1. Trang chủ
  2. » Mầm non - Tiểu học

giáo trình thổ nhưỡng lớp học phần vnua khoa nông học

310 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 310
Dung lượng 16,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng nên lưu ý rằng sự phân chia như trên được thực hiện trong quá trình phân tích cấp hạt, còn trong thực tiễn áp dụng vào phân loại đất theo thành phần cơ giới thì người ta chỉ xét [r]

Trang 1

Giáo trình Thổ nhưỡng học

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Giáo trình Thổ nhưỡng học được biên soạn cho sinh viên các ngành khoa học đất, hoá nông nghiệp, môi trường, quản lý đất đai, cây trồng, bảo vệ thực vật… làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các ngành khác, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ ngành nông nghiệp

Với tinh thần đổi mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo và được sự đồng ý của trường Đại học Nông nghiệp I, bộ môn Khoa học đất tái bản giáo trình Thổ nhưỡng học (xuất bản năm 2000) có sửa đổi, bổ sung, cập nhật thông tin, thay đổi cách trình bày và được phân công chịu trách nhiệm như sau:

PGS.TS Trần Văn Chính: Chương VIII, IX, X, XV và một phần chương III

TS Cao Việt Hà: Chương VI và VII

TS Đỗ Nguyên Hải: Chương XI, XII và XVI

ThS Hoàng Văn Mùa: Chương I, II và XVII

PGS TS Nguyễn Hữu Thành: Chương IV, V, XIII và XIV

PGS.TS Nguyễn Xuân Thành: một phần chương III

Hiệu đính và chủ biên lần tái bản này: PGS.TS Trần Văn Chính

Bám sát yêu cầu đào tạo, các tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu trong và ngoài nước, các kết quả nghiên cứu gần đây Tuy nhiên, do trình độ và thời gian có hạn nên khó tránh khỏi những thiếu sót Mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc

Trang 3

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ:

Bộ môn Khoa học đất - Trường Đại học Nông nghiệp I - Gia Lâm -

Hà Nội

Telephone: 04 8769272

Email: khoahocdat@yahoo.com

Trang 4

Bài mở đầu KHÁI NIỆM CHUNG VỀ THỔ NHƯỠNG

1 Khái niệm về đất và độ phì nhiêu

Trên mặt địa cầu có chỗ là một khối rắn chắc, có chỗ là bãi cát mênh mông hoang mạc, có chỗ cây cối mọc xanh tươi bát ngát Loài người gọi vùng thứ nhất là đá (nham thạch), vùng thứ hai là sa mạc và vùng thứ ba là thổ nhưỡng Như vậy thổ nhưỡng là đất mặt tơi xốp của

vỏ lục địa, có độ dầy khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của

cây trồng Nguồn gốc của đất là từ các loại "đá mẹ” nằm trong thiên

nhiên lâu đời bị phá huỷ dần dần dưới tác dụng của yếu tố lý học, hoá

học và sinh học Tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt giữa "đá mẹ" và đất là

độ phì nhiêu, nếu chưa có độ phì nhiêu, thực vật thượng đẳng chưa sống được thì chưa gọi là thổ nhưỡng

Thổ nhưỡng học là khoa học nghiên cứu đất nhằm giải quyết

những vấn đề quan trọng của sản xuất xã hội có liên quan đến đất Do yêu cầu sử dụng đất khác nhau, loài người đã dùng các phương pháp nghiên cứu đất khác nhau và lích luỹ được rất nhiều kiến thức về đất Nhưng cũng có các nhận thức khác nhau về đất Thí dụ đối với các công trình xây dựng nhà cửa, đường sá, thuỷ lợi thì đất chỉ là nguyên liệu chịu lực cho nên các cán bộ thuỷ lợi và xây dựng thường coi đất là một loại nguyên liệu, chỉ quan tâm đến các tính chất vật lý và cơ lý của đất Còn trong sản xuất nông nghiệp đất là cơ sở sinh sống và phát triển cây

trồng Cây trồng có thể sống trên đất là nhờ độ phì nhiêu Độ phì phát huy được tác dụng nhờ các yếu tố bên trong của đất (môi trường tự

nhiên của khu vực và yếu tố kỹ thuật canh tác)

Muốn có nhận thức đúng đắn về đất trồng cần phải nắm vững quan điểm độ phì làm trung tâm Nhờ có độ phì mà đất trở thành đối tượng canh tác của loài người là tư liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp và là

cơ sở để thực vật sinh trưởng và phát triển Bởi vì độ phì nhiêu là khả năng của đất có thể cung cấp cho cây đồng thời và không ngừng cả nước lẫn thức ăn", khả năng đó nhiều hay ít (tức độ phì cao hay thấp) do các tính chất lý học, hoá học và sinh học đất quyết định; ngoài ra còn phụ

thuộc vào điều kiện thiên nhiên và tác động của con người

Trang 5

Như vậy độ phì không phải là số lượng chất dinh dưỡng tổng số trong đất mà là khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây nhiều hay ít

Ðó là một chỉ tiêu rất tổng hợp, là sự phản ánh tất cả các tính chất của đất vì thế cần có quan điểm toàn diện Ðã có nhiều quan điểm khác nhau

về độ phì đất Ricacđô và các nhà khoa học phương Tây cho rằng: "độ phì đất giảm dần" Các nhà Thổ nhưỡng Liên Xô (cũ) mà đại diện là Viliam thì cho rằng "độ phì đất không ngừng tăng lên, không có đất nào xấu mà chỉ có chế độ canh tác tồi mà thôi" Các Mác khi bàn về vấn đề địa tô đã chia độ phì đất làm 5 loại là: độ phì thiên nhiên, độ phì nhân tạo, độ phì tiềm tàng, độ phì hiệu lực và độ phì kinh tế

2 Nguồn gốc và thành phần cơ bản của đất

Các loại đá nằm trong thiên nhiên chịu tác dụng lý học, hoá học và sinh học dần dần bị phá huỷ thành một sản phẩm được gọi là mẫu chất Trong mẫu chất mới chỉ có các nguyên tố hoá học chứa trong đá mẹ sinh

ra nó, còn thiếu một số thành phần quan trọng như chất hữu cơ, đạm, nước vì thế thực vật thượng đẳng chưa sống được Trải qua một thời gian dài nhờ tác dụng của sinh vật tích luỹ được chất hữu cơ và đạm, thực vật thượng đẳng sống được, có nghĩa là đã hình thành thổ nhưỡng Như vậy có thể nói nguồn gốc ban đầu của đất là từ đá mẹ Thí dụ ở nước ta có đất nâu đỏ trên đá bazan, đất nâu đỏ trên đá vôi, đất vàng đỏ trên phiến thạch sét hoặc đá biến chất như phiến thạch Mica, Gơnai

Dù là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất đồng cỏ, thậm chí đất hoang đều gồm có các thành phần cơ bản sau đây:

* Chất vô cơ do đá phá hủy tạo thành chiếm 95%

trọng lượng hay 38% thể tích của chất rắn

Trang 6

* Chất hữu cơ do xác sinh vật phân huỷ chiếm dưới 5% trọng lượng hoặc 12% thể tích chất rắn

* Không khí một phần từ khí quyển nhập vào (O2+ N2) hoặc do đất sinh

ra (CO2 và hơi nước)

* Nước chủ yếu do từ ngoài nhập vào, vì có hoà tan nhiều chất cho nên nước trong đất thực chất là dung dịch đất

* Sinh vật trong đất có nhiều loài như côn trùng, giun, nguyên sinh động vật, các loài tảo và một số lượng rất lớn vi sinh vật

Những thành phần trên có thể rất khác nhau về tỷ lệ phối hợp Thí

dụ trong đất than bùn hàm lượng chất hữu cơ có thể tới 70-80% Ngược lại trong đất cát, hoặc đất xói mòn trơ sỏi đá không có thực bì che phủ thì hàm lượng chất hữu cơ chỉ có mấy phần nghìn mà thôi Không khí và nước trong đất cũng thay đổi rất nhiều bởi vì hai thành phần này tồn tại trong các khe hở của đất, nó không những phụ thuộc độ chặt, độ xốp mà còn phụ thuộc độ ẩm của đất Cả hai thành phần này cộng lại có thể

chiếm trên 50% thể tích đất

Cần quan tâm đến thành phần sinh vật, đặc biệt là vi sinh vật bởi vì hầu hết các quá trình biến hoá phức tạp xảy ra trong đất đều có sự tham gia của vi sinh vật Với nội dung của giáo trình, ở đây chỉ đề cập đến ảnh hưởng của vi sinh vật đến đất

3 Ðất là cơ sở sinh sống và phát triển thực vật, là tư liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp

Ðặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp là tạo ra chất hữu cơ trong đó có sản xuất thực vật Trong cuộc sống thực vật cần có đủ 5 yếu

tố là ánh sáng (quang năng), nhiệt lượng (nhiệt năng), không khí (O2 và

CO2), nước và thức ăn khoáng Trong đó 3 yếu tố đầu do thiên nhiên cung cấp (yếu tố vũ trụ), nước vừa do thiên nhiên vừa do đất cung cấp, còn thức ăn khoáng gồm rất nhiều nguyên tố như N, P, K, S, Ca, Mg và các nguyên tố vi lượng là do đất cung cấp Như vậy những năm thời tiết khí hậu bình thường, trong điều kiện cùng một loại giống và trình độ canh tác tương tự thì năng suất cây trồng trên các loại đất cao hay thấp nói chung phụ thuộc vào khả năng cung cấp thức ăn của đất Ngoài ra

