1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn một số biện pháp dạy học giúp học sinh lớp 2 làm giàu vốn từ ngữ trong phân môn luyện từ và câu

25 352 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 35,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lý do trên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài : “ Một số biện pháp dạy học giúp học sinh lớp 2A trường Tiểu học Lý Thường Kiệt làm giàu vốn từ ngữ trong phân môn Luyện từ và câu”, đ

Trang 1

Qua mỗi tiết Luyện từ và câu, các em được mở rộng một lượng vốn từ nho nhỏ, tích lũy cho mình một vốn từ phong phú và đa dạng…Nhưng điều quan trọng hơn là các em biết cách dùng từ ngữ, câu văn để diễn đạt một ý, liên kết các ý trong một đoạn, một bài Đấy chính là yêu cầu rèn kĩ năng nói cho học sinh.

Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, tôi thấy dạy học sinh nói được một câu hay, giàu cảm xúc là một kĩ năng khó của phân môn Luyện từ và câu Bởi vậy, hiệu quả giờ dạy Luyện từ và câu còn hạn chế Một phần người dạy còn chưa tìm ra quy trình và phương pháp dạy thích hợp Hơn nữa đây là phân môn hoàn toàn khó đối với học sinh lớp1, 2 Với đối tượng này vốn từ ít, kỹ năng diễn đạt còn hạn chế, các em đọc còn chưa lưu loát vì vậy ít nhiều hạn chế đến khả năng đặt câu đúng, câu hay, diễn đạt bằng lời nói, lời kể và cách diễn xuất của mình qua từng đoạn chuyện, câu chuyện Vì vậy, các em thiếu tính mạnh dạn, tính tự tin trong học tập

Để khắc phục tình trạng trên nhiệm vụ đặt ra cho tôi là làm thế nào để học sinh

mở rộng được vốn từ ngữ của mình một cách sâu sắc, có một vốn từ phong phú

và đa dạng?

Vì những lý do trên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài : “ Một số biện pháp dạy học giúp học sinh lớp 2A trường Tiểu học Lý Thường Kiệt làm giàu vốn từ ngữ trong phân môn Luyện từ và câu”, để góp phần nâng cao chất lượng học môn Luyện từ và câu nói riêng và học Tiếng Việt nói chung trong nhà trường Tiểu học

Trang 2

II Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

1.Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu, đề xuất những biện pháp góp phần vào đổi mới cách dạy học sinh mở rộng vốn từ ngữ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 Từ cách đổi mới phương pháp dạy của thầy góp phần đổi mới cách học của trò Phát huy hết khả năng tự phát hiện của học sinh thông qua cách tổ chức dạy học của giáo viên và cách học của học sinh

Qua đề tài này tôi mong muốn được góp một phần nhỏ vào việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng chính:

– Làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh

– Biết sử dụng từ ngữ trong đời sống hàng ngày

2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Do thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài này tôi chỉ tập trung hướng tới giải quyết các nhiệm vụ sau:

+ Tìm hiểu thực trạng về vốn từ của học sinh trong phân môn Luyện từ và câu

ở lớp 2 nói chung và lớp 2A nói riêng

+ Đề xuất các giải pháp giúp giáo viên áp dụng một số phương pháp vào việc làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh trong phân môn Luyện từ và câu

3.Đối tượng nghiên cứu:

– Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2a làm giàu vốn từ ngữ trong phân môn Luyện từ và câu

Trang 3

+Trao đổi với đồng nghiệp để đánh giá khả năng nhận thức dạy học sinh biết tìm từ ngữ xoay quanh một chủ đề chủ điểm để từ đó rút ra bài học có giá trị.+Dự giờ giáo viên cùng khối để nắm phương pháp giảng dạy hướng dẫn học sinh mở

rộng vốn từ để rút ra bài học kinh nghiệm

+Đề xuất một số giải pháp về hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ ngữ trong phân môn Luyện từ và câu Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cùng với kết quả nghiên cứu của đề tài

