan hệ pháp lí giữa vợ chồng và một bên thứ ba được điều chỉnh bởi luật áp dụng đối với chế độ tài sản vợ chồng theo qui định của Công ước này

Tuy nhiên, luật pháp của nước kí kết nào cũng có thể qui định rằng luật áp dụng đối với chế độ tài sản vợ chồng có thể không được áp dụng bởi một cặp vợ chồng chống lại một bên thứ ba, trong trường hợp hoặc vợ chồng đó hoặc bên thứ ba có thường trú trên lãnh thổ của mình, trừ khi

(1) bất kì yêu cầu công khai hoặc đăng kí nào theo qui định của luật đó đã được tuân thủ, hoặc

(2) các quan hệ pháp lí giữa cặp vợ chồng và bên thứ ba phát sinh tại thời điểm khi bên thứ ba hoặc biết hoặc đáng lẽ phải biết luật áp dụng đối với chế độ tài sản vợ chồng

Luật của quốc gia kí kết nơi có bất động sản có thể qui định một qui tắc tương tự cho các quan hệ pháp lí giữa cặp vợ chồng và một bên thứ ba liên quan đến bất động sản ở nước

đó

Quốc gia kí kết có thể qui định rõ bằng cách tuyên bố áp dụng phạm vi của các đoạn thứ hai và ba của Điều này

Điều 10

Các điều kiện liên quan đến sự thỏa thuận của vợ chồng đối với luật được lựa chọn áp dụng sẽ phải do luật đó quyết định

Điều 11

Việc lựa chọn luật áp dụng phải được qui định rõ ràng, hoặc được qui định trong các điều khoản của hôn ước

Điều 12

Hôn ước sẽ có hiệu lực nếu nó phù hợp với luật quốc gia được áp dụng cho chế độ tài sản vợ chồng, hoặc với pháp luật quốc gia của nơi lập hôn ước Trong mọi trường hợp, hôn ước đều phải được lập bằng văn bản, có ghi rõ ngày tháng và có chữ kí của cả hai vợ chồng

Điều 13

Việc lựa chọn luật áp dụng được qui định rõ ràng trong hôn ước, hoặc phải là luật do vợ chồng chỉ định theo luật của nước nơi kí kết hôn ước hoặc theo luật của nước là nơi vợ chồng thiết lập lựa chọn đó Trong mọi trường hợp, việc lựa chọn phải được lập bằng văn bản, có ghi

rõ ngày tháng và có chữ kí của cả hai vợ chồng

Trang 5

www.phamlinhnham.wordpress.com 5

Điều 14

Việc áp dụng pháp luật được xác định theo Công ước có thể bị bác bỏ chỉ khi nó rõ ràng

là mâu thuẫn với chính sách công cộng ("trật tự công")

CHƯƠNG III - CÁC ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Điều 15

Theo mục đích của Công ước, một quốc tịch chỉ được coi là quốc tịch chung của vợ chồng trong các trường hợp sau đây –

(1) cả hai vợ chồng đã mang quốc tịch đó trước khi kết hôn;

(2) một người đã tự nguyện nhập quốc tịch theo quốc tịch của người kia tại thời điểm kết hôn hoặc sau thời điểm kết hôn đó, hoặc là bằng một bản tuyên bố đã có hiệu lực hoặc là bằng việc không thực hiện quyền từ chối được cấp quốc tịch mới đó;

(3) cả hai vợ chồng đã tự nguyện cùng nhập 1 quốc tịch sau khi kết hôn

Ngoại trừ trong các trường hợp nêu tại khoản 1 đoạn thứ hai của Điều 7, các qui định

đề cập đến quốc tịch chung của vợ chồng không được áp dụng trong trường hợp vợ chồng có nhiều hơn một quốc tịch chung

Điều 16

Theo mục đích của Công ước, trong trường hợp một quốc gia có hai hay nhiều đơn vị lãnh thổ mà ở đó có các hệ thống pháp luật khác nhau áp dụng cho các chế độ tài sản hôn nhân thì bất kì sự dẫn chiếu nào tới luật quốc gia của quốc gia đó sẽ được hiểu như là việc đề cập tới hệ thống được xác định bởi các qui tắc đang có hiệu lực tại quốc gia đó

