1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ theo phương thức từ xa ở viện đại học mở hà nội

88 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN XÂY DỰNG MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ THEO PHƯƠNG THỨC TỪ XA Ở VIỆN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN

XÂY DỰNG MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ THEO PHƯƠNG THỨC TỪ XA Ở VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Mã số: V 2016 – 06

Chủ nhiệm đề tài: ThS.Trần Thị Mai Hanh

Hà Nội, tháng 12/2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN

XÂY DỰNG MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ THEO PHƯƠNG THỨC TỪ XA Ở VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 3

DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1 ThS Trần Thị Mai Hanh (Chủ nhiệm đề tài)

2 Nguyễn Hương Nam

3 Vũ Thị Tài

4 Nguyễn Hoàng My

5 Nguyễn Thùy Linh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

8 Phương pháp nghiên cứu 4

9 Cấu trúc của đề tài 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 6

1.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 6

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 8

1.2.1 Khái niệm mô hình và mô hình cố vấn học tập 8

1.2.1.1 Khái niệm mô hình 8

1.2.1.2 Khái niệm về mô hình cố vấn học tập 9

1.2.2 Tín chỉ 10

1.2.1.1 Học chế tín chỉ 11

1.2.1.2 Bản chất của đào tạo theo học chế tín chỉ 12

1.2.1.3 Đặc điểm cơ bản của học chế tín chỉ 12

1.2.3 Đào tạo Từ xa 15

1.2.3.1 Khái niệm đào tạo từ xa 15

1.2.3.2 Đặc điểm của đào tạo từ xa 16

1.3 Nguyên tắc, yêu cầu, vai trò và nhiệm vụ của cố vấn học tập trong ĐTTC theo phương thức TX 19

Trang 5

1.3.1 Nguyên tắc hoạt động của cố vấn học tập trong ĐTTX 19

1.3.2.Yêu cầu đối với cố vấn học tập trong ĐTTX 20

1.3.3 Vai trò của cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ theo phương thức TX 23

1.3.4 Nhiệm vụ của cố vấn học tập trong ĐTTC theo phương thức Từ xa 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ THEO PHƯƠNG THỨC TỪ XA Ở VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 29

2.1 Khái quát tình hình đào tạo đại học từ xa ở trong nước và trên thế giới 29

2.1.1 Tình hình đào tạo từ xa trên thế giới 29

2.1.2 Tình hình đào tạo từ xa ở Việt Nam 31

2.1.3 Tình hình đào tạo đại học từ xa ở Viện Đại học Mở Hà Nội 35

2.2.Thực trạng về công tác CVHT hệ từ xa ở Viện Đại học Mở Hà Nội 36

2.2.1 Thực trạng về công tác CVHT ở Khoa ĐTTX 37

2.2.2 Trung tâm Viện Đại học Mở Đà Nẵng 39

2.2.3 Trung tâm ĐT Elearning 39

2.3 Thực trạng nhận thức về công tác cố vấn học tập trong ĐTTX 40

2.3.1.Nhận thức của Sinh viên, Giảng viên và CVHT về những quy định hiện hành và điều kiện thực tế của CVHT 40

2.3.1.1 Hiểu biết chung của sinh viên hệ Từ xa và cố vấn học tập về chức danh cố vấn học tập 40

2.3.1.2 Quan niệm của giảng viên về tiêu chí lựa chọn cố vấn học tập 42

2.3.1.3 Hiểu biết về văn bản quyết định và tài liệu chi tiết hướng dẫn nhiệm vụ của CVHT 43

2.3.1.4 Vấn đề quản lý sinh viên của cố vấn học tập 44

2.4 Hoạt động cố vấn học tập của SV hệ Từ xa ở Viện Đại học Mở Hà Nội 44

2.4.1 Nhu cầu tư vấn của sinh viên hệ Từ xa 44

2.4.2 Nhóm công việc trợ giúp liên quan đến các vấn đề học tập 45

2.5 Đánh giá thực trạng về CVHT của SV hệ TX ở Viện Đại học Mở Hà Nội 47

2.5.1 Điểm mạnh 47

Trang 6

2.5.2 Điểm yếu 47

2.5.3.Nguyên nhân của những hạn chế 48

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ Ở VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 50

3.1 Các nguyên tắc chọn lựa biện pháp 50

3.1.1 Tính kế thừa 50

3.1.2 Tính thực tiễn 50

3.1.3 Tính đồng bộ 50

3.2 Một số biện pháp xây dựng mô hình CVHT trong ĐTTC theo phương thức TX ở Viện ĐH Mở HN 50

3.2.1 Tăng cường nhận thức cho cán bộ, giảng viên, sinh viên hệ TX về đào tạo theo học chế tín chỉ và công tác cố vấn học tập 50

3.2.2 Tăng cường thực hiện chế độ, quyền lợi cho người làm công tác CVHT của SV hệ TX 53

3.2.3 Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động CVHT trong ĐTTX 54

3.2.4 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác CVHT cho SV hệ TX 56 3.3 Đề xuất xây dựng mô hình CVHT chung cho ĐTTX ở Viện Đại học Mở Hà Nội 57

3.3.1 Một số loại mô hình CVHT trên thế giới 57

3.3.1.1 Mô hình một giảng viên 57

3.3.1.2 Mô hình bổ sung 58

3.3.1.3 Mô hình khép kín 58

3.3.1.4 Mô hình kép 58

3.3.1.5 Mô hình phân tách 59

3.3.1.5 Mô hình CVHT có sự hỗ trợ của SV: 60

3.3.2 Mô hình CVHT trong ĐTTC theo phương thức TX của Viện ĐH Mở Hà Nội 60

3.3.2.1 Trung tâm tư vấn hỗ trợ đào tạo TX 61

3.3.2.2 Cố vấn học tập chuyên nghiệp (chuyên gia tư vấn) 62

3.3.2.3 Cố vấn học tập là giảng viên 63

3.3.2.4 Cố vấn học tập là giáo vụ khoa: 64

Trang 7

3.3.2.5 Cố vấn học tập là sinh viên đồng đẳng 65

3.3.3 Quy trình vận hành của mô hình cố vấn học tập 65

3.3.4 Các văn bản tài liệu dành cho CVHT 66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

1 Kết luận 67

2 Khuyến nghị 68

2.2 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 68

2.3 Đối với Viện Đại học Mở Hà Nội 68

2.5 Đối với cố vấn học tâp và sinh viên 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: So sánh việc dạy: 18

Bảng 2: So sánh việc học 18

Bảng 3: So sánh Cố vấn học tập 19

Bảng 4: Năm thế hệ công nghệ ĐTTX 29

Hình 2.1.1 Tỷ lệ quy mô sinh viên phân theo nhóm ngành 32

Hình 2.1.2 Số lƣợng ngành ĐTTX phân theo nhóm ngành 32

Bảng 5: Thống kê số lƣợng tuyển sinh đại học hệ Từ xa 35

Sơ đồ 3.1 Mô hình một giảng viên 57

Sơ đồ 3.2: Mô hình bổ sung 58

Sơ đồ 3.3: Mô hình khép kín 58

Sơ đồ 3.4: Mô hình kép 59

Sơ đồ 3.5: Mô hình phân tách 59

Sơ đồ 3.6: Mô hình CVHT có sự hỗ trợ của SV 60

Sơ đồ 3.7 Mô hình CVHT chung cho ĐTTX ở Viện Đại học Mở Hà Nội 61

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐTTC: Đào tạo tín chỉ HCTC: Học chế tín chỉ CVHT: Cố vấn học tập ĐTTX: Đào tạo Từ xa SV: Sinh viên

SVTX: Sinh viên từ xa GV: Giảng viên

QL: Quản lý CB: Cán bộ NV: Nhân viên XH: Xã hội

Trang 10

Vấn đề đặt ra là sinh viên có được trang bị kiến thức, kinh nghiệm để thiết kế cho mình một kế hoạch học tập phù hợp với định hướng nghề nghiệp của mình hay không?

Do vậy, chương trình đào tạo tự chọn xuất hiện đã làm dấy lên nhu cầu cần có những người cố vấn để hướng dẫn SV thực hiện tốt kế hoạch học tập phù hợp với điều kiện và năng lực cá nhân SV Daniel Coil Gilmam, Hiệu trưởng trường ĐH Hopkins (Mỹ) là

người đã sử dụng thuật ngữ “người cố vấn” để chỉ những người đưa ra định hướng cho

SV những vấn đề liên quan đến học tập, xã hội hay những vấn đề cá nhân (1886)

Đối với cấp bậc đại học, trên thế giới, trong mỗi khoa của một trường đều có đội ngũ cố vấn học tập (advisor) Cố vấn học tập là những người am hiểu cấu trúc chương trình đào tạo, nội dung của các khối kiến thức có trong chương trình, nội dung và vị trí của từng môn học được nhà trường tổ chức giảng dạy Các CVHT hướng dẫn SV lựa chọn các môn học để xây dựng kế hoạch học tập phù hợp với yêu cầu của ngành đào tạo

và điều kiện riêng của SV (năng lực, sở thích, điều kiện sinh hoạt, hoàn cảnh kinh tế) Bản đăng ký các môn học của SV phải có chữ ký của CVHT xác nhận là đã được tham khảo ý kiến thì mới được nhà trường xem xét để xếp lớp học Không chỉ cung cấp thông tin, CVHT còn là người khích lệ, động viên, giúp đỡ SV phát huy năng lực bản thân để

có thể tự giải quyết các vấn đề cá nhân trong quá trình theo học tại trường

Trang 11

Như vậy, cố vấn học tập được xem là một bộ phận không thể tách rời và đảm bảo cho “cỗ máy” học chế tín chỉ vận hành hiệu quả, thông suốt Mỗi CVHT là một nhân tố then chốt trong mối quan hệ nhà trường - SV - thị trường lao động; là một chuyên gia tư vấn về học tập và việc làm cho SV, đồng hành cùng SV trong suốt quá trình học tập Vai trò của CVHT ngày càng không thể thiếu trong quá trình phát triển của SV, giúp SV

có thêm thông tin và tự quyết định cách thức học tập của mình

Ở Việt Nam, vào những năm 2000, hình thức đào tạo theo HCTC được áp dụng thí điểm ở một số trường ĐH và đến nay đã áp dụng ở hầu hết các trường ĐH trên cả nước Nhận thức được vai trò to lớn và tích cực của công tác CVHT trong đảm bảo chất lượng đào tạo, trong những năm gần đây, các trường ĐH, cao đẳng ngày càng quan tâm nhiều hơn đến công tác này Rất nhiều hội thảo, hội nghị nhằm triển khai nâng cao hiệu quả của công tác CVHT đã được các trường tổ chức Đến nay, cố vấn học tập đã được xác định là một chức danh trong hệ thống các chức danh của cơ sở đào tạo theo HCTC

