Có thể thấy nghề vẽ tranh trên kính đang đứng trước nguy cơ thất truyền và mai một, nếu như không có được các biện pháp tiêu thụ, quảng bá để các sản phẩm truyền thống dân gian mang đậm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG NGHỆ THUẬT
Mã số: MHN 2019 - 13
Chủ nhiệm đề tài : ThS Nguyễn Thị Bích Liễu
Hà Nội, tháng 12/2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG NGHỆ THUẬT
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
STT Học hàm, học vị
Họ tên tác giả Vai trò Chức vụ, cơ quan công tác
1 ThS Nguyễn Thị Bích Liễu
Chủ nhiệm đề tài
Giảng viên Khoa Tạo dáng công nghiệp Trường Đại học Mở Hà Nội
2 ThS Đỗ Thị Thanh Huyền Thành
viên
Chuyên viên Khoa Tạo dáng công nghiệp Trường Đại học Mở Hà Nội
3 HS Đỗ Thị Kim Hiên Thành
viên
Chuyên viên Khoa Tạo dáng công nghiệp Trường Đại học Mở Hà Nội
4 ThS Kim Duy Văn Thành
viên
Giảng viên Khoa Tạo dáng công nghiệp Trường Đại học Mở Hà Nội
Trang 4MỤC LỤC
Trang
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU……….1
MỤC LỤC……… 2
DANH MỤC HÌNH ẢNH ………4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……… ………… 6
MỞ ĐẦU……… ………… 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 8
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU……… 13
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT KÍNH MÀU……… 13
1.1 Thuật ngữ kính màu 13
1.2 Sự hình thành và phát triển của tranh kính màu 14
1.3 Tranh kính du nhập vào Việt Nam 21
Kết luận chương 1 23
Chương 2 THỰC TRẠNG TRANH KÍNH VIỆT NAM………25
2.1 Giới thiệu một số dòng tranh kính ở Việt Nam 25
2.1.1 Tranh gương cung đình Huế……… …25
2.1.2 Tranh kính thủ công ở Nam Bộ……….29
2.2 Thực trạng tranh gương cung đình Huế và nghề vẽ tranh kính thủ công ở Nam Bộ 39
2.2.1 Tranh gương cung đình Huế……… 39
2.2.2 Nghề vẽ tranh kính thủ công ở Nam Bộ……… 40
Kết luận chương 2 45
Chương 3 ỨNG DỤNG NGHỆ THUẬT TRANH KÍNH VÀO SẢN PHẨM TRANG TRÍ NỘI THẤT NHÀ Ở HIỆN NAY………46
3.1 Nhu cầu sử dụng kính màu trang trí không gian 46
3.2 Kính màu trong không gian nội thất hiện nay 48
3.2.1 Cửa sổ kính màu……… 49
3.2.2 Trần kính màu 52
Trang 53.3 Ứng dụng nghệ thuật tranh kính thủ công vào trang trí nội thất cho nhà ở
53
3.3.1 Đèn gốm kết hợp kính màu……… 54
3.3.2 Tranh kính màu hoa sen……… 57
3.3.3 Vòng tròn trang trí……… 60
Kết luận chương 3 64
KẾT LUẬN/ KHUYẾN NGHỊ……….… 65
1 Kết luận 65
2 Khuyến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 67
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Mẫu Obsidian, thu thập gần Monte Pilato, đảo
Hình 1.3 Của sổ kính màu Tu viện Thánh Paul ở Jarrow,
Hình 1.4 Cửa sổ nhà thờ Hồi giáo Xanh 17
Hình 1.5 Các cửa sổ kính màu trong nhà thờ Cologne, Đức,
Hình 1.6 Một trong bốn tấm kính màu cao 64 mét (210 ft),
Hình 2.7 Tranh gương vẽ cảnh vườn Thiệu Phương 26
Hình 2.8 Tranh gương Vườn Thường Mậu 28
Hình 2.9 Tranh kính Chuẩn Đề, Chợ Lớn đầu thế kỷ XX 20
Hình 2.10 Cửu Thiên Huyền Nữ, tranh kiếng Lái Thiêu 33
Hình 2.11 Tranh Gà đàn, Lái Thiêu, sưu tập Nguyễn Anh Kiệt 34
Hình 2.12 Tranh thờ tổ tiên, An Giang 35
Hình 2.13 Tranh kiếng Khmer, Witsôwan trấn trạch 37
Hình 2.14 Một trong các bước vẽ tranh kiếng 41
Hình 3.17 Hiệu quả của tranh kính trong trang trí trần 46
Hình 3.18 Tô điểm cho những ô cửa sổ 47
Hình 3.19 Những mảng tranh kính được ghép, vẽ thủ công 48
Hình 3.20 Cửa sổ kính màu trong nhà ở 50
Hình 3.21 Cửa sổ kính màu trong nhà ở 51
Trang 7SỐ HIỆU TÊN HÌNH TRANG Hình 3.22 Trần kính màu trong khu vực cầu thang 52
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tranh kính màu được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa nhận định là một thành tố cấu thành nên đời sống tín ngưỡng, văn hóa và thẩm mỹ của người dân một số vùng ở Việt Nam
Tuy nhiên, ngày nay, theo cùng sự phát triển xã hội hiện đại, xuất hiện thêm vô số loại hình nghệ thuật mới, các dòng tranh mới Bên cạnh đó còn có
cả sự xuất hiện của tranh kính công nghiệp, tranh kính lụa ra đời đã thay thế cho nhiều dòng tranh kính thủ công vốn đã tồn tại hơn một thế kỷ Kiểu dáng, kích cỡ những dòng tranh kính cũng được thay đổi cho phù hợp Cùng với dòng chảy hiện đại, nghề làm tranh kính ở một số làng nghề cũng đang dần mai một theo thời gian
Ngày nay, những bức tranh kính thủ công cũng không còn được ưa chuộng như trước và chủ yếu được một số gia đình mua về làm tranh thờ Nhiều làng tranh kính vang danh giờ còn lác đác vài người bám trụ với nghề
Có thể thấy nghề vẽ tranh trên kính đang đứng trước nguy cơ thất truyền và mai một, nếu như không có được các biện pháp tiêu thụ, quảng bá để các sản phẩm truyền thống dân gian mang đậm bản sắc Việt có mặt trong và ngoài nước, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều người lao động và bảo tồn loại hình nghệ thuật lâu đời của Việt Nam
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Kính màu và nghề vẽ tranh thủ công trên kính ở Nam Bộ, Việt Nam
- Các sản phẩm trang trí nội thất từ tranh kính màu trong nhà ở hiện nay
Phạm vi nghiên cứu
- Một số địa điểm vẽ tranh kính thủ công ở Việt Nam
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Tổng hợp và phân tích lý thuyết
+ Phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát khoa học
+ Phân tích và tổng kết kinh nghiệm
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trang 11dân Nam Bộ Qua quá trình du nhập và phát triển, các họa sĩ, nghệ sĩ người nghệ nhân Việt đã biến tranh kính thành những tác phẩm phục vụ cho người
Việt, “các họa sĩ Việt Nam đã mượn chất liệu kính màu để chuyển tải bản
sắc, tinh thần dân tộc Việt” (Huỳnh Quang Cường) vào trong các tác phẩm
phục vụ người Việt trong cuộc sống hàng ngày Hiện nay, các sản phẩm tranh kính được sử dụng từ kiến trúc đến nội thất, các hình thức trang trí của nhiều loại hình công trình khác nhau: từ nhà ở, nhà hàng, café, khách sạn, các công trình công cộng nhằm phục vụ cho nhu cầu thưởng thức nghệ thuật và thị hiếu của người dân Việt Nam
