Rèn cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vậtI Các biện pháp thực hiện luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, 1 Thế nào là đoạn văn, bài văn miêu tả con vật?. 07 2 Tìm
Trang 1Rèn cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật
I Các biện pháp thực hiện luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn,
1 Thế nào là đoạn văn, bài văn miêu tả con vật? 07
2 Tìm hiểu thực tiễn của việc luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn
2.1 Đánh giá nội dung luyện viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật
2.2 Thực trạng những khó khăn của học sinh lớp 4 trường Tiểu học
tôi công tác khi làm văn miêu tả con vật 09
3 Các bước thực hiện luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài
Bước 1Giúp HS hiểu cơ sở viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật hay 12 1.1 Khi tả con vật cần chú ý tới bốn yêu cầu 12 1.2 Yêu cầu về đoạn văn, bài văn tả con vật 12
Bước 2Xây dựng hệ thống bài tập luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn
Trang 21.4 Nhóm bài tập viết bài văn 18
I Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc áp dụng đề tài 20
Trang 32020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Chính vìvậy mà phải “đổi mới giáo dục phổ thông” và đặc biệt là bậc Tiểu học - Đây là bậchọc hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện của một con người sau này,
là bậc học đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và hệ thống giáo dục quốcdân
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đó là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triểntoàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩmchất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Để thực hiện được mục tiêu trên thì chất lượng dạy học trong mỗi nhà trường Tiểuhọc là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Chất lượng dạy học ấy phải được thể hiệnbằng chất lượng toàn diện của các môn học: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên-xã hội, Nghệthuật, trong đó môn Tiếng Việt là một môn học đặc biệt gồm nhiều phân môn, ở mỗiphân môn cụ thể lại có nội dung, phương pháp, cách thức dạy học khác nhau nhưnglại gắn bó mật thiết với nhau: Phân môn này chuẩn bị hỗ trợ cho phân môn kia vàngược lại để cùng nhằm đạt được mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học đó là:
“Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt: Nghe, nói, đọc,viết, để học tập và giao tiếp trong các môi trường họat động của lứa tuổi
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy haycung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơgiản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài.Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của Tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hộichủ nghĩa”
Trang 4Học tốt tiếng Việt sẽ giúp học sinh khám phá tìm hiểu về thế giới xung quanh mộtcách sâu sắc hơn, đặc biệt là phân môn Tập làm văn.
Xuất phát từ vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn: Phân môn Tập làm văn có
vị trí đặc biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì đây là phân môn sử dụng vàhoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kỹ năng tiếng Việt mà các phân mônTiếng Việt khác nhau Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu đã hìnhthành Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kỹ năng sản sinh ngôn bản, nhờ đótiếng Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trởthành một công cụ tổng hợp để giao tiếp Phân môn Tập làm văn dạy học sinh sửdụng được Tiếng Việt để giao tiếp, tư duy học tập
Nhiệm vụ cơ bản của dạy học Tập làm văn là giúp cho học sinh tạo ra được các ngônbản nói và viết theo các phong cách khác nhau do chương trình quy định, nói cáchkhác, nhiệm vụ của dạy học Tập làm văn là hình thành, phát triển năng lực tạo lậpngôn bản ở học sinh Năng lực tạo lập ngôn bản được phân tích thành các kĩ năng bộphận như: xác định mục đích nói, lập ý, triển khai ý thành lời dưới dạng nói, viếtthành câu, đoạn, bài Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn là cung cấp cho học sinhnhững kiến thức và hình thành, phát triển ở các em những kĩ năng này