6.Phương pháp nghiên cứu

Giáo dục Tiểu học là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông Vì vậy phương pháp dạy học ở bậc tiểu học có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần hình thành cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn, hình thành nếp tư duy sáng tạo ngay từ khi các em bắt đầu đến trường phổ thông

Trong các môn học ở tiểu học môn Tiếng Việt là môn có vị trí hết sức quan

Trang 4

trọng Nó cung cấp vốn ngôn ngữ, xây dựng nền tảng kiến thức ban đầu còn là công cụ giúp cho học sinh học các môn khác Đặc biệt là phân môn Luyện từ vàcâu là phân môn đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển ngôn ngữ của học sinh nói chung và của học sinh lớp Hai nói riêng Trong thực tế môn Luyện

từ và câu có vị trí rất quan trọng là chìa khóa mở ra kho tàng văn hóa trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của con người.Hơn nữa phân môn Luyện từ và câu giúp học sinh lĩnh hội Tiếng việt, văn hóa là công cụ giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả tốt mà còn học tốt các môn học khác, rèn cho học sinh bốn kỹ năng nghe, đọc, nói, viết thành thạo

Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, tôi thấy dạy học sinh biết cách giao tiếp tốt, viết được đoạn văn ngắn thì phải làm giàu vốn ngôn ngữ cho học sinh Làm giàu vốn ngôn ngữ cho học sinh lớp Hai là một việc làm quan trọng trong phân môn Luyện từ và câu.Việc phát triển và làm giàu vốn ngôn ngữ cho học sinh góp phần giúp học sinh có kĩ năng dùng từ để đặt câu và giao tiếp tốt Hơn nữa, phân môn Luyện từ và câu hoàn toàn mới đối với học sinh lớp 2 Vì các em

từ lớp 1 lên, các em mới làm quen với thể loại này Với đối tượng này vốn từ ít,

kỹ năng nói và viết diễn đạt còn hạn chế Học sinh chưa hiểu sâu về nghĩa các

từ ngữ và bản chất của câu nên khi nói và viết một đoạn văn các em thường bộc

lộ các yếu điểm về diễn đạt như : từ lặp lại nhiều, câu không rõ nghĩa, các câu trong đoạn văn còn lộn xộn, viết đoạn văn mang tính chất trả lời câu hỏi Học sinh thường dập khuôn theo sự hướng dẫn của giáo viên

2 Cơ sở thực tiễn

Bước vào đầu năm học, nhà trường phân công cho tôi chủ nhiệm lớp 2a trong quá trình trực tiếp giảng dạy các em tôi cảm thấy hầu hết các em chưa biết nói thành câu Các em giao tiếp với nhau lời lẽ cụt ngủn, đôi khi nói năng cộc lốc không lịch sự Ngôn ngữ của các em rất hạn chế, vốn sống còn ít, vốn hiều biết

về Tiếng Việt chưa nhiều, việc nói và viết thành câu, thành một đoạn văn gặp nhiều khó khăn

Việc dạy từ ngữ cho học sinh chính là quá trình giáo viên khơi dậy sự hiểu biết

Trang 5

và cảm nhận của các em về người, vật và cuộc sống xung quanh Điều đó đòi hỏi giáo viên có phương pháp mở rộng vốn từ giúp các em tìm được nhiều từ ngữ và biết sử dụng từ ngữ một cách thích hợp, sử dụng từ chính xác và hay khi nói và viết Song thực tế chỉ ra rằng một số học sinh lớp 2 vốn sống của các em còn hạn chế do đó khi diễn đạt nói và viết học sinh còn gặp nhiều khó khăn.