Mặc dù không phải là loại hình nghệ thuật cổ và lâu đời của nước Việt Nhưng quá trình du nhập và phát triển tại Việt Nam đã chứng minh tranh kính nghệ thuật đã có sự đóng góp cho nền nghệ thuật nước nhà Hiện nay, tranh kính của Việt Nam đang phát triển với nhiều chủng loại tranh kính,
sử dụng trong nhiều loại hình công trình khác nhau và mang trong mình bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam
Du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỳ XIX, song các công trình nghiên cứu về đề tài nghệ thuật tranh kính của Việt Nam không nhiều, và chỉ dừng lại là những bài viết trên các sách, báo, tạp chí, khóa luận, luận văn tốt nghiệp, và chỉ dừng ở mức giới thiệu về nghệ thuật tranh kính nói chung, chưa đi sâu vào ứng dụng cụ thể
Ấn phẩm Nghệ thuật hoành tráng, nhóm tác giả Triệu Thúc Đan,
Nguyễn Quân, Phạm Công Thành, Nguyễn Trân, Nxb Văn hóa, năm 1981 Trong đó có nói đến tranh kính ghép màu ở các nhà thờ nước ngoài
Bài viết giới thiệu về loại hình tranh gương cung đình Huế trong cuốn
Mỹ thuật Huế, Nguyễn Tiến Cảnh Viện Mỹ Thuật - Trung tâm Bảo tồn Di
tích Cố đô Huế xuất bản, 1992, tr 107-109
Bài viết Tranh kính trong mấy lăng vua của tác giả Chu Quang Trứ
trong cuốn Văn hóa - Mỹ thuật Huế, Nxb Thuận Hóa, năm 1998, tr 124 - 125
đã giới thiệu sơ lược về một số bức tranh gương trong cung đình Triều nhà Nguyễn còn lại đến ngày nay
Trang 12Bài viết Tổng quan về tranh gương cung đình Huế Tạp chí Nghiên
cứu và Phát triển, năm 2001
Bài viết Tranh kính màu cuộc hành trình 1000 năm của tác giả Hoa
Nhi đăng trên Tạp chí Ngày nay, số cuối tháng 5, năm 2002, tr 38 - 42
Bài viết Nghệ thuật tranh kính của tác giả Nguyễn Hà đăng trên Tạp
chí Văn hóa nghệ thuật, số 12, năm 2004, tr 55-57
Bài viết Dùng tranh kính trong thiết kế và xây dựng nhà ở của tác giả
Bi Việt Hồi đăng trên Báo Tuổi trẻ, số 253, năm 2006, tr13
Khóa luận tốt nghiệp Nét đẹp của tranh kính màu trong không gian
kiến trúc của các nhà thờ tại Hà Nội, cử nhân Lê Mai Anh, Trường Đại học
Mỹ thuật Việt Nam, năm 2013
Luận văn thạc sỹ Tranh kính một hình thức hội họa mới, học viên Lê
Thị Yến, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, năm 2013
Khóa luận tốt nghiệp Tranh kính ghép màu, cử nhân Tạ Anh Thư,
Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội, năm 2013
Bài viết Nét Việt trong tranh kính màu của tác giả Huỳnh Quang
Cường đăng trong cuốn Mỹ thuật ứng dụng trên đường tìm về bản sắc Việt, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, năm 2015
Nguyễn Thanh (2015), “Tranh thờ Nam Bộ”, Tạp chí Văn học nghệ
thuật
Bài viết Nghệ thuật thủy tinh sớm ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Việt,
Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật, số tháng 3 năm 2016
Bài viết Đặc sắc tranh kính của tác giả Chu Mạnh Cường đăng trên
Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh, số tháng 3 năm 2017, giới thiệu chung về quá trình phát triển của tranh kính trên thế giới
Nước ngoài
Tranh kính ghép màu là loại hình nghệ thuật hình thành từ rất sớm trên thế giới và được bắt nguồn từ các nước phương Tây Trong tất cả các loại hình nghệ thuật của họa sĩ, loại hình kính ghép màu có lẽ là loại hình nghệ
thuật “độc đáo, lạ mắt và có ấn tượng” Độc đáo, lạ mắt và có ấn tượng
Trang 13không chỉ bởi sự sống động khi có sự chiếu dọi từ ánh sáng, mà còn bởi chất liệu, cấu trúc, cách thể hiện tương đối cồng kềnh, kỳ công và chiếm nhiều thời gian của các họa sĩ
Từ kính ghép màu là từ dùng để nói đến vật liệu thủy tinh màu và các sản phẩm được tạo ra từ cách ghép các thủy tinh màu lại với nhau Kính ghép màu được người phương Tây dùng sớm nhất trong hình thức trang trí cửa sổ của các nhà thờ, các tòa nhà tôn giáo quan trọng Ban đầu, kính ghép màu là những tấm thủy tinh phẳng, dùng làm cửa sổ Về sau, bằng sự sáng tạo của những họa sĩ, nghệ sĩ, kính ghép màu đã được sử dụng để tạo nên rất nhiều sản phẩm nghệ thuật độc đáo, lạ mắt và ấn tượng phục vụ cho con người
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, kính ghép màu tạo nên các tác phẩm trang trí trên cửa sổ được xem là một loại hình nghệ thuật, những cửa sổ kính màu trong các công trình nhà thờ, công trình tôn giáo vẫn tồn tại nguyên vẹn và uy nghi đến nay Nội dung mô tả trên các cửa sổ kính màu có thể được kết hợp từ những câu chuyện trong Kinh thánh, lịch sử hoặc văn học, miêu tả các thiên thần, thần thánh Các cửa sổ kính ghép màu trong một công trình thường có nội dung miêu tả theo một chủ đề, đề tài nào đó, chẳng hạn cửa sổ kính ghép màu trong nhà thờ thường miêu tả về các điển tích trong Kinh thánh, về cuộc đời của Chúa, của Đức Mẹ
Theo sự phát triển của xã hội, kính ghép màu về sau được con người
sử dụng trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác Kính ghép màu ngày càng được sử dụng phổ biến, được ứng dụng để trang trí trong nhiều công trình và trở thành những tác phẩm tranh kính Tranh kính màu không chỉ có ở các tác phẩm tranh kính nhà thờ, các bức tranh kính màu, nó còn được sử dụng cho các công trình nhà ở, khách sạn, nhà hàng nhằm mang lại vẻ đẹp độc đáo, sang trọng cho không gian Chủ đề và phong cách thể hiện tranh kính màu ngày càng đa dạng đã khiến cho tranh kính màu được yêu thích Từ những nội dung được mô tả trên các bức tranh kính màu, có thể thấy được những ý niệm, những mong ước, tâm tư tình cảm của con người, thể hiện văn hóa đương thời phản ánh trong mỗi tác phẩm Tranh kính màu là hình thức nghệ thuật tinh tế
sử dụng ánh sáng để phóng đại và làm lung linh vẻ đẹp huyền ảo cho các tác phẩm
Trang 14Các cuộc cách mạng công nghiệp đã ảnh hưởng đến sản xuất kính màu, các họa sĩ, nghệ sĩ không sử dụng kính màu do mình chế tác ra, họ chuyển sang sử dụng kính màu công nghiệp cho các tác phẩm của mình Với thành tựu của cách mạng công nghiệp, việc sản xuất kính màu công nghiệp có
sự cải thiện rõ rệt Chất lượng, màu sắc tốt và phong phú hơn, độ trong, độ bắt ánh sáng cao hơn