Trong trường hợp không có qui tắc đó, việc dẫn chiếu tới một quốc gia mà một bên vợ hoặc chồng là công dân sẽ được hiểu, theo mục đích của khoản 1 đoạn thứ hai của Điều 3 và khoản 1 đoạn thứ hai của Điều 6, như là việc đề cập đến đơn vị lãnh thổ nơi vợ hoặc chồng đã

có nơi thường trú cuối cùng; và, theo mục đích của đoạn thứ hai Điều 4, việc dẫn chiếu tới quốc gia mà hai vợ chồng có chung quốc tịch sẽ được hiểu như là việc đề cập đến đơn vị lãnh thổ cuối cùng, nếu có, nơi mỗi người đã thường trú

Điều 17

Theo mục đích của Công ước này, trường hợp một quốc gia có hai hay nhiều đơn vị lãnh thổ mà ở đó các hệ thống luật khác nhau áp dụng cho các chế độ tài sản vợ chồng thì bất kì sự dẫn chiếu nào tới việc thường trú tại quốc gia đó sẽ được hiểu như là việc đề cập đến thường trú tại một đơn vị lãnh thổ của quốc gia đó

Điều 18

Một quốc gia kí kết mà có hai hay nhiều đơn vị lãnh thổ mà ở đó các hệ thống luật khác nhau áp dụng cho các chế độ tài sản vợ chồng sẽ không bị ràng buộc áp dụng các qui tắc của

Trang 6

www.phamlinhnham.wordpress.com 6

Công ước để xung đột với luật của các đơn vị lãnh thổ đó nếu luật quốc gia khác không được

áp dụng với tư cách Công ước này

Điều 19

Theo mục đích của Công ước này, trường hợp một quốc gia có hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật được áp dụng đối với các chế độ tài sản vợ chồng đối với các nhóm đối tượng khác nhau thì bất kì sự dẫn chiếu nào tới luật của quốc gia đó sẽ được hiểu như là việc đề cập đến

hệ thống được xác định bởi các qui định đang có hiệu lực ở quốc gia đó

Trong trường hợp không có qui tắc đó thì luật của quốc gia mà vợ chồng có chung quốc tịch được áp dụng trong những trường hợp được qui định tại đoạn đầu tiên của Điều 4, và luật của quốc gia nơi mỗi người đã từng thường trú sẽ tiếp tục được áp dụng trong các trường hợp qui định tại khoản 2 đoạn thứ hai của Điều 7 Trong trường hợp vợ chồng không có quốc tịch chung thì đoạn thứ ba của Điều 4 sẽ được áp dụng

Điều 20

Công ước không ảnh hưởng đến bất kì văn kiện quốc tế nào khác có qui định về các vấn

đề được điều chỉnh bởi Công ước này mà một quốc gia ký kết là, hoặc trở thành một thành viên

Điều 21

Công ước này chỉ được áp dụng, ở mỗi quốc gia kí kết, đối với các cặp vợ chồng đã kết hôn hoặc đã chỉ định luật áp dụng đối với chế độ tài sản vợ chồng của họ sau khi Công ước này

có hiệu lực đối với quốc gia đó

Một quốc gia kí kết có thể tuyên bố mở rộng việc áp dụng Công ước đối với các trường hợp các cặp vợ chồng khác

CHƯƠNG IV – NHỮNG QUY ĐỊNH CUỐI CÙNG

Điều 22

Công ước này là công ước mở cho các Quốc gia đã là thành viên của Hội nghị La Hay về

Tư pháp quốc tế tại thời điểm diễn ra phiên họp thứ mười ba

Công ước này được phê chuẩn, chấp nhận hoặc phê duyệt và các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê duyệt được lưu trữ tại Bộ Ngoại giao của Hà Lan

Điều 23

Bất kì quốc gia nào khác đều có thể gia nhập Công ước

Các văn kiện gia nhập được lưu trữ tại Bộ Ngoại giao của Hà Lan

Trang 7

www.phamlinhnham.wordpress.com 7

Điều 24

Bất kì quốc gia nào, tại thời điểm kí, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc tán thành đều có thể tuyên bố rằng Công ước này sẽ mở rộng đến tất cả các lãnh thổ để điều chỉnh các quan hệ quốc tế mà quốc gia đó có liên quan, hoặc đến một hay nhiều trong số các lãnh thổ

đó Bản tuyên bố đó sẽ có hiệu lực tại thời điểm Công ước này có hiệu lực đối với quốc gia đó

Bản tuyên bố đó, cũng như bất cứ sự mở rộng nào theo đó, sẽ phải được thông báo cho