Viện ĐH Mở Hà Nội đã bắt đầu áp dụng hình thức đào tạo theo HCTC cho SV hệ

Từ xa từ năm 2013 Từ đó cho đến nay đã có 03 khóa SV được tổ chức đào tạo theo hình thức này Nhìn chung, khi áp dụng và triển khai đào tạo theo HCTC cho SV hệ Từ xa, Viện ĐH Mở Hà Nội đã có những điều kiện thuận lợi nhưng cũng gặp phải không ít khó khăn, lúng túng trong việc triển khai một triết lý đào tạo và dạy học không giống với truyền thống giáo dục ĐH đã có ở Việt Nam

Do vậy, thực tế triển khai đào tạo theo HCTC cho SV hệ Từ xa tại Viện ĐH Mở

Hà Nội đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó có công tác CVHT Đặc biệt nhà

trường cũng đã nghiên cứu để xây dựng đội ngũ CVHT, nhưng cho đến nay công tác CVHT đối với phương thức ĐT này thực tế vẫn chưa triển khai được như mong đợi Làm thế nào để xây dựng được mô hình CVHT cũng như phát huy hiệu quả của đội ngũ CVHT trong đào tạo theo HCTC theo phương thức TX vẫn đang là bài toán chưa có lời giải tối ưu

Xuất phát từ ý nghĩa và tính cấp thiết trên, qua nhiều năm gắn bó với công tác đào

tạo, nhóm tác giả xin chọn đề tài: “Xây dựng mô hình cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ

theo phương thức từ xa ở Viện Đại học Mở Hà Nội” để thực hiện đề tài, nhằm nghiên cứu cơ

Trang 12

sở lý luận, đánh giá thực trạng công tác CVHT, từ đó đề xuất kiến nghị một số biện pháp

cụ thể để xây dựng mô hình và phát huy vai trò tích cực của đội ngũ CVHT cho SV hệ

Từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác cố vấn học tập và xây dựng mô hình cố

vấn hoc tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ,

- Khảo sát, đánh giá thực trạng về mô hình cố vấn hoc tập trong ĐTTC theo

phương thức TX ở Viện ĐH Mở HN,

- Đề xuất các biện pháp xây dựng mô hình cố vấn học tập trong ĐTTC theo

phương thức TX ở Viện ĐH Mở HN

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Công tác cố vấn hoc tập trong ĐTTC theo phương thức

TX ở Viện ĐH Mở HN

- Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng mô hình cố vấn hoc tập trong ĐTTC theo

phương thức TX ở Viện ĐH Mở HN

5 Giả thuyết khoa học

Một trong những việc làm cần thiết và quan trọng nhằm thực hiện tốt việc chuyển đổi phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo tín chỉ là việc xây dựng mô hình cố vấn học tập Tuy vậy, công tác cố vấn hoc tập hiện nay đang còn rất lúng túng, bất cập Thực hiện đồng bộ các biện pháp xây dựng mô hình cố vấn hoc tập sẽ tháo gỡ được rào cản và tăng thêm động lực, góp phần thực hiện thành công quá trình ĐTTC theo phương thức TX ở Viện ĐH Mở HN trong giai đoạn hiện nay

Trang 13

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành đối với hệ đào tạo ĐH từ xa tại Viện ĐH

Mở HN

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

7.1.Ý nghĩa lý luận:

Đề tài đã hệ thống hóa lý luận về đội ngũ cố vấn học tập trong đào tạo theo HCTC

ở các trường đại học Việt Nam

8 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

8.1.Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Tổng hợp, hệ thống, phân tích và khái quát hoá các vấn đề lý luận từ các tài liệu, văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các Bộ, Ngành liên quan, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến giáo dục ĐH và quản lý đào tạo ĐH theo HCTC

8.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực trạng

- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến đối với cán bộ quản lý,

GV và SV

- Phương pháp quan sát: Thăm lớp, tham khảo tài liệu, hồ sơ lưu trữ của hệ ĐTTX

- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm

8.3.Nhóm phương pháp hỗ trợ

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các nhà quản lý, giáo viên giàu kinh nghiệm

Trang 14

- Phương pháp thống kê toán học, xử lý số liệu: Tổng hợp các ý kiến điều tra, lập các bảng biểu, phân tích, đánh giá các số liệu

9 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình cố vấn học tập trong đào tạo đại học theo học chế tín chỉ

Chương 2: Thực trạng về mô hình cố vấn học tập trong ĐTTC theo phương thức

TX ở Viện ĐH Mở HN

Chương 3: Biện pháp xây dựng mô hình cố vấn học tập trong ĐTTC theo phương thức TX ở Viện ĐH Mở HN

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào khi xác định được chức năng, nhiệm vụ và có thể kiểm tra, đánh giá được đều cần có lý thuyết, hay quan điểm nhìn nhận về nó Cũng như vậy, công tác CVHT không thể triển khai mà không cần đến nền tảng lý thuyết ban đầu Trên trang bìa số đầu tiên của tạp chí NACADA (National Academic Advising Association – Hiệp hội CVHT Quốc gia Hoa Kỳ), John H Borgard (1981) viết rằng:

Chúng ta cần một cái gì đó nhiều hơn để hoạt động CVHT không chỉ hỗ trợ cho việc giảng dạy và nghiên cứu, mà còn đạt được chức năng giáo dục thật sự hơn "Một cái gì

đó nhiều hơn" chính là nền tảng lý thuyết tiếp cận cho hoạt động của CVHT (dẫn theo, L Hagen & P Jordan)

Trong cuốn Sổ tay cho CVHT của Hiệp hội CVHT Quốc gia Hoa Kỳ, Creamer (2000) khẳng định rằng: "Hiện tại vẫn chưa có một lý thuyết chính thống riêng nào cho hoạt động CVHT" Hiệp hội CVHT Quốc gia Hoa Kỳ đã tập trung làm rõ cách thức mà

một CVHT (có thể là giáo viên bộ môn, nhà tư vấn chuyên nghiệp, hoặc SV năm trên, các thạc sỹ, nghiên cứu sinh) có thể làm việc hiệu quả với người học để xây dựng nên đời sống tâm trí của họ trong học tập – nghề nghiệp, phát triển cá nhân và xã hội

Việc tìm kiếm và áp dụng nhiều lý thuyết tiếp cận từ góc độ khoa học phát triển,

từ các khoa học trong lĩnh vực xã hội – nhân văn, từ thực hành giáo dục sẽ giúp các CVHT nắm được một cách đầy đủ sự phát triển tâm – sinh lý và xã hội của SV, nhìn nhận sâu sắc hơn những vấn đề của SV

Có thể kể ra một số lý thuyết cụ thể đã đem lại hiệu quả cho hoạt động CVHT, đó

là lý thuyết về phát triển tâm lý – xã hội của con người, thuyết phát triển nhu cầu, thuyết phát triển văn hóa xã hội v.v Để tiếp cận với hoạt động của CVHT, các nhà nghiên cứu còn vận dụng các lý thuyết ứng dụng trong giáo dục, quản lý, trong tham vấn Các lý thuyết này giúp cho các CVHT tiếp cận với SV một cách toàn diện Ngoài ra, quá trình

Trang 16

xã hội hóa cá nhân liên quan đến vấn đề tôn giáo, sắc tộc, giới tính, phân tầng xã hội, vấn

đề người khuyết tật, người đồng tính (King, 2005; McKewen, 2003) đã làm đa dạng hóa các nhóm SV, chúng đòi hỏi các CVHT không thể không lưu ý khi cố vấn cho SV

Hendey (1999) đã cho rằng, thực tế có quá nhiều lý thuyết phát triển khác nhau ứng dụng cho hoạt động CVHT, nhưng chúng đều đưa ra một cách hiểu chính xác chung nhất về cố vấn phát triển hơn là gây khó khăn cho hoạt động cố vấn trong trường học Các CVHT không nên bị sa lầy vào một lý thuyết phát triển cụ thể nào, mà cần có hiểu biết về một vài lý thuyết phát triển cụ thể để ứng dụng trong công việc của mình

Việc xây dựng lý thuyết cho hoạt động CVHT sẽ tạo ra các lăng kính mà thông qua đó việc học tập của SV có thể hiện lên một cách rõ nét Tuy nhiên, một lăng kính không thể được sử dụng mãi mãi bởi vì người được quan sát cũng như đối tượng quan sát luôn luôn thay đổi

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Từ năm 2010, hầu hết các trường Cao đẳng, Đại học đã chính thức áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ Sự chuyển giao giữa hai phương thức đào tạo niên chế

và đào tạo theo HCTC; sự thiếu hụt về hệ thống lý luận và thực tiễn áp dụng mô hình đào tạo theo HCTC đã gây không ít khó khăn cho các nhà trường trong quá trình đào tạo Trước tình hình đó, các nhà giáo dục đã tiến hành những nghiên cứu về đào tạo theo HCTC để hoàn thiện hệ thống lý luận, đồng thời nghiên cứu những kinh nghiệm từ các

mô hình đào tạo trên thế giới, bao gồm cả những nghiên cứu về đội ngũ CVHT làm phong phú thêm thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo theo HCTC

Đội ngũ cố vấn học tập có vai trò đặc biệt và có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả của phương thức đào tạo mới này Khi bắt đầu áp dụng đào tạo theo HCTC, do không còn GVCN lớp nữa mà thay bằng cố vấn học tập nên vấn đề đặt ra là vai trò của CVHT khác biệt như thế nào so với GVCN lớp và phải đặt đội ngũ CVHT ở vị trí nào mới phù hợp Một số trường ĐH đã tổ chức Hội nghị, Hội thảo bàn luận về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của CVHT cũng như những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác CVHT trong nhà trường

Trang 17

Chủ yếu những tài liệu tham khảo về công tác cố vấn học tập hiện nay đều thông qua những bài báo, bài tham luận tại các hội thảo, hội nghị; một số tài liệu về CVHT nước ngoài; những quy định, quy chế liên quan đến CVHT Trong giai đoạn 2001 – 2009, chưa có

đề tài nghiên cứu sâu sắc đối tượng này CVHT vẫn là một khái niệm còn tương đối mới đối với đào tạo tại Việt Nam

Đến năm 2010, tác giả Trần Thị Minh Đức (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn)

đã tiến hành đề tài nghiên cứu đặc biệt cấp ĐH Quốc gia về CVHT trong thời gian 02 năm

