Thực trạng công tác giảng dạy của giáo viên và những khó khăn gặp phải trong quá trình dạy và học môn Tin học chuyên ngành theo phương thức đào tạo tín chỉ ..... Mục tiêu nghiên cứu Tì
Trang 1VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA KINH TẾ
Trang 2VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA KINH TẾ
Chủ nhiệm đề tài: THS PHẠM VĂN TUẤN
Đồng thực hiện: THS VŨ THỊ VIỆT THANH
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Chủ nhiệm đề tài : ThS Phạm Văn Tuấn Thành viên : ThS.Vũ Thị Việt Thanh
Địa chỉ thực hiện: Khoa Kinh tế Viện Đại học Mở Hà Nội
Trang 4Phương thức đào tạo theo niên chế PTĐT NC
Phương thức đào tạo theo tín chỉ PTĐT TC
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2: Bảng quy đổi thời lượng môn THCN theo hệ thống TC 28 Bảng 3: Câu hỏi 3 ‘Em đã học các chương trình Tin học nào?’ 54 Bảng 4: Câu hỏi 10 ‘Mục đích em học THCN là gì?’ 54 Bảng 5: Câu hỏi 11 ‘Em có thích học THCN không?’ 55 Bảng 6: Câu hỏi 5 ‘Em thường dùng các tài liệu gì trong quá trình học THCN?’ 56 Bảng 7: Câu hỏi 7a, 7b,7c ‘Phương pháp học tập ngoài giờ của SV’ 56 Bảng 8: Câu hỏi 7b, 7c ‘Thói quen học tập ngoài giờ của SV’ 57 Bảng 9: Câu hỏi 9 ‘Để chuẩn bị cho một tiết học tiết học trên lớp, em thường
58 dành bao nhiêu thời gian tự học, tự chuẩn bị ở nhà?’
Bảng 10: Chương trình môn THCN học theo niên chế và tín chỉ 59 Bảng 11: Điểm trúng tuyển khoa Kinh Tế Viện Đại Học Mở Hà Nội 60
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1: Quy trình xử lý thông tin trên phần mềm kế toán 30 Hình 2: Mẫu bảng thanh toán lương của Công ty Nhất Linh 31 Hình 3: Mẫu bảng phân bổ lương và BHXH của công ty Nhất Linh 31 Hình 4: Mẫu sổ chi tiết vật liệu, dụng cụ của công ty Nhất Linh 32 Hình 5: Mẫu bảng phân bổ khấu hao TSCĐ của công ty Nhất Linh 32 Hình 6: Bảng tính giá thành sản phẩm A của công ty Nhất Linh 33 Hình 7: Sổ chi tiết TK 641 của công ty Nhất Linh 33 Hình 8: Sổ chi tiết TK 632 của công ty Nhất Linh 34 Hình 9: Sổ chi tiết TK 511 của công ty Nhất Linh 34 Hình 10: Sổ chi tiết TK 911 của công ty Nhất Linh 35 Hình 11: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty Nhất Linh 35 Hình 12: Sổ cái TK 111 của công ty Nhất Linh 36 Hình 13: Bảng cân đối kế toán của công ty Nhất Linh 37 Hình 14: Biểu đồ phân tích cơ cấu tài sản cuối kỳ của công ty Nhất Linh 37 Hình 15: Giao diện màn hình chính của phần mềm SIMBA 38 Hình 16: Quy trình xử lý dữ liệu trên phần mềm SIMBA 39 Hình 17: Khai báo khách hàng, nhân viên, nhà CC trên PM SIMBA 39 Hình 18: Mẫu phiếu thu tiền mặt của phần mềm SIMBA 40 Hình 19: Mẫu phiếu chi tiền mặt của phần mềm SIMBA 40 Hình 20: Các thành phần của hệ thống thông tin quản lý 41 Hình 21: Giao diện của Solver trên Microsoft Excel 2013 42 Hình 22: Vd về phương pháp lập hàm hồi quy bằng công cụ Data Analysis 47 Hình 23: Vd về sử dụng hàm ACCRINTM để tính lãi gộp cho chứng khoán 48 Hình 24: Vd về sử dụng hàm INTRATE để tính lãi suất cho chứng khoán 48
MỤC LỤC
Trang 7PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Nội dung nghiên cứu 3
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG I: 4
KHÁI QUÁT VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY ĐẠI HỌC VÀ PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ 4
1.1 Khái quát về các phương pháp giảng dạy đại học và đổi mới phương pháp dạy học 4
1.1.1 Quan điểm dạy học - Phương pháp dạy học - Kỹ thuật dạy học 4
1.1.1.1 Quan điểm dạy học 4
1.1.1.2 Phương pháp dạy học – Kỹ thuật dạy học 4
1.1.2 Khái niệm đổi mới phương pháp dạy học 7
1.2 Phương thức đào tạo theo tín chỉ và đổi mới phương pháp dạy học theo học chế tín chỉ 7
1.2.1.Phương thức đào tạo theo tín chỉ 7
1.2.1.1.Khái quát về lịch sử phương thức đào tạo theo tín chỉ trên thế giới và trong nước 7
1.2.1.2.Các khái niệm lien quan đến học chế tín chỉ 9
1.2.1.3 Một số vấn đề cơ bản của đào tạo tín chỉ 11
