1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3

20 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 172 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tên sáng kiến: “Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3” - Lĩnh vực: Nghiên cứu về nội dung và phương pháp dạy học giải to

Trang 1

PHÒNG GD – ĐT CHÂU PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG TH A ĐÀO HỮU CẢNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÁO CÁO Kết quả thực hiện “Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3”

I SƠ LƯỢC LÝ LỊCH TÁC GIẢ:

- Họ và tên: ĐỖ THỊ KIM THOA Nam, nữ: Nữ

- Ngày tháng năm sinh: 11/12/1980

- Nơi thường trú: Ấp Hưng Lợi, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú

- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh

- Chức vụ hiện nay: Giáo viên

- Trình độ chuyên môn: Đại học GDTH

- Lĩnh vực công tác: Giáo viên chủ nhiệm lớp 3A

II SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐƠN VỊ:

Trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh thuộc xã vùng trong, có hai điểm Trường được thành lập ngày 05 tháng 09 năm 1984, được tách ra từ trường tiểu học E Thạnh Mỹ Tây và có quyết định kể từ ngày 30 /08/1990 của UBND tỉnh An Giang

1 Thuận lợi:

Được sự quan tâm chỉ đạo của Ngành, của địa phương nên trường thuận lợi trong hoạt động cũng như công tác huy động học sinh đến trường và làm tốt công tác sửa chữa hè, tạo cảnh quan trường ngày một khang trang, thu hút học sinh đến trường Phòng học đảm bảo đầy đủ cho năm học 2018-2019

Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên đủ về số lượng, chuẩn hóa về chất lượng;

có ý thức tự học, tự nghiên cứu để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và tay nghề, đáp ứng ngày càng tốt hơn đối với yêu cầu công việc

2 Những khó khăn, vướng mắc.

Trường có 2 điểm nên khó khăn trong việc quản lí địa bàn Hộ nghèo và cận nghèo chiếm tỉ lệ cao; hoàn cảnh kinh tế gia đình các em gặp nhiều khó khăn Tình hình học sinh bỏ học vẫn còn nhưng tỉ lệ thấp phần lớn theo cha mẹ đi làm ăn xa

Sự quan tâm của PHHS đối với con em còn hạn chế, do đi làm ăn xa, các em ở nhà

Trang 2

với ông bà; họ chưa thực hiện tốt mối quan hệ mật thiết giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục học sinh

Đây cũng là một phần ảnh hưởng đến việc học hành của các em, nhất là việc chuẩn bị bài trước ở nhà, các em còn hạn chế kĩ năng đọc, viết, làm toán Vì vậy,

mà việc học môn Toán của các em còn rất nhiều hạn chế

- Tên sáng kiến: “Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3”

- Lĩnh vực: Nghiên cứu về nội dung và phương pháp dạy học giải toán có lời

văn có nội dung hình học và bài toán liên quan đến rút về đơn vị ở lớp 3

III MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI, SÁNG KIẾN:

1.Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:

Ngày nay, trong quá trình dạy học theo chương trình đổi mới của Bộ Giáo dục đòi hỏi người giáo viên cần vận dụng những phương pháp dạy học mới (Phương pháp dạy học tích cực) Xuất phát từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện

kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Tuy nhiên trong quá trình dạy học, người giáo viên còn vận dụng phương pháp dạy học truyền thống dẫn đến kết quả giảng dạy chưa đạt yêu cầu làm giảm hứng thú học tập của học sinh Đây là một khó khăn không nhỏ đối với giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học hiện nay Đặc biệt là việc giải các bài toán có lời văn của giáo viên còn lúng túng về nhiều mặt, một phần không nhỏ học sinh gặp khó khăn khi giải bài toán còn nhầm lẫn sai sót, trình bày bài giải chưa chính xác, việc hình thành kỹ năng còn chậm, khả năng suy luận kém Ngoài ra, còn do điều kiện gia đình càng ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập của các em Vậy làm như thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường Tiểu học ? làm thế nào