(từ 04 2010 đến 04 2012) là y dựng mô hình hoạt động c a cố v n h c tập trong đào tạo tín chỉ trư ng ại h c Việt Nam Đề tài do Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn

làm cơ quan đảm nhận thực hiện, phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu về phụ nữ - ĐHQGHN thực hiện Đề tài nghiên cứu về thực trạng đào tạo theo HCTC và vai trò của CVHT trong đào tạo theo HCTC, đồng thời dựa trên lý thuyết tiếp cận và các mô hình CVHT các trường đại học trên thế giới để xác định hoạt động của CVHT trong các trường Đại học có đào tạo theo HCTC tại Việt Nam; từ đó đề xuất xây dựng mô hình CVHT

Tháng 6 2011, Trường Đại học Cần Thơ đã tổ chức Hội nghị “Nâng cao vai trò Cố vấn học tập”, trong đó đề cập đến vai trò, chức năng, nhiệm vụ của CVHT; những khó khăn

và yêu cầu đối với đội ngũ CVHT và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của CVHT

Như vậy, trong khi hoạt động của CVHT đã được công nhận như một lĩnh vực có tính khoa học, có thể kiểm tra và đánh giá được thì nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu

về CVHT không phải là không có, song rất ít và hiếm có tài liệu nào nghiên cứu cụ thể, chi tiết về việc xây dựng mô hình CVHT trong ĐTTX

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm mô hình và mô hình cố vấn học tập

1 2 1 1 Khái niệm mô hình

Thuật ngữ Mô hình xuất phát từ tiếng La Tinh là “Model” được đưa vào ngôn ngữ khoa học từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 Theo tiếng La tinh, mô hình là chuẩn mực, quy tắc và sự vận động được điều tiết Có thể nói mô hình là một hệ thống các biểu tượng, là

sự tái hiện, là “phiên bản” sau khi đã loại bỏ những gì không phải bản chất của cái hiện thực Mô hình là một biểu tượng được giản ước theo một quy tắc nào đó để phản ánh đối

Trang 18

tượng sao cho dễ hiểu, dễ nhận ra nhất Trong khoa học hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về mô hình tuy nhiên trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi quan niệm mô hình như là kết quả của quá trình trừu tượng hoá mà thực chất là kết quả (hình ảnh) của quá trình rút gọn, sắp xếp và tái cấu trúc lại sự vật, hiện tượng hướng vào những cái cốt yếu nhất, bản chất nhất

Mô hình có vai trò hết sức quan trọng trong nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và

xã hội phức tạp, đặc biệt là các hiện tượng tâm lý xã hội phức tạp, ví dụ hoạt động trợ giúp nạn nhân chất độc đioxin Nhờ có mô hình mà con người có thể đi sâu vào bản chất của các hiện tượng, làm rõ cấu trúc và quan hệ qua lại giữa các thành tố tạo nên sự vật hiện tượng đó Mô hình bao gồm nhiều thành tố có tác động qua lại, chi phối và quy định lẫn nhau theo một phương thức xác định tạo nên sự thống nhất của mô hình Một thành tố của mô hình có thể là một mô hình bộ phận, độc lập tương đối với mô hình chung, mô hình tổng hợp, khái quát

Có thể đưa ra định nghĩa ngắn gọn về mô hình như sau: Đó là chuẩn mực, quy tắc

và sự vận động được điều tiết Cụ thể hơn, có thể hiểu mô hình là một hệ thống các hình ảnh, biểu tượng được giản ước theo một quy tắc nào đó để phản ánh đối tượng sao cho dễ hiểu, dễ nhận ra bản chất của hiện thực được mô tả

1 2 1 2 Khái niệm về mô hình cố v n h c tập

Theo chúng tôi, mô hình CVHT được hiểu là những quy tắc và sự vận động được điều tiết giữa hoạt động của giảng viên và các phòng ban chức năng hay và Trung tâm tư vấn trong việc tư vấn học tập và các hoạt động khác cho SV, nhằm giúp sinh viên trưởng thành trong môi trường học tập ở bậc ĐH

Liên quan với mô hình CVHT ở ĐH, câu hỏi đặt ra là hoạt động CVHT nằm ở đâu trong tổng thể sơ đồ hoạt động đào tạo sinh viên?

Theo cách nhìn về mô hình hoạt động chung, người ta cần xem vị trí của CVHT trong mối liên hệ với nhà trường, các phòng ban (như phòng đào tạo, phòng công tác sinh viên ) và các khoa, bộ môn Trong khi đó, mô hình riêng trong hoạt động của CVHT lại

là mô hình cho một dạng hoạt động trợ giúp cụ thể, Ví dụ như hoạt động tư vấn cho sinh viên của các chuyên viên phòng đào tạo là gì? Hoạt động của các chuyên viên phòng

Trang 19

công tác sinh viên với chức năng tư vấn sinh viên là gì? Hoạt động của CVHT trong trợ giúp sinh viên là gì? Hoạt động tư vấn của các giáo viên bộ môn hay Trung tâm tư vấn sinh viên là gì?

• Dựa vào tính chất hoạt động khác nhau của CVHT, người ta có thể xem CVHT theo mô hình chức năng Mô hình cố vấn chức năng phản ánh vai trò của CVHT trong từng hoạt động trợ giúp sinh viên (CVHT giúp sinh viên nhận biết năng lực và điều kiện thực tế của mình để họ có thể xây dựng và hoàn thành kế hoạch học tập ở ĐH; giúp sinh viên thích nghi với môi trường ĐH và hướng dẫn sinh viên giải quyết những khó khăn ngoài việc học tập mà SV đang gặp phải

• Dựa vào chủ thể của hoạt động CVHT, có thể chia ra các mô hình CVHT khác nhau, như mô hình CVHT chuyên nghiệp, đó là hoạt động của các chuyên gia tư vấn - tham vấn Công việc của họ chỉ chuyên tư vấn, tham vấn cho sinh viên Mô hình CVHT bán chuyên nghiệp, đó là các giảng viên - CVHT kiêm giảng viên bộ môn và mô hình CVHT là sinh viên năm trên, các thạc sỹ, nghiên cứu sinh làm công tác cố vấn tình nguyện

• Dựa vào quan điểm nhìn nhận sinh viên người học mà các CVHT có cách tiếp cận sinh viên khác nhau Các cách tiếp cận này tạo nên những mô hình CVHT khác nhau, như mô hình cố vấn phát triển, mô hình cố vấn ra lệnh hay mô hình cố vấn xâm nhập - cùng tham gia

1.2.2 Tín chỉ

Học chế tín chỉ ra đời từ năm 1872 tại ĐH Harvard (Mỹ) và nhanh chóng được triển khai, áp dụng vào đào tạo ở các trường ĐH trên thế giới từ cuối thế kỷ XIX Đến đầu thế

kỷ XX, hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi trong hầu hết các trường ĐH ở Mỹ Sau đó,

hệ thống này được phát triển ở các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ và nhiều nước khác

Năm 1999, Bộ trưởng đặc trách Giáo dục đại học ở 29 nước trong Liên minh Châu

Âu đã ký Tuyên ngôn Bologna nhằm hình thành “Không gian Giáo dục đại học Châu Âu”

và triển khai áp dụng đào tạo theo HCTC trong toàn bộ hệ thống này

Trong các Từ điển bách khoa và các tài liệu về giáo dục ĐH có nhiều định nghĩa khác nhau về tín chỉ Năm 1995, trong buổi thuyết trình về hệ thống ĐTTC tại ĐH Khoa

Trang 20

học Công nghệ Hoa Trung, Vũ Hán, James Quann (ĐH Quốc gia Washington) đã trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau:

Tín chỉ h c tập là một đại lượng đo toàn bộ th i gian bắt buộc c a một ngư i

h c bình thư ng để h c một môn h c cụ thể, bao gồm: th i gian lên lớp; th i gian trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định th i khóa biểu và th i gian dành cho đ c sách, nghiên cứu, giải quyết v n đề, viết hoặc chuẩn bị bài [3, tr 37]

Đây là một định nghĩa được các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất

Quy chế 43 2007 QĐ – BGD ĐT cụ thể hóa khái niệm tín chỉ: “Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng h c tập c a SV Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết h c lý thuyết, 30 - 40 tiết h c thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, 45- 90 gi thực tập tại cơ

s , 45 - 60 gi làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp ối với những

h c phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ SV phải dành

ít nh t 30 gi chuẩn bị cá nh n [6]

1.2.1.1 H c chế tín chỉ

Phương thức đào tạo theo tín chỉ là cách thức, quy trình triển khai các hình thức tổ

chức đào tạo theo HCTC Khi phương thức đào tạo được thể chế hóa bằng các quy định gắn với chế độ học tập theo quy trình tích lũy nội dung đào tạo tiến tới văn bằng và triển khai triệt để các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo theo tín chỉ với tất cả các đặc điểm của phương thức đào tạo theo tín chỉ thì có thể gọi một cách ngắn gọn : Học chế tín chỉ [9]

Đào tạo theo học chế tín chỉ cho phép người học đạt được văn bằng chứng chỉ sau khi tích lũy đủ hệ thống môn học (được đo bằng số tín chỉ) theo trình tự quy định của cơ

sở đào tạo đối với các văn bằng khi thực hiện các chương trình đào tạo Khi thực hiện đào tạo theo HCTC có nghĩa là tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi tín chỉ và thực hiện tư tưởng liên thông giữa các cơ sở đào tạo có cùng chương trình đào tạo, tạo điều kiện cho việc công nhận lẫn nhau trong giáo dục ĐH Tuy nhiên, đào tạo liên thông và chuyển đổi tín chỉ phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và chủ trương của các cấp quản lý nhà nước và việc công nhận lẫn nhau giữa các trường ĐH Trong phương thức đào tạo tín

Trang 21

chỉ, việc chuyển quyền lựa chọn và quyết định mục đích đào tạo cụ thể cũng như lựa chọn các môn học và kế hoạch học tập từ nhà trường cho đến SV đều thực hiện trong điều kiện quy định công khai số lượng và cấu trúc các môn học dẫn đến văn bằng

Đào tạo theo HCTC là một phương thức đào tạo mềm dẻo, có tính linh hoạt, liên thông cao; tăng cường tính tự giác, tích cực, chủ động, tự học, tự nghiên cứu của SV và giảng viên; tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho SV tích lũy kiến thức, kỹ năng; đồng thời cũng quản lý chặt chẽ quá trình học tập của từng SV để đảm bảo chất lượng đào tạo