1.2.1.4 Vai trò, nhiệm vụ của người dạy, người học và đề cương môn học 12
1.2.2 Đổi mới phương pháp giảng dạy theo phương thức đào tạo tín chỉ 21
CHƯƠNG II: CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO MÔN TIN HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ VÀ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY TIN HỌC CHUYÊN NGÀNH CỦA KHOA KINH TẾ - VIỆN ĐH MỞ HÀ NỘI 26
2.1 Chương trình đào tạo môn Tin học chuyên ngành theo học chế tín chỉ: 26
2.1.1 Các khái niệm Tin học 26
2.1.2 Xây dựng giáo trình 27
2.1.3 Phân bố kế hoạch học tập 28
2.1.4 Mục tiêu 29
2.1.5 Mô tả nội dung học phần: 29
Trang 82.1.6 Nội dung cụ thể của học phần THCN Kế toán 30
2.1.7 Nội dung cụ thể của học phần THCN Quản trị 41
2.1.8 Nhiệm vụ của SV: 49
2.1.9 Tìm hiểu về bài thi 49
2.2 Thực trạng công tác giảng dạy của giáo viên và những khó khăn gặp phải trong quá trình dạy và học môn Tin học chuyên ngành theo phương thức đào tạo tín chỉ 47
2.2.1 Phương pháp giảng dạy Tin học CN tại Khoa Kinh tế 50
2.2.2 Khảo sát, đánh giá quá trình dạy và học môn Tin học chuyên ngành theo phương thức đào tạo tín chỉ 48
2.2.2.1 Quá trình khảo sát, nghiên cứu 51
2.2.2.2 Kết quả nghiên cứu 53
CHƯƠNG III 59
GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TIN HỌC CHUYÊN NGÀNH TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ 59
3.1 Tăng cường phương pháp dạy học theo chia nhóm thảo luận 62
3.2 Thiết kế các hoạt động xen kẽ nhằm thay đổi không khí lớp học 63
3.3 Sử dụng các công cụ giải bài tập THCN trong ứng dụng EXCEL 64
3.4 Tăng cường sử dụng đa dạng các phần mềm chuyên ngành 64
3.5 Tăng cường các biện pháp kiểm tra, đánh giá kết quả tự học 65
3.6 Tăng cường hỗ trợ đối với đội ngũ giảng viên 68
3.7 Các phương pháp bổ trợ khác 69
PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 1 72
PHỤ LỤC 2 79
PHỤ LỤC 3 92
Trang 9Để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển đất nước, nền giáo dục Việt Nam phải thực hiện một sự đổi mới sâu sắc và toàn diện về nội dung lẫn phương pháp dạy học (PPDH) như tinh thần của nghị quyết TW2 - khóa VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam
đã nêu: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ
một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”
Hiện nay, Khoa Kinh tế - Viện Đại học Mở Hà Nội đã và đang áp dụng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ Sự thay đổi phương thức này dẫn tới không ít bỡ ngỡ đối với cả đội ngũ người dạy và người học Tuy nhiên, cũng như phương thức đào tạo niên chế, đào tạo theo tín chỉ vẫn cần thiết đảm bảo yêu cầu chất lượng cho từng môn học Tin học là môn học bị ảnh hưởng khá nhiểu bởi sự thay đổi này Do đó, nghiên
cứu “Đổi mới phương phương pháp giảng dạy Tin học chuyên ngành tại Khoa Kinh tế - Viện Đại học Mở Hà Nội” cần khẩn thiết được tiến hành nhằm cung cấp cho
người dạy và người học những phương pháp dạy, học tối ưu để thu được kết quả học tập cao nhất
Đổi mới phương pháp giảng dạy được xem là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng đào tạo, và cũng là mục tiêu mà các trường đại học luôn cần hướng tới Phương pháp giảng dạy tích cực tạo tính chủ động trong học tập, từ đó tăng khả năng tiếp thu và vận dụng bài học của sinh viên Bởi vì kiến thức các học phần Tin học có mối liên hệ với thực tế rất cao, do đó đây có thể vừa được xem
Trang 10-2-
là cơ hội, động lực, vừa cũng là đòi hỏi tất yếu phải vận dụng các phương pháp tích cực trong giảng dạy để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường Với đặc điểm riêng của từng học phần cũng như của từng đối tượng được giảng dạy, mỗi giảng viên sẽ tự lựa chọn và tổ chức cho mình những phương pháp giảng dạy tích cực phù hợp Tuy nhiên, chỉ trong những điều kiện hỗ trợ tương thích, các phương pháp giảng dạy tích cực khi vận dụng mới có thể thật sự đạt được kết quả như mong