Trang 7

đất còn là nơi để cho cây cắm rễ, "bám trụ" không bị nghiêng ngả khi mưa to gió lớn

Một loại đất được gọi là tốt phải bảo đảm cho thực vật "ăn no" (cung cấp kịp thời và đầy đủ thức ăn), "uống đủ" (chế độ nước tốt), "ở tốt" (chế độ không khí và nhiệt độ thích hợp) và "đứng vững" (rễ cây có

thể mọc rộng và sâu)

Sản xuất nông nghiệp bao gồm 2 nội dung lớn là: sản xuất thực vật (trồng trọt) và sản xuất động vật (chăn nuôi) Chúng ta biết rằng nếu không có thực vật hút thức ăn trong đất qua tác dụng quang hợp biến thành chất hữu cơ thực vật thì động vật không thể có nguồn năng lượng cần thiết để duy trì cuộc sống của chúng Bởi vậy đất không những là cơ

sở sản xuất thực vật mà còn là cơ sở để sản xuất động vật Trồng trọt phát triển thì chăn nuôi cũng phát triển

4 Ðất là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái

Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa các sinh vật với môi trường Trên địa cầu có vô số sinh vật, các sinh vật này cùng với môi trường của chúng tạo thành sinh quyển Sinh quyển do nhiều hệ sinh thái tạo thành Mỗi hệ sinh thái có tổ hợp sinh vật riêng của nó Trong môi trường thiên nhiên của một vùng thì động vật, vi sinh vật, thổ nhưỡng làm thành một hệ sinh thái Đó là một bộ phận quan trọng trong hệ sinh thái của vùng Mặt khác tình hình đất của một vùng lại có quan hệ với những yếu tố khác cấu tạo nên hệ sinh thái của vùng

đó, giữa chúng có quan hệ điều tiết cân bằng lẫn nhau và khống chế nhau Vì vậy, trong khoa học môi trường, đất không những là tư liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp mà còn được coi là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái một vùng Ðất có ý nghĩa quan trọng đối với loài người tương tự như nước, không khí, sinh vật và khoáng sản

Loài người sống trong môi trường thiên nhiên, luôn tìm cách cải tạo môi trường xung quanh để phù hợp với yêu cầu của sản xuất và cuộc sống, lập nên cân bằng động của hệ sinh thái Nhưng mặt khác sự hoạt động của loài người cũng có lúc phá huỷ cân bằng sinh thái thiên nhiên

mà hậu quả là những tổn thất không bù đắp được Thí dụ hậu quả của ô nhiễm đất không những gây nên tình trạng hoang hoá đất, thay đổi hệ sinh thái đất từ đó làm thay đổi hệ sinh thái đồng ruộng, thậm chí có thể

Trang 8

dẫn đến sự hủy diệt một số sinh vật trong vùng Ô nhiễm đất còn có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người và gia súc

Những năm gần đây, khoa học môi trường đã đòi hỏi công tác thổ nhưỡng có biện pháp giám định, phòng ngừa và xử lý ô nhiễm đất, định

ra tiêu chuẩn làm sạch hoá đất Từ đó ta thấy Thổ nhưỡng học cận đại đã

có sự phát triển mới, nó đã trở thành một bộ phận quan trọng trong khoa học môi trường

Từ những ý nghĩa trên, việc sử dụng đất không những căn cứ vào yêu cầu của nền kinh tế quốc dân và sự phát triển nông nghiệp mà còn phải xuất phát từ góc độ khoa học môi trường, chú ý đến vấn đề cân bằng động trong toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên Nếu đất phù hợp với nông

nghiệp thì làm nông nghiệp, phù hợp với lâm nghiệp thì phát triển rừng

Ðất phù hợp với chăn nuôi thì phát triển đồng cỏ Ðối với những vùng

đất bị ô nhiễm nghiêm trọng thì cấm trồng cây lương thực thực phẩm hoặc chăn thả gia súc mà nên chuyển sang trồng cây lâm nghiệp hoặc cây lấy gỗ Ðối với quản lý đồng ruộng cần lưu ý phòng chống ô nhiễm do thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ hoặc ảnh hưởng của nước thải công nghiệp Ðối với khai hoang cần chú ý chống xói mòn đất và khô cằn đất làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái của khu vực

5 Ðối tượng và nhiệm vụ của thổ nhưỡng học

Thổ nhưỡng học là môn khoa học nghiên cứu đất trồng Ðây là một môn khoa học cơ sở nhằm trang bị cho học viên kiến thức về nguồn gốc hình thành đất, quy luật phân bố các loại trên địa cầu, những đặc tính về hình thái, lý học, hoá học và sinh học đất cùng với phương hướng sử dụng, cải tạo và bảo vệ nhằm nâng cao độ phì đất để cây trồng đạt năng suất cao và ổn định

Ðể học tốt môn Thổ nhưỡng học cần có những kiến thức nhất định

về địa chất, thực vật, vi sinh vật, sinh lý, thực vật, toán, lý và nhất là hoá học Mặt khác, trên cơ sở đã học môn Thổ nhưỡng học viên sẽ có điều kiện học tốt các môn chuyên môn có liên quan như nông hoá học, thuỷ nông, đánh giá đất, định giá đất, quy hoạch đất, cây công nghiệp, cây lương thực, rau quả, bảo vệ thực vật

Trang 9

Muốn đánh giá đất đầy đủ cần phối hợp giữa kết quả khảo sát đất ở thực địa, phân tích đất trong phòng thí nghiệm với kết quả thí nghiệm đồng ruộng và trong chậu Ngoài ra cần tổng kết kinh nghiệm quần

chúng

Trang 10

Chương I KHOÁNG VẬT VÀ ĐÁ HÌNH THÀNH ĐẤT

1.1 Khái niệm chung về khoáng vật

Theo địa chất học: khoáng vật là sản phẩm tự nhiên của các quá trình hoá lý và các quá trình địa chất diễn ra trong vỏ Trái Ðất, có thành phần tương đối đồng nhất và có những tính chất vật lý, hoá học nhất định

Khoáng vật tồn tại ở 3 thể: rắn, lỏng và khí, trong đó chủ yếu ở thể rắn Khoáng vật thể rắn hình thành và tồn tại ở 2 dạng cơ bản là kết tinh tạo thành các tinh thể và vô định hình, hầu hết khoáng vật ở dạng tinh thể Hình dạng tinh thể do sự liên kết theo quy luật của các nguyên tử, ion hoặc phân tử tạo nên các mạng lưới tinh thể

Hình 1.1 Mạng lưới tinh thể và hình dạng một số khoáng vật

Na

Cl

Trang 11

Các khoáng vật khác nhau có: hình dạng, kích thước, độ cứng, tỷ trọng, màu sắc, cát khai, vết vỡ, thành phần hoá học rất khác nhau, đây cũng là những dấu hiệu để nhận biết và phân loại khoáng vật trong tự nhiên

Tuỳ điều kiện hình thành mà một khoáng vật có kích thước khác nhau Ví dụ: Khoáng vật mica là những tấm mỏng có kích thước từ vài

Có khoảng 50 khoáng vật chiếm tỷ lệ lớn trong các loại đá ở vỏ Trái Ðất được gọi là khoáng vật chính tạo đá

Trong thổ nhưỡng học, khoáng vật được chia làm 2 nhóm: khoáng vật nguyên sinh và khoáng vật thứ sinh Khoáng vật nguyên sinh được hình thành đồng thời với sự hình thành đá Ví dụ: thạch anh, Fenspat, mica trong đá Granít là các khoáng vật nguyên sinh

Khoáng vật thứ sinh được hình thành do quá trình biến đổi như các quá trình phong hoá, các hoạt động địa chất.v.v Do vậy khoáng vật thứ sinh gặp nhiều trong mẫu chất và đất như oxyt, hydroxit, các keo

sét.v.v

Trang 12

Sự phân biệt khoáng vật nguyên sinh với thứ sinh có tính chất

tương đối Thạch anh trong đá Granít là nguyên sinh, khi granít bị phong hoá cho ra thạch anh là khoáng thứ sinh, nhưng thạch anh thứ sinh lại là thành phần chính tạo đá trầm tích là cát kết nên nó cũng là khoáng

nguyên sinh trong đá cát

Các khoáng vật có thể tồn tại độc lập hoặc liên kết với nhau trong những quá trình địa chất nào đó để tạo thành đá Vì vậy khoáng vật là thành phần vật chất cơ bản cấu tạo nên vỏ Trái Ðất

Nhiều khoáng vật là nguồn tài nguyên khoáng sản rất có giá trị đối với con người

1.2 Một số loại khoáng vật trong vỏ Trái Ðất

a Lớp Silicát

Silicát là lớp khoáng vật gặp nhiều nhất trong vỏ Trái Ðất, có khoảng

1500 loại khoáng vật của vỏ Trái Ðất nằm ở lớp này Theo viện sĩ A.Phecxman, lớp Silicát chiếm 75 % trọng lượng vỏ Trái Ðất, nhiều khoáng vật của lớp này là khoáng vật chính tạo đá

Ðơn vị cơ sở cấu tạo nên khoáng vật lớp Silicát là khối 4 mặt Silic-oxy có công thức [SiO4]4- với 1 nguyên tử Silic nằm giữa 4 nguyên tử oxy nằm ở 4 đỉnh