1.2.1.2 Bản ch t c a đào tạo theo h c chế tín chỉ

Có thể nói quan điểm Tôn tr ng và tạo điều kiện thuận lợi cho ngư i h c, ngư i

h c là trung t m c a m i hoạt động trong nhà trư ng” là triết lý của đào tạo theo HCTC

Phương thức đào tạo này được tổ chức quản lý sao cho thuận lợi nhất cho người học, chương trình đào tạo được thiết kế mềm dẻo, linh hoạt để giáo dục ĐH dễ dàng đáp ứng các nhu cầu biến động của thị trường nhân lực

Quan điểm cơ bản của HCTC được thể hiện cụ thể là:

- Chương trình đào tạo được thiết kế theo tinh thần mô đun hóa, đa dạng, với nhiều môn học tự chọn tạo điều kiện cho người học có nhiều khả năng lựa chọn chương trình học

- Người học có thể chọn tiến trình học tập cho mình thay vì học theo tiến trình định sẵn cho từng khóa học theo niên chế

- Người học thuận lợi hơn khi chuyển trường, chuyển ngành, học thêm ngành khác, học liên thông do được công nhận khối lượng tín chỉ đã tích lũy

1.2.1.3 ặc điểm cơ bản c a h c chế tín chỉ

Tác giả Đặng Xuân Hải đã viết trong cuốn “Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

trong bối cảnh thay đổi” về đặc điểm cơ bản của học chế tín chỉ như sau:

- Chương trình đào tạo được môdun hóa để “lắp ráp” và tăng số môn học tự chọn

nhằm tạo điều kiện cho SV có quyền lựa chọn

- Kế hoạch đào tạo được bố trí theo tinh thần “ lấy người học làm trung tâm” nghĩa

là lớp học được bố trí theo học phần mà người học lựa chọn, đơn vị học vụ là học kỳ

- Tồn tại hệ thống CVHT để tư vấn cho SV lựa chọn và lên kế hoạch học tập phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ

Trang 22

- Phương pháp dạy học cũng như kiểm tra, đánh giá tăng tính chủ động và tích cực của người học

- Khi đã chuẩn hóa chương trình, giữa các ngành và các cơ sở đào tạo khác nhau

có thể liên thông, công nhận bảo lưu kết quả học tập các môn học cho người học và dùng chúng để “lắp ráp” lấy văn bằng theo yêu cầu cụ thể của văn bằng cụ thể nào đó [12]

Theo Quy chế đào tạo ĐH và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Bộ Giáo dục & Đào tạo, đào tạo theo HCTC có những đặc điểm cơ bản sau [6]:

- Kiến thức được cấu trúc thành những module (học phần) và đòi hỏi SV phải tích lũy kiến thức theo từng học phần Mỗi module là một phần của môn học được giảng dạy trọn vẹn trong một học kỳ và được đánh giá độc lập với các module khác

- Khối lượng học tập của SV được tính bằng tín chỉ Một tín chỉ được quy định bằng

15 tiết học lý thuyết; 30 – 45 tiết học thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 – 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 – 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp

- Trong đào tạo tín chỉ, đơn vị học vụ là học kỳ Mỗi năm có thể chia thành 2 học

kỳ (15 tuần), 3 học kỳ (15 tuần) hoặc 4 học kỳ (10 tuần) Mỗi học kỳ đều có thể tuyển sinh và xét tốt nghiệp cho SV

- Lớp học được tổ chức theo học phần SV sẽ đăng kí các học phần ở đầu mỗi học

kỳ Mỗi học phần chỉ kéo dài trong một học kỳ

- Có hệ thống cố vấn học tập trợ giúp SV và chương trình đào tạo mềm dẻo tạo điều kiện thuận lợi cho SV chuyển ngành hoặc học cùng lúc hai chương trình

- Quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy cho từng văn bằng và xếp năm học cho SV theo khối lượng kiến thức đã tích lũy:

Ví dụ: + Dưới 30 tín chỉ: SV năm thứ nhất

+ Từ 30 đến dưới 60 tín chỉ: SV năm thứ hai

- Việc đánh giá kết quả học tập của SV được tiến hành thường xuyên và sử dụng thang điểm chữ tương đương với các điểm số (thang điểm 4): Điểm A, B, C, D, F tương đương với 4, 3,2,1,0

- SV sau khi hoàn thành chương trình học không phải thi tốt nghiệp SV cuối khóa có thể làm đồ án hoặc khóa luận tốt nghiệp tương đương với 14 tín chỉ ở bậc ĐH và 5 tín chỉ đối

Trang 23

với cao đẳng SV tốt nghiệp phải tích lũy đủ số tín chỉ và có điểm trung bình 2,00 trở lên và chỉ có một văn bằng chính quy đối với hai loại hình tập trung hoặc không tập trung

Dựa trên các đặc điểm đó, đào tạo theo HCTC thể hiện một số đặc tính như sau:

Thứ nh t, đào tạo theo HCTC có tính liên thông Đào tạo theo HTTC đảm bảo kết nối

các môn học theo các phương pháp được thừa nhận trong phạm vi một hệ thống giáo dục

Thứ hai, đào tạo theo HCTC có tính ch động Thông qua việc lựa chọn và bố trí môn

học cũng như thời gian học, SV có thể chủ động xây dựng chương trình và kế hoạch học tập phù hợp với những điều kiện cá nhân của mình

Thứ ba, đào tạo theo HCTC có tính khoa h c Hệ thống tín chỉ gắn liền việc phân chia

các loại môn học theo một trình tự logic khoa học nhất định và hình thành cây tín chỉ để SV

và giảng viên có thể theo dõi được cả quá trình học tập một cách thuận tiện Trên cơ sở đó,

SV có thể lựa chọn được trước tiến trình học tập phù hợp với mình trong suốt khoá học

Thứ tư, đào tạo theo HCTC có tính thực tiễn, linh hoạt Nhà trường cần có kế

hoạch xem xét lại chương trình học theo định kì Đối với những môn học cần thiết thì giữ lại, những môn học nào lạc hậu, không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn thì phải sửa đổi hoặc loại bỏ

Những đặc tính trên giúp đào tạo theo HCTC thể hiện một loạt các ưu thế so với đào tạo niên chế và trở nên phù hợp với xu hướng dạy học lấy người học làm trung tâm

Ở Việt Nam, từ năm 1987, đào tạo theo HCTC được áp dụng một phần dưới hình thức tổ chức môn học theo học phần và đơn vị học trình; chính thức được triển khai từ năm 2010 Việc thay thế hệ thống đào tạo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống đào tạo tín chỉ mềm dẻo, linh hoạt được xem như một giải pháp để đổi mới giáo dục ĐH và đã được khẳng định trong Luật giáo dục sửa đổi bổ sung 2009: “Đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục ĐH có thể được tiến hành theo hình thức tích lũy tín chỉ hay theo niên chế [15, tr.28] Nghị quyết của Chính phủ số 14 2005 NQ – CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục ĐH Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 cũng xác

định: y dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để ngư i h c tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các c p h c tiếp theo trong nước và nước ngoài” [16]

Trang 24

Cùng với đó, Quyết định 43 2007 QĐ – BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 về việc ban hành “Quy chế đào tạo ĐH và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” của

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức tạo cơ sở pháp lý để đưa hệ thống tín chỉ vào vận

hành trong đào tạo ở bậc ĐH [6]

1.2.3 Đào tạo Từ xa

1.2 3 1 Khái niệm đào tạo từ xa

Hiện nay, có nhiều thuật ngữ được sử dụng để mô tả khái niệm giáo dục - đào tạo

từ xa, chẳng hạn như Giáo dục mở, GDTX, Dạy từ xa, Học từ xa, Đào tạo từ xa hoặc giáo dục ở xa Cho dù với khái niệm nào thì bản chất quá trình dạy và học phải bao hàm yếu

tố có sự tách biệt, ngăn cách về mặt không gian hoặc và thời gian

Theo nhiều học giả trên thế giới thì “GDTX là một quá trình giáo dục - đào tạo mà trong đó phần lớn hoặc toàn bộ quá trình giáo dục - đào tạo có sự tách biệt giữa người dạy và người học về mặt không gian hoặc và thời gian”

Không có một định nghĩa chính xác về GDTX Tuy nhiên một cách tổng quát, GDTX

là hoạt động dạy học diễn ra một cách gián tiếp theo PPDH từ xa GDTX được hiểu bao hàm các yếu tố dưới đây:

1 Giảng viên và SV ở một khoảng cách xa (tức là có sự ngăn cách về mặt không gian: khoảng cách này là tương đối, có thể là cùng trường học nhưng khác phòng học hoặc khác nhau về vị trí địa lý, có thể vài kilomet hoặc hàng ngàn kilomet)

2 Nội dung dạy học trong quá trình dạy học được truyền thụ, phân phối tới cho

SV chủ yếu thông qua các hình thức thể hiện gián tiếp như văn bản in, âm thanh, hình ảnh hoặc số liệu máy tính

3 Sự liên hệ, tương tác giữa GV và SV (nếu có) trong quá trình dạy học có thể được thực hiện tức thời hoặc trễ sau một khoảng thời gian nào đó (có sự ngăn cách về mặt thời gian)

ĐTĐHTX là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự gián cách giữa người dạy và người học về mặt không gian và thời gian Người học theo hình thức GDTX chủ yếu

tự học qua học liệu như giáo trình, băng hình, băng tiếng, đĩa CD-ROM, phần mềm vi tính,

Trang 25

bằng việc sử dụng các phương tiện nghe - nhìn cá nhân, phát thanh, truyền hình, các tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng Internet dưới sự tổ chức, trợ giúp của nhà trường

1.2.3 2 ặc điểm c a đào tạo từ xa

- Trong GDTX, người dạy và người học ở cách xa nhau Khoảng cách địa lý ngăn cách người dạy và người học là đặc điểm đầu tiên để phân biệt GDTX với các phương thức giáo dục truyền thống khác GDTX không chỉ khắc phục khoảng cách về địa lí mà còn có thể phải khắc phục khoảng cách tâm lí Có nhiều yếu tố góp phần ngăn cách con người thuộc các giới khác nhau với các nhà trường truyền thống, đó là tuổi tác, hoàn cảnh làm việc, không muốn đi lại thường xuyên, hoàn cảnh của môi trường đào tạo Như vậy GDTX phải khắc phục được mọi trở ngại về khoảng cách địa lí và tâm lí

