III – Nhiệm vụ của đề tài: Do điều kiện và thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ nghiên cứu đề tàinày với những nhiệm vụ sau: - Điều tra, nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng của việc dạy và
Trang 1Trong bộ môn Tin học tuy không chiếm giữ vai trò quan trọng như cácmôn khác nhưng đây cũng là môn học là công cụ đắt lực trong thời kỳ hiệnnay và cũng giúp ích cho các em rất nhiều ở các cấp học trên Tin học trongthời đại hiện nay ở nước ta được xem như là một môn rất bổ ích thu hút giớitrẻ tìm hiểu Do đó Bộ giáo dục đã đưa chương trình dạy tin học vào ngay từCấp Tiểu học
Tuy môn Tin học là môn học mới còn rất xa lạ đối với các em nhưngsau một thời gian học tiếp xúc các em rất thích học môn này cho nên tôi luôntạo cho các em sự tò mò hứng thú cho các em trong giờ thực hành và cả giờ lýthuyết Tin học là môn học xuất phát từ nhu cầu thực tế công nghiệp hoá –hiện đại hoá đất nước để hội nhập thế giới, các em dần làm quen và đi vàohứng thú với môn học này
I.2 - Lí do chủ quan:
Trong thời đại CNH - HĐH, sự bùng nổ CNTT đã tác động lớn đếncông cuộc phát triển kinh tế xã hội Đảng và Nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa
Trang 2và tầm quan trọng của tin học và CNTT, truyền thông cũng như những yêucầu đẩy mạnh của ứng dụng CNTT, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầuCNH - HĐH, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước tanói riêng – thế giới nói chung.
Môn tin học ở bậc tiểu học bước đầu giúp học sinh làm quen với một sốkiến thức ban đầu về CNTT như: Một số bộ phận của máy tính, một số thuậtngữ thường dùng, rèn luyện một số kỹ năng sử dụng máy tính, …
Hình thành cho học sinh một số phẩm chất và năng lực cần thiết chongười lao động hiện đại như:
+ Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải
+ Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin
+ Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, laođộng xã hội hiện đại
+ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính các sản phẩm tin học
+ Bước đầu hiểu khả năng ứng dụng CNTT trong học tập
+ Có ý thức tìm hiểu CNTT trong các hoạt động xã hội
* Đặc biệt khi học sinh học các phần mềm như:
+ Phần mềm soạn thảo văn bản: Học sinh ứng dụng từ các môn họcTập Làm Văn để trình bày đoạn văn bản sao cho phù hợp, đúng cách Ứngdụng soạn thảo văn bản để soạn thảo giải những bài toán đã học ở bậc tiểuhọc
+ Phần mềm vẽ: Học sinh ứng dụng trong môn Mỹ thuật, học được từmôn mỹ thuật để vẽ những hình ảnh sao cho sinh động, hài hoà thẩm mĩ
+ Trong chương trình tin học ở bậc tiểu học được phân bố xen kẽ giữacác bài vừa học, vừa chơi Điều đó sẽ rèn luyện cho học sinh óc tư duy sángtạo trong quá trình chơi những trò chơi mang tính bổ ích giúp cho học sinhthư giãn sau những giờ học căng thẳng ở lớp, …
Trang 3II – Đối tượng nghiên cứu:
- Giáo viên và các em học sinh ở khối 4 trường Tiểu học Long Vĩnhnăm học 2011 - 2012
III – Nhiệm vụ của đề tài:
Do điều kiện và thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ nghiên cứu đề tàinày với những nhiệm vụ sau:
- Điều tra, nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng của việc dạy và học trongmôn Tin học về “Một số phương pháp dạy tốt môn tin học lớp 4”