muốn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm ra những phương pháp giảng dạy thích hợp để giảng môn học Tin học chuyên ngành theo phương thức đào tạo tín chỉ, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới giảng dạy
để đạt hiệu quả cao nhất đối với môn học Tin chuyên ngành trong hình thức đào tạo tín
chỉ của sinh viên Khoa Kinh tế - Viện ĐH Mở Hà Nội
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tổng hợp, phân tích các tài liệu liên quan hiệu quả học tập môn Tin học chuyên ngành, các tiêu chí và phương pháp đánh giá hiệu quả học tập môn học này
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phỏng vấn, điều tra, dự giờ khảo sát tình hình học tập môn Tin học chuyên ngành theo tín chỉ
- Phương pháp nghiên cứu thống kê: Nhằm thống kê và xử lý các dữ liệu điều tra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Giảng viên và sinh viên Khoa Kinh tế
Số lượng giảng viên: 02 giảng viên thuộc tổ Tin học của khoa Kinh Tế, Viện đại học Mở Hà Nội và các giảng viên thỉnh giảng
200 sinh viên khoá 21 thuộc 02 lớp: K21QT ngành Quản trị kinh doanh (114 em); K21KT ngành Kế toán (86 em)
Trang 11-3-
5 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung chính của đề tài nghiên cứu những vấn đề sau:
- Khái quát cơ sở lý luận về các phương pháp giảng dạy đại học
- Khái quát cơ sở lý luận về phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ
- Khái quát về nội dung chương trình đào tạo tín chỉ được triển khai đối với môn Tin học chuyên ngành ở Khoa Kinh tế - Viện Đại học Mở HN
- Tìm hiểu, đánh giá những khó khăn người dạy và người học gặp phải trong quá trình dạy và học môn Tin học chuyên ngành theo phương thức đào tạo theo tín chỉ
- Vận dụng cơ sở lý luận, kết hợp kết quả điều tra thực tế về tình hình học tập của SV và giảng dạy của GV để đề xuất đưa ra các giải pháp giảng dạy Tin học chuyên ngành nhằm đạt được chất lượng giảng dạy đạt hiệu quả nhất
Trang 12-4-
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY ĐẠI HỌC VÀ PHƯƠNG
THỨC ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ 1.1 Khái quát về các phương pháp giảng dạy đại học và đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1 Quan điểm dạy học - Phương pháp dạy học - Kỹ thuật dạy học
1.1.1.1 Quan điểm dạy học
“Học không bao giờ biết chán, dạy người không bao giờ biết mỏi” là tư tưởng của Khổng Tử (người thầy giáo, nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Quốc, 551 – 479 TCN) đã thể hiện trong suốt cuộc đời truyền đạo của ông Đó cũng là lời khuyên trong quan điểm “dạy – học” Phải khẳng định trong dạy có học, vì dạy và học là hai hoạt động tồn tại song song và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất; chúng bổ sung cho nhau, chế ước nhau và là đối tượng tác động chủ yếu của nhau nhằm kích thích động lực bên trong của dạy và của học để cùng đạt tới mục tiêu dạy học
1.1.1.2 Phương pháp dạy học – Kỹ thuật dạy học
a Xu hướng giảng dạy lấy giảng viên làm trung tâm
Ở xu hướng này, giảng viên chuẩn bị bài giảng rất công phu, bài giảng có rất nhiều ví dụ, tranh ảnh, bảng, biểu đồ minh họa, có thể kết hợp với phương tiện công nghệ thông tin vào giảng dạy như máy tính xách tay, Projector để cung cấp cho sinh viên được đầy đủ các thông tin liên quan đến chủ đề của bài học Trong giờ giảng, giảng viên cố gắng truyền thụ hết vốn kiến thức của mình cho sinh viên, các lớp sinh viên có thể được cuốn hút vào bải giảng của giảng viên
Với cách giảng này, trong đào tạo theo tín chỉ, khi quy đổi 1,5 đơn vị học trình về
01 tín chỉ, giảng viên khó lòng hoàn thành được nhiệm vụ vì khối lượng kiến thức phải chuyển tải sẽ rất lớn Mặt khác sinh viên sẽ bị quá tải bởi khối lượng thông tin khổng lồ
"bùng nổ" trong lớp học, sinh viên sẽ sinh ra thụ động, không phân biệt được các vấn
Trang 13b Xu hướng giảng dạy tích cực - lấy sinh viên làm trung tâm