- Trong GDTX, người học tự học là chủ yếu Vắng mặt giáo viên ở nơi học tập, cách biệt với các SV khác, ở xa cơ sở đào tạo, SV học từ xa thường chủ yếu là tự học Việc

tự tiến hành chủ yếu trên tài liệu học tập và tài liệu hướng dẫn Đó là các ấn phẩm và các phương tiện thông tin Để giúp SV tự học tốt, họ cần được khuyến khích động viên và được nhận thức rằng học có thể nâng cao vốn kiến thức của mình khi có ý chí và quyết tâm học tập, biết phát huy năng lực tự học của mình, đồng thời có nghị lực vượt qua mọi khó khăn trong học tập Giải pháp này dựa trên cơ sở tâm lí sư phạm, trong đó điều quan trọng

là chỉ ra cho người học cách tự học có hiệu quả để sự thành công trong học tập ngày càng củng cố và nâng cao lòng tự tin của họ Như vậy trước hết phải tạo ra môi trường học tập trong đó người học được rèn luyện thói quen thường xuyên học tập, dần dần trở thành người biết tự học Bên cạnh đó cũng đòi hỏi ở các nhà sư phạm, các chuyên gia kỹ thuật … phải có sự đóng góp tích cực cho các SV tự học Điều đó phải được thực hiện ở tất cả các khâu trong quá trình dạy học như: xây dựng chương trình, tổ chức hoạt động, lựa chọn thiết

kế, sản xuất và vận hành sử dụng các phương tiện, học liệu… Mặt khác, để khắc phục việc học một cách đơn điệu, người học có thể kết hợp với nhau thành các nhóm học tập Trong các nhóm này, họ phải tự học, nhưng có thể trao đổi và giúp đỡ lẫn nhau Đó là cách thể hiện mối quan hệ trò-trò trong dạy học từ xa nhằm phát huy tác dụng đối thoại trong học tập Tuy nhiên không được tuyệt đối hóa vai trò của học nhóm, càng không lấy học nhóm thay thế cho tự học Tự học, học nhóm có quan hệ tương hỗ Chúng là bản chất của dạy học

Trang 26

từ xa, nhưng tự học vẫn là bản chất nổi trội Vì đặc điểm này của dạy học từ xa nên tài liệu

in viết cho người học phải khác tài liệu giáo khoa dùng trong dạy học truyền thống Đó là các tài liệu tự học mà nếu được viết tốt sẽ không những có ích cho người học từ xa mà còn

có ích cho người học trong dạy học truyền thống

- Trong GDTX người ta thường phải sử dụng các phương tiện công nghiệp hoặc cận công nghiệp Đây chính là các phương tiện làm cầu nối giữa giáo viên và SV trong khi giữa họ có khoảng cách Chính nhờ các phương tiện này mà bài học được truyền tải đến SV một cách gián tiếp, nó thể hiện mối liên hệ thầy trò trong dạy học từ xa Tùy theo phương tiện khác nhau mà mối liên hệ này được thực hiện qua kênh chữ hay kênh lời nói Chẳng hạn như trong lớp hàm thụ dùng thư có mối liên hệ bằng chữ, trong các lớp học có băng hình, băng tiếng có mối liên hệ bằng lời Cũng tùy theo phương tiện khác nhau và cách thức tổ chức khác nhau, mối liên hệ này là một chiều hay hai chiều Chẳng hạn như học hàm thụ bằng thư tác động qua thầy và trò là ít còn học từ xa theo phương tiện radio hai chiều thì đối thoại giữa thầy và trò tích cực hơn

Dưới đây chúng tôi giới thiệu một số phương tiện dạy học từ xa đã được tổng kết ở

Úc Đó là các phương tiện: ấn phẩm, Fax, băng tiếng, đài phát thanh, băng hình, truyền hình,

hệ thống vi tính truyền thông đa dạng, đàm thoại có hình, cầu truyền thanh, cầu truyền hình, hòm thư điện tử Mỗi loại này có ưu điểm và nhược điểm của nó Ví dụ, ấn phẩm là phương tiện quen thuộc, tham khảo nhanh và dễ sửa đổi nhưng nó không có tác động qua lại và có thể tốn kém khi cần cập nhật Phương tiện băng tiếng thì rẻ, sẵn có, dễ phân phát, lưu trữ được sự kiện nhưng lại không có hình và không có sự tác động qua lại Đài phát thanh thì rẻ, sẵn có, phát triển kỹ năng hình tượng nhưng tác động qua lại hạn chế Băng hình và truyền hình có đặc điểm là hình động, lưu trữ được sự kiện nhưng lại không có tác động qua lại Truyền thông đa phương tiện có ưu điểm là đào tạo có kết quả, tác động qua lại cao nhưng giá thành cao và trang bị tốn kém Cầu truyền hình giống như mặt đối mặt, có tác động qua lại cao nhưng giá thành cao và thiết bị phức tạp,…

Qua đây chúng ta thấy các phương tiện khác nhau có khả năng khác nhau Vì vậy nên phối hợp các phương tiện trong dạy học từ xa Về sử dụng phương tiện, có nhóm tác giả đã nêu lên mệnh đề: một chương trình dạy học từ xa có nhiều phương tiện truyền

Trang 27

thông thì sẽ thực sự có hiệu quả hơn chương trình chỉ dùng một phương tiện, vì người học sẽ hứng thú và học có hiệu quả hơn; các phương tiện khác nhau có thể hỗ trợ lẫn nhau, đối với từng cá nhân có người học phương tiện này hiệu quả hơn phương tiện khác

Ở Anh có công trình nghiên cứu tỉ lệ số người học các khóa học và kết luận: ưu điểm thuộc về các khóa học dùng nhiều phương tiện truyền thông hơn

Vì các thiết bị truyền thông đắt tiền nên việc vốn đầu tư các thiết bị ban đầu cho dạy học từ xa thường tốn kém hơn dạy học truyền thống

- Trong GDTX mỗi khóa học không hạn định số lượng người học Đặc tính này không thể có trong dạy học truyền thống vì thông thường ở mỗi lớp học truyền thống số học sinh phụ thuộc vào chỗ ngồi trong lớp Khác với dạy học truyền thống, dạy học từ xa nhận SV theo số lượng bất kỳ ở các trung tâm đào tạo từ xa Có thể nói rằng không bao giờ có sự quá tải đối với dạy học từ xa, vì không bị hạn chế ở không gian hạn hẹp của một lớp học thông thường mà hoàn toàn có thể tự học ở nhà một mình Tuy nhiên số lượng SV không nên quá ít vì với chi phí ban đầu có GDTX tương đối lớn mà chỉ có ít người học thì chi phí chia cho đầu người sẽ cao Do đó, GDTX sẽ thật có ý nghĩa kinh tế hay có lãi khi có càng nhiều SV học từ xa

Dạy học từ xa có hai hoạt động dạy và hoạt động học không trực tiếp, không trong một không gian và không trong một thời gian như dạy học truyền thống Ngoài sự khác nhau giữa GDTX và giáo dục truyền thống, các hoạt động dạy và học của hai hệ thống giáo dục này có sự khác nhau Sau đây là hai bảng so sánh:

Bảng 1: So sánh việc dạy:

- GV sử dụng phương tiện truyền thông

- GV hướng dẫn và giải đáp thắc mắc

-Tính đối thoại giữa thầy và trò thực hiện

tùy thuộc vào khả năng của phương tiện

Trang 28

- Tự học theo cá nhân hoặc nhóm

- Tự chọn thời gian và môn học

- Dễ gian lận trong kiểm tra và thi cử

- Học tập trung đông trên lớp

- Học trong một khoảng thời gian xác định

và học theo đúng thời khóa biểu

- Kiểm tra thi cử nghiêm túc và chất lượng cao

Bảng 3: So sánh Cố vấn học tập

CVHT trong ĐTTX CVHT trong ĐT chính quy

- CVHT phụ thuộc vào công nghệ

- Nhiều thời gian

- Ít gặp trực tiếp SV

- SV ở nhiều trình độ, độ tuổi khác nhau

- Không phụ thuộc vào công nghệ

- Dùng ít thời gian hơn

- Thường xuyên gặp trực tiếp SV

- SV có cùng trình độ, cùng độ tuổi

1.3 Nguyên tắc, yêu cầu, vai trò và nhiệm vụ của cố vấn học tập trong ĐTTC theo phương thức TX

1.3.1 Nguyên tắc hoạt động của cố vấn học tập trong ĐTTX

Các nguyên tắc hoạt động của cố vấn học tập nói chung là những tư tưởng đạo đức, cung cấp những chỉ dẫn cho các hành động CVHT NACADA, năm 2004, đã đưa ra một

“Bản tuyên ngôn các giá trị cốt lõi” Bản tuyên ngôn này với hệ thống các nguyên tắc đạo đức được mô tả rõ ràng, trong đó lưu tâm đến sự đa dạng của các thành viên NACADA Bản tuyên ngôn giá trị cốt lõi cố gắng không đưa ra những quy định cụ thể mà các CVHT nên hay không nên làm, mà nó đưa ra sự trình bày về trách nhiệm, liệt kê những cái mà CVHT “có trách nhiệm với ai” và “có trách nhiệm vì điều gì” Trong ĐTTX các nguyên tắc có liên quan trực tiếp đến hoạt động của CVHT, được rút ra từ các tư tưởng trên;

- Tìm kiếm các cơ hội để nâng cao việc học tập của SV hệ TX bất cứ khi nào có thể

- Đối xử công bằng với SV hệ TX

- Khuyến khích sinh viên TX tự đưa ra quyết định của mình

- Bảo vệ sinh viên

- Nói đúng sự thật

- Tôn trọng tính bí mật thông tin đối với sinh viên hệ TX

- Ủng hộ quan điểm và chính sách giáo dục của cơ sở đào tạo

Trang 29

- Giữ vừng độ tin cậy của chương trình CVHT :

- Cư xử với đồng nghiệp đúng phép tắc, lịch sự và tôn trọng

1.3.2.Yêu cầu đối với cố vấn học tập trong ĐTTX

- CVHT trong ĐTTX phải có sự hiểu biết về sự phát triển của sinh viên hệ TX, quá trình học tập của sinh viên hệ TX, sự phát triển nghề nghiệp, và các lý luận có liên quan đến giáo dục, khoa học xã hội và con người

- CVHT phải có kiến thức chuyên sâu về các chương trình giáo dục trong ĐTTX, yêu cầu học vấn, các chính sách và thủ tục, các môn chuyên ngành, các môn bổ trợ, và các dịch vụ hỗ trợ đối với SVTX Đặc biệt để tư vấn hiệu quả cho SV hệ TX thì CVHT theo phương thức TX phải giỏi về công nghệ, thành thạo sử dụng máy tính, mạng Internet, webside