- Nhận xét ưu điểm, khuyết điểm tìm ra những mặt hạn chế thườngmắc phải của giáo viên và học sinh trong việc “Một số phương pháp dạy tốtmôn tin học lớp 4”
- Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong việc dạytin học ở lớp 4
IV Giới hạn đề tài:
- Vì thời gian nghiên cứu có hạn, Chúng tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứuthực trạng của việc dạy tin học ở lớp 4
V – Phương pháp nghiên cứu:
V.1 – Nghiên cứu lý luận:
- Đọc các tài liệu, sách báo, truy cập internet nói về các phương phápnghiên cứu, phương pháp dạy tin học tiểu học”
- Nghiên cứu các báo cáo tổng kết phong trào, chuyên môn, … và cácSKKN có liên của các anh chị qua từng năm học trước
- Tham khảo các bài viết của các tác giả đăng trên tạp chí giáo dục, truycập internet tham khảo các SKKN của các anh chị ở các trường bạn
V.2 Nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Trang 4Nghiên cứu đọc tài liệu, giáo trình có liên quan đến vấn đề nghiên cứubằng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hoá để rút ra nhữngvấn đề lý luận có tính chất định hướng làm cơ sở để giải quyết vấn đề, nhiệm
vụ nghiên cứu
- Phương pháp điều tra:
Tìm hiểu thực trạng giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh trongviệc lĩnh hội kiến thức mới nhằm phát hiện các vấn đề khó khăn cần giảiquyết, xác định nguyên nhân, chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo
- Phương pháp đàm thoại:
Trao đổi với đồng nghiệp về những thuận lợi và những khó khăn trongviệc soạn giảng dạy học và cách sử dụng phương pháp mới hiện nay
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Phương pháp này giúp chúng tôi tổng kết những kinh nghiệm của bảnthân và đánh giá rút ra những cái mới có giá trị hỗ trợ thiết thực cho công tácgiảng dạy trong môn này
- Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức triển khai thực hiện các giải phápcải tiến để xem xét, đối chiếu với kết quả ban đầu có tiến bộ không, có phùhợp với ý đồ nghiên cứu của tác giả không?
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu đề tài này tôi còn sử dụng phối hợpnhiều phương pháp khác như: tạo ra các trò chơi, các thủ thuật dạy thực hànhchính xác…
VI – Kế hoạch – thời gian:
Công trình nghiên cứu của chúng tôi được nghiên cứu tại Trường Tiểuhọc Long Vĩnh ở năm học 2011 – 2012 Đề tài này chúng tôi bắt đầu viết từtháng 09/2011 đến 02/2012
- Tháng 09/2011: Đăng ký đề tài
Trang 5- Tháng 10/2011: Thu thập tài liệu, lặp kế hoạch nghiên cứu, xây dựng
Trang 6PHẦN B – NỘI DUNG
I – Cơ sở lý luận:
Trong nhà trường, Tin học là một bộ môn khá mới mẻ, có đặc thùriêng, gây trí tò mò ham mê tìm hiểu với học sinh xong cũng không tránhkhỏi gây ra những khó khăn cho người học Do đó giáo viên cũng giống nhưmột người nghệ sĩ, cần nhận biết một cách tinh tế, nhạy cảm để có thể tạo chođối tượng học những hứng thú và niềm yêu thích đặc biệt với bộ môn mìnhphụ trách
Nghị quyết Trung ương 2- khoá VII, đã quy định phương pháp dạy học
thay đổi theo hướng "khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp
tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học" Định hướng này đã được
pháp chế hoá trong luật giáo dục điều 24, 25:" Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh".