Trong phương pháp này giảng viên rất coi trọng tính chủ động, sáng tạo của sinh viên Sinh viên phải chuẩn bị bài trước, đọc bài giảng trước khi lên lớp Điều này lại liên quan đến tài liệu giảng dạy của Giảng viên, tài liệu phải được viết thiết thực liên quan trực tiếp đến mục tiêu của bài giảng, không rườm rà, cô đọng, đầy đủ mà dễ hiểu Các vấn đề phức tạp của bài giảng đều có thể quy về các giai đoạn, các bước cơ bản Trong giờ giảng, giảng viên dành thời gian cho sinh viên tham gia vào bài giảng của thầy để sinh viên tự phát hiện ra vấn đề, tự phát hiện ra chân lý bằng các con đường khác nhau Giảng viên tổng kết, đánh giá, kết luận, khẳng định Khái quát lại các vấn đề cốt lõi thuộc về bản chất của từng vấn đề, kèm theo sự hỗ trợ của các phương tiện giảng dạy hiện đại như: máy tính xách tay, projecteur, băng hình, trình diễn
Trong cách giảng dạy này sinh viên phải làm việc thực sự ở trên lớp (chứ không phải lên lớp để nghe giảng, dự giờ) Các vấn đề khó lần lượt được sinh viên và giảng viên làm sáng tỏ, từ đó sinh viên hiểu bài, rèn luyện được thói quen tự học, tự giải quyết vấn đề Trong phương pháp này không có chỗ cho các sinh viên lười học, tất cả các sinh viên đều bị cuốn hút vào các chủ đề của bài giảng Dưới sự hướng dẫn của Giảng viên, sinh viên tự đóng góp ý kiến, tự hoàn thiện bài giảng, dưới sự hướng dẫn của thầy, tự tìm ra chân lý
Tuy vậy, vì sinh viên chưa có thói quen học tập tích cực, vì ngay từ phổ thông sinh viên đã quen với cách giảng dạy truyền đạt một chiều, nên giai đoạn đầu đào tạo theo tín chỉ, tích cực sinh viên như thế nào, giành bao nhiều thời gian cho sinh viên tham dự vào giờ giảng là vừa Điều đó hoàn toàn do các giảng viên quyết định Nhưng
có một điều chắc chắn là nếu giảng viên dành tất cả thời gian ở trên lớp đề giảng giải, giải thích, trình bày, trình diễn thì chưa phải giảng dạy bằng phương pháp tích cực
Phương pháp dạy - Đối với giảng viên
Trang 14-6-
Giảng viên trực tiếp nắm được đối tượng giảng dạy đang ở trình độ nào và mức tiếp thu nào để điều chỉnh phương pháp giảng dạy (phương pháp giảng dạy luôn phải được điều chỉnh ở từng tiết giảng cho từng đối tượng giảng)
Giúp giảng viên đánh giá ngay được sinh viên đã hiểu bài ở trên lớp chưa, giờ giảng đã đạt được hiệu quả chưa, mục tiêu bài giảng đã đạt được chưa, từ đó có điều chỉnh cho phù hợp
Phương pháp học - Đối với sinh viên
Sinh viên được phát biểu, được trình bày, được cùng giảng viên tìm ra con đường
đi đến chân lý, sinh viên rất hứng khởi và hiểu bài, tốc độ bài giảng luôn được sinh viên điều chỉnh hợp lý Tốc độ bài giảng phụ thuộc vào mức độ tiếp thu của sinh viên Sinh viên được tự học ngay trên lớp dưới sự hướng dẫn của giảng viên, từ đó hình thành thói quen tự học, tự nghiên cứu Khi đã thành thói quen tự học thì sinh viên sẽ luôn đào sâu suy nghĩ không những tự học ngay trên lớp, trong phòng thí nghiệm, trong giờ tự học, mà còn học ở mọi nơi, mọi lúc Và điều quan trọng hơn cả là khi tốt nghiệp ra trường sinh viên có khả năng tự học, tự nghiên cứu để tự hoàn thiện mình đáp ứng được sự thay đổi do yêu cầu của nghề nghiệp, cũng như sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học kỹ thuật
* Hiệu quả trong quá trình dạy - học
Khi đã rèn luyện cho sinh viên thói quen tự học, tự nghiên cứu trên giảng đường trong phòng thí nghiệm và ngoài giờ học thì sinh viên sẽ biết tự học, tự tìm tài liệu để giải quyết các vấn đề của bài học
Giảng dạy theo phương pháp tích cực thì sinh viên là trung tâm của quá trình dạy học, trung tâm của quá trình nhận thức Do đó, sinh viên tự nhận thức được các vấn đề khoa học do được tự khám phá dưới sự hướng dẫn của giảng viên Sinh viên được tham gia nhiều vào bài giảng theo định hướng của thầy tránh truyền đạt kinh viện, một chiều Người thầy giáo giỏi không chỉ truyền đạt chân lý mà phải dạy cho sinh viên biết cách tìm ra chân lý Không chỉ truyền đạt cho sinh viên các kiến thức có sẵn, chỉ cần ghi nhớ mà còn tổ chức giảng dạy định hướng cho sinh viên biết tự mình khám phá tìm ra kiến thức mới