Ở Tiểu học, phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ rèn các kĩ năng nói theo các nghithức lời nói, nói, viết các ngôn bản thông thường, viết một số văn bản nghệ thuật.Ngoài các kĩ năng chung để viết văn bản, mỗi loại văn bản cụ thể đòi hỏi cã những kĩnăng đặc thù Chẳng hạn: Để viết văn bản miêu tả cần có kĩ năng quan sát, kĩ năngdiễn đạt một cách có hình ảnh… Và phân môn Tập làm văn cũng đồng thời góp phầnrèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho học sinh Thể hiện rất rõ khi học vănmiêu tả (từ một chú chim họa mi, chú gà trống, chị thỏ nâu… qua bài học đã tạo chohọc sinh có sự hiểu biết, tình cảm yêu mến gắn bó con người với thiên nhiên và vạnvật xung quanh, từ đây tâm hồn và nhân cách của các em được hình thành và pháttriển)
2 Cơ sở thực tế :
Thực tế dạy học cho thấy: Dạy tập làm văn là việc rèn luyện cho học sinh khả năng tổchức giao tiếp, tổ chức lời nói ngay từ khi học sinh bắt đầu đi học, đây là một việclàm tương đối khó khăn mà không phải giáo viên nào cũng thực hiện được Bởi lẽ khixây dựng kế hoạch bài học phải đầu tư nhiều thời gian hơn so với các phân môn khác(yêu cầu cứ cao dần lên từ lớp 2 đến lớp 5) Ở các nhà trường Tiểu học, số giáo viêndạy một giờ Tập làm văn sinh động, hấp dẫn chưa có nhiều Hay khi thi giáo viêngiỏi các cấp (trường, cụm, huyện, tỉnh…) nếu như giáo viên bắt thăm bài dạy thuộcphân môn Tập làm văn, thì hầu như tâm lí thiếu tự tin hơn các phân môn khác
Trang 5Còn đối với việc học của học sinh, ngoài sách giáo khoa tiếng Việt và sách Tập làmvăn (từ lớp 2 đến lớp 5) thì hiện nay, ngoài thị trường có rất nhiều loại sách thamkhảo cho học sinh, giúp các em có cái nhìn đa dạng, phong phú hơn Song một số emcòn lệ thuộc nhiều vào sách tham khảo… có tư tưởng ngại học, ỷ lại nên cách cảmnhận, cách nghĩ của các em không phong phú mà thường đi theo lối mòn, khuôn mẫu,
tẻ nhạt
Xuất phát từ thực tế học sinh lớp Bốn, tuy các em đã được làm quen và thực hành cácbài Tập làm văn từ lớp Hai và lớp Ba nhưng các em vẫn viết văn theo kiểu “từ ngữkhô cứng” nghèo hình ảnh hoặc câu văn chỉ dừng ở mức độ có đủ chủ ngữ vị ngữ(câu đơn bình thường) còn việc sử dụng các biện pháp tu từ để bài văn thêm sinhđộng, hấp dẫn thì rất hạn chế
Một bài văn hay, có giá trị không phải chỉ ở chỗ trình bày mạch lạc, dễ hiểu, mà cáiquan trọng hơn, đó là sức truyền cảm và sự truyền cảm này có được là do tính chânthực, tính nhân bản cao hơn nữa là cái chất văn, hơi văn Để viết được một bài vănhay, học sinh cần phải rèn luyện sao cho có đựơc năng lực quan sát để nhận biết đượccái đặc trưng của sự vật hiện tượng, năng lực cảm thụ, năng lực thu thập thông tin,năng lực tưởng tượng, liên tưởng, năng lực phân tích tổng hợp, năng lực lĩnh cảm vàcác khả năng biểu đạt, bố cục tạo lập phong cách… Song việc rèn luyện cho học sinhnhững năng lực nói trên không phải là dễ, còn gặp rất nhiều khó khăn, kết quả thuđược còn nhiều hạn chế Đặc biệt là thể loại văn miêu tả - Kiểu bài tả con vật (Tậplàm văn lớp 4)
Như vậy, viết đoạn văn, bài văn miêu tả là một trong những nội dung yêu cầu kiếnthức – kỹ năng cơ bản ở Tiểu học Và thực tế hiện nay (với những nguyên nhân đãnêu trên), nhiều học sinh viết đoạn văn, bài văn miêu tả ( kiểu bài tả con vật) chưahay, thậm chí chưa đạt yêu cầu Từ cơ sở lý luận và thực tế trên, để khắc phục nhữnghạn chế trong việc dạy và học Tập làm văn trong nhà trường, tôi đã chọn nghiên cứu
sáng kiến: “Rèn cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật”
II – MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1- Khảo sát tìm hiểu nội dung dạy viết đoạn văn, bài văn ở bậc Tiểu học - khối lớp 4
2 - Tìm hiểu thực trạng viết đoạn văn, bài văn của học sinh địa phương, chỉ ranguyên nhân và đưa ra những biện pháp khắc phục
3 - Soạn các bài tập luyện cho học sinh viết đoạn văn, bài văn đúng yêu cầu vàviết đoạn văn, bài văn hay Thể loại văn miêu tả, kiểu bài tả con vật (Tập làm văn lớp4)
4 - Tổ chức cho học sinh thực nghiệm làm các bài tập ở trường tôi công tác III- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trang 61- Sách giáo khoa, sách giáo viên môn Tiếng Việt lớp Bốn bậc Tiểu học Trọng tâm làcác bài luyện viết đoạn văn, bài văn miêu tả - Kiểu bài : Tả con vật.