Trong suốt thế kỷ XX và đầu những năm đầu thế kỷ XXI, tranh kính màu phụ thuộc vào xu thế phát triển của kiến trúc hiện đại Nếu như trước đây tranh kính là một yếu tố quan trọng không thể thiếu nhằm xác lập yếu tố kiến trúc, thì nay vai trò đó không còn nữa mà trở thành một bộ phận của ngành kiến trúc
Trong lịch sử phát triển của mình, tranh kính màu cũng chịu ảnh hưởng của các trào lưu của mỹ thuật thế giới và mang đậm dấu ấn, cá tính của từng họa sĩ, từng vùng miền Kỹ thuật tranh kính cũng thay đổi và đa dạng hơn về thể loại, chất liệu, ngôn ngữ tạo hình Đây là sự thay đổi cần thiết để tranh kính màu tồn tại và phát triển theo nhu cầu của từng thời đại
(Huỳnh Quang Cường)
Trang 15NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
NGHỆ THUẬT KÍNH MÀU 1.1 Thuật ngữ kính màu
Kính màu là một loại vật liệu hoặc các tác phẩm được tạo ra từ kính Ở các nước phương Tây, trong suốt lịch sử hàng nghìn năm, thuật ngữ này đã được áp dụng gần như duy nhất cho các cửa sổ của nhà thờ và các công trình tôn giáo quan trọng trong xã hội Mặc dù kính màu ban đầu được sử dụng dưới dạng các tấm phẳng và được sử dụng làm cửa sổ, nhưng hiện nay, với sự sáng tạo của các nghệ sĩ kính màu hiện đại, kính màu còn được sử dụng ở các cấu trúc, trong kiến trúc, trang trí nội thất, và cả trong điêu khắc
Kính màu hình thành từ thủy tinh nóng chảy, được tạo màu bằng các oxit kim loại trong quá trình sản xuất Các màu sắc khác nhau được tạo ra từ các chất tạo màu khác nhau Điều đó cho phép các nghệ nhân chế tác được thủy tinh có màu sắc theo ý muốn Chẳng hạn, khi thêm oxit đồng vào thủy tinh nóng cháy, sẽ cho ra thủy tinh có tông màu xanh lá cây và xanh dương Khi các tấm thủy tinh nguội, các nghệ nhân đập các tấm thủy tinh với màu sắc khác nhau, sau đó ghép lại với nhau bằng các vật liệu như chì, đá và lá đồng
để tạo ra các tác phẩm tranh kính màu rực rỡ và huy hoàng khi có ánh sáng chiếu qua
Khởi nguồn của kính màu là từ thủy tinh, từ thời đồ đá con người đã biết
sử dụng thủy tinh tự nhiên Obsidian1
là một dạng thủy tinh tự nhiên (hình 1.1.), nó được hình thành từ sự phun trào của núi lửa Từ thủy tinh tự nhiên, con người đã biết chế tác vũ khí và các vật dụng hàng ngày
Hình 1.1 Mẫu Obsidian, thu thập gần Monte Pilato, đảo Lipari quần đảo
Aeilian, Sicily (nguồn ảnh Wikipedia)
1 Obsidian được tạo ra từ dung nham của ngọn núi lửa, sau khi nguội đi, nó cô đặc thành dạng tinh thể Nó
thường được tìm thấy bên trong các dòng dung nham rhyolitic được gọi là dòng obsidian, trong đó thành phần hóa học (hàm lượng silica cao) gây ra độ nhớt cao, khi gặp khí lạnh nhanh, tạo thành thủy tinh tự nhiên
từ dung nham
Trang 16Kính màu được coi là một trong những phương tiện truyền thông rực rỡ trong các loại hình nghệ thuật thể hiện của con người Hàng nghìn năm qua, các nghệ nhân đã tìm thấy nét đẹp của kính màu, nét đẹp độc đáo hình thành nên hình thức nghệ thuật tinh tế - sử dụng ánh sáng làm nổi bật vẻ đẹp của tác phẩm
1.2 Sự hình thành và phát triển của tranh kính màu
Thời cổ đại
Dù thủy tinh đã được sử dụng từ thời cổ đại, nhưng thời kỳ đó, việc sản xuất thủy tinh chưa được biết đến Pliny the Elder2, nhà sử học La Mã cổ đại cho rằng việc sản xuất thủy tinh đầu tiên diễn ra ở bờ biển Phoenician3, nơi
mà sau này phát triển thành một trong những trung tâm sản xuất thủy tinh lớn
Và Pliny the Elder cũng cho rằng những thương nhân của Phoenician đồng thời là những người tìm ra cách thức sản xuất thủy tinh
Bên cạnh Phoenicia, người Ai Cập cổ đại cũng biết đến việc sản xuất thủy tinh Những hạt thủy tinh tự nhiên nhỏ được người Ai Cập cổ đại sử dụng chế tác thành vũ khí, dây chuyền, hoặc sau này là đồ dùng hàng ngày như cốc, ly
Thời cổ đại, thủy tinh được làm từ cát thạch anh, và người xưa đã sử dụng một số chất hóa học để tạo màu cho thủy tinh Thủy tinh lúc này chỉ là những hạt nhỏ, hình chai, hoặc những hình dạng nhỏ, đơn giản, vì họ không thể thổi các hình dạng phức tạp hơn Thứ tạo ra màu sắc cho thủy tinh cổ đại là những tạp chất chứa trong đó Việc phát hiện ra sự pha trộn màu trong thủy tinh là bước phát triển tiếp theo trong quá trình tiến hóa của thủy tinh ở
Ai Cập
Sản xuất thủy tinh có nguồn gốc từ khu vực Palestine, và được phát triển cao thêm ở Ai Cập Kỹ thuật cơ bản được phát triển ở cả Ai Cập và
2 Pliny the Elder (AD 23-79) là người La Mã cổ đại, một nhà tự nhiên học, nhà triết học, nhà sử học, một chỉ
huy hải quân, quân đội của đế chế La Mã, và là một người bạn của hoàng đế Vespasian
Pliny đã viết cuốn bách khoa toàn thư Naturalis Historia (Lịch sử tự nhiên), trở thành mô hình đầu tiên của
bách khoa toàn thư
3
Phoenicia là nền văn minh Địa Trung Hải, thuộc khu vực ven biển của Lebanon ngày nay và bao gồm các
phần của miền bắc Israel, miền nam Syria đến tận phía bắc như Arwad
Trang 17Mesopotamia4 vào khoảng 1500 trước Công nguyên Thời cổ đại, chỉ những người rất giàu có mới có thể mua những đồ vật bằng thủy tinh, vì thời đó,
thủy tinh là vật liệu hiếm, và nó không có nhiều loại phong phú như ngày nay
Phải đến thế kỷ 1 trước công nguyên, khi người Syria phát minh ra ống thổi thủy tinh, lúc này mọi người có thể mua được các sản phẩm thủy tinh
Thời gian sau, người La Mã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển và phổ biến sản xuất thủy tinh Thời đó, họ xây dựng các lò thổi thủy tinh trên tất cả các thuộc địa của họ Từ đó, thủy tinh đã được sản xuất nhiều hơn, chủng loại và hình dạng đồ thủy tinh được đa dạng, phong
phú hơn: ví dụ Chiếc ly Lycurgus (hình 1.2) Ly Lycurgus là một vật làm
bằng thủy tinh lưỡng sắc, gắn kết bằng đồng mạ vàng Màu sắc của chiếc ly
sẽ thay đổi khác nhau tuỳ thuộc vào việc sử dụng ánh sáng chiếu qua nó: Ly
có màu đỏ khi thắp sáng từ phía sau và có màu xanh lá cây khi thắp sáng từ ở phía trước Đây là vật thể thủy tinh La Mã hoàn chỉnh duy nhất được làm từ loại kính này, và là vật thể hiện sự thay đổi ấn tượng nhất về màu sắc; nó đã
được mô tả là “chiếc ly thủy tinh ngoạn mục nhất thời kỳ”
Màu đỏ khi nhìn ngược sáng Chụp ảnh phía trước với đèn flash,