Không có cách giảng dạy tích cực chung cho tất cả các môn học và cho tất cả các
Trang 15-7-
giảng viên, cũng như không có phương pháp tự học chung cho tất cả mọi người Các thầy giáo, cô giáo hãy trải nghiệm và tìm ra cách tích cực hóa sinh viên cho mình và cho môn học mà mình tham gia giảng dạy
1.1.2.Khái niệm đổi mới phương pháp dạy học
"Đổi mới phương pháp dạy học là khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh phong trào
tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên"
(Văn kiện Hội nghị lần thứ II BCHTW khóa VIII,NXB Chính trị Quốc gia, HN, 1997, tr.41)
Theo quan điểm của tác giả: Đổi mới phương pháp dạy học là cải tiến những hình thức và cách thức làm việc kém hiệu quả của giảng viên và sinh viên, sử dụng những hình thức và cách thức hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, phát huy tính tích cực và chủ động, chủ động và sáng tạo, phát triển năng lực của sinh viên
1.2 Phương thức đào tạo theo tín chỉ và đổi mới phương pháp dạy học theo học chế tín chỉ
1.2.1.Phương thức đào tạo theo tín chỉ
1.2.1.1.Khái quát về lịch sử phương thức đào tạo theo tín chỉ trên thế giới và trong nước
Trước hết cần phải khẳng định rằng phương thức đào tạo theo tín chỉ là sản phẩm trí tuệ của người Mỹ Nó được hình thành và phát triển để phục vụ cho các mục đích cụ thể của nền giáo dục nước này
Theo nhà nghiên cứu giáo dục người Mỹ Jesica M Shedd (2003) hệ thống đào tạo theo tín chỉ ở Mỹ có nguồn gốc từ ba nguyên nhân Thứ nhất, nhu cầu cần phải xử
lí sự đa dạng và sự gia tăng về số lượng học sinh trung học phổ thông ghi danh vào học
ở các trường đại học trong khi vẫn duy trì những tiêu chuẩn về học thuật Thứ hai, động cơ thay đổi xuất phát ngay trong nội bộ hệ thống giáo dục đại học Mỹ, thực sự
Trang 16-8-
muốn có một cuộc cải cách về giáo dục đại học với những chương trình đại học “mở”, chứa đựng những môn học mà xã hội cần, có độ “mềm dẻo” nhất định để người học có thể chọn những chuyên ngành phù hợp, những môn học họ thấy cần thiết để phục vụ cho phát triển nghề nghiệp trong tương lai, một kiểu chương trình khác về cơ bản với chương trình đào tạo truyền thống với những đặc điểm “đóng” và “khô cứng” được mang đến từ châu Âu trong đó người học vào trường và ra trường đồng loạt, không có bất kì sự lựa chọn nào khác về chuyên ngành và về các môn học Thứ ba, áp lực từ những tổ chức và cá nhân từ bên ngoài trường đại học: chính phủ, các nhà tài trợ, các nhà sử dụng nguồn lực học viên tốt nghiệp, v.v buộc các trường đại học phải có những đơn vị đo chất lượng dạy - học tường minh hơn, có trách nhiệm hơn
Theo thời gian, từ lúc tín chỉ khởi đầu được thiết kế ra để chuẩn hóa những thước đo khả năng học tập của học sinh phổ thông trung học, đáp ứng số
lượng học sinh trung học phổ thông ghi danh vào học đại học ngày càng tăng, đến nay
nó đã được phát triển và trở thành một hệ thống đào tạo, một thước đo toàn diện trong giáo dục đại học ở Mỹ
Vượt ra ngoài biên giới nước Mỹ, đào tạo theo tín chỉ ngày nay được áp dụng rộng rãi toàn thế giới Châu Âu bắt đầu áp dụng mạnh mẽ từ những năm 1960 Tính đến nay, Pháp, Phần Lan, Bỉ, Thuỵ Điển, Na Uy, Đức, Bồ Đào Nha, Italia, Tây Ban Nha và các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ ở đông Âu cũng bắt đầu chủ trương chuyển phương thức đào tạo truyền thống sang phương thức đào tạo theo tín chỉ
Ở Châu Á, tín chỉ cũng được áp dụng mạnh mẽ, bắt đầu từ Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillipine, Trung Quốc Phương thức đào tạo theo tín chỉ cũng được áp dụng ở các nước thuộc Khối Liên hiệp Anh ở Nam Thái Bình Dương như Australia, New Zealand, v.v