2- Thực trạng dạy và học, tình hình chất lượng đoạn văn, bài văn của học sinh địaphương (Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Nhật Tân - huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam)
IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1- Phương pháp khảo sát, quan sát :
Khảo sát (sách giáo khoa, sách giáo viên, vở bài tập, vở trắc nghiệm, sách bồi dưỡng,chuyên đề bồi dưỡng)- Tiếng Việt lớp 4; các bài làm của học sinh
2- Phương pháp phân tích :
Phân tích nội dung sách giáo khoa, những phần luyện viết đoạn văn, bài văn;
phân tích các đoạn văn, bài văn do học sinh viết
3 - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm tổng hợp
Tổng hợp những yêu cầu, những kiến thức liên quan đến viết đoạn văn, bài văn
4- Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành cho học sinh lớp 4 thực nghiệm ở một số năm học để đánh giá xem hệ tácdụng của đề tài đối với kết quả viết đoạn văn, bài cho học sinh đến mức nào?
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
I - CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN LUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 4 VIẾT
ĐOẠN VĂN , BÀI VĂN “ MIÊU TẢ CON VẬT”
1 Thế nào là đoạn văn, bài văn miêu tả con vật ?
Đoạn văn, bài văn hay theo quan niệm của người viết là những đoạn văn, bài văn hay,đúng, phong phú về nội dung và có cách diễn đạt phù hợp, sinh động thể hiện đượctình cảm của người viết Trong nội dung đề tài này tôi chỉ dừng lại ở phạm vi hướngdẫn học sinh viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật
* Khái niệm: Miêu tả con vật là một thể loại văn bản mà trong đó, người viết dùng
ngôn ngữ có tính chất nghệ thuật của mình để tái hiện, sao chụp lại hình ảnh con vậtvới những đặc điểm nổi bật cả về hình dáng bên ngoài lẫn những hoạt động và thóiquen sinh hoạt nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung, tưởng tượng ra con vật
ấy thông qua các giác quan của mình
Nếu như viết đoạn văn, bài văn tả con vật mà chínhh mình không trực tiếp quan sátcon vật để có được cảm thụ thì nội dung bài viết không những sai mà còn khiếnngười đọc không xúc cảm Chính vì vậy mà mỗi câu, mỗi chữ trong tả con vật đều
Trang 7gửi gắm tư tưởng “Tức cảnh sinh tình”, mượn cảnh mà ngụ tình Khi tả cảnh đều cócái tình trong đó.