Bộ Ngoại giao của Hà Lan

Điều 25

Một quốc gia kí kết có hai hay nhiều đơn vị lãnh thổ mà ở đó các hệ thống luật khác nhau được áp dụng cho các chế độ tài sản vợ chồng, tại thời điểm kí, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc tán thành, có thể tuyên bố rằng Công ước này sẽ được áp dụng cho tất cả các đơn vị lãnh thổ của mình hoặc chỉ cho một hoặc nhiều trong số đó, và có thể gia hạn việc tuyên bố của mình tại bất kì thời điểm sau đó

Những tuyên bố này phải được thông báo cho Bộ Ngoại giao của Hà Lan, và phải nêu rõ ràng các đơn vị lãnh thổ áp dụng Công ước này

Điều 26

Một quốc gia kí kết mà có một hệ thống pháp luật quốc gia phức tạp tại thời điểm Công ước này có hiệu lực đối với quốc gia đó, có thể qui định rõ ràng tại bất cứ thời điểm nào bằng việc tuyên bố cách thức mà sự dẫn chiếu tới luật quốc gia của mình sẽ được hiểu theo mục đích của Công ước này

Điều 27

Không được phép thực hiện quyền bảo lưu đối với Công ước này

Điều 28

Bất kì quốc gia kí kết nào mong muốn đưa ra một trong các tuyển bố được dự kiến theo Điều 5, đoạn thứ tư của Điều 9, Điều 21 hoặc Điều 26 phải thông báo tuyên bố đó cho Bộ Ngoại giao của Hà Lan biết

Thông báo phải được đưa ra giống như cách thức thông báo bất cứ sự sửa đổi hoặc thu hồi nào đối với bản tuyên bố đó

Điều 29

Công ước sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tiên của tháng dương lịch thứ ba sau khi nhận được văn kiện thứ ba về việc phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc tán thành được nêu tại các Điều 22 và 23

Sau đó, Công ước sẽ có hiệu lực –

Trang 8

www.phamlinhnham.wordpress.com 8

(1) đối với mỗi quốc gia phê chuẩn, chấp nhận, phê duyệt hoặc tán thành nó sau đó, vào ngày đầu tiên của tháng dương lịch thứ ba sau khi nộp văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc tán thành;

(2) đối với một lãnh thổ mà Công ước đã được mở rộng theo Điều 24, vào ngày đầu tiên của tháng dương lịch thứ ba sau khi thông báo nêu tại Điều đó

Điều 30

Công ước này sẽ có hiệu lực trong vòng 5 năm kể từ ngày có hiệu lực theo qui định của đoạn đầu tiên của Điều 29, ngay cả đối với các nước mà sau đó đã phê chuẩn, chấp nhận, chấp nhận nó hoặc tham gia vào Công ước này

Nếu không có tuyên bố bãi ước nào, thì Công ước này được mặc nhiên gia hạn 5 năm một lần

Bất kì sự tuyên bố bãi ước nào đều phải được thông báo cho Bộ Ngoại giao của Hà Lan,

ít nhất sáu tháng trước khi hết thời hạn 5 năm Công ước này có thể bị giới hạn đối với một số vùng lãnh thổ, hoặc đơn vị lãnh thổ nhất định nào đó mà Công ước áp dụng

Việc tuyên bố bãi ước sẽ chỉ có hiệu lực đối với quốc gia đã thông báo việc tuyên bố đó Công ước này sẽ có hiệu lực đối với các quốc gia kí kết khác

Điều 31

Bộ Ngoại giao của Hà Lan phải thông báo cho các quốc gia thành viên tham gia Hội nghị này, và các quốc gia đã tán thành theo quy định của Điều 23, biết những điều dưới đây –

(1) các văn bản kí kết và phê chuẩn, chấp thuận và phê duyệt nêu tại Điều 22;

(2) các văn bản tán thành nêu tại Điều 23;

(3) ngày Công ước này có hiệu lực theo qui định của Điều 29;

(4) các phần mở rộng được nêu trong Điều 24;

(5) các bản tuyên bố bãi ước nêu tại Điều 30;

(6) các bản tuyên bố nêu tại các Điều 25, 26 và 28

Trước sự chứng kiến, người kí tên dưới đây, được uỷ quyền phù hợp theo đó, đã kí Công ước này

Được kí kết tại La Hay, vào ngày 14 tháng 3 năm 1978, bằng ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Pháp, cả hai văn bản có giá trị ngang nhau, một bản duy nhất mà phải được gửi lưu trữ tại Chính phủ Hà Lan, và bản sao đã được chứng thực sẽ phải được gửi, thông qua kênh ngoại giao tới từng quốc gia thành viên của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế vào ngày diễn ra phiên họp thứ mười ba của Hội nghị này

Ngày đăng: 08/02/2021, 06:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w