Việc áp dụng hệ thống đào tạo theo tín chỉ phản ánh quan điểm lấy người học làm trung tâm, người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầu của thị trường lao động ngoài xã hội Nó cho phép họ chọn trong số những môn học được thiết kế trong chương trình, nhiều trong số những môn học đó có thể thay thế được với nhau và hữu
Trang 17và Đào tạo đã chỉ đạo: “Từ năm 2010 trở đi, tất cả các trường đại học và cao đẳng trong
cả nước phải áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ”
1.2.1.2.Các khái niệm liên quan đến học chế tín chỉ
a, Khái niệm tín chỉ
Hiện nay có đến hơn 6000 định nghĩa tín chỉ (TC) trên thế giới, nhưng theo từ điển Giáo dục học: “Tín chỉ là một đơn vị nội dung trong chương trình môn học bao hàm một khối lượng kiến thức và kỹ năng tương đối gắn kết với nhau về chủ điểm cần được sinh viên hoàn thành trong một khoảng thời gian xác định tương ứng (khoảng 15 tiết) và được kiểm tra đánh giá kết quả Mỗi môn học được chia thành nhiều học phần
có tối thiểu từ hai tín chỉ trở lên Sinh viên phải học và có điểm kiểm tra tất cả các tín chỉ quy định mới được coi là hoàn thành chương trình bộ môn Cách tổ chức dạy học theo từng tín chỉ của học phần trong mỗi môn học tạo thuận lợi cho sinh viên phát huy hết năng lực học tập của mình vì được tự do lựa chọn và cơ động thức hiện những tín chủ phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh riêng của mình” [5]
Theo định mức của Mỹ thì việc tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ (credit hour) như sau:
Trang 18-10-
thuyết hành, thí
nghiệm, thảo luận
Chuẩn bị Tự nghiên cứu
Bảng 1: Việc tổ chức một giờ tín chỉ của Mỹ
Thực tế ở Việt Nam hiện nay, trong triển khai đào tạo theo tín chỉ, chúng ta đang sử dụng khái niệm tín chỉ được cụ thể hóa trong điều 3 quy chế 43/2007/QĐ-BGDĐT: “Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30-40 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp
Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân
Hiệu trưởng các trường quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của trường
Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ Một tiết học được tính bằng 50 phút.”
b, Khái niệm đào tạo theo tín chỉ
Đào tạo theo tín chỉ là phương thức đào tạo cho phép sinh viên đạt được văn bằng hoặc chứng chỉ sau khi đã tích lũy đủ hệ thống môn học (được đo bằng số tín chỉ) theo trình tự quy định của chương trình đào tạo đối với các văn bằng, chứng chỉ đó [4] Đào tạo theo tín chỉ chuyển quyền quyết định mục đích đào tạo cụ thể cũng như lựa chọn các môn học và cả kế hoạch học tập từ nhà trường cho SV trong điều kiện quy định công khai số lượng và cấu trúc các môn học dẫn đến văn bằng
Khi phương thức đào tạo được thể chế hóa với các quy định gắn với chế độ học
Trang 19-11-
tập theo quy trình tích lũy nội dung đào tạo tiến tới văn bằng và triển khai triệt để các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo theo tín chỉ thường được gọi là HCTC
1.2.1.3 Một số vấn đề cơ bản của đào tạo tín chỉ
Trong đào tạo theo hệ thống TC, kết quả học tập của SV được tính theo quá trình tích luỹ từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, SV chỉ học lại các học phần không đạt yêu cầu mà không phải ở lại lớp như trong đào tạo theo niên chế Vì vậy, đào tạo theo đào tạo theo hệ thống TC có chi phí thấp và hiệu quả cao hơn
Đào tạo theo hệ thống TC tạo điều kiện cho SV năng động hơn và có khả năng thích ứng tốt hơn những biến đổi nhanh chóng của cuộc sống xã hội hiện đại Nếu như trong đào tạo theo niên chế, SV hoàn toàn thụ động tuân thủ kế hoạch học tập của nhà trường, thì trong đào tạo theo TC đòi hỏi SV phải chủ động xây dựng cho mình một kế hoạch học tập thích hợp, có hiệu quả cao nhất cho bản thân
Đào tạo theo hệ thống TC cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung, tạo thuận lợi cho SV khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước Nếu triển khai đào tạo theo hệ thống TC các trường đại học lớn đa lĩnh vực có thể tổ chức những môn học chung cho SV nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra SV có thể học những môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học