Các khối [SiO4]4- có thể ghép nối với nhau theo các phương để tạo thành các lớp Silicát phụ là Silicát dải, Silicát đảo, Silicát khung Ngoài

ra do thừa 4 hoá trị âm nên có thể liên kết với nhiều nguyên tố khác ở dạng cation như Ca2+, Mg2+, K+, Na+ Ðặc biệt, Silic trong khối 4 mặt

có thể được thay thế bởi Al (thay thế đồng hình khác chất) tạo thành nhôm Silicát (alumino Silicát) Sau đây là một số khoáng vật điển hình:

Ôlivin [(Mg,Fe) 2 SiO 4 ]

Màu xanh ô liu, độ cứng 6,5 - 7,0, tỷ trọng 3,3 - 4,0, ánh thuỷ tinh, vết vạch không màu, cát khai trung bình Kết tinh ở dạng khối hay dạng hạt

Nguyên tử Silic Nguyên tử oxy Hình 1.2: Cấu tạo của khối 4 mặt

oxit silic, khoảng cách Si-O2 là 1,6 Ǻ

Trang 13

Ôlivin có nguồn gốc từ hoạt động macma, là khoáng vật chính tạo thành các đá macma siêu bazơ, macma bazơ như: Ðunit, Peridotit,

gabro, bazan Trong các quá trình biến đổi hậu sinh chuyển thành

Secpentin, Tan, Manhetit, Limonít và Ôpan

Ôlivin đẹp được sử dụng làm đồ trang sức, loại chứa nhiều Mg (45-50% MgO) dùng sản xuất gạch chịu lửa Ở Việt Nam Ôlivin gặp ở núi Nưa - Thanh Hoá, Phủ Quỳ - Nghệ An, Tây Nguyên

Mica trắng và đen

Mica trắng có công thức hoá học: K.Al2[(Al.Si3.O10)].[OH]2 giàu

K

Mica đen có công thức hoá học: K(Mg,Fe)3[Si3AlO10][OH,F]2

Trong thành phần Mica đen có chứa nhiều Fe, Mg

Các khoáng mica kết tinh ở dạng dẹt, tấm, vảy; Ðộ cứng 2-3; Tỷ trọng 2,7-3,1 Ánh thuỷ tinh hoặc xà cừ; cát khai rất hoàn toàn dễ tách thành tấm mỏng; màu sắc thay đổi từ trắng đến vàng, xám và đen Mica

có nguồn gốc từ hoạt động macma rất phổ biến trong đá macma axit như granít, ngoài ra còn gặp trong đá biến chất như đá phiến mica, đá trầm tích cơ học như đá cát Khi bị phá huỷ mica tạo thành Hyđromica,

Fenspat có nguồn gốc macma, là thành phần chính của các loại đá macma Khi bị phong hoá, Fenspat tạo thành Kaolinít, oxyt và các loại muối kiềm và kiềm thổ

Ôgít Công thức Ca(Mg, Al, Fe)(Si,Al)2O6

Ðộ cứng 5-6 Tỷ trọng 3,2-3,6 Màu đen, lục hay nâu Ánh thuỷ tinh; cát khai trung bình Tinh thể dạng lăng trụ ngắn, tấm hoặc khối hạt đặc sít Ôgít hình thành do hoạt động macma, là thành phần chính của đá macma bazơ như bazan, gabrô

Trang 14

b Lớp Cácbônát

Lớp khoáng vật này khá phổ biến, là muối của axit H2CO3

Khoáng vật lớp này giòn, độ cứng nhỏ, dễ hoà tan trong nước và sủi bọt khi tác động với HCl

Kết tinh ở nhiều dạng tinh thể như khối mặt thoi, hình hộp chữ nhật lệch, hình tháp, hình lăng trụ hoặc tập hợp hạt đặc sít Ðộ cứng 3, tỷ trọng 2,6-2,8 Ánh thuỷ tinh; màu trắng, xám, vàng, nâu, lục, lam Cát khai hoàn toàn theo 3 phương Sủi bọt mạnh khi tác động với axit HCl Canxít được hình thành do hoạt động địa chất ngoại sinh hoặc xác sinh vật có chứa nhiều CaCO3 Canxít là thành phần khoáng vật chủ yếu tạo

đá vôi Canxít là nguyên liệu để sản xuất vôi, xi măng, làm chất cải tạo phản ứng chua cho đất

Ðôlômít: Công thức (Ca, Mg)[CO3]2

Ðược hình thành do Mg thay thế Ca trong CaCO3 Ðộ cứng 4,0 Tỷ trọng 1,8-2,9 Ánh thuỷ tinh Màu trắng, vàng, xám, lục, đen Không sủi bọt khi tác động với HCl ở nhiệt độ thường Gặp Ðôlômít trong đá vôi hoặc tạo thành các khối riêng Ðôlômít được dùng sản xuất gạch chịu lửa, sản xuất phân bón

3,5-c Lớp Oxit

Khoáng vật lớp này gồm tất cả các oxyt Lớp Oxyt có 200 khoáng vật chiếm khoảng 17 % trọng lượng vỏ Trái Ðất

Rất phổ biến trong vỏ Trái Ðất Ðộ cứng 7 Tỷ trọng 2,5 - 2,8 Ánh thuỷ tinh Màu trắng, vàng, tím, đen, hồng hoặc trong suốt Thạch anh gặp ở dạng khối đặc hoặc vụn, tinh thể có hình lăng trụ với 2 chóp 6 mặt Thạch anh rất phổ biến trong đá macma axit, siêu axit, đá biến chất

và đá trầm tích

Thạch anh là khoáng vật bền, rất khó bị phong hoá hoá học

Hematit: Công thức Fe2O3

Là quặng sắt đỏ, màu vết vạch như màu của máu Ðộ cứng 5,5-6,0

Tỷ trọng 5,2 Ánh kim hay phi kim Màu đỏ rượu vang, xám, sẫm, đen Kết tinh tạo khối hạt đặc sít hay trứng cá Hêmatít có nguồn gốc biến chất hoặc phong hoá hoá học đá macma siêu bazơ

Trang 15

Hydragilit được hình thành do sự phong hoá các khoáng nhôm silicát

e Lớp khoáng vật có lưu huỳnh

Khoáng vật lớp này là hợp chất của kim loại với lưu huỳnh hoặc là muối của axit H2SO4

Pyrit: Công thức FeS2

Tiếng Hylạp "pyros" có nghĩa là lửa, màu khoáng vật này giống màu của lửa nên được gọi tên là pyrit

Ðộ cứng 6,0 - 6,5 Tỷ trọng 5 Màu vàng rơm Không cát khai Tinh thể hình khối lập phương điển hình, Pyrit có nguồn gốc từ hoạt động macma hoặc biến chất Pyrit là nguyên liệu để điều chế axít H2SO4

Trong đất phèn, sắt có thể tác động với các hợp chất có lưu huỳnh như H2S để tạo FeS2, gặp điều kiện oxy hoá FeS2 bị biến đổi tạo thành phèn sắt Fe2(SO4)3, phèn sắt dễ thuỷ phân khi gặp nước tạo thành H2SO4

và Fe(OH)3 kết tủa làm cho đất có phản ứng rất chua

Ðộ cứng 3,0 -3,5 Tỷ trọng 2,8-3,0 Ánh thuỷ tinh Màu trắng, xám hay hơi đỏ Cát khai hoàn toàn theo 3 phương Anhydrit kết tủa từ nước biển khi nhiệt độ trên 42oC hoặc kết tủa từ dung dịch có nồng độ bão hoà Anhydrit thường tập hợp đông đặc tinh thể nhỏ cùng với thạch cao hoặc muối mỏ

Trong nông nghiệp CaSO4 dùng để cải tạo đất mặn kiềm

Trang 16

vàng, đỏ Tinh thể kết tinh dạng khối lập phương Hình thành do sự kết tủa từ nước biển khi bị khô cạn hay bão hoà muối tan

Synvinit là nguyên liệu sản xuất phân Kali

Cácnalit: Công thức KCl.MgCl2.6H2O

Ðộ cứng 1,0-2,5 Tỷ trọng 1,6 Màu trắng, nâu, hồng, đỏ Cácnalit

có nguồn gốc từ trầm tích biển thường cùng gặp với NaCl, KCl

Cacnalit dùng điều chế phân Kali và điều chế manhê

h Lớp phosphat

Khoáng vật lớp này là những muối phức tạp có chứa phospho

Apatit: công thức Ca5(PO4)3(F,Cl)

Ðộ cứng 5 Tỷ trọng 3,2 Ánh thuỷ tinh Màu trắng, vàng, lục, lam Tinh thể hình lăng trụ, hình kem hay hình tấm thường tập hợp tạo khối đặc sít

Apatit được hình thành trong hoạt động macma và hoạt động ngoại sinh

Apatit là nguyên liệu sản xuất phân lân dùng trong sản xuất nông nghiệp

Việt Nam có mỏ Apatit với trữ lượng lớn ở Cam Ðường- Lào Cai

Phosphorit: Công thức Ca5(PO4)P

Phosphorit có thành phần tương tự Apatit nhưng thường lẫn nhiều tạp chất hơn Phosphorit hình thành trong các hang đá vôi do xác sinh vật chết từ lâu hoặc quá trình sinh hoá ở vùng biển cạn có nhiều chất hữu cơ tích luỹ Ở một số vùng nhân dân ta gọi là phân lèn gặp trong các lèn (núi) đá vôi