Để câu chữ chứa đựng tình cảm thì người viết phải quan sát kĩ con vật bằng
tình cảm, yêu quý thực sự như vậy mới nhận biết được đặc điểm của nó rồi dung lời
lẽ sinh động để tả, sao cho có sự giao hoà tình cảm giữa người viết với con vật miêu
tả như tâm tình giữa con người với con người
2 Tìm hiểu thực tiễn của việc luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn hay
2.1 Đánh giá nội dung luyện viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4
a) Về nội dung bài tập: Nhìn chung các bài tập trong mỗi bài học của phân môn Tập
làm văn là phù hợp, vừa sức đối với học sinh
Trước hết học sinh được trang bị những kiến thức về văn miêu tả Đó là một số hiểubiết ban đầu về đặc điểm chính của văn miêu tả Các kiến thức được cung cấp chohọc sinh một cách có hệ thống và chỉ dừng lại ở mức độ đơn giản Các kiến thứcđược xây dựng từ hệ thống câu hỏi bài tập học sinh thực hiện các hoạt động nhằmchiếm lĩnh kiến thức và phát triển kĩ năng Sau đó các kiến thức sẽ được củng cố vàvận dụng ngay vào các bài tập thực hành Có thể nói việc chương trình đưa kiến thức
lí luận về văn miêu tả vào dạy cho học sinh là đúng đắn, cần thiết Bởi vì đây là chỗdựa, là điểm tựa giúp học sinh làm đúng, làm tốt bài văn miêu tả
Sách Tiếng Việt 4 rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh trên cơ sở, quytrình sản sinh ngôn bản Mặt khác nó tập trung rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu
tả cho học sinh tuỳ theo đối tượng miêu tả giúp học sinh chủ động, tự tin khi tạo lậpbài văn miêu tả hoàn chỉnh tránh tình trạng viết văn sơ sài, viết theo cảm tính hoặcsao chép của người khác Tiếng Việt 4 tiến hành luyện tập các kĩ năng viết văn miêu
tả thông qua hệ thống bài tập, các bài tập được sắp xếp từ dễ đến khó, từ thấp đếncao Cách giao nhiệm vụ rõ ràng:
Chẳng hạn : Bài “Luyện tập quan sát con vật”
Bài 1: Đọc bài văn “Đàn ngan mới nở” (Tô Hoài)
Bài 2: Để miêu tả đàn ngan, tác giả đã quan sát những bộ phận nào ? Ghi lại nhữngđiều (câu) miêu tả mà em cho là hay
Bài 3: Quan sát và miêu tả các đặc điểm ngoại hình của con mèo (hoặc con chó) củanhà em hoặc của nhà hàng xóm
Trang 8Bài 4: Quan sát và miêu tả hoạt động thường xuyên của con mèo (hoặc con chó)nói trên.
Như vậy, học sinh làm đúng hướng Bên cạnh đó, đề văn miêu tả trong SGK cũng rấtphong phú, gắn bó với vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh, gần gũi với các em.Nhiều đề bài còn mở ra cho học sinh những khả năng lựa chọn tuỳ theo ý thích củamỗi em giúp các em chủ động, sáng tạo, bộ lộ, thể hiện mình Sản phẩm mà các emtạo ra sẽ là những bài văn miêu tả chân thực, sinh động của chính các em Ngoài rarất nhiều bài tập luyện từ và câu đã tạo cho học sinh ý thức sử dụng ngôn ngữ khi viếtvăn miêu tả
Ví dụ: Viết một đoạn văn ngắn tả con vật mà em yêu thích, trong đó có ít nhất mộtcâu có trạng ngữ chỉ phương tiện
b) Văn miêu tả được bố trí dạy theo nguyên tắc đồng tâm, mục đích giúp học sinh tạo lập những văn bản miêu tả hoàn chỉnh mang đậm dấu ấn cá nhân.
Nội dung Tập làm văn trong sách giáo khoa lớp 4 đã kế thừa và mở rộng những nộidung, kĩ năng về quan sát, miêu tả, viết câu văn, đoạn văn ở lớp 2,3 tiến đến làm bàivăn hoàn chỉnh theo một trình tự hợp lý, bố cục rõ ràng, diễn đạt trôi chảy, có hìnhảnh và sinh động, cảm xúc chân thực Đây cũng chính là những kiến thức, kĩ năngchuẩn bị cho học sinh lên bậc trung học cơ sở học tốt các kiểu bài trong thể loại vănmiêu tả
Tuy nhiên trong các bài học, kĩ năng lập dàn bài, viết đoạn văn đã được quan
tâm đúng mức song kĩ năng viết bài văn hoàn chỉnh và sửa lỗi thì lượng bài tập cònhạn chế (kể cả số tiết dành cho các dạng kĩ năng này cũng còn ít)
2.2 Thực trạng những khó khăn của học sinh lớp 4 trường Tiểu học tôi công tác khi làm văn miêu tả con vật:
a Ưu điểm:
Học sinh có sự quan sát tinh tế khi làm văn miêu tả
Ví dụ: Đây là một đoạn văn miêu tả chú gà trống:
“Chú gà mới đẹp làm sao! Chú kiêu hãnh khoác bộ áo sặc sỡ đủ màu như
một chàng hoàng tử Thân hình chú thon thon gần bằng chiếc ấm tích Trông chú thậtkhoẻ và rắn rỏi như một chàng hiệp sĩ Chiếc mào đỏ tươi rung rinh theo bước châncủa chú Toàn thân chú phủ một lớp lông vũ óng mượt màu vàng xuộm Phía dướicánh có lông màu lông đen Cái đuôi của chó cong vổng lên như chiếc cầu vồng Đôichân khoẻ khoắn và thoắt cái đã thấy chú trên đỉnh đống rơm rướn dài cái cổ:Ò ó o o Lát sau đã thấy chú bên bụi chuối Chớp mắt chú đã bới được mấy con
Trang 9giun đất to như chiếc đũa Nhưng lạ chưa kìa, em không thấy chú ăn mà cứ kêu “tụctục!” Một lũ gà mái chạy xô đến À thì ra chú muốn mời mấy chị gà mái cùng ăn.”.