chiếc ly xuất hiện với màu xanh lục
Hình 1.2 Ly Lycurgus, thế kỷ thứ 4 (nguồn ảnh: Bảo tàng Anh - Phòng 41)
4 Mesopotamia là một khu vực lịch sử của Tây Á nằm trong hệ thống sông Euphrates của Tigris, ngày nay
gần tương ứng với hầu hết Iraq, Kuwait, khu vực phía đông của Syria, Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ và các khu vực dọc theo biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, Syria và Iran biên giới Iraq
Trang 18Đến thế kỷ thứ 7, các nhà sản xuất thủy tinh và các nghệ nhân hạn chế sản xuất đồ thủy tinh, đồ gốm, mà bắt đầu sáng tạo ra việc sản xuất thủy tinh
sử dụng cho cửa sổ Những cửa sổ kính màu này đã được sử dụng để tô điểm cho tu viện, và các công trình tôn giáo khác Tu viện Thánh Paul ở Jarrow, Anh là ví dụ sớm nhất được biết đến sử dụng cửa sổ kính màu (hình 1.3) Tòa nhà tu viện được thành lập vào năm 686, những mảnh vỡ của những cửa sổ kính màu tồn tại hàng thế kỷ này đã được khai quật bởi nhà khảo cổ Rosemary Cramp5 vào năm 1973 Màu sắc của cửa sổ kính màu này gồm màu xanh da trời, xanh lá cây và màu vàng
Hình 1.3 Của sổ kính màu Tu viện Thánh Paul ở Jarrow, Anh
(nguồn ảnh Wikipedia)
Đến thế kỷ thứ 8, kính màu đã phát triển và lan rộng đến Trung Đông Vào thời điểm này, ngành công nghiệp thủy tinh đang phát triển mạnh ở Iraq, Syria, Ai Cập và Iran Tại đây, các nghệ nhân đã tiếp nhận và điều chỉnh cách thức sử dụng, sản xuất của người La Mã cổ đại Họ sử dụng nó để tô điểm cho các nhà thờ Hồi giáo, cung điện và các mặt hàng chủ lực khác của kiến trúc Hồi giáo, với các cửa sổ có màu sắc và hoa văn phức tạp (hình 1.4) Hình thức cửa sổ kính màu này ngày càng phát triển và trở nên công phu theo thời gian Các nhà sử học tin rằng, phương pháp của người Hồi giáo trong việc sáng tạo
5 Dame Rosemary Jean Cramp: (sinh ngày 6 tháng 5 năm 1929) là một nhà khảo cổ học và học giả người
Anh Bà là nữ giáo sư đầu tiên được bổ nhiệm tại Đại học Durham và là Giáo sư Khảo cổ học từ năm 1971 đến năm 1990 Bà từng là Chủ tịch Hiệp hội Cổ vật Luân Đôn từ năm 2001 đến 2004
Trang 19cửa sổ kính màu là nhà sáng tạo phi thường, phù hợp với sự phát triển chung của nghệ thuật Hồi giáo Điều này đã đưa nghệ thuật kính màu lên một tầm cao mới về kỹ thuật, công nghệ và nghệ thuật
Hình 1.4 Cửa sổ nhà thờ Hồi giáo Xanh
(nguồn ảnh: Stock Photos từ Artur Bogacki /Shutterstock)
Cũng trong thời kỳ Trung cổ, các cửa sổ kính màu có thể được tìm thấy trong vô số nhà thờ Công giáo trên khắp châu Âu Cuối thế kỷ 11, những cửa
sổ này kính màu có hình thức tương đối đơn giản, quy mô nhỏ và được viền bằng khung sắt dày Sở dĩ vậy là do kiến trúc Romanesque - một phong cách đặc trưng bởi những bức tường dày và các hình tròn được chế tạo theo phong cách kiến trúc thống trị Tuy nhiên, vào thế kỷ 12, phong cách này đã được
Trang 20thay thế bằng kiến trúc Gothic Không giống như các tòa nhà La Mã, Romanesque, các công trình tôn giáo được xây dựng theo phong cách Gothic này minh họa cho sự phát triển chiều cao và lấy ánh sáng cho các công trình Yếu tố này thể hiện rõ trong tất cả các khía cạnh của thiết kế Gothic, bao gồm các ngọn tháp cao vút trên bầu trời, những bức tường, và đặc biệt nhất là các cửa sổ kính màu lớn Thời kỳ Gothic, cửa sổ kính màu rất phát triển, cửa sổ kính màu là đặc điểm nổi bật trong các nhà thờ Gothic Cửa sổ kính màu không chỉ đem lại ánh sáng và màu sắc cho không gian nhà thờ, mà còn để minh họa các câu chuyện Kinh thánh cho những giáo dân không biết chữ Cửa sổ kính màu thời Gothic thường có hai dạng: cửa sổ lancet cao và cong hoặc cửa sổ hoa hồng tròn Trong cả hai hình thức cửa sổ trên, thường
có quy mô hoành tráng và được thể hiện rất chi tiết tỉ mỉ Với kích thước đồ
sộ và độ phức tạp của chúng, các cửa sổ kính màu theo phong cách Gothic cùng với ánh sáng đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật rực rỡ hơn bao giờ hết Có thể nói kiến trúc Gothic là nền tảng thúc đẩy và là bệ nâng đỡ cho tranh kính màu phát triển rực rỡ (hình 1.5)
Hình 1.5 Các cửa sổ kính màu trong nhà thờ Cologne, Đức, đầu thế kỷ 14
(nguồn wikipedia.org)
Trang 21Thế kỷ 15
Thời kỳ Phục hưng, tranh kính màu vẫn được phát triển mạnh mẽ Bên
cạnh đó, các họa sĩ còn “đưa nghệ thuật tạo hình vào tranh kính màu” Thời
Phục Hưng, với sự phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật, các họa sĩ dùng nhiều kỹ thuật mới để tạo ra hiệu ứng cho kính màu, như sử dụng các công thức hóa học, các loại axit khác nhau trong việc tạo màu, cải thiện các khung bằng khung kim loại để chống sự xói mòn của thời tiết Lúc này, các họa sĩ đã
tự sản xuất được kính màu để sử dụng cho tác phẩm của riêng mình
Năm 1600, cách làm tranh kính mới xuất hiện, cảnh vật đươc vẽ trực tiếp lên các mảnh kính vuông, giống như ngói lợp nhà Màu sắc đươc nung để lưu bền trên kính, sau đó các mảnh kính sẽ được lắp vào khung kim loại Từ giữa thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, nhiều biến đổi lịch sử ảnh hưởng đến tranh kính màu, nhiều công trình bị phá bỏ Tranh kính không còn được sử dụng
trong các công trình kiến trúc, công nghệ và việc sản xuất kính màu cũng lãng quên
Thế kỷ XIX, trước sự phục hưng Công giáo ở Anh đã mang lại sự quan tâm mới về tranh kính Thời kỳ này, phong trào Phục hưng lại nền kiến trúc Gothic diễn ra mạnh mẽ đã mang đến phong cách Công giáo thực sự trong kiến trúc Nhiều công trình tôn giáo được xây dựng ở các thị trấn lớn, nhiều công trình nhà thờ cũ được phục hồi lại Đây cũng là sự hồi sinh mạnh mẽ của nghệ thuật kính màu Việc sản xuất kính màu trở lên phong phú hơn, nhiều công ty sản xuất kính màu được thành lập trong giai đoạn này
Thế kỷ 19
Các nghệ nhân đã đưa nghệ thuật kính màu truyền thống thành một loại hình nghệ thuật hiện đại Nghệ thuật hiện đại này được thể hiện rõ ràng trong tác phẩm của Frank Lloyd Wright6, người tiên phong của phong trào Prairie School - một phong cách kiến trúc và thiết kế nội thất nhấn mạnh đến sự khéo léo và kết nối với thiên nhiên
Thế kỷ 20
6
