Nhưng, sau những năm triển khai theo đề án dạyngoại ngữ, nhờ sự nỗ lực không ngừng của các cấp, các ngành và nỗ lực rất cao vượtqua nhiều khó khăn của các giáo viên Tiếng Anh thì bước đầ
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: - Hội đồng sáng kiến phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Kim Sơn
- Hội đồng sáng kiến Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình
Chúng tôi ghi tên dưới đây
Tỷ lệ %
Áp dụng trong việc giảng dạy và học từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học
II NỘI DUNG.
Tiếng Anh đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày từ việc giao tiếpđến những cơ hội trong học tập, làm việc, cũng như các mối quan hệ hợp tác kinhdoanh Chính vì thế, trong những năm gần đây môn Tiếng Anh có được rất nhiều sựquan tâm từ các cấp lãnh đạo, các bậc phụ huynh, các em học sinh Là một tỉnh tiênphong trong việc chính thức đưa môn Tiếng Anh vào giảng dạy ở tiểu học, tỉnh NinhBình gặp không ít những khó khăn Nhưng, sau những năm triển khai theo đề án dạyngoại ngữ, nhờ sự nỗ lực không ngừng của các cấp, các ngành và nỗ lực rất cao vượtqua nhiều khó khăn của các giáo viên Tiếng Anh thì bước đầu môn Tiếng Anh đã đượccác em học sinh đón chào và học tập rất nhiệt tình sôi nổi Các bậc phụ huynh luônchăm chú dõi theo, động viên khuyến khích Là một giáo viên Tiếng anh, chúng tôi rấtvui khi thấy các em rất háo hức khi đến giờ học môn Tiếng Anh Vậy làm thế nào để
Trang 2kéo dài mãi tinh thần học tập, sự hấp dẫn say mê của các em dành cho môn Tiếng Anh
đó là trách nhiệm, là lòng yêu nghề, là sự đổi mới, sáng tạo không ngừng trong các tiếtdạy của mỗi giáo viên Tiếng Anh chúng ta
Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, vai trò của từ vựng cũng hết sức quan trọng Nếukhông có một vốn từ vựng cần thiết thì người học không thể sử dụng các cấu trúc câu vàcác chức năng ngôn ngữ trong giao tiếp Và điều khiến nhiều giáo viên luôn băn khoăn
đó là làm sao để giới thiệu được các từ vựng để các em không những hiểu mà còn cảmthấy thú vị Những bộ não non nớt của các em sẽ vô cùng áp lực trước những phươngpháp giới thiệu và kiểm tra từ vựng theo cách ghi chép, nhồi nhét và bắt học thuộc lòng.Nếu không có những cách dạy và kiểm tra từ vựng gây hứng thú thì các em sẽ coi việchọc từ vựng là để đối phó với những lần kiểm tra Xuất phát từ việc nắm bắt được tâm
lý lứa tuổi học sinh tiểu học, các em vừa học vừa chơi, hiếu động và sự tập trung củacác em không được lâu Vì thế mà tất cả các hoạt động dạy và học phải nhẹ nhàng, đadạng, thu hút Phải lồng ghép vừa học vừa chơi, vừa chơi vừa học nhằm giúp các emluôn hào hứng và nhiệt tình tham gia, đồng thời cũng phải đạt được hiệu quả cao Đểgiúp học sinh nắm vững và ghi nhớ tốt từ vựng chúng ta cần phải có những cách giúphọc sinh hào hứng trong việc học và ghi nhớ một cách nhanh nhất, sâu nhất Chính vì
vậy mà chúng tôi đã tìm tòi, nghiên cứu về đề tài: “Một số thủ thuật giúp học sinh ghi nhớ từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu Học” nhằm phục vụ cho học sinh rèn luyện