Ưu điểm cần học tập: Chú gà được miêu tả là một chú gà trống đẹp Đẹp bởi vóc
dáng, màu lông, đẹp bởi sự cường tráng, khoẻ mạnh Tất cả được hiện lên bởi những
từ ngữ giàu hình ảnh màu sắc và âm thanh: “sặc sỡ”, “thon thon”, “rắn rỏi”, “đỏtươi”, “óng mượt”, “vàng xuộm”, “xanh đen’, “cong vổng lên”, “khoẻ khoắn”,
“rướn” Và cùng với các từ ngữ này là các biện pháp so sánh,
nhân hoá, cách dùng câu cảm làm câu chủ đề
Chú gà không những đẹp về hình dáng bên ngoài mà tính nết cũng thật đáng
yêu: Bới giun mời gà mái cùng ăn
Bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, lối diễn đạt tự nhiên, sinh động bạn đã lôi cuốnngười đọc theo dõi bài viết một cách hào hứng chú gà trống hiện lên trước mắt chúng
ta như bằng xương bằng thịt và còn có cá tính thật đặc biệt
nữa
Chúng ta có thể tham khảo một mở bài tả chú gà trống:
“ Các bạn có biết không? Từ đầu năm học đến giờ, tôi chưa lần nào đi học muộn cả
Ấy là nhờ chiếc đồng hồ báo thức đặc biệt của tôi đấy Chiếc đồng hồ được mang tên
là “Chú Trống Choai đáng yêu”
Như vậy mở bài trên là kiểu mở bài gián tiếp, nó như những lời đố vui thơ ngây làmcho người đọc tò mò, hồi hộp và rồi lời giải đố cũng bát ngờ làm cho người đọc cócảm tình ngay khi mới đọc bài văn Thật là thú vị đáng được học tập
Hoặc một kết bài tả chú lợn: " Nuôi lợn tuy vất vả nhưng cả gia đình em ai
cũng ham, vì nó tăng thêm thu nhập cho gia đình Mỗi lần đi học về, cất xong cặpsách là em ra thăm chú ngay Thấy em chú vẫy vẫy cái đuôi lũn cũn, khịt khịt cái mũiđến gần Cứ nghĩ đến việc phải bán chú đi, em lại thấy tội nghiệp cho chú Nhưngbiết làm sao được."