+ Nghị quyết 40/2000/QH10 và chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày9/12/2000 về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: Nội dungchương trình là tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến,hiện đại, ứng dụng CNTT vào dạy và học
+ Chỉ thị 29/CT của Trung Ương Đảng về việc đưa CNTT vào nhàtrường
Xuất phát từ quan điểm " lấy người học làm trung tâm ", phương phápdạy và học đã có những thay đổi căn bản Người dạy không phải là ngườiduy nhất nắm giữ kiến thức và truyền đạt kiến thức mà chỉ là người hướngdẫn, người hỗ trợ, người cố vấn, người kiểm tra Người học không còn làngười thụ động tiếp thu kiến thức mà là trung tâm của quá trình dạy học, chủ
Trang 7động sáng tạo trong quá trình học tập nhằm đạt được mục tiêu dạy học củamình Dạy tin học thì việc đổi mới phương pháp dạy học là rất rõ ràng vàquan trọng đặc biệt trong những tiết thực hành Từ những luận điểm trên việccác em học sinh trực tiếp tham gia vào quá trình học tập, trực tiếp thực hành
và sử dụng máy tính một cách tự nhiên và linh hoạt sẽ tạo được niềm vui, kíchthích trí tò mò của các em
II – Thực trạng:
Qua công tác giảng dạy môn Tin học một số lớp chúng tôi được sự góp
ý của các đồng nghiệp rút ra được một số nhận định sau:
* Tiết 1: Bài dạy: Bài 3: Sao chép hình
Ngày dạy: 24/10/2011
Lớp: 42
Giáoviên dạy: Võ Trường Thẩm
- Nội dung bài: hướng dẫn các em cách sao chép hình
Trong tiết này chúng tôi thống kê được số liệu như sau:
Trang 8+ Giáo viên:
- Chuẩn bị bài ở nhà chu đáo, đầy đủ
- Dạy có kèm minh hoạ thực tiễn trên máy tính
- Phân bố thời gian chưa hợp lý giữa lý thuyết và thực hành
- Đa số tập trung hướng dẫn các học sinh giỏi, khá
+ Học sinh:
- Còn bỡ ngỡ khi tiếp xúc bài mới
- Một số em còn lo ra xem nhẹ môn Tin học
c- Nguyên nhân:
+ Giáo viên:
- Do chú trọng phần thực hành hơn nên thời gian thực hành nhiều hơn
- Trong quá trình thực hành chưa quán xuyến hết các em học sinh.+ Học sinh:
- Các em chưa được tiếp xúc với môn này lần nào, về nhà các emkhông có máy tính
- Các em nghĩ môn Tin học không lấy điểm công vào kết quả cuối nămnên không ảnh hưởng kết quả mình
* Tiết 1: Bài dạy: Bài 4: Vẽ hình elip, hình tròn
Ngày dạy: 24/10/2011
Trang 9Lớp: 41
Giáoviên dạy: Lê Hoàng Tùng Sơn
- Nội dung bài: hướng dẫn các em vẽ hình e-líp và hình tròn
Trong tiết này chúng tôi thống kê được số liệu như sau:
- Chuẩn bị bài giảng cẩn thận
- Có sử dụng tranh, dụng cụ minh họa về hình e-líp và hình tròn
+ Học sinh:
- Tập trung nghe giảng bài
- Một số học sinh giỏi hỏi thêm về một số chức năng khác của phầnmềm vẽ Paint như cách lưu bài và bài vừa lưu
b- Khuyết điểm:
+ Giáo viên:
Trang 10- Phương pháp hướng dẫn thực hành còn hạn chế.