- CVHT cho SV hệ TX phải bày tỏ được sự quan tâm và tính hiệu quả khi làm việc, giúp đỡ SVTX; sẵn sàng tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp

- CVHT trong ĐTTX phải dành thời gian tư vấn cho SV nhiều hơn đối với CVHT cho SV chính quy

Trong các yêu cầu trên thì vấn đề CVHT giỏi về công nghệ là rất quan trọng vì SV

hệ TX có phương pháp học khác hẳn so với SV chính quy, do đặc thù của phương thức này mà CVHT rất ít khi gặp được trực tiếp SV, nên thời gian CVHT kết nối với SV chủ yếu là dùng điện thoại, qua mạng CVHT nên tổ chức các cuộc thảo luận theo hình thức sao cho thuận tiện đối với sinh viên, ví dụ như nói chuyện trực tiếp trong buổi khai giảng lớp học, qua điện thoại hoặc trực tuyến Các buổi thảo luận tư vấn có thể được thực hiện cá nhân hoặc theo nhóm Các cuộc thảo luận của CVHT cần được tổ chức cho sinh viên thường xuyên và phải tuân thủ thời gian yêu cầu đối với việc thực hiện hoạt động này một cách hiệu quả Các CVHT cần xem xét về thực trạng của sinh viên trước khi quyết định danh sách và thời gian tư vấn Ví dụ, những sinh viên năm thứ nhất, chưa có định hướng, chưa có sự chuẩn bị CVHT nên để cho sinh viên thời gian thích hợp thảo luận về những

kế hoạch, chương trình, khóa học, tiến bộ học tập và những môn học khác liên quan đến chương trình giáo dục của các em Một khi đã xác định được những việc phải làm, các CVHT có thể làm việc với sinh viên mà không chính thức giao nhiệm vụ cho các em và

Trang 30

sinh viên có thể được tư vấn bằng nhiều hình thức như: liên hệ bằngđiện thoại, gửi email tham gia các trang mạng XH Đội ngũ cố vấn có thể làm việc toàn thời gian hoặc bán thời gian, tức là họ có thể nhận tư vấn là nhiệm vụ chính hoặc có thể là những giáo viên vừa đứng lớp vừa là CVHT Các sinh viên đã tốt nghiệp, các thực tập sinh hoặc những người trợ giảng có thể tham gia chương trình giúp các cố vấn Tuy nhiên họ phải được đào tạo và giám sát chặt chẽ bởi các nhân viên chuyên gia có bằng cấp và kinh nghiệm làm việc phù hợp với việc giám sát Các CVHT là sinh viên hoặc tình nguyện viên phải được chọn lựa, giám sát và đánh giá một cách cẩn thận Họ phải là những người được đào tạo phù hợp với yêu cầu của các nhân viên và làm việc với người giám sát trước khi nhận quyết định Sinh viên và tình nguyện viên phải cung cấp bản ghi chú rõ ràng và kĩ càng về nghề nghiệp của

họ, các chương trình được đào tạo phù hợp với các yêu cầu và sự phát triển Các nhân viên

và tình nguyện viên phải được đào tạo kĩ càng về các chính sách giáo dục và quy định liên quan đến việc truy cập hồ sơ sinh viên và các thông tin nhạy cảm của cơ quan

Công tác cố vấn học tập trong ĐTTC theo phương thức TX là một hoạt động đặc thù có liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau trong cùng một hệ thống, tức là trong phạm vi nhà trường, đồng thời liên quan gián tiếp đến những mối quan hệ bên ngoài nhà trường (chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội…) Chính vì vậy, hoạt động này chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố mà người CVHT cần phải hiểu rõ các yêu cầu để bố trí công việc; thực hiện đúng và hiệu quả những nhiệm vụ được quy định

Thứ nhất, hoạt động tư vấn, trợ giúp cho SV hệ TX phải được tiến hành công

bằng, công khai và đặt mục tiêu lấy lợi ích của SV lên hàng đầu

Hoạt động nghiệp vụ của CVHT là một hoạt động được quy định một cách rõ ràng trong các văn bản của cơ quan chuyên môn trong nhà trường Đây là một hoạt động không thể thiếu trong đào tạo tín chỉ nhằm hỗ trợ các điều kiện cần thiết cho SV hệ TX

Do vậy, hoạt động này cần phải được diễn ra một cách công khai trong Khoa và nhà trường và phải lấy mục tiêu là hỗ trợ tối đa vì lợi ích của SVTX lên hàng đầu nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo CVHT trong ĐTTX cần phải khách quan trong tư vấn, hướng dẫn

SV học tập cũng như sinh hoạt, rèn luyện để tạo sự công bằng trong SV [17, tr.8]

Trang 31

Thứ hai, nội dung tư vấn phải trung thực, chính xác và không trái các quy định,

quy chế của nhà trường cũng như pháp luật của Nhà nước

Những nội dung tư vấn thường về chương trình đào tạo, cách lựa chọn và đăng kí học phần, cách thức xây dựng kế hoạch học tập cá nhân, phương thức học tập của SV hệ TX và những quy chế liên quan đến học tập và rèn luyện của SV… được quy định một cách chặt chẽ trong các văn bản pháp quy Do vậy, CVHT trong ĐTTX cần phải nắm vững những nội dung này để triển khai tư vấn, hướng dẫn, tổ chức cho SV thực hiện một cách chính xác Điều này góp phần đảm bảo cho quá trình học tập, rèn luyện của SV hệ TX diễn ra thông suốt, đồng thời cũng nâng cao uy tín của CVHT

Thứ ba, hoạt động của CVHT phải được ghi chép một cách cẩn thận trong các

biên bản cuộc họp, các biểu mẫu và kế hoạch công tác cá nhân

Hoạt động của người CVHT không phải diễn ra một cách tự phát và thời vụ mà thường xuyên và xuyên suốt từng học kì và cả năm học Hoạt động này cũng được nhà trường kiểm tra như những hoạt động chuyên môn khác Bởi thế, người CVHT trong ĐTTX cần phải có kế hoạch làm việc rõ ràng, cụ thể, những hoạt động triển khai tới SV cần phải có biên bản, nội dung được ghi chép cẩn thận, rõ ràng để có thể làm cơ sở cho những cuộc tư vấn sau cũng như làm cơ sở cho việc kiểm tra, thanh tra hiệu quả hoạt động nghiệp vụ của CVHT

Do đặc thù của ĐTTC theo phương thức TX rất khác so với đào tạo theo niên chế và ĐT chính quy truyền thống nên những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiệp vụ của đội ngũ CVHT khá đa dạng

ếu tố thứ nh t là những quy chế, quy định c a nhà trư ng Yếu tố này thể hiện

rất rõ trong quá trình hoạt động của CVHT cho SV hệ TX Những quy chế, quy định của nhà trường càng rõ ràng, cụ thể thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho CVHT hoạt động hiệu quả Đặc biệt là những quy định liên quan đến cơ chế phối hợp giữa CVHT và các phòng ban, đoàn thể trong việc lập kế hoạch đào tạo, thiết kế chương trình học tập cá nhân cho SV, kiểm tra đánh giá và xếp loại SV, bồi dưỡng nghiệp vụ cho CVHT

ếu tố thứ hai là chế độ, chính sách đối với CVHT Hiện nay, CVHT thường là

giảng viên kiêm nhiệm Ngoài nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học của giảng viên,

Trang 32

họ còn phải dành thời gian để thực hiện công tác tư vấn, giúp đỡ cho SV trong học tập và rèn luyện Như vậy, số giờ làm việc của CVHT có thể tăng lên nhiều lần so với giờ đứng lớp và nghiên cứu định mức Do đó cần có những chế độ đãi ngộ xứng đáng: lương, phụ cấp… để họ yên tâm công tác và đầu tư thời gian, công sức cho công việc của mình

ếu tố thứ ba là trình độ năng lực và kinh nghiệm Đa số CVHT thường là giảng

viên trẻ, họ chưa hiểu rõ những quy định liên quan đến công tác đào tạo và quản lý SV đặc biệt là QL SV hệ TX Mặt khác, những giảng viên trẻ thường phải dành nhiều thời gian cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học, do vậy quỹ thời gian của họ sẽ không đủ để phân chia cho nhiệm vụ CVHT Tuy nhiên, những giảng viên giàu kinh nghiệm thường tránh né việc đảm nhận công tác này Biện pháp chủ yếu vẫn là phân công những giảng viên trẻ, nhiệt tình, hoặc GV trẻ chưa được tham gia giảng dạy thường xuyên cập nhật thông tin và chịu khó học hỏi vào vị trí CVHT song nhà trường cũng như khoa bộ môn cần chú ý đến trình độ của những giảng viên này, tránh phân công cho những giảng viên mới tham gia giảng dạy trong thời gian ngắn, chưa hiểu rõ về quy chế đào tạo TX cũng như công tác SV đảm nhận

1.3.3 Vai trò của cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ theo phương thức TX

Đào tạo theo HCTC đòi hỏi sự tự giác và chủ động của người học Thực hiện điều này là không dễ; do vậy, vai trò của người CVHT trong đào tạo theo HCTC là thật sự quan trọng và đối với phương thức TX thì lại càng không thể phủ nhận điều này CVHT được xem là một bộ phận không thể tách rời và đảm bảo cho “cỗ máy” HCTC vận hành hiệu quả, thông suốt

Thật vậy, mỗi CVHT là một nhân tố then chốt trong mối quan hệ NT - SV; là một chuyên gia tư vấn về học tập cho SV, đồng hành cùng SV trong suốt quá trình học tập Vai trò của CVHT ngày càng không thể thiếu trong quá trình phát triển của SV, giúp SV

có thêm thông tin và tự quyết định cách thức học tập của mình

Thứ nhất, cố vấn học tập có vai trò định hướng cho SV trong việc lựa chọn

chương trình học tập phù hợp

Đào tạo theo HCTC cho phép người học tự lựa chọn một chương trình đào tạo phù hợp với bản thân, tự lựa chọn điểm bắt đầu và kết thúc chương trình trên cơ sở đảm bảo