II Thực trạng và nguyên nhân

bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho học sinh

-Giáo viên tích cực tìm tòi đổi mới phương pháp, dạy học luôn luôn lấy học sinhlàm trung tâm

-Lớp 2A rất thuận lợi được học 7 buổi trên tuần Đa số học sinh ngoan ngoãn, biết vâng lời thầy cô giáo

b.Khó khăn

Năm học 2014-2015, nhà trường phân công cho tôi chủ nhiệm lớp 2A, tổng số học sinh là 30 em, nữ 15 em, dân tộc thiểu số 3 em, con hộ nghèo và cận nghèo

6 em

100% Học sinh bố mẹ làm nông nghiệp Mặt bằng dân trí không đồng đều Một

số gia đình không quan tâm nhiều đến sự học tập của con em mình, sự học hànhcủa con em họ thường phó mặc cho nhà trường

c.Điều tra thực trạng

-Hằng ngày, trên lớp, vào những giờ ra chơi, tôi thường xuyên chuyện trò với

Trang 6

các em, hỏi han về gia đình, sở thích của các em, vừa tạo môi trường thân thiện,thân mật gần gũi giữa giáo viên và học sinh vừa tìm hiểu về cách giao tiếp bằng ngôn ngữ của các em Qua những cuộc chuyện trò với học sinh tôi thấy khoảng hơn một phần ba số học sinh trong lớp đã chủ động đến để nói chuyện với cô

Số còn lại e dè không dám nói hoặc nói rất ít Những em chủ động đến nói chuyện với tôi thì thấy các em diễn đạt ngôn ngữ có phần trôi chảy hơn những

em nói ít

Qua tất cả các giờ học trên lớp, tôi thường quan sát về thái độ học tập, về cách dùng từ ngữ, cách diễn đạt các câu trả lời của học sinh trong những tuần đầu củanăm học, tôi thấy thực trạng của học sinh như sau:

+ Quan sát học sinh khi học môn luyện từ và câu, tôi yêu cầu các em tìm từ ngữ thuộc các chủ đề, chủ điểm đang học Đa số các em tìm được rất ít từ, chỉ khi côgiáo gợi mở sát vào từng ngữ cảnh học sinh mới tìm được từ mà giáo viên yêu cầu

+ Quan sát học sinh khi học môn tập đọc, phần giải nghĩa từ đa số các em

không hiểu bản chất của từ nên các em không giải nghĩa được, khi tìm hiểu nội dung của bài tập đọc, giáo viên nêu câu hỏi thì có khoảng ¼ số học sinh trong lớp xung phong trả lời câu hỏi Tuy học sinh có hiểu ý nội dung câu hỏi nhưng

vì học sinh chưa diễn đạt được câu trả lời trọn vẹn Số học sinh còn lại rụt rè không dám giơ tay phát biểu vì các em không tự tin khi nói và khi trả lời các emthường bê luôn cả đoạn văn hay một khổ thơ chứ chưa biết trả lời theo ý hiểu của mình

+ Qua tiết học Tập làm văn tôi thường quan sát các em trong việc trả lời câu hỏi, đặt câu, viết đoạn văn ngắn từ 3-5 câu Tôi thấy các em đa số chưa biết đặt câu, sử dụng từ chưa chính xác, chỉ hơn ¼ số học sinh biết dùng một số mẫu câu đơn giản

Ngoài ra, tôi còn quan sát các em khi các em giao tiếp bằng ngôn ngữ với nhau ,tôi thấy các em nói năng còn cộc lốc chưa có chủ-vị Các em giao tiếp với nhau chưa tỏ thái độ thân thiện và lịch sự

Trang 7

Qua quá trình thực hiện phương pháp quan sát trên tất cả các lĩnh vực tôi thấy ngôn ngữ của các em còn rất hạn chế, việc trả lời câu hỏi thường thiếu phần chủngữ,câu cú còn lộn xộn, gọn lỏn Sử dụng ngôn ngữ trong văn bản còn nghèo nàn.

Tôi theo dõi việc tiếp thu bài học của học sinh trong một tháng đầu của năm học

và tiến hành điều tra kết quả học tập môn Luyện từ và câu của lớp

Kết quả điều tra giai đoạn giữa tháng 9 như sau:

Sau khi dạy các bài Luyện từ và câu tuần 1,2,3,4 mở rộng vốn từ về sự vật và

Sau khi học sinh làm bài xong, tôi kiểm tra bài tập của các em, tôi thấy các em

có vốn từ rất ít chỉ tìm được vài ba từ, chứ chưa tự tìm được các từ theo yêu cầu của cô giáo đã giao Tôi cho học sinh đặt 1 câu với một trong các từ tìm được thì học sinh đa số không biết dùng từ để đặt câu, giáo viên phải nói câu mẫu họcsinh mới đặt được câu theo dập khuôn một cách máy móc