để nâng cao hứng thú học tập cho học sinh ?… Hàng loạt câu hỏi đặt ra và nó đã làm cho bao nhiêu thế hệ thầy cô phải trăn trở suy nghĩ Là một giáo viên đã trực tiếp giảng dạy nhiều năm tôi nhận thấy mình phải có trách nhiệm trong việc giúp đỡ học sinh có được kết quả học tập cao

Môn Toán ở nhà trường Tiểu học là một môn học rất quan trọng, góp phần vào mục tiêu nâng cao chất lượng học tập của học sinh Nó không chỉ phát triển tư duy,

Trang 3

phát triển ngôn ngữ mà còn góp phần hình thành nhân cách của các em Phần lớn thời gian học tập của học sinh là dành cho việc học bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia và giải các bài toán có lời văn Trong đó, việc học bốn phép tính thường không khó đối với đại đa số học sinh còn việc học giải toán thì lại không dễ đối với hầu hết các em Vì sao vậy ? Đó là vì trong các bài toán có lời văn, bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia không hiện ra một cách rõ ràng, mà chúng ẩn đằng sau các câu chữ, nhiều khi rất khó nhận thấy Nó mô tả những tình huống trong đời sống, sinh hoạt, lao động và học tập thường ngày Nếu không biết phương pháp suy nghĩ, tìm tòi,… thì không thể phát hiện ra cách giải Do đó, đa số học sinh tiểu học đều làm được các bài toán số mà thường ngại các bài toán có lời văn, nhất là các em học sinh chưa hoàn thành

Việc học giải toán có lời văn là một mạch kiến thức của môn Toán ở lớp Ba nói riêng và ở Tiểu học nói chung Có thể xem đây là biểu hiện về trí tuệ linh hoạt

và năng động nhất ở độ tuổi của các em Vì việc giải toán có lời văn đòi hỏi khả năng các em cao hơn lớp Một, lớp Hai Các em không chỉ suy nghĩ tìm câu lời giải

mà các em còn phải trả lời chính xác các phép tính, thực hiện đúng với yêu cầu mà bài toán đặt ra Đây là mảng kiến thức vô cùng phức tạp vì vừa phải kết hợp toán đơn với toán hợp Yêu cầu đặt ra là các em phải biết giải và trình bày bài giải cho phù hợp Với nhiều dạng toán khác nhau và yêu cầu đặt ra ngày cũng một nâng dần lên Do đó, học sinh phải có khả năng phân tích, tổng hợp và vận dụng nhuần nhuyễn những kiến thức đã học để giải toán

Xuất phát từ yêu cầu quan trọng của môn học và tình hình thực tế việc dạy

và học Toán như trên, tôi đã nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3”

2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến:

Toán học là một mảng kiến thức xuyên suốt quá trình học tập của học sinh

Nó không chỉ rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo tính toán để giúp các em học tốt môn khác

mà còn giúp các em rèn luyện trí thông minh, óc tư duy sáng tạo, khả năng tư duy lô gic, làm việc khoa học Vì vậy chúng ta cần phải quan tâm tới việc dạy toán ở Tiểu học

Trong chương trình toán ở Tiểu học cũng như chương trình toán lớp 3 gồm 4 mạch kiến thức cơ bản: Trong đó giải các bài toán có lời văn có vị trí đặc biệt quan

Trang 4

trọng Việc dạy học giải toán giúp học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của con người mới

Giải toán là một mạch kiến thức cơ bản của toán học nó không chỉ giúp cho học sinh thực hành vận dụng những kiến thức đã học mà còn rèn cho học sinh khả năng diễn đạt ngôn ngữ qua việc trình bày lời giải một cách rõ ràng, chính xác, khoa học, thông qua việc giải toán có lời văn học sinh được giáo dục nhiều mặt trong đó

có ý thức đạo đức

3 Nội dung sáng kiến:

3.1.Cơ sở lí luận:

Môn Toán ở bậc Tiểu học, các bài toán có lời văn có vị trí rất quan trọng Một phần lớn thời gian học Toán của học sinh dành cho việc học giải các bài toán

ấy Kết quả học Toán của học sinh cũng được đánh giá trước hết qua khả năng giải toán, cả kết quả thi kiểm tra cuối kì hay cuối năm học cũng vậy Biết giải thành thạo các bài toán là một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá trình độ toán học của mỗi học sinh