Khó khăn thường được đề cập đến là công tác điều hành quản lí trong đào tạo theo TC rất phức tạp Nếu như trong đào tạo theo niên chế, SV học theo một kế hoạch chung theo sự sắp xếp của nhà trường, thì trong đào tạo theo TC, mỗi SV có một kế hoạch học tập riêng nên việc tổ chức điều hành quản lí đào tạo rất phức tạp SV phải mất nhiều thời gian để lập kế hoạch học tập, đăng kí học phần, điều chỉnh kế hoạch và đăng kí bổ sung Do những hạn chế về nguồn lực: giáo viên, phòng học, quỹ thời gian, v.v… mà nhìn chung, các trường đại học vẫn chưa thật sự đảm bảo đáp ứng nhu cầu của người học Mặc dù hiện nay có sự hỗ trợ của hệ thống phần mềm trên mạng máy tính, nhưng trên thực tế SV vẫn phải chờ đợi, chen lấn nhau trong sử dụng máy tính để
Trang 20-12-
đăng kí học phần
1.2.1.4 Vai trò, nhiệm vụ của người dạy, người học và đề cương môn học
trong phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Với PTĐTTC thì vai trò, nhiệm vụ của giảng viên và học viên rất cụ thể tùy theo giờ học lý thuyết, giờ thảo luận, giờ hoạt động theo nhóm hay giờ tự học, tự nghiên cứu
1.2.1.4 1.Vai trò và nhiệm vụ của người dạy
Trong phương thức đào tạo truyền thống, có hai vai trò nổi bật nhất là “người toàn trí” (người biết mọi tri thức về môn học liên quan) và “người quyết định mọi hoạt động dạy - học trong lớp học” Trong vai trò thứ nhất, người dạy được xem như là nguồn kiến thức duy nhất, và người học chỉ cần tiếp thu được nguồn kiến thức này từ người dạy là đủ Trong vai trò thứ hai, người dạy được xem như là người có toàn quyền quyết định dạy cái gì (nội dung) và dạy như thế nào (phương pháp) Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, hai vai trò đã nêu ở trên ở một mức độ nào đó vẫn được duy trì Tuy nhiên, người dạy phải đảm nhiệm thêm ít nhất ba vai trò nữa; đó là (i) cố vấn cho quá trình học tập;
(ii) người tham gia vào quá trình học tập; và (iii) người học và nhà nghiên cứu
Với tư cách là cố vấn cho quá trình học tập, khi giảng bài cũng như khi hướng dẫn thảo luận, người dạy phải chọn những vấn đề cốt lõi, quan trọng để giảng mà nếu không có người dạy thì người học khó có thể lĩnh hội được, tạo điều kiện cho người học tiếp thu và khám phá tiếp kiến thức Là cố vấn cho quá trình học tập, người dạy sẽ: (i) giúp cho chính mình hiểu được người học thông qua hướng dẫn và giám sát;
(ii) giúp người học thể hiện rõ hơn những ý định của họ để qua đó phát huy được vai trò chủ động và sáng tạo, và những nguồn lực của chính họ để học tốt môn học;
(iii) hướng sự tham gia tích cực của người học vào những mục tiêu thực tế nhất của giáo dục hiện đại: học gắn với hành
Trong vai trò của người tham gia vào quá trình dạy - học, người dạy hoạt động như là một thành viên tham gia vào quá trình học tập ở trên lớp với các nhóm người
Trang 21-13-
học Với tư cách vừa là cố vấn vừa là người tham gia vào quá trình học tập, người dạy còn có thêm một vai trò bổ sung nữa; đó là, nguồn tham khảo cho người học, giúp họ tháo gỡ những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu
Trong vai trò là người học và người nghiên cứu, với tư cách là một thành viên tham gia vào các hoạt động học tập ở trên lớp, người dạy, ở một mức độ nào đó, có điều kiện trở lại vị trí của người học, hiểu và chia sẻ những khó khăn và trách nhiệm học tập với họ Có thực hiện được vai trò của người học thì người dạy mới có thể phát huy được vai trò tích cực của người học, lựa chọn được phương pháp và thủ thuật giảng dạy phù hợp Với tư cách là nhà nghiên cứu, người dạy có thể đóng góp khả năng
và kiến thức của mình vào việc tìm hiểu bản bất của quá trình dạy - học nói chung, bản chất của quá trình học một một môn học nói riêng, những yếu tố tâm lí - xã hội ảnh hưởng đến quá trình dạy - học môn học đó Ngoài ra, thông qua nghiên cứu, người học