Phosphorit có công dụng như Apatit

Trang 17

2 Ðá

2.1 Ðịnh nghĩa và phân loại đá

Ðá là một tập hợp nhiều hoặc một khoáng vật, là thành phần vật chất chủ yếu cấu tạo nên vỏ Trái Ðất

Ngành khoa học chuyên nghiên cứu về các loại đá cấu tạo nên vỏ Trái Ðất gọi là nham thạch hay thạch học

Theo nhà thạch học lỗi lạc người Ðức Rozenbút thì chỉ có những tập hợp khoáng vật tạo thành những thể địa chất độc lập mới được gọi là

đá Một thể địa chất độc lập phải có đủ các điều kiện sau:

- Phân biệt rõ với các khối xung quanh và được thành tạo do những quá trình địa chất riêng

- Có thành phần khoáng vật, hoá học xác định và khác với các khối bao quanh

- Các thành phần tạo đá có phương thức kết hợp riêng

Ðá do nhiều loại khoáng vật tạo nên gọi là đá đa khoáng, do một loại khoáng vật gọi là đá đơn khoáng Ðá bị phong hoá để tạo thành đất gọi là đá mẹ

Theo nguồn gốc hình thành, toàn bộ đá cấu tạo nên vỏ Trái Ðất nằm trong 3 nhóm lớn là: Ðá macma, đá trầm tích và đá biến chất Trong từng nhóm chính lại chia ra nhiều nhóm nhỏ hơn Ví dụ: nhóm đá

macma có các nhóm phụ là macma siêu axit, macma axit, macma trung tính

2.2 Ðá macma

a Ðịnh nghĩa và phân loại đá macma

Ðá macma là những đá được hình thành do sự đông cứng của dung dịch macma Nếu dung dịch macma đông cứng dưới sâu (trong vỏ Trái Ðất) tạo đá macma xâm nhập, ngược lại dung dịch macma phun trào ra phía ngoài mặt vỏ Trái Ðất rồi đông cứng lại thì tạo nên đá macma phun trào

Ðá macma có nhiều loại khoáng vật khác nhau, có kiến trúc và cấu tạo phức tạp Trong vỏ Trái Ðất đá nằm ở nhiều thể: tường mạch, nền, trụ, nấm, lớp phủ, vòm phủ

Trang 18

Có nhiều cách phân loại đá macma, phương pháp được sử dụng rộng rãi là dựa vào hàm lượng SiO2 trong đá như ở bảng 1.1

Bảng 1.2 Hàm lượng trung bình của các nguyên tố

Các chất

Hàm lượng trung bình (%)

Trang 19

- Các khoáng vật sáng màu: Fenspat, Mica trắng

- Các khoáng vật sẫm màu: Amphibon, Ôlivin, Manhêtit

Pecmatit là loại đá cứng rắn rất khó bị phá huỷ hoá học Sản phẩm

phong hoá của đá Pecmatit chủ yếu là các hạt cơ giới có kích thước khác nhau Ðất hình thành trên Pecmatit có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mỏng chua và nghèo dinh dưỡng Việt Nam gặp Pecmatit ở La Phù, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ

Dựa vào kích thước và thành phần khoáng vật mà có các tên gọi như: Granit hạt thô, Granit hạt trung bình, Granit hạt mịn, Granit 2

mica

Granit có Fenspat kiềm như Anbit, Microlis thì có màu hồng, đỏ,

đỏ sẫm dùng làm gạch trang trí

Granit là loại đá cứng rắn, khó bị phong hoá Ðất hình thành trên

đá Granit nói riêng và Macma axit nói chung có thành phần cơ giới nhẹ, tầng mỏng, rất chua và nghèo dinh dưỡng

Ở Việt Nam gặp Granit ở nhiều nơi như Hoàng Liên Sơn (Lào Cai), Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam, Ðèo Hải Vân, Thanh Hoá, Quảng Bình

Ðá phun trào tương ứng với Granit là Riôlit (còn gọi là Lipazit) có thành phần khoáng vật giống với Granit nhưng có kiến trúc poocphia,

Trang 20

cấu tạo dòng chảy Nếu Riôlit không kết tinh được gọi là thuỷ tinh núi lửa Dãy núi Tam Ðảo chủ yếu cấu tạo bởi Riolit

Anđêzit là đá phun trào kiểu mới, Poocphia là đá phun trào cổ

Ðá xâm nhập tương ứng với Anđêzit là Ðiorit có kiến trúc toàn tinh, thành phần khoáng vật tương tự Anđêzit Khi lộ ra ngoài Anđêzit bị phá huỷ dễ hơn đá macma axit Ðất hình thành trên loại đá này có thành phần cơ giới nặng, tầng dày và có nhiều tính chất tốt

Việt Nam gặp Anđêzit ở Thanh Hoá, Lai Châu, Tây Nguyên

Ðiorit gặp ở Lào Cai, Kontum

Bazan, Ðiabaz, Gabrô

Bazan là đá điển hình của Macma bazơ, hình thành bằng con

đường phun trào Màu xám, xám đen, đen Thành phần khoáng vật chính tạo đá là Pyroxen (Ôgít hoặc Ðiopxit) chiếm khoảng 50 %, thứ đến là Plazoclaz kiềm, khoáng vật phụ là Olivin, hoocblen Ðá Bazan có kiến trúc vi tinh hay hạt mịn, mắt thường không phân biệt được các tinh thể khoáng có trong đá Trong đá thường có các lỗ hổng hình tròn hay bầu dục, nếu đá có nhiều lỗ hổng thường xốp, nhẹ gọi là đá bọt Bazan Thế nằm của đá Bazan chủ yếu là vòm phủ và dòng chảy

Ðiabaz là Bazan cổ Gabrô là đá xâm nhập tương ứng với phun trào Bazan, có kiến trúc toàn tinh dạng hạt lớn và trung bình

Khi lộ ra ngoài mặt, đá Bazan rất dễ bị phá huỷ, đất hình thành trên

đá Bazan có màu đỏ, nâu đỏ, thành phần cơ giới nặng, tầng dày và có nhiều tính chất tốt

Việt Nam gặp đá Bazan ở Tây Nguyên, Ðông Nam Bộ, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Nghệ An, Thanh Hoá

Ðunít

Ðunít là đá Macma siêu bazơ hình thành dưới sâu Ðá có kiến trúc hạt trung bình hay hạt nhỏ Màu xanh lục, xám đen, đen Khoáng vật chủ yếu là Ôlivin (thay đổi từ 85 - 100%), ngoài ra còn gặp một ít Crônit, Manhêtít Khi bị biến đổi Ôlivin tạo thành Secpentin

Trang 21

Ðất hình thành trên đá Ðunít có màu đen Việt Nam gặp Ðunít ở Cổ Ðịnh - Thanh Hoá

2.3 Ðá trầm tích

a Ðịnh nghĩa và phân loại đá trầm tích

Ðá trầm tích là đá hình thành từ sản phẩm phong hoá của các đá có trước hoặc do xác sinh vật tích đọng tạo thành

Ví dụ: Ðá cát kết (Sa thạch) do các hạt cát là sản phẩm của phong hoá vật lý kết gắn tạo thành Ðá vôi San hô do xác San hô chết tích đọng tạo thành

Dựa vào nguồn gốc hình thành, nhóm đá trầm tích thường được chia thành các nhóm phụ sau: Trầm tích cơ học, trầm tích hoá học, trầm tích sinh học và trầm tích hỗn hợp

b Một số loại đá trầm tích

Ðá cát

Ðá cát là đá điển hình của trầm tích cơ học

Hạt cát là sản phẩm phá huỷ cơ học các đá khác có kích thước từ 2mm - 0,1mm Sản phẩm ở trạng thái rời rạc gọi là cát, nếu kết gắn lại gọi là cát kết (Sa thạch)

Cát kết có 2 thành phần cơ bản là các hạt cát và chất xi măng kết gắn Thành phần khoáng vật của cát kết: Thạch anh, Fenspat, Mica,

Ziacon, Manhetít, Kaolinít Cát kết có cấu tạo khối và cấu tạo phân lớp

Xi măng kết gắn là Silic, sắt, canxi, sét

Cát kết rất phổ biến trong vỏ Trái Ðất, chiếm khoảng 60% trầm tích cơ học

Ðất hình thành trên đá cát có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dinh dưỡng, có nhiều tính chất xấu

Ở Việt Nam đá cát gặp phổ biến ở các tỉnh trung du và miền núi như Bắc Giang, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Kontum Cát rời gặp ở ven các dòng sông suối, đặc biệt gặp một dải dài ven biển miền Trung từ Thanh Hoá đến Bình Thuận

Ðá Vôi

Ðá vôi được hình thành do kết tủa CaCO3 từ dung dịch thật (trầm tích hoá học) hoặc do xác sinh vật chứa nhiều CaCO3 tích đọng lại (trầm tích sinh học) Màu trắng, hồng, xám, xanh, xám đen Thành phần

Trang 22

khoáng vật chủ yếu là Canxit, ngoài ra còn gặp Aragônít, Kaolinit,

Thạch cao, oxyt sắt, nhôm, Ðôlômít Ðá vôi sinh vật do xác các loại sinh vật như Huệ biển, Tay cuộn, San hô, sò, hến, Núi đá vôi ở vịnh