tốt các kỹ năng ngôn ngữ
1 Giải pháp cũ thường làm.
1.1 Một số phương pháp dạy, kiểm tra từ vựng thường làm.
1.1.1 Phương pháp dạy ngữ pháp và dịch nghĩa của từ.
Vì mong muốn học sinh Tiểu học học tốt môn tiếng Anh nên người giáo viên đãtruyền đạt, giảng giải theo các tài liệu sẵn có trong sách giáo khoa, trong sách hướngdẫn và sách thiết kế bài giảng một cách dập khuôn, máy móc dẫn đến việc học sinh họctập một cách thụ động Đó là một trong những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạocác em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với nhữngđổi mới trong thời kì hội nhập, ngoài ra còn một số nguyên nhân dẫn đến việc mất dần
đi sự hứng thú học tập của các em đối với môn Tiếng Anh đó là: Giáo viên dạy từ theo
phương pháp dịch nghĩa: Giáo viên làm trung tâm, học sinh ghi chép thụ động từ và
mẫu câu rồi sau đó về nhà học thuộc lòng Điều này chắc chắn sẽ gây tâm lý quá tải chomột số học sinh, gây ảnh hưởng rất nhiều đến các tiết học sau
- Ưu điểm:
+ Thời lượng tiết học rất hạn chế nên giáo viên chỉ có thể dạy theo cách truyền thống,đưa ra từ mới kèm nghĩa tiếng việt cho học sinh hiểu nghĩa của từ nhanh và khỏi mất nhiều thời gian
+ Học sinh được rèn luyện về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn
Trang 3+ Học sinh nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản.
- Nhược điểm:
+ Giáo viên đưa ra cách học từ mới một cách khô khan và đơn điệu nên có không ít họcsinh chỉ học qua loa, không khắc sâu được từ vựng vào trong trí nhớ, không tập đọc, tậpviết thường xuyên, không thuộc nghĩa hai chiều
+ Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều – học sinh hoàn toàn bị động, không có cơhội thực hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kỹ năng nói của ngườihọc bị hạn chế nhiều
+ Không giúp học sinh “giao tiếp” được Hoạt động chủ yếu trong lớp là người thầy;nghĩa là người thầy giảng giải, nói nhiều, học sinh thụ động ngồi nghe và ghi chép,không có ý kiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp (nói) với thầy và bạn bè
+ Phụ huynh học sinh cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn các em tựhọc ở nhà Bởi vì là môn ngoại ngữ, không phải phụ huynh nào cũng biết Vì vậy hầunhư phụ huynh chỉ giao phó hết trách nhiệm cho giáo viên tiếng Anh
1.1.2 Phương pháp nghe – nói.
Giáo viên đọc bài rồi liệt kê ra những từ theo giáo viên chưa từng xuất hiện trongquá trình dạy học gọi là từ mới (new words), sau đó giáo viên ghi tất cả những từ mới
đó lên bảng, giải thích nghĩa bằng Tiếng Việt rồi cho các em đọc vài lần Bắt các emhọc thuộc lòng từ mới để kiểm tra trong tiết học sau đó
Trang 4Áp dụng phương pháp cung cấp từ vựng theo cách cũ một cách đều đặn, máy móc sẽ khiến:
- Hoạt động vẫn còn đơn điệu, giờ học tẻ nhạt, nhàm chán
- Học sinh tiếp thu bị động, áp lực, căng thẳng và trở nên chán nản, không tập trung
- Học sinh tiếp thu chậm, không sáng tạo, khó nhớ từ và nhanh quên
- Thiếu yếu tố mới, hiệu quả giờ học không cao,
- Học sinh luôn trong tinh trạng thiếu từ ngữ và lúng túng, thiếu tự tin khi giao tiếp
- Học sinh ít có cơ hội vận động, làm các em mệt mỏi, mất tập trung
- Học sinh trung bình, yếu chưa có nhiều cơ hội luyện tập Vì chỉ chủ yếu những học sinh khá giỏi tham gia vào các hoạt động này
- Việc luyện tập thực hành phát âm chưa nhiều Các em chủ yếu tập trung ghi nhớ nghĩa
và cách sử dụng của từ vựng
Sau khi phân tích những nguyên nhân làm cho học sinh sợ học tiếng Anh, thườngxuyên không thuộc bài và việc dạy từ vựng ở trường tiểu học chưa đạt hiệu quả cao Cụthể khi nhận giảng dạy môn tiếng Anh lớp 4, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp
trên để cung cấp và dạy các em 10 từ, cụm từ về các hoạt động hàng ngày (go to school,
brush my teeth, ) Tôi cho học sinh làm bài kiểm tra từ vựng và làm phiếu điều tra Về
mức độ hứng thú đối với hoạt động tiết học ( Điều tra bằng phiếu kín, lấy ý kiến nhận
xét của học sinh sau tiết học) Cuối cùng chúng tôi thu được kết quả như sau :