Đây là phần kết bài viết theo lối mở rộng Qua cách viết ta thấy rất rõ tình cảm củangười viết đối với chú lợn nhà mình và cho thấy cả lòng nhân hậu của người viết đốivới loài vật nữa
Ngoài những ưu điểm về cách dùng từ, viết câu, diễn đạt, sắp xếp ý, các em học sinhkhá giỏi thường viết chữ rất đẹp mà điểm cho thi học sinh giỏi, mỗi kì bao giờ cùnggiành hai điểm cho chữ viết Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, các em cũng còn cómột số nhược điểm (thường gặp ở học sinh trung bình yếu) đó là:
Trang 10+ Lỗi về nghĩa:
"Con lợn nhà em bằng quả dưa hấu nặng bốn tạ."- Câu sai nghĩa
"Vì luôn yêu mến em, cún con rất gầy gò"- Câu không có sự tương hợp về
nghĩa giữa các thành phần câu, giữa các vế câu
+ Lỗi về dấu câu:
Thiếu dấu chấm, dấu phẩy trong từng câu hoặc cả bài Hoặc sử dụng dấu câu sai Vídụ: "Con chó rất ngoan Không cắn trộm ai bao giờ"
+ Lỗi câu, lặp từ:
Ví dụ: Cún con luôn thức đêm để trông nhà Em rất yêu quý Cún vì Cún luôn thứcđêm trông nhà cho em
+ Lỗi về cấu tạo ngữ pháp:
- Câu không đủ thành phần: Những chú gà đáng yêu
- Câu thừa thành phần hoặc không phân định được thành phần
Ví dụ: Em thấy rất có ích nuôi con mèo này
Và còn một số lỗi nữa đó là: Viết sai lỗi chính tả dẫn đến sai nghĩa của từ, cách sắpxếp ý chưa có trật tự lô gích
b Nguyên nhân của thực trạng:
Qua tìm hiểu thực tế cho thấy : Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên đó là:
+ Do vốn từ của học sinh chưa phong phú, chưa hiểu rõ nghĩa của từ
+ Chưa nắm chắc cách làm của từng kiểu bài ở từng thể loại
+ Việc quan sát thực tế chưa đầy đủ, còn qua loa đại khái
+ Chưa có thói quen nháp bài (dàn ý chi tiết) trước khi luyện viết
+ Một số em do đọc, viết yếu dẫn đến tiếp thu bài chậm, làm văn nghèo hình ảnh,ngại học Thậm chí nói đến làm văn là sợ
+ Một nguyên nhân nữa là do sự kèm cặp học sinh yếu, trung bình của giáo viên chưatích cực Chưa đầu tư tìm tòi xây dựng cho các em những bài tập phù hợp với trình
độ khả năng của các em
3 Các bước giúp học sinh hiểu cơ sở của việc viết đoạn văn, bài văn hay.
Bước 1: Giúp học sinh hiểu cơ sở của việc viết đoạn văn, bài văn hay
Trang 111.1.Khi tả con vật cần chú ý tới bốn yêu cầu sau :
1 Chọn vị trí quan sát
2 Quan sát phải nắm được đặc điểm riêng biệt của con vật
3 Phải viết ra hình dạng, màu sắc, động thái của con vật cụ thể
4 Câu chữ phải chứa đựng tình cảm chân thực; Dùng các biện pháp nghệ thuật để tả(So sánh, nhân hoá…)
1.2 Yêu cầu về đoạn văn, bài văn miêu tả con vật:
1 Đoạn văn hoàn chỉnh có đủ ba phần : mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn và gồm có::
- Đoạn văn tả hình dáng con vật
- Đoạn văn hoạt động và thói quen sinh hoạt của con vật
Hoặc các đoạn văn tổng hợp tả hình dáng con vật kết hợp tả hoạt động và thói quensinh hoạt của con vật đoạn văn có thể được viết theo một trong ba hình thức sau:
- Đoạn văn diễn dịch
- Đoạn văn quy nạp
- Đoạn văn tổng hợp
2 Bài văn hoàn chỉnh có đủ ba phần: mở bài, thân bài, kết bài.
* Mở bài : Giới thiệu con vật được tả : Gồm : Mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp.
* Thân bài : Tái hiện, sao chụp con vật được miêu tả ở những góc nhìn nhất định.
* Kết bài : Nêu những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ của người miêu tả
với con vật được miêu tả Có 2 kiểu kết bài đó là : kết bài mở rộng và kết bài không
mở rộng
1 3 Nội dung đoạn văn, bài văn miêu tả con vật :
Đối với văn miêu tả kiểu bài tả con vật: Khi miêu tả, phải nắm lấy cái đặc điểm nổibật nhất Chẳng hạn: chim bay, thú chạy, sâu bò, cá bơi… là phương thức độngthường thấy ở loài vật, cũng là sự thể hiện sức sống của chúng, và những cái đó phải
tả sao cho sinh động Song chỉ miêu tả chung như vậy thì chưa đủ, vì thế, cần phảiquan sát kĩ, đi sâu tìm hiểu, nắm bắt những đặc điểm riêng, nổi bật nhất của từng convật thì mới tả được giống như thật
Một điểm nữa là: Trên cơ sở miêu tả những đặc điểm nổi bật về hình thể, động tácbên ngoài của một con vật thì còn phải nắm bắt được đặc điểm tập tính của nó nữa