Kết quả đạt được như sau :

CÂU ĐÚNG

CÂU SAI NGỮ PHÁPTÌM ĐỦ,

ĐÚNG( 5

CHƯA ĐẠT

TÌM ĐỦ,ĐÚNG( 5

CHƯA ĐẠT

Trang 8

TỪ) YC TỪ) YC

Lớp 2a:

ss:30 5 16,6 25 83,4 5 16,6 25 83,4 8 26,7 22 73,3Nhìn vào bảng dữ liệu, số lượng học sinh của lớp 2a có vốn từ quá ít ỏi, biết dùng từ để đặt câu đúng theo một chủ điểm chỉ có 8 em Số lượng học sinh viếtthành câu chưa đúng ngữ pháp chiểm quá nhiều 73,3% Đa số các em còn trả lờitheo câu hỏi gợi ý, chứ chưa biết đặt một câu hoàn chỉnh, một số các em còn viết câu lộn xộn

d Mặt mạnh, mặt yếu

*Mặt mạnh: Bản thân tôi đã có 18 năm trong nghề dạy học Tôi là người luôn

luôn tận tụy với công việc, yêu nghề, mến trẻ, luôn thích tìm tòi học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, có ý chí phấn đấu, không sợ khó khăn gian khổ Nhiềunăm liền là giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh, nhiều năm liền đạt chiến sĩ thi đua cấp cơ sở Chính vì thế, tôi muốn đầu tư công sức để nghiên cứu đề tài này góp phần vào việc nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Luyện từ và câu cóchất lượng cao

Ngoài nỗ lực của bản thân, tôi còn được các đồng chí đồng nghiệp giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi như góp ý kiến, thao giảng cho tôi dự giờ lấy kinh nghiệm

để tôi hoàn thành đề tài này

* Mặt yếu: Thời gian để thực nghiệm chưa nhiều, nên phần nào kết quả học tập

của học sinh chưa đạt tối đa như ý muốn Trình độ viết sáng kiến còn hạn hẹp, câu từ để trình bày ý tưởng chưa được trau chuốt và làm sáng tỏ rõ trong đề tài,

vì thế đề tài còn có nhiều khuyết điểm

2.Nguyên nhân

Sau khi điều tra,tôi thấy những nguyên nhân chính ảnh hưởng trực tiếp đến việc

sử dụng từ ngữ trong giao tiếp, trong việc sử dụng từ để đặt câu trong một câu văn của học sinh lớp 2 nói chung và của học sinh lớp 2a nói riêng là:

Trang 9

2.1 Về tâm sinh lí

Nguyên nhân chính là các em tuổi còn nhỏ.Các em mới học từ lớp Một lên lớp Hai vốn từ ngữ của các em còn hạn chế, thậm chí còn quá nghèo nàn ít ỏi Cách giao tiếp bằng ngôn ngữ của các em chưa hoàn chỉnh, nói năng còn cộc lốc Chính vì vốn từ ngữ còn hạn chế nên việc nói và viết không thành câu, viết một đoạn văn ngắn còn lúng túng, lủng củng

2.2 Về hoàn cảnh gia đình của học sinh

Học sinh lớp 2a do tôi chủ nhiệm, 100% con nhà làm nông nghiệp, dân trí thấp

Số hộ nghèo và cận nghèo (6 hộ), số gia đình còn lại mức sống cũng chỉ đủ ăn Nhiều gia đình chưa có chỗ học riêng cho con cái Cha mẹ các em chưa chú trọng đến việc rèn cho con mình nói năng, xưng hô như thế nào cho lễ phép, cholịch sự Con cái giao tiếp với ông bà, cha mẹ, anh chị em của mình đa số trả lời cụt ngủn chưa thành câu, lâu dần thành thói quen