Hạ Long chủ yếu là xác San hô

Ðất hình thành trên đá vôi có màu đỏ, nâu đỏ, trường hợp đặc biệt

có màu đen Ðá vôi còn được dùng để sản xuất vật liệu xây dựng, làm chất cải tạo đất chua

Than bùn

Than bùn được hình thành do sự phân giải không hoàn toàn xác thực vật trong điều kiện dư ẩm và thiếu oxy (vùng đầm lầy), màu đen, nâu đen hay xám đen Rất nhẹ, xốp và chứa nhiều di tích thực vật

Thành phần hoá học của Than bùn: Oxy chiếm 30 - 38%, Cacbon

28 - 35%, Hyđro 5,5%, Nitơ 1- 2% Than bùn có phản ứng rất chua

Than bùn được sử dụng làm chất đốt, làm nguyên liệu để sản xuất phân bón cho sản xuất nông nghiệp

Ðá trầm tích hỗn hợp

Các thành phần tạo đá có nguồn gốc cơ học, hoá học và sinh học Tuỳ thành phần trong đá mà có các đá như: Sét vôi (macnơ), đá vôi sinh hoá, sét bột

2.4 Ðá biến chất

a Ðịnh nghĩa và phân loại đá biến chất

Ðá biến chất là đá được hình thành do đá macma, đá trầm tích bị biến đổi mạnh mẽ trong điều kiện nhiệt độ cao và áp suất lớn

Nguyên nhân tạo nhiệt độ cao và áp suất lớn là các hoạt động địa chất diễn ra trong vỏ Trái Ðất như hoạt động macma, hoạt động kiến tạo Giới hạn dưới của nhiệt độ là 350oC, của áp suất là 250-300 atm bắt đầu gây biến chất cho đá

Dựa vào nguồn gốc đá ban đầu, dựa vào nguyên nhân, dựa vào mức độ biến chất, dựa vào thành phần khoáng vật và hoá học để phân loại đá biến chất

Nhóm đá biến chất có các nhóm phụ là biến chất động lực, biến chất nhiệt, biến chất nhiệt động và biến chất trao đổi

Nếu đá biến chất có nguồn gốc macma thì thêm đầu ngữ là Octo,

có nguồn gốc từ đá trầm tích thì thêm tiếp đầu ngữ là Para

Trang 23

Clorit Ðá có cấu tạo phân phiến điển hình, màu xám, xám đen, đen hoặc xanh xám

Khi lộ ra ngoài không khí đá dễ bị phá huỷ tạo thành đất đỏ và có nhiều tính chất tốt Ở Việt Nam, phiến thạch sét gặp ở nhiều nơi như Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Hoà Bình, Tây Nguyên

- Phiến thạch mica: Ðá có cấu tạo phân phiến nhưng không điển hình như các đá phiến khác Thành phần khoáng vật chính của đá là sét, mica, khoáng vật phụ là Grơnat, Xinimanit, Ðites, Thạch anh Màu xám, xám vàng Việt Nam gặp nhiều ở Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Nghệ An

- Phiến Clozit, phiến Philít: Là những đá có cấu tạo phân phiến rất điển hình Khoáng vật chủ yếu trong đá Clozit là sét và Clozit, trong đá Philít là sét và Xêrixit Vùng vòng cung sông chảy gặp khá phổ biến Clozit và Philít

- Amphibolít: Là đá phiến kết tinh của nhóm biến chất nhiệt động Thành phần khoáng vật chính tạo đá là Hoocblen và Plazoclaz, khoáng vật phụ có Pyroxen, Biotit, Êpiđôt, thạch anh Ðá có cấu tạo phân phiến, cấu tạo phân lớp song song Màu đen, lục, xám xanh, xanh lá cây

Ở Việt Nam Amphibolit gặp ở Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ

Ðá Gnai

Thuộc nhóm đá biến chất nhiệt động, có kiến trúc hạt biến tinh với kích thước hạt khá lớn Thành phần khoáng vật chính tạo đá là Fenspat, thạch anh và mica, khoáng vật phụ có Hoocblen, Pyroxen, Granát

Gnai có nguồn gốc từ Granit, Ðioxit, Cát kết

Ở Việt Nam Gnai gặp ở thượng nguồn sông chảy, Kontum

Trang 24

Ðá hoa

Ðá hoa do đá vôi bị tái kết tinh khi gặp nhiệt độ cao Thành phần khoáng vật chính là Canxit kết tinh từ hạt mịn đến trung bình hoặc to, ngoài ra còn gặp khoáng vật phụ là Ðôlômit, Xêrixit, Tan Ðá có cấu tạo khối, màu trắng, nâu, hồng

Ở Việt Nam đá hoa gặp ở Phong Thổ - Lai Châu, Quốc Oai - Hà Tây

ở nhiều nơi như: Thanh Hoá, Nghệ An, Bắc Giang

Trang 25

Câu hỏi ôn tập

1 Khái nhiệm chung về khoáng vật?

2 Khoáng vật điển hình của lớp silicat

3 Khoáng vật điển hình của các lớp oxyt, hydroxyt, sunfua và sunphat, cácbônát, phosphat và muối mỏ

4 Ðá là gì? Những nhóm đá chính cấu tạo nên vỏ trái đất?

5 Ðịnh nghĩa, phân loại và mô tả đá macma?

6 Ðịnh nghĩa, phân loại và mô tả đá trầm tích?

7 Ðịnh nghĩa, phân loại và mô tả đá biến chất?

Trang 26

tự nhiên và nhân tạo

Sự tác động của các yếu tố làm cho khoáng vật và đá bị phá huỷ tạo thành mẫu chất Sinh vật tác động lên mẫu chất làm cho mẫu chất được tích luỹ chất hữu cơ, dần dần biến đổi tạo nên thể vật chất gọi là đất

Ðất là một sản phẩm đặc biệt được hình thành do sự tác động của khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, năng lượng bức xạ mặt trời lên bề mặt thạch quyển (vỏ Trái Ðất)

1 Quá trình phong hoá khoáng vật, đá và sản phẩm của nó

1.1 Quá trình phong hoá khoáng vật và đá

Dưới sự tác động của nước, các chất khí như O2, CO2 và nguồn năng lượng bức xạ mặt trời, các khoáng vật và đá lộ ra ở phía ngoài cùng của vỏ Trái Ðất bị phá huỷ Quá trình phá huỷ khoáng vật và đá được gọi là quá trình phong hoá Có 3 loại phong hoá đá và khoáng vật là phong hoá vật lý, phong hoá hoá học và phong hoá sinh học Sự phân chia các loại phong hoá chỉ là tương đối vì trong thực tế các yếu tố ngoại cảnh đồng thời tác động lên đá và khoáng vật, do vậy 3 loại phong hoá đồng thời cùng diễn ra Các quá trình phong hoá liên quan mật thiết và

hỗ trợ cho nhau, tuỳ điều kiện cụ thể mà một trong 3 quá trình xảy ra mạnh hơn

a Phong hoá vật lý

Phong hoá vật lý là sự vỡ vụn của các loại đá thành các hạt cơ giới

có kích thước khác nhau nhưng chưa có sự thay đổi về thành phần

khoáng vật, thành phần hoá học của các đá ban đầu

Nguyên nhân gây nên việc phá vỡ khoáng vật và đá là do sự thay đổi của nhiệt độ, áp suất và sự tác động của các hoạt động địa chất ngoại lực như nước chảy, gió thổi xảy ra trên bề mặt vỏ Trái Ðất

Trang 27

Sự thay đổi nhiệt độ làm cho các khoáng vật có trong đá bị giãn nở không đều dẫn đến kết quả đá bị vỡ ra Các khoáng vật khác nhau có hệ

số giãn nở rất khác nhau

Ví dụ:

Tên khoáng vật Hệ số giãn nở

Thạch anh Octoclaz Mica Canxit

0,00031 0,00017 0,00035 0,00020

Một loại đá được cấu tạo bởi nhiều khoáng vật khác nhau, do đó nhiệt độ thay đổi các khoáng vật co giãn không giống nhau làm đá bị vỡ vụn Như vậy thành phần khoáng vật của đá càng nhiều thì đá càng dễ bị

vỡ vụn Những đá cấu tạo bởi một loại khoáng vật (đá đơn khoáng) cũng

bị vỡ do hệ số nở dài theo các phương khác nhau Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm, giữa các mùa trong năm càng lớn thì phong hoá vật lý diễn ra càng mạnh Ví dụ, vùng sa mạc thường có sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn nên vào ban đêm có thể nghe được tiếng nổ vỡ của đá trong vùng

Trong đá thường có các lỗ hổng và các vết nứt nguyên sinh chứa đầy khí hay nước Khi nhiệt độ xuống thấp dưới OoC, nước ở thể lỏng chuyển thành thể rắn (nước đóng băng) làm tăng thể tích tạo áp suất lớn

có khi tới hàng ngàn atmôtphe lên thành khe nứt làm cho đá bị vỡ ra

Các mảnh vụn sinh ra có thể di chuyển đi nơi khác theo dòng nước chảy hoặc gió thổi sẽ phá huỷ các đá trên đường di chuyển của chúng

Phong hoá vật lý có tính chất tiên phong, tạo điều kiện thuận lợi cho phong hoá hoá học và sinh học

b Phong hoá hoá học

Do sự tác động của H2O, O2, CO2 các khoáng vật và đá bị phá huỷ, thay đổi về hình dạng, kích thước, thành phần và tính chất hoá học