Frank Lloyd Wright (8 tháng 6 năm 1867 - 9 tháng 4 năm 1959) là một kiến trúc sư, nhà thiết kế nội thất,
nhà văn và nhà giáo dục người Mỹ
Trang 22Cách mạng công nghiệp của các nước thời điểm này đã ảnh hưởng đến sản xuất kính màu Các họa sĩ, nghệ sĩ không sử dụng kính màu do mình chế tác ra, họ chuyển sang sử dụng kính màu công nghiệp cho các tác phẩm của mình Với thành tựu của cách mạng công nghiệp, việc sản xuất kính màu công nghiệp có sự cải thiện rõ rệt Chất lượng, màu sắc tốt và phong phú hơn,
độ trong, độ bắt ánh sáng cao hơn so với kính màu sản xuất thời kỳ trước đó (hình 1.6)
Hình 1.6 Một trong bốn tấm kính màu cao 64 mét (210 ft), nhà thờ Rio de
Janeiro, Brazil) (nguồn wikipedia.org)
Ngày nay, các nghệ nhân, họa sĩ, nghệ sĩ kính màu đương đại đã và đang giữ cho hình thức nghệ thuật lâu đời này tồn tại Giống như những người tiền nhiệm thế kỷ 20, những nghệ sĩ ngày nay tiếp tục đưa ra những cách sáng tạo mới để diễn giải lại nghề thủ công cổ xưa, rực rỡ của nhân loại
Theo sự phát triển của xã hội, kính ghép màu về sau được con người sử dụng trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác Kính ghép màu ngày càng được
Trang 23sử dụng phổ biến, được ứng dụng để trang trí trong nhiều công trình và trở thành những tác phẩm tranh kính Tranh kính màu không chỉ có ở các tác phẩm tranh kính nhà thờ, các bức tranh kính màu, nó còn được sử dụng cho các công trình nhà ở, khách sạn, nhà hàng nhằm mang lại vẻ đẹp độc đáo, sang trọng cho không gian Chủ đề và phong cách thể hiện tranh kính màu ngày càng đa dạng đã khiến cho tranh kính màu được yêu thích Từ những nội dung được mô tả trên các bức tranh kính màu, có thể thấy được những ý niệm, những mong ước, tâm tư tình cảm của con người, thể hiện văn hóa đương thời phản ánh trong mỗi tác phẩm Tranh kính màu là hình thức nghệ thuật tinh tế
sử dụng ánh sáng để phóng đại và làm lung linh vẻ đẹp huyền ảo cho các tác phẩm
Trong suốt thế kỷ XX và đầu những năm đầu thế kỷ XXI, tranh kính màu phụ thuộc vào xu thế phát triển của kiến trúc hiện đại Nếu như trước đây tranh kính là một yếu tố quan trọng không thể thiếu nhằm xác lập yếu tố kiến trúc, thì nay vai trò đó không còn nữa mà trở thành một bộ phận của ngành kiến trúc
Trong lịch sử phát triển của mình, tranh kính màu cũng chịu ảnh hưởng của các trào lưu của mỹ thuật thế giới và mang đậm dấu ấn, cá tính của từng họa sĩ, từng vùng miền Kỹ thuật tranh kính cũng thay đổi và đa dạng hơn về thể loại, chất liệu, ngôn ngữ tạo hình Đây là sự thay đổi cần thiết để tranh kính màu tồn tại và phát triển theo nhu cầu của từng thời đại
1.3 Tranh kính du nhập vào Việt Nam
Ở Việt Nam, thời Văn hóa Sa Huỳnh, được xác định vào khoảng năm
1000 TCN đến thế kỷ thứ 2 là thời kỳ mà người dân đã biết chế tác và sử dụng đồ thủy tinh để làm trang sức và đồ trang trí Trong các khu mộ táng, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều bộ hạt chuỗi, cườm bằng thủy tinh có màu xanh, vàng hoặc nâu
Thủy tinh nhân tạo là một thành tựu rực rỡ của văn hóa Sa Huỳnh Các
cư dân dùng cát trắng để nấu thủy tinh làm bát lọ và đặc biệt những chuỗi hạt trang sức bằng thủy tinh mà sử sách Trung Quốc gọi là "Lưu li" gốc từ chữ Phạn là verulia từ đầu công nguyên Đây là một trong những nơi làm ra thủy tinh nhân tạo sớm trên thế giới Chúng không những đa dạng về kiểu
Trang 24dáng mà còn phong phú về màu sắc như xanh lơ, xanh đen, xanh lá mạ, xám, tím, đỏ và nâu Sử Trung Hoa đã từng ghi chép về một chén thủy tinh xuất phát từ vùng đất này mà họ gọi là chén lưu ly với một sự trân trọng và khâm phục
Nổi bật trong những vật trang sức của người Sa Huỳnh là khuyên tai
ba mấu dành cho phụ nữ và khuyên tai hai đầu thú của nam giới Nếu khuyên tai ba mấu dịu dàng, tinh tế và khá duyên dáng thì khuyên tai hai đầu thú lại thể hiện chất dũng mãnh, kiêu hãnh và cường tráng của nam giới Những vật trang sức chế tác từ đá, mã não và thủy tinh có thể nói là những tinh hoa đặc sắc nhất mà nền văn minh này sáng tạo ra và được phổ biến khắp vùng Đông Nam Á
Thời gian về sau, mặc dù nghề chế tác thủy tinh có từ rất sớm, nhưng không được phát triển Tới thế kỷ XIX, tranh kính xuất hiện và phát triển tại Việt Nam Lúc này, sự xuất hiện và phát triển tranh kính được chia theo 3 khu vực, 3 thể loại tranh kính biêu tiểu khác nhau ở nước ta
Tranh kính nhà thờ: Khi Công giáo đến Việt Nam, các linh mục tới
truyền giáo và cho xây dựng nhà thờ, lúc đó, tranh kính màu được sử dụng trong một số nhà thờ Công giáo cuối thế kỷ XIX, một số nhà thờ Công giáo đầu tiên có các trang trí bằng tranh kính màu như: Nhà thờ Tân Định, xây dựng năm 1876 (Nhà thờ Thánh Tâm chúa Giêsu, Tân Định) - nhà thờ Công giáo tại thành phố Hồ Chí Minh và thuộc giáo xứ Tân Định Sau đó tranh kính được sử dụng trong Nhà thờ Đức Bà (xây dựng năm 1880), Nhà thờ Lớn Hà Nội (xây dựng năm 1887) Nội dung trong các bức tranh kính màu ở Nhà thờ
đa phần đều nói về Chúa nhưng “những đặc điểm của nhân vật mang nét đặc trưng của người Việt như vóc dáng, khuôn mặt, búi tóc đến trang phục, nón
lá, cảnh quan Sự thay đổi về hình ảnh này đem lại cảm giác gần gũi, thân thiện đối với giáo dân Việt Nam và cho thấy dấu hiệu Việt hóa”
Tranh gương cung đình Huế: Theo nhà nghiên cứu Thái Văn Kiểm,
tác giả cuốn Cố đô Huế (cùng lời truyền của một số người cao tuổi ở Huế)
nhận định: Tranh gương cung đình Nguyễn đa phần được các Vua triều Nguyễn đặt hàng vẽ từ Trung Quốc Nguyên là vua Thiệu Trị (1841-1847) có
tập thơ Thần kinh nhị thập cảnh, vịnh 20 cảnh đẹp của đất Huế, đã gửi các bài
Trang 25thơ này qua Trung Quốc đặt vẽ Một bài thơ này được thể hiện thành một bức tranh gương, sau đó mới mang trở về kinh đô Huế, treo ở tại các miến điện Mặc dù vậy, nhưng các tác phẩm tranh gương đó lại mang trong mình những nội dung và các yếu tố đặc trưng riêng của nền nghệ thuật Cố đô Huế
Tranh kiếng Nam Bộ: Tới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một bộ phận