Sở dĩ việc học giải toán có vị trí quan trọng như trên là vì nó có những tác dụng rất to lớn và toàn diện như:

- Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng và hiểu sâu sắc thêm tất cả các kiến thức về số học, đo lường và hình học đã được học trong môn Toán ở Tiểu học Hơn thế nữa phần lớn các biểu tượng, khái niệm, quy tắc, tính chất toán học ở Tiểu học đều được học sinh tiếp thu qua con đường giải toán, chứ không phải qua con đường lí luận

- Thông qua nội dung thực tế nhiều hình nhiều vẽ của các đề toán, học sinh

sẽ tiếp nhận được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều kiện để rèn luyện khả năng áp dụng các kiến thức toán học vào cuộc sống

- Mỗi đề toán đều là một bức tranh nhỏ của cuộc sống Khi giải mỗi bài toán, học sinh phải biết rút ra được từ bức tranh ấy cái bản chất toán học của nó, phải biết lựa chọn những phép tính thích hợp, biết làm đúng các phép tính, biết đặt lời văn chính xác,… Vì thế mà quá trình giải toán sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát, khả năng sử dụng Tiếng Việt và giải quyết các vấn đề của cuộc sống qua con mắt toán học của mình

Trang 5

- Việc giải các bài toán có lời văn sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng tạo và thói quen làm việc một cách khoa học cho học sinh Bởi vì khi giải toán, học sinh phải biết tập trung chú ý vào cái bản chất của bài toán, phải biết gạt bỏ những cái thứ yếu, phải biết phân biệt cái đã cho và cái cần tìm, phải biết phân tích để tìm

ra những đường dây liên hệ giữa các số liệu,… Nhờ đó mà đầu óc của các em sẽ sáng suốt hơn, tinh tế hơn; khả năng tư duy của các em sẽ linh hoạt, chính xác hơn; cách suy nghĩ và làm việc của các em sẽ khoa học hơn,…

- Việc giải các bài toán còn đòi hỏi học sinh phải biết tự mình xem xét vấn

đề, tự mình tìm tòi cách giải quyết vấn đề, tự mình thực hiện các phép tính, tự mình kiểm tra lại các kết quả,… Do đó, giải toán là một cách rất tốt để rèn luyện đức tính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận, chu đáo; yêu thích sự chặt chẽ, chính xác,…

Vì những tác dụng to lớn nêu trên mà mỗi học sinh đều phải ra sức rèn luyện

để giải toán cho giỏi Điều đó chẳng những sẽ giúp các em học giỏi Toán mà nó còn giúp các em học giỏi tất cả các môn học khác

3.2 Thực trạng của vấn đề dạy học:

Chương trình môn Toán ở tiểu học bao gồm 5 chuỗi kiến thức chính là : số học, đại lượng và đo đại lượng, yếu tố hình học, yếu tố thống kê và giải bài toán Trong đó, kĩ năng thực hành các phép tính cộng, trừ, nhân, chia của kiến thức “số học” có vai trò vô cùng quan trọng Nó chính là “kiến thức trọng tâm”, là “đòn bẫy”

để học sinh lĩnh hội các chuỗi kiến thức còn lại Nói cách khác, kĩ năng thực hành các phép tính cộng, trừ, nhân, chia và vận dụng vào giải toán chính là “hạt nhân” của chương trình môn Toán ở tiểu học

Theo tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Toán thì mục tiêu cần đạt và phần ghi chú (bài tập cần làm) ở từng khối lớp là tương đối phù hợp, vừa sức với học sinh Hầu hết các bài tập đều ở dạng cơ bản, không có yêu cầu nâng cao, không có nhiều bài toán khó như ở sách giáo khoa của chương trình cũ

Theo ý kiến nhận xét của cá nhân, có tiết học phải cung cấp nhiều kiến thức mới hoặc có tiết học khối lượng bài tập nhiều mà thời gian dành cho mỗi tiết học chỉ giao động từ 30 – 40 phút nên học sinh chưa hoàn thành thì khó có khả năng giải quyết được tất cả các bài tập theo yêu cầu Ngược lại, học sinh hoàn thành tốt thì các em thực hiện rất tốt, đáp ứng được yêu cầu của tiết học Do đó, giáo viên cần phải đầu tư suy nghĩ để tìm biện pháp dạy học ở nhiều khía cạnh khác nhau nhằm