Có thể nói, phong hoá hoá học chính là các phản ứng hoá học diễn ra do

sự tác động của H2O, O2, CO2 lên đá và khoáng vật

Trang 28

Phong hoá hoá học được chia thành 4 quá trình chính là: Ôxy hoá, hyđrat hoá, hoà tan và sét hoá

+ Quá trình ôxy hoá:

Quá trình này phụ thuộc chặt chẽ vào sự xâm nhập của O2 tự do trong không khí và O2 hoà tan trong nước Quá trình ôxy hoá làm cho khoáng vật và đá bị biến đổi, bị thay đổi về thành phần hoá học

dụ Mangan

+ Quá trình hyđrát hoá:

Là quá trình nước tham gia vào mạng lưới tinh thể của khoáng vật, thực chất đây là quá trình nước kết hợp với khoáng vật làm thay đổi thành phần hoá học của khoáng vật

Ví dụ:

CaSO4 CaSO4.2H2O Anhyđrit Thạch cao

Fe2O3 Fe2O3.nH2O Hêmatít Limonit

+ Quá trình hoà tan:

Là quá trình các khoáng vật và đá bị hoà tan trong nước Hầu như tất cả các khoáng vật và đá bị hoà tan trong nước, nhưng mạnh nhất là các khoáng vật của lớp cácbônát và lớp muối mỏ

Ví dụ: CaCO3 (đá vôi) bị hoà tan như sau:

CaCO3 + H2O + CO2  Ca(HCO3)2Các khoáng vật và đá bị hoà tan tạo thành các dung dịch thật

+ Quá trình sét hoá:

+ 2 H2O

+ n H2O

Trang 29

Các khoáng vật silicat, nhôm silicat do tác động của H2O, CO2 sẽ

bị biến đổi tạo thành các khoáng sét (keo sét) Các chất kiềm và kiềm thổ trong khoáng vật bị H+ chiếm chỗ trong mạng lưới tinh thể được tách ra dưới dạng hoà tan Như vậy thực chất của quá trình sét hoá là các quá trình hoà tan, hyđrát hoá chuyển các khoáng vật silicát, nhôm silicat thành các khoáng vật thứ sinh, các muối và oxýt

c Phong hoá sinh học

Hoạt động của sinh vật bậc thấp, bậc cao cũng tham gia phá huỷ các khoáng vật và đá Rễ cây xuyên vào các khe nứt hút nước và các chất khoáng, theo thời gian, rễ to dần phá vỡ đá Mặt khác rễ cây tiết

H2O và CO2 tạo H2CO3 để hoà tan đá và khoáng vật Khi chết xác sinh vật bị phân huỷ sinh ra các axit hữu cơ góp phần hoà tan các khoáng vật

và đá Do vậy, bản chất của phong hoá sinh học là phong hoá vật lý và hoá học do sự tác động của sinh vật lên khoáng vật và đá Cũng trong quá trình này mẫu chất được tích luỹ chất hữu cơ do xác sinh vật để lại sau khi chết, làm cho mẫu chất xuất hiện những thuộc tính mới được gọi chung là độ phì và mẫu chất biến đổi thành đất Nhà khoa học nổi tiếng người Nga Vecnatxki cho rằng: "Hoạt động hoá học của vỏ Trái Ðất, gần 99% có liên quan tới quá trình sinh hoá học"

1.2 Sản phẩm phong hoá, vỏ phong hoá

a Sản phẩm và vỏ phong hoá

+ Sản phẩm phong hoá: Các sản phẩm phong hoá là kết quả của

quá trình phá huỷ các khoáng vật và đá, do vậy chúng rất phong phú và

đa dạng Phong hoá vật lý tạo thành các hạt vô cơ có kích thước khác nhau Phong hoá hoá học tạo thành các hợp chất dễ tan, oxyt, Hydrôxit

và các loại keo sét Phong hoá sinh vật ngoài sự tạo thành các sản phẩm trên còn tạo sự tích luỹ chất hữu cơ trong mẫu chất

+ Vỏ phong hoá: các loại sản phẩm phong hoá tích đọng lại tạo

thành vỏ phong hoá Vỏ phong hoá là lớp vật chất nằm ở phía ngoài cùng

Trang 30

của vỏ Trái Ðất Sản phẩm phong hoá biến đổi tạo thành mẫu chất, mẫu chất chịu tác động sâu sắc của sinh vật dần dần trở thành đất

b Các loại vỏ phong hoá

Căn cứ vào quá trình tích luỹ, thành phần và tính chất, vỏ phong hoá được chia thành vỏ phong hoá tại chỗ và vỏ phong hoá trầm tích

+ Vỏ phong hoá tại chỗ:

Các sản phẩm phong hoá tích luỹ ngay trên đá gốc (đá mẹ) tạo thành vỏ phong hoá tại chỗ Vỏ phong hoá tại chỗ có các loại sau:

- Vỏ phong hoá vụn thô: các mảnh vụn cơ học có kích thước lớn tích luỹ ngay trên đá gốc, gặp ở vùng xói mòn mạch

- Vỏ phong hoá Feralit: phổ biến ở vùng ôn đới có khí hậu ôn hoà Hầu hết khoáng vật silicát, nhôm silicát đều hoá sét, các muối dễ tan của các chất kiềm và kiềm đất có rất ít do bị rửa trôi mạnh Các khoáng vật nguyên sinh còn lại đều là khoáng vật bền vững như thạch anh - SiO2

- Vỏ phong hoá alít: Phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, phong hoá diễn ra mạnh, khoáng vật nguyên sinh gặp phổ biến là thạch anh, thành phần chính là các hợp chất của nhôm

+ Vỏ phong hoá trầm tích

Sản phẩm phong hoá di chuyển theo dòng nước chảy hay cuốn theo gió thổi, được tích luỹ lại khi gặp các điều kiện thuận lợi tạo thành

vỏ phong hoá trầm tích Vỏ phong hoá trầm tích có các loại sau:

- Vỏ phong hoá trầm tích Sialit: chủ yếu là sét, các keo sét, ngoài

ra còn có limon cát Khoáng vật nguyên sinh có thạch anh, Fenspat

- Vỏ phong hoá cacbonat - Sialit: Thành phần giống vỏ phong hoá trầm tích Sialit nhưng có chứa một lượng CaCO3 nhất định

- Vỏ phong hoá Clorua, Sunphát, Cacbonát - Sialit: Thành phần giống 2 loại vỏ phong hoá trầm tích Sialít, Cacbonat - Sialít và có chứa thêm các muối Clorua Sunphát của các chất kiềm và kiềm đất

Theo viện sĩ Pôlưnốp có 3 loại mẫu chất là tàn tích (êluvi), sườn tích (đêluvi) và phù sa (aluvia) Tàn tích là sản phẩm phong hoá tích đọng tại chỗ ngay trên đá gốc, thường bị rửa trôi và xói mòn mạnh

Sườn tích là sản phẩm phong hoá bị cuốn trôi từ trên đỉnh đồi, đỉnh núi xuống tích tụ ở sườn hay chân đồi, núi Do vậy sườn tích còn gọi là sản phẩm dốc tụ Phù sa là sản phẩm tích đọng từ các sản phẩm được cuốn

Trang 31

trôi do dòng nước chảy, thành phần phù sa phức tạp và khác xa so với đá gốc

+ Vỏ phong hoá ở Việt Nam

Theo V.M.Fritland, Việt Nam có các loại vỏ phong hoá sau:

- Vỏ phong hoá Feralit: Phổ biến ở vùng trung du và núi thấp, các khoáng vật thứ sinh chủ yếu là Kaolinit, gipxit, gơtit Trên vỏ phong hoá này hình thành nên nhóm đất Feralit - đất đỏ vàng ở nước ta

- Vỏ phong hoá alit: gặp ở vùng núi cao từ 1700m trở lên, điển hình nhất là ở độ cao > 2000m Khí hậu ẩm ướt, sắt bị rửa trôi mạnh nhưng nhôm được tích luỹ do không bị rửa trôi như sắt

- Vỏ phong hoá Macgalit - Feralit: Gặp ở Phủ Quỳ Nghệ An trên

Docuchaev, các nhà thổ nhưỡng học bổ sung thêm một yếu tố nữa là sự tác động của con người trong sự hình thành đất

2.1 Ðá mẹ và mẫu chất

Các đá lộ ra ở phía ngoài cùng của vỏ Trái Ðất bị phong hoá liên tục cho ra các sản phẩm phong hoá và tạo thành mẫu chất Ðược sự tác động của sinh vật, mẫu chất biến dổi dần dần để tạo thành đất Thành phần khoáng vật, thành phần hoá học của đá quuyết định thành phần mẫu chất và đất Ðá bị phá huỷ để tạo thành đất được gọi là đá mẹ

Trang 32

Ðá mẹ là cơ sở vật chất ban đầu và cũng là cơ sở vật chất chủ yếu trong sự hình thành đất Các loại đá mẹ khác nhau có thành phần khoáng vật và hoá học khác nhau, do vậy trên các loại đá mẹ khác nhau hình thành nên các loại đất khác nhau