người Quảng Đông (Trung Quốc) di dân đến mảnh đất Nam Bộ sinh sống và lập nghiệp, họ đã mở các cửa tiệm buôn bán kiếng, với các loại kiếng tráng thủy tinh làm gương soi, kiếng khuôn cửa tủ, khung cửa chớp, ô cửa thoáng theo thời gian cùng với sự phát triển của đời sống xã hội đã ra đời dòng tranh kiếng Nam Bộ Tranh kiếng Nam Bộ mang trong mình những nét đặc sắc riêng với ba dòng nổi tiếng, đó là: tranh kiếng Chợ Lớn (Sài Gòn); tranh kiếng Lái Thêu (huyện Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương), và dòng tranh kiếng Chợ Mới (An Giang) Đời sống người dân Nam Bộ lúc đó gắn liền với
sông nước và đa phần thờ Phật, cho nên các bức tranh kiếng lúc bấy giờ hòa quyện được cả yếu tố dân gian và tôn giáo Tranh kiếng có nhiều chủng loại: Tranh thờ tổ tiên, tranh thờ Thần, Phật, tranh chúc tụng, tranh cảnh vật trang trí nhà ở Tranh kiếng lúc này đã đáp ứng như cầu thờ cũng, tín ngường và thẩm mỹ của người dân và trở thành những tác phẩm nghệ thuật dân gian không thể thiếu trong những gia đình Nam Bộ
Dù đã xuất hiện và phát triển ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng do nước ta những năm này trải qua chiến tranh, phải gánh chịu sự nghèo đói, lạc hậu và hậu quả của chiến tranh Tranh kính không được phát triển mạnh Phải tới sau năm 1975, khi Việt Nam thống nhất đất nước, nền kinh tế bắt đầu phục hồi và phát triển, tranh kính được tiếp tục sử dụng, nhưng chỉ ở hình thức nhỏ Đến thế kỷ XX, những năm 1991, 1994, tại Việt Nam mới thành lập một số nhà máy chế tạo kính màu để đáp ứng nhu cầu của xã hội về trang trí tranh kính màu trong nội thất Và tranh kính màu được sử dụng ở nhiều công trình khác nhau như: khách sạn, nhà hàng, quán café, hay nhà ở
Kết luận chương 1
Tranh kính màu là loại hình nghệ thuật có từ rất sớm trên thế giới, trải qua quá trình phát triển của xã hội, tranh kính màu đã đáp ứng nhu cầu về mặt tinh thần và thẫm mỹ cho con người Đến nay, loại hình tranh kính phát triển
Trang 26rất mạnh mẽ và góp phần rất lớn về mặt giá trị thẩm mỹ cho sự phát triển của
xã hội loài người
Ở Việt Nam, tranh kính không phải là loại hình nghệ thuật cổ và lâu đời của nước Việt Nhưng quá trình du nhập và phát triển tại Việt Nam đã chứng minh tranh kính nghệ thuật đã có sự đóng góp cho nền nghệ thuật nước nhà Hiện nay, tranh kính của Việt Nam đang phát triển với nhiều chủng loại tranh kính, sử dụng trong nhiều loại hình công trình khác nhau và mang trong mình bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam
Trang 27Chương 2 THỰC TRẠNG TRANH KÍNH VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu một số dòng tranh kính ở Việt Nam
Hàng trăm năm qua, tranh kính đã đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và mỹ thuật của công chúng và trở thành nghệ phẩm của người dân Việt Nam Khi
du nhập vầ phát triển ở Việt Nam, tranh kính đã phát triển ở cả ba miền ở Việt Nam Tranh kính thủ công đã được hình thành và phát triển ở miền Trung và miền Nam Việt Nam Miền Trung có tranh gương cung đình Huế và Nam Bộ
có tranh kính thủ công nổi tiếng một thời
Tranh kiếng có mặt ở cung đình Huế từ thời Minh Mạng - Thiệu Trị Song đó là các sản phẩm mỹ nghệ nhập khẩu Nghề vẽ tranh kiếng được truyền vào nước ta vào đầu thế kỷ XX do những di dân Quảng Đông đến lập nghiệp ở vùng Chợ Lớn mang tới; họ bắt đầu mở các tiệm kiếng, buôn bán các loại kiếng tráng thủy để soi mặt, lộng khuôn hình, tủ, khung cửa chớp, cửa gió và các loại tranh: Các bức đại tự và các bức thư họa dùng trong việc khánh chúc tân gia, khai trương, mừng thọ Đến những năm 1920, nghề vẽ tranh kiếng chuyển địa bàn về Lái Thiêu (Thủ Dầu Một) nơi đang trên đà phát triển các nghề thủ công
2.1.1 Tranh gương cung đình Huế
Trong kho tàng di sản vật thể và phi vật thể mà triều đình nhà Nguyễn
để lại, tranh gương là một dạng di sản khá đặc biệt, vừa mang tính vật thể, lại vừa phi vật thể và được đánh giá là loại hình mỹ thuật mang bản sắc riêng của Huế bởi xuất xứ, cách thể hiện cùng chất liệu độc đáo của chúng Có giá trị về mặt mỹ thuật cũng như lịch sử (hình 2.7)
Tranh gương cung đình Huế mang bản sắc riêng của Huế bởi xuất xứ, cách thể hiện cùng chất liệu độc đáo của chúng Hầu hết những bức tranh đều được đóng khung gỗ chạm thếp vàng, khá cầu kỳ Về chất liệu, loại tranh này dùng bột màu pha keo hoặc sơn, hoặc xà cừ vẽ hay khảm vào mặt sau của gương (để nhìn mặt trước)
Theo các nhà nghiên cứu, tranh gương Huế có ba nguồn xuất xứ khác nhau Loại tranh gương với các bài thơ ngự chế là do triều đình Huế đặt hàng
Trang 28tại Trung Quốc Loại thứ hai là tranh có chủ đề, thể hiện các tích truyện lịch
sử cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc Sau cùng là loại tranh tĩnh vật, treo tại lăng Minh Mạng và lăng Đồng Khánh, là loại tranh do người Việt sáng tác vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Tuy chủ đề có khác nhau, kỹ thuật vẽ tranh và cách phối màu của tranh gương về cơ bản đều giống nhau
Hình 2.7 Tranh gương vẽ cảnh vườn Thiệu Phương
(nguồn ảnh: TT bảo tồn di tích cố đô Huế)
Theo Thái Văn Kiểm, tác giả cuốn Cố đô Huế (cùng lời truyền của một số
người cao tuổi ở Huế) thì loại tranh cung đình này đều có nguồn gốc từ Trung
Quốc Nguyên là vua Thiệu Trị (1841-1847) có tập thơ Thần kinh nhị thập
cảnh, vịnh 20 cảnh đẹp của đất Huế, đã gởi các bài thơ này qua Trung Quốc
đặt vẽ Một bài thơ này được thể hiện thành một bức tranh gương, sau đó mới mang trở về kinh đô Huế, treo tại các miến điện
Giáo sư Chu Quang Trứ thì cho rằng: “Đối chiếu số tranh được biết,
nguồn tài liệu trên đáng tin, song không hoàn toàn đúng với số tranh hiện có
dù chỉ ở ngay trong các điện thờ” Theo ông, tranh gương Huế có đến 3
nguồn xuất xứ như sau:
Trang 29- Loại tranh gương gắn liền với các bài thơ ngự chế có đề rõ niên đại
“Thiệu Trị Ất Tỵ” (1845), là loại tranh do triều đình Huế đặt hàng tại Trung Quốc Đây là các bức tranh có giá trị nhất và được xếp vào loại tranh cao cấp
- Loại tranh không đề thơ nhưng có đề chủ để tranh, chủ yếu thể hiện các