Trang 6

đưa ra những tình huống dạy học sao cho phù hợp để tất các các đối tượng học sinh đều nắm được chuẩn kiến thức, kĩ năng Từ đó, vận dụng để giải quyết tất cả các bài tập theo yêu cầu chuẩn kiến thức mà không ảnh hưởng đến thời gian tiết học

3.2.1 Thực trạng việc dạy học toán của giáo viên:

Thực trạng của học sinh hiện nay có thể khẳng định rằng học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng còn yếu về khả năng phân tích, tư duy để giải bài toán có lời văn

- Muốn học sinh học tập đạt kết quả thì vấn đề đặt ra cần phải đề cập đến là phương pháp giảng dạy, là cách thức tổ chức hoạt động học tập cho học sinh và quan trọng hơn cả là người giáo viên có trình độ kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ

và kinh nghiệm giảng dạy…

+ Về trình độ giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn Trong quá trình giảng dạy có nhiều cố gắng đạt mục tiêu bài dạy, có ý thức nâng cao tay nghề

+ Xong việc vận dụng những kiến thức đã có vào việc giảng dạy còn có nhiều hạn chế, lúng túng, vụng về, thiếu linh hoạt

+ Năng khiếu sư phạm còn hạn chế dẫn đến việc hướng dẫn học sinh giải bài toán đôi khi còn thiếu chính xác Kiến thức cơ bản nhiều khi còn bị lãng quên, sự đầu tư vào chuyên môn chưa nhiều dẫn đến chất lượng giờ dạy chưa cao

VD: Khi hướng dẫn học sinh giải toán, giáo viên chưa khuyến khích học sinh tìm nhiều cách giải khác nhau, chưa cho học sinh thấy được ý nghĩa thực tiễn của

nó trong cuộc sống

+ Một số giáo viên còn chịu ảnh hưởng của phương pháp dạy học truyền thống

3.2.2 Vai trò của dạy học giải toán ở Tiểu học nói chung và giải các bài toán có lời văn ở lớp 3 nói riêng:

- Dạy học giải toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán và các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú những vấn

đề thường gặp trong đời sống

- Nhờ giải toán học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phần cần thiết vì giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác xác lập mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho

Trang 7

và cái cần tìm Trên cơ sở đó chọn được phép tính thích hợp và trả lời đúng câu hỏi của bài toán

- Dạy học giải toán giúp học sinh phát hiện giải quyết vấn đề, tự nhận xét so sánh, phân tích, tổng hợp rút ra quy tắc ở dạng khái quát

- Trong chương trình toán 3 thì giải toán cũng là một mạch kiến thức khác và

có ý nghĩa đặc biệt trong suốt quá trình học tập Đặc biệt qua việc giải các bài toán

có nội dung hình học và bài toán liên quan đến rút về đơn vị là các dạng toán có ý nghĩa thực tiễn liên quan đến cuộc sống hàng ngày Vì vậy nó được coi là cầu nối giữa toán học và thực tiễn, chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong chương trình toán 3

3.2.3 Nội dung dạy các bài toán điển hình có nội dung hình học và bài toán liên quan đến rút về đơn vị.

a Nội dung dạy các bài toán điển hình có nội dung hình học được phân thành 4 tiết lý thuyết và 3 tiết thực hành, cụ thể:

+ Chu vi hình chữ nhật, chu vi hình vuông

+ Diện tích hình chữ nhật, diện tích hình vuông

b Nội dung dạy các bài toán có lời văn liên quan đến rút về đơn vị được học thành 2 tiết, cụ thể:

+ Tiết 122: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị (giải bằng phép tính chia và phép tính nhân