- Chưa tập trung sữa sai cho các em
+Học sinh:
- Khi thực hành các em còn lo ra không nghiêm túc
- Số học sinh đông hơn số máy tính mỗi máy tính từ 2 đến 3 em thaynhau sử dụng
- Được sự quan tâm của các cấp cũng như lãnh đạo nhà trường nhưng
- Chuẩn bị bài ở nhà đầy đủ
- Xác định yêu cầu, nhiệm vụ của từng bài
Trang 11- Rất tận tình truyền thụ kiến thức
- Sử dụng đồ dùng dạy học, tranh ảnh minh họa
+ Học sinh:
- Hiểu được nội dung bài
- Tập trung lắng nghe khi giáo viên giảng
- Chất lượng học sinh đầu năm tương đối ổn định
- Tài liệu học tập khá đầy đủ
- Phụ huynh học sinh rất thích cho con mình học Tin học
b Khuyết điểm:
+ Giáo viên:
- Chưa thực hiện theo phương pháp lấy người học làm trung tâm
- Cách truyền thụ kiến thức còn hạn chế
- Phân bố thời gian chưa hợp lý
- Các em chưa mạnh dạn trong quá trình thực hành
+ Học sinh:
- Chủ yếu các em nghe và thực hành tại lớp về nhà không có điềukiện thực hành thêm
- Các em chưa mạnh dạn nêu ý kiến, đóng góp ý kiến
- Chưa thật bị thu hút vào bài giảng còn lo ra
- Về nhà các em không có ai hướng dẫn thêm
c Nguyên nhân:
+ Giáo viên:
- Tuy có tham khảo những phương pháp dạy hiện đại nhưng chưathật sự hiểu và áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại
Trang 12- Dạy rất tận tình nhưng cách truyền thụ cho các em còn nhiều lúngtúng nên dẫn đến thiếu xót, phân bố thời gian không hợp lý.
- Giáo viên chỉ nêu ra gợi ý sau đó cho các em thực hành chứ chưathực sự lắng nghe ý kiến các em
+ Học sinh:
- Các em còn nhỏ nên hay mê chơi không chú ý vào bài học
- Chưa thấy được tầm quan trọng của môn học này nên còn lơ làtrong việc học
- Đa số phụ huynh học sinh ít được học môn Tin học nên không thểhướng dẫn con em mình
Do môn Tin học là môn mới đưa vào chưong trình giảng dạy nêntrong quá trình giảng dạy môn Tin học ở các lớp trong khối Bốn luôn tồn tạinhững ưu điểm, khuyết điểm khác nhau Do đó tôi luôn tự học hỏi, dự giờ rútkinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, nâng cao chất lượnghọc sinh, giúp các em sử dụng máy tính thành thạo hơn
IV Một số biện pháp để dạy tin học có hiệu quả hơn:
1 Giáo viên có kế hoạch bài dạy, xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy phù hợp:
- Giáo viên biết kết hợp giữa giờ lý thuyết và thực hành sao cho phùhợp, không nên xem nhẹ giờ dạy lý thuyết thì mới thực hành tốt được cũngnhư khi học sinh thực hành tốt thì sẽ hiểu sâu hơn về lý thuyết
Ví dụ: Khi học bài các thao tác với tệp tin văn bản (khối 4) Giáo viên
dạy phần lưu văn bản, mở văn bản khi học lý thuyết học sinh mới chỉ hiểu làlưu văn bản vào trong máy là để văn bản đó không bị mất đi, có thể mở rađược Nhưng đến khi thực hành học sinh mới thực sự hiểu rằng khi lưu vănbản đó luôn luôn được lưu trữ và tồn tại trong máy, có thể mở ra bất cứ lúcnào để chỉnh, xem và chỉnh sửa
Trang 13- Giáo viên nên tận dụng những phương tiện sẵn có của môn tin học ápdụng vào trong giảng dạy lý thuyết để học sinh dễ quan sát và nhận biết, giúpcho buổi học thực hành của hiệu quả hơn.
Qua đợt khảo sát đầu năm học học với học sinh khối 4 (lớp 41 và lớp
42) dạy bài 3: Cỡ chữ và phông chữ Lớp 41 dạy có sử dụng đồ dùng trực quanbằng máy tính, thao tác trên máy tính Còn lớp 42 dạy sử dụng đồ dùng trựcquan bằng tranh ảnh miêu tả hình ảnh trong máy tính
Khi tổng hợp kết quả thu được:
Khi dạy thực hành, giáo viên giao bài tập cho học sinh một cách cụ thể,
rõ ràng và kết hợp cả những kiến thức của bài học trước, hướng dẫn theo từngnhóm cho các em phân tích yêu cầu của bài và để đạt được bài như yêu cầuthì các em phải làm những công việc gì trước khi học sinh làm để học sinhquan sát và thực hành chính xác và nhanh hơn
Ví dụ: Dạy bài vẽ đường thẳng, giáo viên giao bài tập thực hành cho
từng nhóm, sau đó hướng dẫn (theo nhóm) phân tích, kế đến giáo viên trựctiếp trên máy cho học sinh dễ quan sát thao tác của cô và lời nói của cô.Trong khi thực hành, nếu em học sinh nào chưa thực hành được, giáo viên lạihướng dẫn cho em đó hoặc cầm tay em đó và hướng dẫn các thao tác
Bài 2: Vẽ hình chữ nhật, hình vuông (thực hành)
- Đầu tiên chia lớp thành 4-5 nhóm
- Yêu cầu các nhóm phân tích xem để hoàn tất chiếc tivi (T5/21 –SGKTH4) thì :
+ Các em cần vẽ những gì?