tích truyện lịch sử của Trung Hoa như: Nhậm dụng tam kiệt, Chiêu nho giảng
kinh, Dạ phân giảng kinh… hiện được treo tại lăng Thiệu Trị, lăng Tự Đức…
cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc Nhưng đây là loại tranh…do người Trung Quốc vẽ sẵn, bày bán ở các hiệu, được các sứ bộ của triều đình nhà Nguyễn sang nhà Thanh mua về
- Loại tranh thứ ba, đều là tranh tĩnh vật, treo tại lăng Minh Mạng, lăng Đồng Khánh…là loại tranh bắt chước tự phát hàng nhập Có thể tin chắc những tranh kính (gương) này do người Việt Nam chưa được trang bị đủ kiến thức, vẽ ra ở cuối thế kỷ trước sang đầu thế kỷ này
Tuy nhiên nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông, tác giả của công trình Mỹ
thuật thời Nguyễn trên đất Huế lại cho rằng, tất cả tranh gương cung đình Huế
đều có nguồn gốc từ Trung Quốc, là do triều Nguyễn đặt hàng từ các cơ sở sản xuất tranh gương dân gian tại vùng Hoa Nam
Chủ đề nội dung của tranh gương cung đình Huế về cơ bản cũng gồm 3 loại chính, gần như trùng hợp cách phân loại tranh của giáo sư Chu Quang Trứ
- Loại tranh cao cấp “thi họa” hay tranh thơ ngự chế là loại tranh vịnh
cảnh Loại tranh này hiện nay tại Huế còn lại 40 bức khá nguyên vẹn Các
bức tranh này cũng chia làm một số loại sau:
- Tranh đề vịnh các cảnh đẹp của đất Thần kinh (hình 2.8), chủ yếu là 20
cảnh đã được vua Thiệu Trị xếp hạng nhưng cũng có một số không nằm trong
số này Tiêu biểu cho loại trên có thể kể ra như: Trùng minh viễn chiếu, Vĩnh
Thiệu Phương văn, Thiên Mụ chung tanh, Thường Mậu quan canh, Cao các sinh lương, Lang tập quần phương.v.v…Chủ đề chính của loại tranh này là
mô tả và ca ngợi cảnh đẹp của Kinh đô, phù hợp với các bài thơ ngự chế vịnh kèm Đáng chú ý là các bức tranh gương không chỉ minh họa cho 20 bài thơ chính vịnh 20 cảnh đã được xếp hạng mà còn minh họa cho các chùm, bài thơ vịnh các tiểu cảnh của 20 cảnh trên
Trang 30- Tranh minh họa các bài thơ đề vịnh các mùa trong năm, vịnh các cảnh
mà vua bất chợt tức cảnh đề thi…như: Hàn chung, Giang luyện, Sơn quang, Nguyệt ảnh.v.v…
Hình 2.8 Tranh gương Vườn Thường Mậu
(nguồn ảnh: TT bảo tồn di tích cố đô Huế)
Dù chủ đề có khác nhau nhưng về kỹ thuật vẽ tranh và cách phối màu của loại tranh này đều cơ bản giống nhau “Hầu hết những tranh này thiên về bảng màu lạnh, cảnh sắc và cả mái nhà đều là màu xanh, mây trời cũng trắng xanh, chỉ có cột nhà đỏ và viền nét vàng Tất cả được vẽ rất chi tiết, mảng màu vờn chuyển sắc độ tinh tế, các nhân vật được tỉa tót tỉ mỉ, bố cục dựa trên viễn cận
xã hội theo tâm lý ngược với chiều nhìn tự nhiên Họa gia tưởng tượng những cảnh trong thơ của vua Thiệu Trị theo thiên nhiên xứ lạnh mà họ đang sống
và thể hiện theo lối “công bút” rất cẩn thận Những tranh này vẽ trực tiếp lên mặt sau của kính, vẽ và viết theo lối “bản âm” để khi nhìn mặt trước trở thành bản dương, màu ngoài vẽ trước, màu trong vẽ sau và cuối cùng mới vẽ màu nền Màu tốt bền, ngày nay vẫn giữ nguyên
- Loại tranh không đề thơ nhưng có đề rõ chủ đề tranh như trên đã nói, là loại tranh minh họa cho các điển tích trong lịch sử của Trung Hoa như: Nhậm
dụng tam kiệt, nói về Hán Cao Tổ dùng 3 người tài, Chiêu nho giảng kinh, nói
về tích Hán Tuyên đế mời thầy giáo đến giảng kinh sách, còn Dạ phân giảng
kinh là tích Hán Quan Vũ tổ chức giảng kinh vào lúc nửa đêm.v.v… Về kỹ
thuật vẽ của loại tranh này, theo đánh giá của giáo sư Chu Quang Trứ”… tuy
Trang 31vẽ không kỹ bằng những bức tranh có thơ “Ngự chế”, nhưng cũng tỉa tót tỉ
mỉ, thiên về dùng màu đỏ ấm nhưng pha chế không kỹ nên nhiều mảng bị ố
- Loại tranh vẽ tĩnh vật thì chỉ xoay quanh 2 chủ đề chính là bát bửu cổ đồ
và các loại hoa quả
Chất liệu để vẽ loại tranh này là bột màu pha keo, hoặc sơn, được vẽ hoặc khảm xà cừ vào mặt sau của gương theo kiểu vẽ âm bản để nhìn mặt trước thành dương bản Kỹ thuật vẽ ngược chiều đòi hỏi họa sĩ, nghệ nhân phải hết sức tài hoa, khéo léo và có trí tưởng tượng cực kỳ phong phú mới có thể thực hiện được
Do kỹ thuật phức tạp, sự tư duy về mặt hình tượng là rất riêng Người vẽ phải tưởng tượng phía bên kia (mặt trái) để nhìn xuyên từ kính qua (mặt phải) đòi hỏi dự phối hợp giữa tư duy, kỹ thuật, chất liệu và đặc trưng phản ánh Tất cả tạo nên nét riêng, độc đáo, tinh tế của tranh gương và đó cũng chính là những đặc trưng mà không có loại hình mỹ thuật nào của Huế có được
Tranh gương xứ Huế dẫu trải qua những năm tháng của lịch sử, nhưng màu sắc và tuổi thọ của nó như thách thức với thời gian Nó tạo lên một nét rất riêng của Huế
Quá trình phát triển của xã hội cuốn theo các trào lưu tư tưởng nghệ thuật mới, có những dòng tư tưởng được coi là biến dị về phong cách nghệ thuật cũng như ý tứ nghệ thuật, cái mà ngày nay người ta gọi đó là nghệ thuật đôi khi là sự phản cảm thì sức hút của nó tới công chúng chỉ là một giai đoạn thời gian ngắn ngủi, nhưng với những kiệt tác nghệ thuật cổ xưa thì sức hấp dẫn của nó chưa bao giờ là nguội
Nó không chỉ là giá trị tinh thần của dân tộc mà hơn thế, chính là tinh hoa trí tuệ của người xưa Cái mà cho đến ngày nay, thế hệ đời sau vẫn mãi phải kiếm tìm để có được Bảo tồn giá trị xưa chính là bảo tồn và di lưu truyền thống, tìm về văn hóa nghệ thuật nguồn cội
2.1.2 Tranh kính thủ công ở Nam Bộ
Nhà sưu tập tranh kiếng hàng đầu nước ta Huỳnh Thanh Bình cho biết, đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện của tranh kiếng đã cung ứng cho nhu cầu trang
Trang 32trí, thờ tự một loại đặc phẩm mỹ thuật ứng dụng, đặc biệt, nhờ giá rẻ nên tranh kiếng nhanh chóng phổ biến khắp cả miền Nam, trong cả đình, chùa, đền, miếu đến tận gia đình, tiệm quán Tại Nam Bộ có 3 vùng sản xuất tranh kiếng nổi tiếng: Lái Thiêu (Bình Dương), Chợ Lớn (Sài Gòn) và Chợ Mới (An Giang) Điều thú vị là dù cùng thể loại tranh kiếng nhưng ba địa phương này “không đụng hàng” nhau Còn về kỹ thuật, tranh kiếng là loại tranh vẽ phía sau mặt kiếng Khởi thủy, nguyên liệu để vẽ tranh là màu bột pha với đồng du (dầu cây du đồng), mực tàu Về sau các nghệ nhân dùng cả sơn tây, sơn ta, bột màu pha a dao