+ Tiết 157: Bài toán được giải bằng 2 phép tính chia

3.2.4 Yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt được

a Bài toán có nội dung hình học

- Biết tính độ dài đường gấp khúc

- Biết tính chu vi diện tích hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc)

b Bài toán liên quan đến rút về đơn vị

- Học sinh biết giải và trình bày bài giải các bài toán có lời văn, có đến hai bước tính liên quan đến rút về đơn vị

3.2.5 Các dạng bài tập

a Các bài tập có nội dung hình học

- Bài tập về “Nhận biết hình” (nhận dạng hình)

Trang 8

- Bài tập về “xếp ghép hình” chẳng hạn từ 8 hình tam giác bằng nhau xếp thành cac hình như ở trang 71, trang 82 sách toán 3

Ví dụ: Bài 4 trang 82 - Toán 3

- Bài tập về ‘Tính chu vi” hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc)

- Bài tập về :Tính diện tích” các hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc)

- Bài tập về “Thực hành” chẳng hạn gấp giấy để tạo thành mép vuông (bài 4 trang 43 sách toán 3) hoặc gấp tờ giấy hình chữ nhật để xác định trung điểm của đoạn thẳng (Bài 2 trang 99 sách toán 3)

b Các dạng bài toán liên quan đến rút về đơn vị

- Là một dạng của toán hợp giải bằng hai phép tính Bài toán được xây dựng

từ hai bài toán đơn là ý nghĩa thực tế của phép nhân hoặc phép chia, chẳng hạn:

+ Dạng 1: Bài toán: Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao Hỏi 5 bao đó có bao nhiêu ki-lô-gam gạo ?

Từ cách hiểu trên ta hướng dẫn học sinh giải bằng 2 phép tính, mỗi phép tính ứng với một bài toán đơn tạo thành tương ứng Muốn tìm 5 bao có bao nhiêu ki-lô-gam gạo, ta cần tìm mỗi bao có bao nhiêu ki-lô-ki-lô-gam gạo bằng cách: lấy 28 chia cho 7; biết được mỗi bao có bao nhiêu ki-lô-gam gạo thì sẽ tính được kết quả theo yêu cầu bài toán:

Bài giải:

Số ki-lô-gam gạo trong mỗi bao là:

28 : 7 = 4 (kg)

Số ki-lô-gam gạo trong 5 bao là:

4 x 5 = 20 ( kg)

Đáp số: 20 kg

+ Dạng 2: Bài toán: Có 40 kg đường đựng đều trong 8 túi Hỏi 15 kg đường đựng trong mấy túi như thế ?

Được xây dựng từ hai bài toán đơn: Có 40 kg đường đựng đều trong 8 túi Hỏi mỗi túi đựng bao nhiêu ki-lô-gam đường ? và bài toán: Mỗi túi đựng 5 kg đường Hỏi 15 kg đường đựng trong mấy túi như thế ?

Bài giải:

Số ki-lô-gam đường đựng trong mỗi túi là:

40 : 8 = 5 (túi)

Trang 9

Số túi cần để đựng 15 kg đường là:

15 : 5 = 3 (túi)

Đáp số: 3 túi

- “Bài toán liên quan đến rút về đơn vị” được hiểu là bài toán mà trong cách giải trước hết cần thực hiện ở bước 1 là: “tính giá trị một đơn vị của đại lượng nào đó” hay cần phân tích rút về đơn vị Bước 2 là “Tính kết quả và trả lời câu hỏi của bài toán” Cách giải thường là: “Gấp lên một số lần” hoặc ‘Số lớn gấp mấy lần số bé”

3.2.6 Thực trạng việc học giải toán điển hình của học sinh lớp 3

Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã tìm hiểu học sinh khối lớp 3 của trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh trong những năm học trước Tôi nhận thấy phần lớn học sinh

giải toán có lời văn có nội dung hình học và bài toán liên quan đến rút về đơn vị hay

mắc phải sai lầm như sau:

* Bài toán có lời văn có nội dung hình học:

- Học sinh chưa đọc kỹ đề bài, xác định yêu cầu bài toán chưa đúng, không biết bài toán thuộc loại toán nào dẫn đến việc áp dụng công thức, quy tắc nhầm, lẫn lộn với nhau, kết quả giải toán bị sai

+ Khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình chữ nhật thì lại áp dụng quy tắc tính chu vi hình vuông và ngược lại khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình vuông thì lại

áp dụng quy tắc quy tắc tính chu vi hình chữ nhật

+ Khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình vuông và chu vi hình chữ nhật thì học sinh chưa hoàn thành không nắm chắc quy tắc để vận dụng quy tắc tính, nhầm giữa tính chu vi hình vuông sang tính diện tích hình vuông, nhầm giữa tính chu vi hình chữ nhật sang tính diện tích hình chữ nhật

+ Trong bài toán tính chu vi, diện tích các hình khi viết tên đơn vị đo, các em còn bỏ sót, nhầm lẫn Chẳng hạn:

VD: Hình chữ nhật ABCD có chiều rộng bằng 3cm, chiều dài gấp đôi chiều rộng Tính chu vi và diện tích của hình chữ nhật đó (Bài 2 trang 156, Toán 3)

Với hình chữ nhật đã cho có chiều rộng 3 cm, chiều dài gấp đôi chiều rộng, thì đơn vị đo của chu vi là cm, đơn vị đo của diện tích là cm2 nhưng học sinh viết là

cm Cụ thể học sinh có thể giải là:

Bài giải của học sinh Bài giải đúng:

Trang 10

Chiều dài của hình chữ nhật là:

3 x 2 = 6 (cm)

Chu vi hình chữ nhật là:

(6 + 3 ) x 2 = 18 (cm)

Diện tích hình chữ nhật là:

6 x 3 = 18 (cm)

Đáp số: 18 cm

Chiều dài của hình chữ nhật là:

3 x 2 = 6 (cm) Chu vi hình chữ nhật là:

(6 + 3 ) x 2 = 18 (cm) Diện tích hình chữ nhật là:

6 x 3 = 18 (cm2) Đáp số: 18cm; 18 cm2

+ Trong trường hợp số đo các cạnh không cùng đơn vị thì học sinh chưa biết đổi ra cùng đơn vị đo

VD: Tính chu vi và diện tích hình chữ nhật có chiều dài là 4 dm, chiều rộng là 8 cm.(Bài 1 trang 153, Toán 3)

Trước khi giải bài toán này, học sinh phải đổi chiều dài cùng đơn vị với chiều rộng rồi tính chu vi và diện tích hình chữ nhật đã cho

- Học sinh nhận diện hình chậm, không hiểu thuật ngữ toán học, không biết bài đã cho dữ kiện nào để áp dụng vào giải toán Không nắm được các thao tác giải toán, không biết tư duy bài toán (bằng lời hoặc hình vẽ) nên trình bày sai lời giải, sai bài toán, đáp số sai, thiếu

- Học sinh còn nhầm khi bài toán cho chu vi hình vuông đi tìm cạnh, học sinh không hiểu bài toán, lấy chu vi nhân 4 thay gì phải áp dụng công thức cạnh hình vuông bằng chu vi chia cho 4

VD: Một hình vuông có chu vi 20mm Tính diện tích hình vuông đó (Bài 3 trang 154 Toán 3)

- Ngoài ra còn một số bài toán đòi hỏi học sinh phải tư duy tìm các công thức

đã cho để giải Khả năng giải bài toán mang tính chất tổng hợp kiến thức của các

em còn kém, các em quên mất kiến thức cũ liên quan nên giải bài toán bị sai

VD: Một hình chữ nhật và một hình vuông có cùng chu vi Biết hình chữ nhật có chiều dài 60m, chiều rộng 40m Tính độ dài cạnh hình vuông (Bài 4 trang

174, Toán 3)

Bài toán này mang tích chất tổng hợp giữa tính chu vi và diện tích hình vuông, hình chữ nhật Vì vậy, học sinh phải tư duy để tìm cách giải đúng Chẳng hạn: Muốn tính cạnh hình vuông phải tính chu vi hình vuông (chu vi hình vuông bằng chu vi hình chữ nhật là: (60 + 40) x 2 = 200m)) rồi lấy chu vi đó chia cho 4

* Bài toán liên quan đến rút về đơn vị

Ngày đăng: 07/02/2021, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w