Trang 14+ Sử dụng những công cụ nào để vẽ?
+ Có cần sao chép hình nào không?
+ Thực hiện phối màu như thế nào cho hợp lý hay em thích màunhư hình mẫu
- Sau khi các nhóm xác định xong gọi một vài nhóm trình bày
- Nhận xét và bắt đầu cho các em bắt tay vào vẽ
2 Hệ thống các bài tập thực hành, các bài tập phù hợp với nội dung của bài giảng, liên hệ với một số môn học khác trong chương trình học của các em
- Các bài tập không quá dài, nâng dần từ mức đơn giản đến phức tạpgiúp phát triển năng lực các em, ngoài ra giáo viên cũng phải kết hợp nhữngbài đã học trước để học sinh ôn lại và vận dụng vẽ một cách có hệ thống
Ví dụ: Trong một ca thực hành với bài 3: Sao chép hình:
Ở hình trên ngoài vẽ hình vuông ra học sinh còn phải sử dụng công cụ
vẽ cần thiết đã học để vẽ và trang trí cho các hoa văn của hình vuông trên Từhình vuông trên các em sẽ liên tưởng đến bài học trang trí hình vuông (Môn
mỹ thuật lớp 4) và sáng tạo kết hợp với bài mới để vẽ một số hình vuông kháctheo trì tưởng tượng của các em
3 Trong giờ thực hành giáo viên nên tạo sự tranh đua giữa các nhóm
bằng cách phân công các nhóm làm bài thực hành mỗi nhóm có một nhóm
Trang 15trưởng, sau đó các nhóm nhận xét, chấm điểm (dưới sự chỉ dẫn của giáo viên)của nhau để tạo được sự hào hứng học tập và sáng tạo trong quá trình thựchành.
Ví Dụ: Bài 3: Vẽ hình chữ nhật, hình vuông
Gv yêu cầu các em trang trí hình vuông theo mẫu
- Chia lớp làm 04 nhóm, mỗi nhóm cử 01 bạn làm nhóm trưởng
- Các em của mỗi nhóm tranh thủ vẽ, nếu bạn nào vẽ hay ở phầnnào thì nhóm trưởng phân công bạn đến giúp sau đó trở về hoàn thành tiếp bàicủa mình
- Như thế thì tất cả các bạn trong nhóm đều vẽ tốt
- GV đến kiểm tra từng nhóm nếu nhóm nào tất cả các bạn đềulàm được thì nhóm đó thắng
4 Tận dụng những nguồn tài nguyên sẵn có của máy vi tính, hoặc truy
cập mạng để tìm kiếm thông tin, tìm kiếm tài nguyên trên Internet phục vụcho quá trình dạy và học
- Như bài: Vẽ hình e-líp, hình tròn
- Thưòng thì trường tiểu học chưa có máy chiếu nên giáo viên minhhoạ trên máy tính cho các em xem có thể một số em không thấy rõ nên thựchành vẽ không chính xác
- Nếu sử dụng phần mềm NetOpSchool và NetOpTeacher đưa bài trìnhchiếu xuống cho học sinh quan sát trực tiếp thì hiệu quả cao hơn và có thể