Số lượng từ ghi nhớ Về mức độ hứng thú đối
2 Giải pháp mới cải tiến.
Nhận thấy từ vựng là một trong những phần quan trọng nhất khi học ngoại ngữ, nếumuốn giỏi Tiếng Anh thì dù ở bất kỳ kỹ năng nào: nghe, nói, đọc, viết ta đều cần vốn từvựng, càng nhiều càng tốt Dạy trẻ em là công việc tương đối khó và phức tạp bởi trẻ
Trang 5chưa thực sự có ý thức học tập như người lớn và hầu hết còn rất ham chơi Để trẻ tậptrung vào bài học, giáo viên cần tuân theo các nguyên tắc dạy học cho trẻ:
*Chơi hơn dạy đây là phương pháp “Dạy mà không dạy”, giáo viên tạo sân chơi đa
dạng, nhiều màu sắc bằng tiếng Anh cho học sinh, hướng dẫn học sinh làm chủ sân chơi
và từng bước bổ sung vào các hoạt động khác
*Hoạt động, hình ảnh hơn lý thuyết Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch nói
chung là các hoạt động nhằm giúp học sinh tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Anhmột cách tự nhiên, không gượng ép
*Học cụ hơn giáo trình Việc bám theo một giáo trình nào đó sẽ hạn chế năng lực sáng
tạo của cả thầy lẫn trò Hơn nữa, để có thể đa dạng hóa các hoạt động trong lớp, việctăng cường học cụ là điều cần thiết
*Nghe - nói nhiều hơn đọc - viết Thực tế cho thấy kỹ năng nghe nói rất quan trong, dễ
học và bắt chước hơn trong học ngoại ngữ Và khi nghe nói được, học sinh đã từngbước xây dựng được tâm lý tự tin trong sử dụng tiếng Anh
*Bắt chước hơn ngữ pháp Bắt chước là không thể thiếu được đối với thiếu nhi, đặc
biệt trong học ngoại ngữ Bắt chước giúp quá trình học tập đi nhanh hơn, trong đó kể cảviệc áp dụng từ vụng vào các mẫu câu căn bản
*Vui hơn cho điểm Tạo không khí lớp học sinh động, lí thú, khuyến khích học sinh có
động cơ học tâp tốt hơn là điểm số
2.1 Giải pháp mới.
Trong khi dạy từ mới phải ghi nhớ các điểm sau: Nên giới thiệu từ trong mẫu câu,
ở những tình huống giao tiếp khác nhau, giáo viên kết hợp việc làm việc đó bằng cách thiết lập được sự quan hệ giữa từ cũ và từ mới, từ vựng phải được củng cố liên tục
Giáo viên thường xuyên kiểm tra từ vựng vào đầu giờ bằng cách cho các em viết
từ vào bảng con và giơ lên, với cách này giáo viên có thể quan sát được toàn bộ họcsinh ở lớp, bắt buộc các em phải học bài và nên nhớ cho học sinh vận dụng từ vào trongmẫu câu, với những tình huống thực tế giúp các em nhớ từ lâu hơn, giao tiếp tốt vàmang lại hiệu quả cao Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới, giáo viên cầnphải lựa chọn các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào ngắn nhất,nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ vựng thì các em đọcđược, viết được và biết cách đưa vào các tình huống thực tế Chính vì vậy tôi đã áp dụng các bước dạy và kiểm tra, củng cố từ mới như sau:
2.1.1 Các bước tiến hành giới thiệu và thủ thuật dạy từ
mới: a, Các bước dạy từ.