Về lịch sử tranh kiếng, theo nhà sưu tập Huỳnh Thanh Bình: Ở Nam
Bộ, tranh thờ ngày xưa, cực hiếm hoi các bức chạm gỗ, phù điêu sơn son thiếp vàng; phổ biến là các bài vị khắc chữ Hán trên gỗ; kế đó là các sản phẩm cẩn xà cừ hay phổ biến là viết vẽ trên giấy hồng đơn Đến đầu thế kỷ
XX, sự xuất hiện của tranh kiếng đã cung ứng cho nhu cầu trang trí, thờ tự một loại đặc phẩm mỹ thuật thích dụng, đặc biệt, nhờ giá rẻ nên tranh kiếng nhanh chóng phổ biến khắp cả miền Nam, trong cả đình, chùa, đền, miếu đến tận gia đình, tiệm quán (hình 2.9)
Hình 2.9 Tranh kính Chuẩn Đề, Chợ Lớn đầu thế kỷ XX
(nguồn ảnh: Báo laodong.vn)
Trang 33Sự ra đời và phổ biến của tranh kiếng từ thời điểm đó đến nay đã đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và mỹ thuật của người dân Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung trong hơn 100 năm qua, tạo nên các dòng tranh kiếng nổi tiếng ở các địa phương: Chợ Lớn, Lái Thiêu, Gò Công, Mỹ Tho (Tiền Giang), Chợ Mới (An Giang), Trà Vinh, Sóc Trăng
Sau đó, khoảng những năm 1940 - 1950, nghề làm tranh kiếng lan tỏa khắp lục tỉnh Nam Kỳ Tất cả các dòng tranh kiếng trong hơn một thế kỷ qua
đã sản xuất ra một khối lượng lớn sản phẩm đồ sộ với nhiều chủng loại đa dạng, từ tranh thờ tổ tiên, tranh chúc tụng, tranh cảnh vật trang trí nội thất, tranh thần, Phật, Bồ Tát
Ở đó có loại tranh vẽ thuần bằng sơn màu đa sắc (thêm ngân nhũ và kim nhũ) hoặc kết hợp với kỹ thuật tráng thủy và đặc biệt độc đáo là loại tranh kiếng cẩn ốc xà cừ rất được người dân ưa chuộng Về kỹ thuật, tranh kiếng là loại tranh vẽ phía sau mặt kiếng Khởi thủy, nguyên liệu để vẽ tranh
là màu bột pha với đồng du (dầu cây du đồng), mực tàu Về sau người thợ vẽ dùng cả sơn tây, sơn ta, bột màu pha a dao
Đặc điểm nổi bật trong quá trình phát triển của tranh kiếng là tại mỗi tọa
độ địa lý - văn hóa, nó luôn tích hợp những nội dung mới để phù hợp với phong hóa cộng đồng dân cư, dân tộc và từ đó, mỗi dòng tranh kiếng hình thành những sắc thái riêng biệt, độc đáo
Tranh kiếng Nam Bộ thời bấy giờ vẽ về các chủ đề như: Tranh thờ; Tranh trang trí nhà cửa; Tranh chúc thọ; Tranh mừng tân gia, khai trương…Trong đó loại hình tranh kiếng thờ là loại hình tranh kiếng độc đáo nhất Tranh kiếng thờ vừa mang trong mình những nét văn hóa, nghệ thuật, vừa thể hiện rõ tín ngưỡng đặc sắc, riêng biệt của xứ Phương Nam, và mang lại vẻ đẹp thẩm mỹ cho các ngôi nhà Nam Bộ
Tranh kiếng thờ có ba chủ đề chính:
- Tranh thờ tổ tiên, Thần Phật, Bồ tát, ;
- Tranh thờ các vị gia thần - các vị thần ngụ tại gia đình (vị Táo quân, Ông địa, Thần Tài, vị Tử vi Trần Trạch, )
Trang 34- Tranh thờ các vị Thần bản mệnh - mệnh của con người (như Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Tiên/Chúa Ngọc, Cậu Chài, Cậu Quý, Quan Thánh
Đế Quân )
Tranh kiếng thờ tổ tiên mang ngụ ý đời đời nhớ ơn tiên tổ, người dân Nam Bộ đã thể hiện nếp nghĩ ngàn đời hướng nguồn cội của mình Nhà
nghiên cứu văn hoá Huỳnh Thanh Bình đã nhận xét: “Tranh kiếng Nam Bộ
nói lên được yếu tố con người luôn nhớ đến cội nguồn qua bộ tranh thờ tổ tiên” Tranh kiếng thờ Thần Phật, xuất phát từ tín ngưỡng thờ thần linh trong
cộng đồng dân cư Tranh kiếng thờ các vị Thần bản mệnh, thường vẽ về các
vị Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Tiên/Chúa Ngọc, Cậu Chài, Cậu Quý, Quan Thánh Đế Quân Đây là những vị thần được người dân thờ trong gia đình, với mong muốn những người trong gia đình luôn luôn được các vị thần độ mạng
bảo hộ sinh mệnh, bảo vệ, tránh khỏi tai ương, hoạn nạn
Bên cạnh đó, các bức tranh kiếng về đề tài các vị gia thần cũng được thể hiện rất nhiều và đa dạng Gia thần là những vị thần trấn trạch của ngôi nhà, tranh kiếng vẽ các vị gia thần được người dân treo ở trước cửa nhà với mong muốn sẽ được các vị gia thần ngăn chặn các ma quỷ, bảo vệ gia đình luôn được bình an
Đạo nghĩa thờ cúng tổ tiên, Thần Phật là phong tục tập quán cổ truyền, là nét đẹp ngàn đời của dân tộc Việt Nam Dù ở bất kỳ vùng miền nào trên dải đất Việt, việc thờ phụng này là truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc, thể hiện đạo hiếu “uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam Mỗi vùng miền đều có phong tục và hình thức thờ phụng khác nhau, hình thức thờ phụng nào cũng đều bắt nguồn từ bản sắc của mỗi dân tộc, cội nguồn văn hoá và nhu cầu nội tại của cuộc sống hàng ngày Có thể nhận định rằng, tranh kiếng thờ là một tài sản quý, một nét đẹp riêng, tạo nên đời sống văn hóa thẩm mỹ và tín ngưỡng “sâu rễ bền gốc” trong đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ Việc treo tranh kiếng thờ trong mỗi gia đình trở thành nét đẹp đặc trưng trong văn hóa tâm linh từ xưa được người Nam Bộ gìn giữ hàng trăm năm qua, nét đẹp về nội dung, ý nghĩa, thủ pháp tạo hình của thể loại nghệ thuật này đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh, đáp ứng nhu cầu về tín ngưỡng và tính thẩm mỹ, mỹ quan trong cuộc sống của họ
Trang 35Có các dòng tranh kiếng như sau: Dòng tranh Chợ Lớn chủ đạo là tranh chúc tụng và tranh thờ Dòng tranh Lái Thiêu có loại vẽ nhiều màu, tiêu biểu như màu hường, màu xanh lông két, màu trắng, màu vàng, xanh dương nhưng cũng có loại màu nền đen hoặc đỏ, đặc biệt các hoa văn, hình họa đều dán ốc xà cừ để tạo nên sắc trắng bạc phản quang Dòng tranh Bà Vệ thuộc xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang khởi phát từ những năm 1950… Mỗi dòng tranh kiếng với những đặc trưng riêng đã hình thành nên một tập đại thành mỹ thuật đồ sộ mang sắc thái riêng của mỗi cộng đồng dân
cư, dân tộc góp phần làm phong phú cho bảng màu đa dạng của văn hóa Trong quá trình phát triển, ở mỗi vùng đất, vùng văn hoá, tranh kiếng lại xuất hiện thêm những nội dung mới để phù hợp với phong hóa cộng đồng dân cư, dân tộc Từ đó, mỗi dòng tranh kiếng hình thành những sắc thái riêng biệt, độc đáo
Hình 2.10 Cửu Thiên Huyền Nữ, tranh kiếng Lái Thiêu
(nguồn ảnh: giacngo.vn)