Trang 33

những môn học nền tảng và môn học tiền đề Khi còn đang trong giai đoạn giao thoa giữa đào tạo niên chế và đào tạo theo HCTC, đa số SV còn chưa thích ứng kịp nên khó có thể

tự mình lựa chọn được một chương trình học tập vừa phù hợp với bản thân, vừa đáp ứng được các yêu cầu về đào tạo nhà trường Sự trợ giúp của CVHT ở đây là rất cần thiết trong định hướng những bước đi đầu tiên cho SV, đặt nền tảng cho họ ở năm thứ nhất và

có thể theo học được những năm tiếp theo mà ít gặp trở ngại

Thứ hai, cố vấn học tập là người tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ SV lựa chọn và

thiết kế kế hoạch học tập cá nhân

Nếu trong đào tạo theo niên chế, nhà trường thiết kế một chương trình học tập chung cho tất cả SV, một thời khóa biểu chung cho lớp SV chuyên ngành, thì với đào tạo theo HCTC SV phải lựa chọn và đăng kí môn học theo chương trình đào tạo tín chỉ (được sơ đồ hóa bằng cây tín chỉ) Do thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về chuyên ngành đào tạo, nên họ khó có thể đưa ra quyết định lựa chọn đăng kí học phần nào trước, học phần nào sau, đặc biệt là SVTX vẫn giữ thói quen tư duy ỷ lại [17, tr.1-2]

Mặt khác, trong ĐTTC, SV tự thiết kế cho mình kế hoạch học tập, thời khóa biểu của riêng mình dựa trên chương trình đào tạo của nhà trường Do vậy, vấn đề nảy sinh ở đây là SV chưa có đủ kiến thức cũng như khả năng để tự thiết kế cho mình một kế hoạch học tập phù hợp với định hướng nghề nghiệp của mình cũng như mục tiêu đào tạo của nhà trường Họ cũng chưa đủ kỹ năng lựa chọn và xây dựng tiến trình học tập phù hợp với điều kiện của bản thân Do đó SV có thể lựa chọn quá nhiều hoặc quá ít tín chỉ trong một học kỳ và dễ dàng rơi vào tình trạng không đảm bảo được tiến độ thực hiện hoặc không tận dụng được lợi thế của phương thức ĐTTC

Chính vì vậy, SV cần được một đội ngũ CVHT làm nhiệm vụ tư vấn và hỗ trợ một cách đầy đủ về quá trình học tập của mình tại trường, nhằm giúp họ có thể lựa chọn và thiết kế tiến trình học tập của bản thân một cách phù hợp nhất, vừa có thể đảm bảo tiến

độ thực hiện chương trình, vừa có thể phát huy tối đa khả năng học tập và có thể rèn luyện thêm các kỹ năng khác trong môi trường ĐH cũng như tranh thủ thời gian để học thêm một chuyên ngành khác theo nguyện vọng của cá nhân

Trang 34

Thứ ba, cố vấn học tập có vai trò hỗ trợ SV tổ chức, điều chỉnh hoạt động học tập

của bản thân

Đối với nhiều SV, việc tự tổ chức và điều chỉnh hoạt động học tập của bản thân chưa được coi trọng Khi tham gia học tập theo phương thức TX, nhiều người vẫn còn tâm lý ỷ lại cũng như chưa tạo cho mình thói quen tự giác tổ chức hoạt động học tập bởi

SV hệ TX rất ít phụ thuộc vào thầy cô Trong môi trường ĐTTC theo phương thức TX yếu tố chủ động, tích cực của SV là một trong những yếu tố được đặt lên hàng đầu, quyết định sự thành công của phương thức đào tạo này Song, sự tích cực, chủ động, tự giác của

SV trong việc tự tổ chức hoạt động học tập cần có sự định hướng, hướng dẫn từ giảng viên, mà trực tiếp là đội ngũ CVHT để có thể đáp ứng một cách chính xác và đầy đủ những yêu cầu đào tạo của nhà trường

Bên cạnh đó, việc tự điều chỉnh hoạt động học tập theo đúng hướng, đúng tiến trình khi xảy ra sự lệch lạc cũng là một vấn đề mà SV cũng như CVHT cần lưu ý Thông thường, khi xảy ra tình trạng trên, có rất ít SV ý thức được và có sự cố gắng, nỗ lực thay đổi Lúc này, CVHT cần đảm nhận vai trò như một chiếc la bàn, định hướng lại và giúp cho SV có thể điều chỉnh hoạt động học tập của mình theo đúng mục đích và đạt yêu cầu

đã đề ra

Thứ tư, cố vấn học tập là cầu nối giữa những yêu cầu về thực hiện chương trình

đào tạo tín chỉ của nhà trường và khả năng thực hiện của từng SV, là cầu nối cho việc hiện thực hóa các chương trình đào tạo tới từng SV

Sứ mạng cũng như mục tiêu đào tạo của nhà trường được SV tìm hiểu từ trước khi nhập trường Song đó chỉ là sự hiểu biết ban đầu SV cần phải được liên tục truyền tải thông điệp về mục tiêu cũng như chương trình đào tạo của nhà trường để họ có thể xác định đúng mục đích học tập của bản thân, từ đó xác lập một kế hoạch học tập và rèn luyện phù hợp để đạt được mục đích đó

Bên cạnh đó, chương trình đào tạo của nhà trường tương đối phức tạp và SV khó

có thể tự tìm hiểu được một cách đầy đủ và chính xác Họ cần có người tư vấn, hướng dẫn họ, trước hết là trong việc xem xét tiến trình đào tạo của nhà trường, rồi sau đó mới đến công đoạn lựa chọn học phần và thiết lập kế hoạch học tập CVHT chính là đội ngũ

Trang 35

đảm nhiệm vai trò này Những yêu cầu về thực hiện chương trình đào tạo như thế nào, trong thời gian bao lâu, ở giai đoạn này cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể nào, khi nào thì kết thúc học phần đều được CVHT trao đổi với SV một cách tỉ mỉ và rõ ràng CVHT cần đảm bảo SV mà mình phụ trách hoàn toàn hiểu được tiến trình và những yêu cầu đó một cách chi tiết và chính xác

Thứ năm, cố vấn học tập có vai trò hỗ trợ SV trong việc thực hiện nội quy, quy

chế của nhà trường về ĐTTX

Thông thường, SV đều tìm hiểu những quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của mình thông qua Quy chế học sinh, SV của Bộ Giáo dục và Đào tạo Tuy nhiên, đối với loại hình ĐTTX thì có những nội quy, quy chế riêng và đòi hỏi SV cần tuân thủ nghiêm ngặt bên cạnh việc thực hiện quy định chung Song không phải SV nào cũng biết và tự giác tìm hiểu những quy định này Ngay từ đầu học kỳ, CVHT cần truyền tải những điều cơ bản về quy định, quy chế của nhà trường đến SV và liên tục cập nhật tới SV trong những học kỳ tiếp theo Đồng thời phải hướng dẫn và hỗ trợ SV trong việc thực hiện những quy định đó một cách đầy đủ và chính xác

Thứ sáu, CVHT là người hỗ trợ Ban chủ nhiệm khoa trong công tác quản lí SV,

theo dõi tình hình SV để kịp thời xử lý tình huống phát sinh

Trong đào tạo theo HCTC, các lớp học được tổ chức theo học phần Do đó, trong thời kì chuyển giao giữa đào tạo niên chế và ĐTTC sẽ tồn tại đồng thời và song song hai hình thức tổ chức lớp học: lớp chuyên ngành (theo khoa) và lớp tín chỉ (theo học phần) Trong khi đơn vị lớp học theo niên chế ổn định và xuyên suốt các năm học cho đến khi

SV ra trường thì lớp tín chỉ lại có kết cấu lỏng lẻo, tạm thời Việc theo dõi mức độ chuyên cần, tổ chức các hoạt động và xét kết quả rèn luyện của SV là một vấn đề nan giải Do đó, quản lý SV trong đào tạo tín chỉ có thể được xem như là quản lý động, tức là

đề cập đến sự đa dạng và biến động trong quản lý SV Điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi về nhận thức cũng như cách thức tổ chức đào tạo và quản lý SV

Tóm lại, CVHT đóng vai trò quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý SV thông qua hoạt động tư vấn, trợ giúp, theo dõi và định hướng cho SV xây dựng chương

Trang 36

trình học tập Rõ ràng không phải không có lý do xác đáng khi xác định tồn tại đội ngũ CVHT vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện tiên quyết trong đào tạo tín chỉ

1.3.4 Nhiệm vụ của cố vấn học tập trong ĐTTC theo phương thức Từ xa

- Tư vấn trong lĩnh vực học tập: Thảo luận và hướng dẫn cho sinh viên tìm hiểu chương trình học tập và cách lựa chọn môn học Hướng dẫn cho SV đăng ký môn học; Theo dõi việc đăng ký học tập của sinh viên cho phù hợp với quy định của nhà trường; Thảo luận và hướng dần sinh viên lập kế hoạch học tập cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo của trường; Hướng dẫn sinh viên về phương pháp học tập, nghiên cứu và thường xuyên theo dõi kết quả học tập của sinh viên; Tư vấn đối với việc đăng ký môn học của sinh viên nếu phát hiện thấy có môn học chưa hợp lý; Nhắc nhở sinh viên khi thấy kết quả học tập của họ giảm sút; Hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên giải quyết những khó khăn vướng mắc trong học tập; giải thích cho sinh viên về cách tính điểm trung bình chung của mình và hướng dẫn sinh viên về cách học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ

- Các nhiệm vụ khác: Xem xét các yêu cầu của sinh viên để giải quvết đúng theo quy định; Phối hợp với các giảng viên, các đơn vị công tác liên quan, nhất là phòng Công tác sinh viên, phòng Đào tạo để giúp đỡ và tạo điều kiện cho sinh viên học tập; Quy định thời gian tiếp sinh viên để họ có thể thường xuyên đến nhận ý kiến tư vấn; Thu thập tư liệu

về các sinh viên mà mình phụ trách để lập hồ sơ về họ; Xây dựng mối quan hệ thân thiện

và hiểu biết lẫn nhau giữa sinh viên, giảng viên, tập thể và nhà trưòng; giải quyết các thủ tục hành chính cho SV; Phản ánh lại cho BGH và Hội đồng CVHT tình hình về các sinh viên mà mình phụ trách; Phối hợp công tác với Hội đồng CVHT; Giải thích cho sinh viên

rõ về vai trò, nhiệm vụ của sinh viên đối với CVHT

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 – Cơ sở lý luận về mô hình cố vấn học tập trong đào tạo đại học theo học chế tín chỉ, ngoài phần tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, đề tài đã phân tích, làm rõ một số khái niệm liên quan làm cơ sở lý luận và định hướng cho việc nghiên cứu thực trạng công tác CVHT