Bước giới thiệu bài, giới thiệu chủ đề: đây là bước khá quan trọng trong việc dạy
từ vựng Bước này sẽ quyết định sự thành công của tiết học, nó sẽ gợi mở cho học sinhliên tưởng đến những từ sắp học qua chủ điểm vừa mới được giới thiệu Điều quantrọng nhất trong giới thiệu từ mới là phải thực hiện theo trình tự: nghe, nói, đọc, viết
Trang 6Đừng bao giờ bắt đầu từ hoạt động nào khác “nghe” Hãy giúp cho học sinh của bạn có một thói quen học từ mới một cách tốt nhất:
- Bước 1: “nghe”, bạn cho học sinh nghe từ mới bằng cách đọc mẫu hoặc nghe theo
băng đĩa
- Bước 2: “nói”, sau khi học sinh đã nghe được ba lần bạn mới yêu cầu học sinh nhắc
lại Khi cho học sinh nhắc lại , bạn cần chú ý cho cả lớp nhắc lại trước, sau đó mới gọi
cá nhân
- Bước 3: “đọc”, bạn viết từ đó lên bảng và cho học sinh nhìn vào đó để đọc Cho học
sinh đọc cả lớp, rồi đọc cá nhân và sửa lỗi cho học sinh tới một chừng mực mà bạn cho
là đạt yêu cầu
- Bước 4: “viết”, sau khi học sinh đã đọc từ đó một cách chính xác rồi bạn mới yêu cầu
học sinh viết từ đó vào vở
- Bước 5: bạn hỏi xem có học sinh nào biết nghĩa của từ đó không và yêu cầu một học
sinh lên bảng viết nghĩa của từ đó bằng tiếng Việt
- Bước 6: đánh trọng âm từ: phát âm lại từ và yêu cầu học sinh nhận diện âm tiết có
trọng âm và đánh dấu
- Bước 7: cho câu mẫu và yêu cầu học sinh xác định từ loại của từ mới học.
b, Các thủ thuật dạy từ vựng.
* Dùng đồ vật trực quan ( real objects):
Dùng đồ vật thật trên lớp( hoặc giáo viên chuẩn bị trước), dùng tranh ảnh, hình vẽ pháchoạ (hình que), hình cắt dán từ tạp chí, Có tác dụng mạnh mẽ đến hứng thú học tậpcủa học sinh và giúp học sinh ghi nhớ nhanh hơn, lâu hơn
Example :
+ khi học về đồ dùng học tập, giáo viên có thể chỉ vào các đồ vật thật có ở trong lớp và giới thiệu : “ a notebook” ,“ a pen” ,“ a ruler”
Trang 7Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh nhìn vào đồ vật và đoán nghĩa của từ Phươngpháp này cho các em hứng thú học tập và sự tập trung cao vì các từ giáo viên giới thiệu
là những đồ vật rất gần gũi với các em hằng ngày và dễ đoán nghĩa đối với các em
+ Dùng tranh ảnh và vật thật để giới thiệu từ (Đồ vật thật có thể ở xung quanh lớp hoặc giáo viên có thể chuẩn bị ở nhà.)
example: thức ăn, thức uống (food and drink)
Trang 8+ Dùng hình ảnh để dạy về chủ đề loài vật: động vật hoang dã (wild animals), vật nuôi (farm animals), thú cưng (pets), động vật biển (sea animals)
* dùng hình ảnh các con số có kèm chữ
+ Dạy về mầu sắc( colours): dùng bảng màu hoặc màu sắc của các đồ dùng trong lớp học hay trên quần áo của học sinh
orange
Trang 9* Sử dụng TPR
- TPR là một loại hình học từ vựng mà các em rất thích nhẹ nhàng,thu hút , dễ tiếp thucho trò Các em có thể TPR theo bài hát , chant (xem video clip và làm theo các hoạtđộng ) Hoặc giáo viên vừa đọc từ vừa diễn tả từ đó bằng hành động, các em nói và làmtheo
* Đưa ra từ trái nghĩa (antonym)
Example :
Trang 10short
bigsmall
longshort
weakstrong
youngold
* Vẽ sơ đồ tư duy ( Imindmap):
Ngôn ngữ liên hệ thường dễ nhớ hơn là ngôn ngữ không có kết nối gì Đó là lý dotại sao phương pháp tốt nhất là dạy từ vựng theo chủ điểm hoặc theo chuỗi các từ vựng
có chung gốc
Lập ra các nhóm từ vựng theo chủ đề bằng cách vẽ sơ đồ tư duy:
• Học sinh làm việc theo nhóm, tìm những thông tin về chủ điểm đã cho, sau đó
so sánh với các nhóm
Trang 11• Giáo viên tập hợp các thông tin phản hồi từ học sinh.