-Mặt khác, do thực tế học sinh mới được làm quen với phân môn Luyện từ và câu ở lớp hai nên học sinh còn nhiều bỡ ngỡ, chưa có phương pháp học tập bộ môn một cách khoa học và hợp lí.Tài liệu tham khảo của các em chưa nhiều, đồ dùng dạy học, phương tiện chủ yếu là tranh trong sách giáo khoa Chính vì lẽ đómột phần nào cũng ảnh hưởng đến việc giao tiếp của trẻ, nói và viết chưa thành câu

III GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP

Căn cứ thực trạng của học sinh đã được nêu ở trên, căn cứ vào thực tế giảng dạy, tôi luôn suy nghĩ: ” làm thế nào để học sinh mở rộng được vốn từ của mìnhmột cách sâu sắc?” sau thời gian nghiên cứu, tìm tòi tôi đã đúc kết được một sốnhững kinh nghiệm trong việc mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh như sau:

1.Cung cấp, mở rộng và nhân vốn từ ngữ cho học sinh *.Mục tiêu: Cung cấp vốn từ giúp học sinh có vốn từ phong phú, để học

sinh tự tin trong giao tiếp, biết dùng từ để đặt câu trong mọi tình huống giao tiếp, biết nói và viết những câu văn hay giàu cảm xúc, các em có khả năng diễn đạt được trí tưởng tượng của mình trong từng câu truyện kể…

Trang 10

*Nội dung và cách thức thực hiện

Với lứa tuổi của các em học sinh lớp 2, vốn từ của các em còn nghèo nàn, việc

sử dụng từ ngữ trong giao tiếp còn nhiều hạn chế Hầu hết học sinh sử dụng từ ngữ chưa phù hợp, chưa chính xác Vì vậy, tôi đã cung cấp vốn từ cho học sinh giúp các em lựa chọn, phân tích để sử dụng từ ngữ cho hợp lý Khi dạy Luyện

từ và câu tôi đã chú trọng mở rộng vốn từ cho học sinh, bằng cách cho các em

thi nhau tìm những từ ngữ thuộc chủ đề, chủ điểm các em đang học, khuyến khích học sinh tìm càng nhiều từ càng tốt Khi học sinh không tìm được từ nhiều, tôi đã nêu câu hỏi gợi mở để các em hiểu và dễ dàng tìm được

Bên cạnh đó, tôi đã giới thiệu, cung cấp thêm các từ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa phù hợp với chủ đề các em học

a.Về từ cùng nghĩa

Học sinh lớp hai chưa học khái niệm về từ cùng nghĩa, nên học sinh rất khó khăn tìm được những từ cùng nghĩa, vì thế tôi cho học sinh mở rộng các từ cùng nghĩa theo một số trường hợp sau:

a.1.Những cặp từ cùng nghĩa có cấu tạo nghich đảo:

Ví dụ: dạy bài 1 tuần 12 Mở rộng vốn từ ngữ về tình cảm

Bài tập yêu cầu ghép tiếng theo mẫu để tạo thành các từ chỉ tình cảm gia đình

Để dạy bài tập này tôi cho các em dùng những cặp từ cùng nghĩa có cấu tạo nghịch đảo: yêu thương – thương yêu, yêu quý – quý yêu, yêu mến- mến yêu, thương mến- mến thương

Dựa vào cấu tạo nghich đảo ấy học sinh dễ dàng tìm được nhiều cặp từ cùng nghĩa khác theo yêu cầu cô ra

a.2.Từ cùng nghĩa theo địa phương:

Khi dạy mở rộng vốn từ về con vật, tôi cho học sinh mở rộng vốn từ bằng cách khai thác vốn từ cùng nghĩa theo vùng, miền

ví dụ :giáo viên treo tranh vẽ con ngan và hỏi học sinh: miền bắc gọi con vật này là con gì?- (con ngan), còn miền Nam gọi con vật này là con gì? (con vịt xiêm) Dùng cách hỏi như vậy vơí các con vật khác:

Trang 11

con ngan- vịt xiêm, con heo- con lợn, con hổ- con cọp

Với cách khai thác từ địa phương giáo viên khuyến khích học sinh phân vùng đểtìm từ