Trong việc nghiên cứu, phân loại đất vùng đồi núi Việt Nam chúng

ta thường dựa vào cơ sở đầu tiên là đá mẹ

Về mẫu chất, cần phân biệt rõ 2 loại: mẫu chất tại chỗ và mẫu chất phù sa Mẫu chất tại chỗ hình thành ngay trên đá mẹ, có thành phần và tính chất giống đá mẹ Mẫu chất phù sa được lắng đọng từ vật liệu phù

sa của hệ thống sông ngòi nên có thành phần rất phức tạp Ngoài ra ở vùng đồi núi còn gặp mẫu chất dốc tụ

Sự phân biệt giữa mẫu chất và đất có tính chất tương đối, nhiều trường hợp rất khó phân biệt Mẫu chất phù sa ở Việt Nam thực chất là nhóm đất phù sa có nhiều tính chất tốt của nước ta

Khi chưa có sự sống xuất hiện trên Trái Ðất, quá trình phá huỷ đá mẹ diễn ra theo chu trình:

phá huỷ biến đổi

và chuyển mẫu chất thành đất Tham gia vào quá trình hình thành đất có nhiều loại sinh vật khác nhau nằm trong 3 ngành chính là thực vật màu xanh, động vật và vi sinh vật

+ Vai trò của thực vật:

Trang 33

Thực vật là nguồn cung cấp chất hữu cơ chủ yếu cho mẫu chất và đất Khoảng 4/5 chất hữu cơ trong đất có nguồn gốc từ thực vật Trong hoạt động sống của mình, các loài thực vật hút nước và các chất khoáng trong mẫu chất và đất, đồng thời nhờ quá trình quang hợp tạo thành các chất hữu cơ trong cơ thể Sau khi chết, xác của chúng rơi vào mẫu chất

và đất bị phân giải trả lại các chất lấy từ đất và bổ sung thêm cácbon, nitơ tạo thành chất hữu cơ trong mẫu chất Sự tích luỹ chất hữu cơ làm cho mẫu chất xuất hiện độ phì và chuyển thành đất Chu kỳ đất - cây

- đất diễn ra liên tục trong tự nhiên làm cho độ phì đất tăng dần

Thực vật gồm các loại cây trong tự nhiên và hệ thống cây trồng trong sản xuất nông - lâm nghiệp Dưới các kiểu rừng khác nhau gặp các loại đất có độ phì rất khác nhau Ví dụ: đất dưới rừng tre, nứa hoặc trảng

cỏ có độ phì thấp hơn đất dưới rừng cây lá rộng

Một số loài thực vật được dùng làm cây chỉ thị cho một số tính chất đất Ví dụ: cây sim, cây mua là cây chỉ thị cho đất chua, cây sú vẹt chỉ thị của đất mặn v.v

Ðộng vật sống trong đất có nhiều loài như: giun, kiến, mối Giun đất có vai trò rất lớn trong sự tạo độ phì đất Theo Russell, một hecta đất tốt có thể có tới 2.500.000 cá thể các loại giun Giun ăn đất, phân giun là các hạt kết viên bền vững làm cho đất tơi xốp Khi chết xác chúng được phân giải cung cấp nhiều nitơ và các chất khoáng cho đất

Ðộng vật góp phần bổ sung chất hữu cơ và làm tăng độ phì đất

+ Vai trò của vi sinh vật

Tập đoàn vi sinh vật trong đất rất phong phú với nhiều chủng loại khác nhau Về số lượng có thể có tới hàng trăm triệu con trong một gam đất

Các kết quả nghiên cứu cho thấy rất nhiều quá trình diễn ra trong đất có sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của tập đoàn vi sinh vật đất

Trang 34

Quá trình phân giải xác hữu cơ, quá trình hình thành mùn, quá trình chuyển hoá đạm trong đất, quá trình cố định đạm từ khí trời trải qua nhiều phản ứng, nhiều giai đoạn, mỗi phản ứng đều có sự tham gia của một loài sinh vật cụ thể

Hầu hết các loài vi sinh vật đều sinh sản theo cách tự phân nên lượng sinh khối tạo ra trong đất lớn, sau khi chết xác các loài vi sinh vật

bị phần giải góp phần cung cấp chất hữu cơ và tạo độ phì đất

Như vậy, sau khi sự sống xuất hiện, giới sinh vật đã có những tác động sâu sắc về nhiều mặt tới mẫu chất để chuyển mẫu chất thành đất, sinh vật tiếp tục tác động với đất để đất ngày càng phát triển Nói cách khác nếu không có sinh vật thì chưa có đất, vì vậy các nhà khoa học cho rằng sinh vật là yếu tố quyết định trong sự hình thành đất

2.3 Khí hậu

Các đặc trưng của khí hậu như nhiệt độ, ẩm độ không khí, lượng mưa ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành đất

+ Ảnh hưởng trực tiếp: khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến phong hoá

đá, sự thay đổi nhiệt độ tạo sự phá huỷ vật lý, lượng mưa và chế độ mưa ảnh hưởng tới phong hoá vật lý và hoá học Nhiều quá trình diễn ra trong đất như khoáng hoá, mùn hoá, rửa trôi, xói mòn chịu sự tác động

rõ rệt của khí hậu

Những vùng có lượng mưa > bốc hơi, lượng nước thừa sẽ di

chuyển trên mặt đất và thấm sâu xuống đất tạo nên các quá trình xói mòn và rửa trôi Các nguyên tố kiềm, kiềm đất rất dễ bị rửa trôi, do vậy lượng mưa càng lớn đất bị hoá chua càng mạnh Mối tương quan giữa lượng mưa và độ chua được thể hiện ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Ảnh hưởng của lượng mưa đến độ chua của đất

(Theo Jenny - Bán đảo Mabrikia)

Lượng mưa

hàng năm (mm)

Nhiệt độ (oC)

H+ (me/100g đất)

Tổng cation kiềm trao đổi (me/100g

Trang 35

3200-3800 20,6 19,6 4,0 5,6

+ Ảnh hưởng gián tiếp: Ảnh hưởng gián tiếp của khí hậu thông qua yếu tố sinh vật, khí hậu góp phần điều chỉnh lại yếu tố sinh vật Mỗi đới khí hậu trên Trái Ðất có các loài thực vật đặc trưng Ví dụ: thực vật đặc trưng của khí hậu nhiệt đới là cây lá rộng, thực vật đặc trưng của khí hậu

ôn đới là các cây lá kim V.V.Docuchaev đã phát hiện ở mỗi đới khí hậu có những loại đất đặc thù riêng

2.4 Ðịa hình

Ðịa hình cũng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành đất

+ Ảnh hưởng trực tiếp: Các đặc trưng của địa hình như dáng đất,

độ cao, độ dốc ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều quá trình diễn ra trong đất Vùng đồi núi, vùng cao ở đồng bằng quá trình rửa trôi xói mòn diễn

ra mạnh Ngược lại trong các thung lũng ở vùng đồi núi hoặc vùng trũng

ở đồng bằng diễn ra quá trình tích luỹ các chất Lượng nước trong đất cũng phụ thuộc địa hình; vùng cao thường thiếu nước, quá trình ôxy hoá diễn ra mạnh; Vùng trũng thường dư ẩm, quá trình khử chiếm ưu thế kết quả ở các địa hình khác nhau hình thành nên các loại đất khác nhau

+ Ảnh hưởng gián tiếp: địa hình ảnh hưởng gián tiếp đến sự hình thành đất thông qua yếu tố khí hậu và sinh vật Càng lên cao nhiệt độ càng giảm dần theo quy luật độ cao tăng 100 m, nhiệt độ giảm 0,5oC, đồng thời ẩm độ tăng lên Sự thay đổi khí hậu kéo theo sự thay đổi của sinh vật Ở các độ cao khác nhau có các đặc trưng khí hậu và sinh vật khác nhau Các nhà thổ nhưỡng đã phát hiện được quy luật phát sinh đất theo độ cao Năm 1968, Cao Liêm đã tìm ra quy luật hình thành đất theo

độ cao trên dãy núi Hoàng Liên Sơn như sau:

Ðộ cao (m)

Dưới 1000 m 1000-1800 m 1800-2300 m 2300-2900 m

> 2900 m

Loại đất

Ðất Feralít Ðất Feralít - mùn trên núi Ðất mùn alít trên núi cao Ðất mùn thô trên núi Ðất mùn thô than bùn trên núi

Trang 36

2.5 Thời gian

Thời gian là tuổi của đất, gồm tuổi tuyệt đối và tuổi tương đối Tuổi tuyệt đối được tính từ khi mẫu chất được tích luỹ chất hữu cơ (cacbon hữu cơ) đến ngày nay, nói cách khác tuổi tuyệt đối chính là tuổi cacbon hữu cơ trong đất hay là tuổi mùn của đất Ðể xác định tuổi của mùn, dùng phương pháp phóng xạ cacbon C12 có 2 đồng vị phóng xạ là

C13 và C14, trong cơ thể sống của thực vật tỷ lệ C13 và C14 là một hằng số

và giống trong khí quyển Sau khi chết C14 không bền và bị phân huỷ giảm dần, từ lượng C14 còn lại trong mùn dựa vào chu kỳ bán phân rã của C14, tính được tuổi của mùn trong đất Bằng phương pháp trên,