• Thưởng cho nhóm liệt kê được đúng và nhiều từ thuộc chủ đề, và hoàn thành trước nhất
*Học từ theo chủ điểm
Example:
• - Family : Grandfather, grandmother, mother, father, brother, sister, uncle,aunt
Trang 12• - Subjects : English, Art , Music, Science, Maths, Vietnamese
• - School things : ruler, rubber, school bag, pencil, pen
• -Countries : Vietnam, Malaysia, Thailand, Laos, America, Japan
*Đưa ra ví dụ
- Giáo viên đưa ra một câu mới , yêu cầu học sinh thay thế từ gạch
chân Example 1 : What`s the weather like tday ?
It’s sunny It’s cloudy It’s hot
Example 2 : Unit 8 – Lesson 1 ( Grade 4 )
What day is it today ?
It’s Monday It’s Tuesday It’s Wednesday
2.1.2 Các thủ thuật kiểm tra và củng cố từ mới:
Chúng ta biết rằng chỉ giới thiệu và dạy từ mới thôi không đủ, mà chúng ta cònphải thực hiện các bước kiểm tra và củng cố Các thủ thuật kiểm tra và củng cố sẽkhuyến khích học sinh học tập tích cực và hiệu quả hơn Trong hoạt động này, chúng ta
có thể sử dụng một số trò chơi để kiểm tra từ mới Sau đây là một số thủ thuật kiểm tra
và củng cố từ mới bằng trò chơi:
• Slap the board.( đập bảng )
- Mục đích: Luyện tập và củng cố kỹ năng nghe lại từ đã học và nhận diện mặt chữ Luyện phản xạ nhanh ở các em
- Cách chơi: Cả lớp ngồi tại chỗ Giáo viên giới thiệu tên trò chơi và vẽ một số hình tròn
kỳ dị lên bảng, rồi ghi lại một số từ mới vừa học vào các hình trên Học sinh đứng trướcbảng, nghe giáo viên đọc và đập nhanh vào từ đó
- Luật chơi: Chơi theo cặp, giáo viên chia lớp làm hai đội và đặt tên cho mỗi đội, lần
lượt mỗi đội cử ra từng bạn lên thi đấu với bạn của đội kia Hai bạn đứng trước bảng ởmột khoảng cách nhất định và nghe giáo viên đọc rồi nhanh chóng đập tay vào chữ nàogiáo viên vừa đọc được ghi trên bảng, ai đập nhanh và đúng sẽ mang về cho đội mình 1điểm Tiếp tục với cặp thi đấu khác Kết thúc trò chơi bên nào nhiều điểm, bên đó thắng
và được thưởng bằng một tràng pháo tay ( ví dụ như học bài về nghề nghiệp, tôi đã lựachọn các từ như sau)
dancer footballer
singer musician
postman farmer
nurse
Trang 13• Remembering pictures or words ( nhớ tranh )
Có thể chơi cá nhân hoặc chia học sinh thành 3 (hoặc 4 nhóm) Giáo viên dán tranh liên
quan đến từ mới đã dạy ở bài hoặc viết từ mới lên bảng Khi giáo viên nói “go to bed”
thì học sinh nhắm mắt và cúi mặt xuống bàn học, đồng thời giáo viên lấy bất kì tranhnào hoặc xóa bất cứ từ nào trên bảng Sau khi xóa đi 1 từ hoặc lấy 1 tranh xong thì giáo
viên nói “ wake up” , học sinh mở mắt ra và ngẩng đầu lên Học sinh nào hay thành
viên đội nào nói nhanh và đúng từ giáo viên đã xóa thì được tính điểm Bạn nào hoặcnhóm nào có nhiều câu trả lời nhất và đúng sẽ chiến thắng
• Crossword (trò chơi ô chữ)
Để kiểm tra vốn từ của các em tôi cũng thường xuyên cho các em chơi trò chơi ô chữ:thông qua hình ảnh gợi ý, các em đoán các chữ cần tìm, nếu đội nào đoán được nhiều ôchữ đúng sẽ thắng cuộc
• Hot seat ( chiếc ghế nóng )
Giáo viên chia học sinh thành 3 hoặc 4 nhóm và chọn mỗi nhóm 1 thành viên ngồi lên ghế nóng và quay mặt về phía lớp Giáo viên viết một từ lên bảng, và một thành viên