Ví dụ: mẹ, má, mế, u , bu, bầm, bủ…cái tẩy – cái gôm, bút- cây viết, bông – hoa, bát ăn cơm- chén ăn cơm, thìa – muỗng

+ Từ chỉ hoạt động: ăn, xơi, , bưng, bê, cắp, ôm

c Từ trái nghĩa: giáo viên cần phân biệt cụ thể nghĩa các từ mà cho học sinh

xét từ trái nghĩa theo các trường hợp sau:

Những cặp từ trái nghĩa chỉ hoạt động: làm chơi, lên – xuống, bay đậu, đi dừng, đứng – ngồi…

Những cặp từ trái nghĩa chỉ tính chất: đẹp- xấu, hiền – dữ, đen- trắng, nóng – lạnh…

-Những cặp từ trái nghĩa có cùng một tiếng gốc

Ví dụ: bền lòng / nản chí, tốt bụng/ xấu bụng, đẹp mã/ xấu mã

-Những cặp từ trái nghĩa không cùng một gốc

Ví dụ: ấm áp/ lạnh lẽo, cứng rắn/ mềm dẻo, dũng cảm/ hèn nhát

d.Chú trọng nhân vốn từ của học sinh:

Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng thành từ có nghĩa, để học sinh tìm được

Trang 12

nhiều từ, tôi hướng dẫn các em tìm các từ ghép, từ láy cùng gốc:

Ví dụ: Cho học sinh tìm một số từ chỉ màu đỏ khác nhau

Tôi cho học sinh quan sát nhiều màu đỏ, yêu cầu học sinh nhận xét mức độ đỏ của từng màu mà phân biệt được tên của màu đỏ đó

+Từ ghép: đỏ tươi, đỏ thắm, đỏ hoe, đỏ chót, đỏ rực

+Từ láy: đo đỏ, đỏ đắn

Ngoài ra, tôi cho học sinh tìm từ dựa vào tiếng cho trước

Ví dụ dạy bài 1 tuần 25 luyện từ và câu lớp 2 Bài tập yêu cầu tìm từ có tiếng biển

Tôi cho học sinh dựa vào tiếng cho trước tìm từ có tiếng biển đứng trước hoặc tiếng biển đứng sau: biển cả, biển rộng, biển đông, sóng biển, nước biển, cá biển…

Hoặc dạy bài 3 tuần 33- Luyện từ và câu lớp hai về chủ đề nhân dân

+Tìm từ ngữ chỉ nghề nghiệp tôi cho học sinh một tiếng cho trước ghép lại thành từ có nghĩa: thợ

– Học sinh dễ dàng tìm được các từ có tiếng thợ:

+thợ điện, thợ cơ khí, thợ mỏ, thợ hàn, thợ may, thợ mộc…

e.Hướng dẫn học sinh phát hiện các từ ngữ xoay quanh một đề tài:

Để các em phân biệt được các từ ngữ, giáo viên thường xuyên luyện cho các emtheo các bài tập từ đơn giản đến phức tạp

Ví dụ:tìm các từ có hai tiếng trở lên chỉ các kiểu mưa khác nhau: mưa dầm, mưaphùn, mưa rào, mưa ngâu, mưa bóng mây, mưa rả rích, mưa đá, mưa rươi Tương tự kiểu bài đó, giáo viên cho học sinh tìm từ có từ “gió”: gió lốc, gió nhènhẹ, gió mơn man, gió hây hẩy, gió lồng lộng…

Đặc biệt tôi rất quan tâm đến dạy cho học sinh một số thành ngữ, quán ngữ và tục ngữ thông dụng theo từng chủ đề tôi dạy cho học sinh tìm và biết sử dụng một số thành ngữ, tục ngữ khi diễn đạt nói và viết

Ví dụ : Khi dạy về chủ đề thầy cô giáo tôi cho các em tìm những câu thành ngữ nói về công ơn của thầy cô giáo chẳng hạn: Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng

Ngày đăng: 07/02/2021, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w