Devries (1958) đã xác định tuổi của đất vàng (hoàng thổ) ở Úc từ 32-42 ngàn năm

Tuổi tương đối của đất được dùng để đánh giá sự phát triển và biến đổi diễn ra trong đất nên không tính được bằng thời gian cụ thể Dựa vào hình thái đất để có các nhận xét về hình thành và phát triển của đất Ví dụ: Sự phân tầng chưa rõ của phẫu diện thường gặp ở những loại đất mới được hình thành Sự hình thành kết von hoặc đá ong trong một số loại đất đỏ vàng chứng tỏ đất đã phát triển tới mức cao (già hơn) so với đất cùng loại chưa có kết von

2.6 Con người

Con người đã có những tác động rất sâu sắc đối với các vùng đất được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Sự tác động về nhiều mặt trong quá trình sử dụng đất đã làm biến đổi nhiều vùng theo các hướng khác nhau, hình thành nên một số loại đất đặc trưng Ví dụ: Ðất phù sa, đất xám bạc màu, đất mặn, đất phèn sau một thời gian sử dụng gieo trồng lúa nước sẽ hình thành nên đất lúa nước

Những tác động tốt của con người như: Bố trí cây trồng phù hợp với tính chất đất; xây dựng các công trình thuỷ lợi; đắp đê ngăn lũ và nước mặn; bổ sung chất dinh dưỡng trong đất bằng các loại phân bón; bảo vệ đất; cải tạo tính chất xấu của đất làm cho đất biến đổi theo

chiều hướng tốt dần lên Ngược lại, những tác động xấu như: Bố trí cây trồng không phù hợp; bón phân không đầy đủ; chặt phá rừng làm nương rẫy; không thực hiện tốt các biện pháp chống thoái hoá đất sẽ làm cho đất biến đổi theo chiều hướng xấu

Trang 37

Sự tác động tổng hợp của các yếu tố hình thành đất sẽ quyết định các quá trình hình thành và biến đổi diễn ra trong đất Những quá trình hình thành phổ biến trong tự nhiên:

- Quá trình hình thành đất sơ sinh

- Quá trình tích luỹ chất hữu cơ và mùn trong đất

- Quá trình tích luỹ sắt, nhôm trong đất

- Quá trình rửa trôi, xói mòn đất

- Quá trình glây

- Quá trình hoá chua, phèn, nhiễm mặn

- Quá trình lắng đọng vật liệu phù sa

3 Hình thái đất

Hình thái thể hiện ở phẫu diện đất, nói cách khác hình thái đất là phẫu diện đất Phẫu diện đất là mặt cắt thẳng đứng từ trên mặt đất xuống dưới sâu

3.1 Cấu tạo phẫu diện đất

Quan sát phẫu diện đất, từ trên mặt xuống dưới sâu thường có các tầng đất khác nhau về: màu sắc, thành phần cơ giới, độ chặt, độ xốp, mức độ

đá lẫn, sự phân bố rễ cây trồng, độ ẩm

Vậy tầng đất là gì? Tầng đất là những lớp đất nằm song song hay gần song song với bề mặt đất, các tầng đất được phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu có thể quan sát, đo đếm tại thực địa hoặc thông qua phân tích trong phòng

Tầng đất trong phẫu diện là kết quả của một hay một số quá trình hình thành hoặc biến đổi diễn ra trong đất, vì vậy tầng đất thường được gọi là tầng phát sinh Như vậy, nghiên cứu phẫu diện đất giúp ta chẩn đoán được quá trình phát sinh đất Tầng phát sinh là cơ sở để tiến hành phân loại đất theo phát sinh, tầng phát sinh được định lượng các tính chất gọi là tầng chẩn đoán trong phân loại đất theo phương pháp định lượng

V.V Docuchaev là người đầu tiên dùng các ký tự là chữ cái in hoa

ký hiệu cho các tầng đất, theo ông từ trên mặt xuống dưới sâu có 3 tầng

cơ bản là A, B, C Tầng A là lớp đất trên cùng (còn gọi là tầng mặt, tầng canh tác), đây là tầng tích luỹ chất hữu cơ và mùn, đồng thời tầng A

Trang 38

cũng là tầng rửa trôi, tuỳ mức độ nghiên cứu mà tầng A được chia thành Aoo, Ao (tầng thảm mục), A1, A2, A3 Tầng B là tầng tích tụ các chất rửa trôi từ tầng A xuống, có thể được chia thành B1, B2, B3 Tầng C là tầng mẫu chất nằm ngay trên đá mẹ phát sinh ra đất

Hiện nay, các nhà khoa học đất đề nghị bổ sung thêm một số tầng đất Theo Soil Taxonomy và FAO-UNESCO, trong phẫu diện có các tầng lần lượt từ trên xuống dưới như sau: tầng O, tầng H, các loại tầng

A, tầng E, các loại tầng B và tầng C (một phẫu diện đất không nhất thiết phải có đủ tầng đất nêu trên)

Cấu tạo phẫu diện điển hình đất Việt Nam được thể hiện ở hình sau:

là độ dày tầng đất

B

C

D Hình 2.1 Cấu tạo phẫu diện đất vùng đồi núi:

+ Vùng đồng bằng: Ðiển hình là phẫu diện đất lúa nước, thể hiện ở hình 2.2:

AC AC: Tầng canh tác (còn gọi là tầng

A), tầng này càng dày, đất càng tốt

P P: Tầng đế cày: nằm ngay dưới tầng

canh tác

B

B: Tầng tích tụ có màu loang lổ đỏ vàng, tầng này tích tụ các chất rửa trôi từ trên xuống, ngoài ra còn tích

tụ một số chất từ nước ngầm đem lên, nên tầng B đất đồng bằng có tích tụ 2 chiều

Trang 39

G G: Tầng glây có màu xanh xám hoặc

xám xanh

Hình 2.2 Cấu tạo phẫu diện đất lúa nước

3.2 Màu sắc đất, chất mới sinh và chất lẫn vào

a Màu sắc đất

Màu sắc đất thay đổi rất phức tạp, trong một phẫu diện các tầng thường có màu sắc khác nhau Các loại đất cũng có màu sắc khác nhau Màu sắc đất thay đổi theo độ ẩm Màu sắc của đất được tạo bởi 3 nền màu chính là đen, đỏ và trắng Thành phần và tính chất đất quyết định màu sắc của đất

Màu đen của đất chủ yếu do mùn tạo nên, do vậy mùn càng nhiều đất càng đen và độ phì càng lớn Ngoài mùn còn có một số hợp chất hoá học có màu đen như oxyt Mangan - MnO2

Màu đỏ của đất chủ yếu do oxyt sắt - Fe2O3 tạo nên, nếu oxyt sắt ngậm nước chúng sẽ có màu vàng Ðại bộ phận đất vùng đồi núi và vùng

có địa hình cao ở đồng bằng Việt Nam có màu đỏ vàng hay loang lổ đỏ vàng chủ yếu do Fe2O3 và Fe2O3.nH2O tạo nên

Màu trắng của đất chủ yếu do thạch anh (SiO2), Canxi Cacbonát (CaCO3) và Kaolinit tạo nên Những đất có màu trắng thường chứa

nhiều SiO2, rất nghèo mùn và các chất dinh dưỡng Ðất xám bạc màu ở Việt Nam có màu trắng hoặc xám trắng

Những vùng đất luôn dư ẩm (đất có độ ẩm bão hoà) quá trình khử diễn ra mạnh, sắt tồn tại trong đất ở dạng khử trong các hợp chất như: FeO.nH2O, Fe(HCO3)2, Fe(OH)2 làm cho đất có màu xanh xám hoặc xám xanh, đây chính là quá trình glây trong đất

Sự phối hợp giữa 3 màu đen, đỏ và trắng cho ra nhiều màu khác nhau Zakharốp đã xây dựng một tam giác màu với 3 đỉnh là đen, đỏ và trắng Ngày nay, các nhà khoa học đất thế giới đã xây dựng một thang màu chuẩn của đất - thang màu Munsel Màu của đất đã được định

lượng theo hệ thống màu cụ thể rất thuận lợi cho việc mô tả màu sắc của đất

Trang 40

b Chất mới sinh và chất lẫn vào

Những vật liệu như mảnh bom đạn, mảnh sành sứ, gạch ngói gặp trong đất được gọi là chất lẫn vào Những chất lẫn vào không có ý nghĩa với quá trình phát sinh đất nhưng có thể giúp chúng ta có những nhận xét về tình hình sử dụng đất trước đây

Các chất trong đất như: mùn, các hợp chất sắt hoá trị 3, các hợp chất sắt hoá trị 2, các loại muối tan trong đất, phèn sắt, nhôm là kết quả của quá trình hình thành và biến đổi trong đất được gọi là những chất mới sinh Các chất mới sinh là căn cứ, là cơ sở giúp chúng ta có kết luận chính xác về quá trình hình thành và biến đổi diễn ra trong đất

Câu hỏi ôn tập

1 Quá trình phong hoá khoáng vật và đá? Liên hệ với thực tiễn Việt Nam?

2 Vỏ phong hoá là gì? Vỏ phong hoá ở Việt Nam?

3 Các yếu tố hình thành đất? Liên hệ với thực tiễn Việt Nam?

4 Những quá trình hình thành và biến đổi đất?

5 Phẫu diễn đất là gì? Cấu tạo của phẫu diện đất? Phẫu diện điển hình của đất vùng đồng bằng và đồi núi Việt Nam?

6 Ý nghĩa của màu sắc, chất mới sinh và chất lẫn vào trong đất?

Ngày đăng: 07/02/2021, 21:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w