Trang 37

Nhóm thực hiện đề tài cũng đã hệ thống hóa, phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề

lý luận về đào tạo theo HCTC: bản chất, đặc điểm của đào tạo theo HCTC, các nội dung

quản lý đào tạo trong HCTC

Trong chương 1, nhóm thực hiện đề tài cũng đã đi sâu phân tích nguyên tắc, yêu

cầu, vai trò và nhiệm vụ của CVHT trong các trường đại học, xây dựng khung lý luận về

mô hình CVHT trong đạo tạo theo học chế tín chỉ

Các vấn đề lý luận về xây dựng mô hình cố vấn học tập trong đào tạo đại học theo học chế tín chỉ được phân tích làm rõ trong chương 1 là cơ sở quan trọng và định hướng

rõ ràng cho việc triển khai các nhiệm vụ tiếp theo trong phần sau của đề tài

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ THEO PHƯƠNG THỨC TỪ XA

Ở VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

2.1 Khái quát tình hình đào tạo đại học từ xa ở trong nước và trên thế giới

2.1.1 Tình hình đào tạo từ xa trên thế giới

Đào tạo từ xa đã có lịch sử hơn 100 năm, nhưng trong khoảng năm thập kỷ gần đây ĐTTX mới thực sự có những bước tiến nhảy vọt cả về lý luận và công nghệ đào tạo Trong kỷ nguyên thông tin và kinh tế tri thức hiện nay, nhiều nước trên thế giới nói chung và khu vực ASEAN nói riêng, coi ĐTTX là công cụ hữu hiệu để phát triển đất nước thoát khỏi tình trạng tụt hậu, đưa nền kinh tế - xã hội lên tầm cao mới

Do tính đặc thù của ĐTTX là thầy - trò gián cách nhau về không gian, thời gian nên việc chuyển tải kiến thức, thông tin và quá trình tương tác phải được giải quyết bằng công nghệ, học liệu và phương tiện Lịch sử phát triển công nghệ ĐTTX đã trải qua năm thế hệ

Bảng 4: Năm thế hệ công nghệ ĐTTX

Nguồn: Tài liệu tập huấn của tổ chức SEAMEO SEAMOLEC

Mô hình đào tạo từ xa Tính linh hoạt Đặc điểm công nghệ Học

liệu tinh chế

Tương tác tiên tiến

Thời gian

Không gian

Trang 39

Thế hệ thứ ba:

Mô hình công nghệ viễn

thông

 Hệ thống âm thanh

viễn thông 2 chiều

 Hội thảo truyền hình

 Đài phát thanh, đài

_

_

_ _

_

_

_ _

Mô hình linh hoạt, mềm dẻo

 Đa phương tiện

Mô hình linh hoạt, thông

- Học liệu: sách, đĩa CD, CD-ROM, trên website

- Phụ đạo: trực tiếp, điện thoại, fax, đài, TV, trực tuyến

- Kiểm tra, đánh giá: giám sát từ xa, tiểu luận, trực tiếp, trực tuyến

Trang 40

Phương pháp luận của ĐTTX là ứng dụng những tiến bộ của khoa học – công nghệ truyền tải thông tin (in ấn, truyền hình, phát thanh, điện thoại, Internet, v.v.) với phương pháp sư phạm tương thích trong quá trình đào tạo, mở cơ hội cho mọi người được học mọi nơi, mọi lúc Do đó, ĐTTX có thể chuyển tiếp, thay thế, bổ sung cho giáo dục truyền thống (mặt giáp mặt)

Các nước láng giềng cạnh Việt Nam như Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia có hệ thống ĐTTX rất phát triển, góp phần tích cực trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời, đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân Những nước đó có chính sách đầu tư trọng điểm cho phát triển cơ sở hạ tầng và công nghệ ĐTTX, có sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước, giao nhiệm vụ phát triển ĐTTX cho một số trường đại học

2.1.2 Tình hình đào tạo từ xa ở Việt Nam

Thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình đào tạo, năm 1995 Bộ Giáo dục

và Đào tạo đã ban hành Quy chế tạm th i về xét tuyển, thi-kiểm tra và c p chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp đào tạo từ xa (Quyết định số 1860 GD-ĐT ngày 25 5 1995); năm 2003

Bộ GD-ĐT ban hành Quy chế tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra c p chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức đào tạo từ xa (Quyết định số 40 2003 QĐ-BGDĐT, ngày

08 8 2003) Quy chế đã tạo cơ sở pháp lý để các cơ sở GDĐH triển khai các hoạt động ĐTTX trong những năm qua

Năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia về giáo dục mở và từ xa, đánh giá tình hình hoạt động ĐTTX và thảo luận, trao đổi và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của loại hình đào tạo này

Theo số liệu thống kê, trên phạm vi cả nước có 20 cơ sở GDĐH đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép tổ chức ĐTTX Năm 2012, có 17 cơ sở GDĐH đăng ký chỉ tiêu tuyển sinh ĐTTX với tổng số là 68.020 Quy mô là 161.047 SV, 90 chương trình đào tạo thuộc 05 nhóm ngành (chỉ chiếm 6% so với tổng số SV đại học, cao đẳng toàn quốc)

Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện Quy chế 40 2003, số lượng cơ sở GDĐH tham gia ĐTTX cũng như quy mô SV tăng đáng kể Các ngành đào tạo chủ yếu tập trung vào nhóm ngành Kinh tế - Quản trị (33 chương trình) Tiếp đến là Nhóm ngành sư phạm

Ngày đăng: 07/02/2021, 19:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS Nguyễn Thanh Bình, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện (2012). “Giải pháp phát triển đào tạo đại h c theo phương thức đào tạo từ xa tại các tỉnh miền núi phía bắc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS Nguyễn Thanh Bình", Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện (2012). “"Giải pháp phát triển đào tạo đại h c theo phương thức đào tạo từ xa tại các tỉnh miền núi phía bắc
Tác giả: TS Nguyễn Thanh Bình, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện
Năm: 2012
2. ThS Nguyễn Chí Bính, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện (2013). “Xây dựng quy trình phối hợp quản lý đào tạo từ xa giữa Viện Đại học Mở Hà Nội với các cơ sở liên kết đào tạo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ThS Nguyễn Chí Bính," Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện (2013). “Xây dựng quy trình phối hợp quản lý đào tạo từ xa giữa Viện Đại học Mở Hà Nội với các cơ sở liên kết đào tạo
Tác giả: ThS Nguyễn Chí Bính, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện
Năm: 2013
3. Bộ Giáo dục và ào tạo, Vụ ại h c (1994), Về hệ thống tín chỉ học tập. Tài liệu sử dụng nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và ào tạo, Vụ ại h c
Tác giả: Bộ Giáo dục và ào tạo, Vụ ại h c
Năm: 1994
4. Bộ Giáo dục và ào tạo, Dự án Việt – Bỉ (2000), Giáo dục từ xa và giáo dục người trưởng thành, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và ào tạo, Dự án Việt – Bỉ (
Tác giả: Bộ Giáo dục và ào tạo, Dự án Việt – Bỉ
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2000
5. Bộ Giáo dục và ào tạo (2003). “Quyết định số 40 2003 QĐ-BGD&ĐT Quy chế tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và ào tạo ("2003). “Quyết định số 40 2003 QĐ-BGD&ĐT Quy chế tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa
Tác giả: Bộ Giáo dục và ào tạo
Năm: 2003
6. Bộ Giáo dục và ào tạo (2007), Quy chế đào tạo ại h c và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ. (Ban hành theo Quyết định số 43 2007 QĐ BGDĐT ngày 15 8 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và ào tạo" (2007), "Quy chế đào tạo ại h c và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
Tác giả: Bộ Giáo dục và ào tạo
Năm: 2007
7. Bộ Giáo dục và ào tạo (2013), Báo cáo về giáo dục mở và từ xa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và ào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và ào tạo
Năm: 2013
8. ảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, BCH TW khóa XI 9. Chính ph nước CHXHCN Việt Nam, Chiến lƣợc phát triển giáo dục 2011-2020 10. Trần Thị Minh ức (chủ biên, 2012), Cố v n h c tập trong các trư ng ại h c.Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảng Cộng sản Việt Nam, "Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, BCH TW khóa XI 9. "Chính ph nước "CHXHCN" Việt Nam", Chiến lƣợc phát triển giáo dục 2011-2020 10. "Trần Thị Minh ức ("chủ biên, 2012), "Cố v n h c tập trong các trư ng ại h c
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
11. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001),Từ điển Giáo dục học, NXB Bách khoa, Hà Nội, tr. 224 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu "Quỳnh", Vũ Văn Tảo" (2001),Từ điển Giáo dục học, "NXB
Tác giả: Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: NXB" Bách khoa
Năm: 2001
12. ặng u n Hải (2012), Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Nxb Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ặng u n Hải
Tác giả: ặng u n Hải
Nhà XB: Nxb Bách Khoa
Năm: 2012
13. TS Nguyễn Mai Hương, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện (2011). “Đổi mới công tác lập kế hoạch đào tạo cho các lớp Đại học hệ từ xa Viện Đại học Mở Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS Nguyễn Mai Hương", chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện (2011). “Đổi mới công tác lập kế hoạch đào tạo cho các lớp Đại học hệ từ xa Viện Đại học Mở Hà Nội
Tác giả: TS Nguyễn Mai Hương, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện
Năm: 2011
14. TS Nguyễn Mai Hương, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện (2012). “Nghiên cứu phương pháp dạy học hiệu quả cho các lớp đại học hệ từ xa – Viện ĐH Mở HN” Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS Nguyễn Mai Hương", chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện (2012). “Nghiên cứu phương pháp dạy học hiệu quả cho các lớp đại học hệ từ xa – Viện ĐH Mở HN
Tác giả: TS Nguyễn Mai Hương, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện
Năm: 2012
17. Nguyễn Văn Vân (2009), Báo cáo một số nội dung về công tác cố v n h c tập theo h c chế tín chỉ, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo một số nội dung về công tác cố v n h c tập theo h c chế tín chỉ
Tác giả: Nguyễn Văn Vân
Năm: 2009
20. Jennifer McGuigan (APUS Senior Manager, Advising Development), What is an Academic advisor?(http://onlinelearningtips.com/2011/04/18/what-is-an-academic-advisor/) 21. Gunston School: Advisor system(http://www.gunston.org/page.cfm?p=40) Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is an Academic advisor?" (http://onlinelearningtips.com/2011/04/18/what-is-an-academic-advisor/) 21. Gunston School: "Advisor system
16. Nghị quyết số 14 2005 NQ – CP của Chính phủ ngày 02 11 2005 về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 Khác
18. Viện Đại học Mở Hà Nội (2011) . Quy định về Cố vấn học tập Khác
22. Roger Gabb (2007) Models of Academic Advising, Victoria University , www/vu.edu.au Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w