sẽ ý thức được rằng dạy - học là một nhiệm vụ liên nhân - một nhiệm vụ mà cả người dạy và người học đều có trách nhiệm tham gia, trong đó học có vai trò trung tâm, dạy
có vai trò hỗ trợ, và mục tiêu học tập chi phối toàn bộ quá trình dạy - học
Cụ thể hơn, người dạy có nhiệm vụ như sau:
* Đối với giờ lý thuyết
- Xây dựng đề cương môn học
- Xác định những mục tiêu cụ thể cần đạt được sau mỗi bài học: về kiến thức, kỹ năng, nhất là rèn luyện các kỹ năng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, giải quyết vấn đề) Những mục tiêu này đã được thiết kế trong đề cương môn học và được cụ thể hóa vào quy trình kiểm tra - đánh giá đối với bài học;
- Chuẩn bị các câu hỏi để hỏi học viên ở trên lớp, các bài tập, bài kiểm tra trên lớp và các tiêu chí đánh giá;
- Xác định các nội dung tự học và cách học cho học viên để hoàn thành khối lượng kiến thức theo yêu cầu của phương thức đào tạo theo tín chỉ, các vấn đề, các câu hỏi, bài tập, các loại tài liệu phải đọc, phải tìm kiếm bổ sung để học
viên chuẩn bị cho thảo luận trên lớp;
- Xây dựng, thu thập, phân loại, hướng dẫn sử dụng các học liệu/tài liệu phục vụ cho
Trang 22-14-
việc tự học, tự nghiên cứu của học viên;
- Xây dựng kịch bản cho một giờ lên lớp bao gồm:
+ Xác định thời gian, chủ đề, nội dung, yêu cầu cho giờ lên lớp lý thuyết;
+ Cụ thể hoá phần nội dung giảng viên trình bày (phần trợ giảng, nếu có);
+ Giới thiệu mục tiêu của bài học và các yêu cầu cần thực hiện;
+ Trình bày cấu trúc nội dung dạy học và logic các đơn vị kiến thức của bài giảng; + Lựa chọn và chuyển tải nội dung trình bày trên lớp, nội dung cốt lõi cần trình bày Phần nội dung cốt lõi của bài học: Thời gian dạy tri thức không quá 50% của tiết học; thời gian hướng dẫn tự học không ít hơn 40%; thời gian "tương tác" với người học không ít hơn 30%; thời gian "kiểm chứng" mức độ học viên nắm được mục tiêu và nhiệm vụ của bài học không ít hơn 10% thời lượng của tiết học/bài học);
+ Nội dung, vấn đề để học viên trình bày và thảo luận trên lớp;
+ Nội dung, vấn đề học viên cần giải quyết khi làm việc theo nhóm
+ Hướng dẫn cách học cho học viên để hoàn thành khối lượng kiến thức bài học theo yêu cầu tín chỉ: các vấn đề, các câu hỏi, bài tập, yêu cầu của giảng viên đối với các vấn
đề đó;
+ Hướng dẫn, đánh giá học viên thảo luận, làm bài tập trên lớp (nếu có)
* Đối với giờ thảo luận
- Lựa chọn và giao các nội dung, các vấn đề, yêu cầu, tài liệu tham khảo để từng nhóm hoặc từng học viên chuẩn bị và trình bày tại từng buổi thảo luận Chỉ rõ các địa chỉ thông tin để học viên có thể tìm được và hoàn thành nhiệm vụ được giao;
- Soạn kịch bản về các vấn đề cần thảo luận cho từng buổi thảo luận;
- Tham dự, hướng dẫn, đạo diễn, nhận xét và tổng kết thảo luận Giảng viên cần khẳng định những nội dung đúng, sửa chữa những nội dung chưa đúng hoặc "chốt" nội dung của vấn đề, dùng nó như một phương tiện để chuyển tải nội dung cốt lõi của chủ
đề thảo luận;
- Đánh giá, cho điểm phần chuẩn bị trình bày, thảo luận của từng nhóm hoặc từng học viên và tích lũy vào kết quả cuối của môn học
Trang 23-15-
* Giờ hoạt động theo nhóm
- Lựa chọn và giao các nội dung, các vấn đề, công việc và các yêu cầu liên quan cho các nhóm học viên thực hiện, nguồn tài liệu tham khảo tối thiểu,
- Xây dựng và giao mẫu báo cáo bài tập nhóm/tháng và giải thích yêu cầu hoàn thành báo cáo (thông qua trợ giảng, nếu có);
- Thông báo thời gian nộp báo cáo và thời gian nhận thông tin phản hồi từ phía giảng viên;
- Đánh giá kết quả làm việc theo nhóm học viên và tích lũy vào kết quả đánh giá cuối cùng của môn học
* Giờ tự học, tự nghiên cứu
- Xác định và giao nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu cho học viên: Chọn trong chương trình môn học những nội dung, vấn đề (ngoài những nội dung, vấn đề
đã được thảo luận tại lớp, hoạt động theo nhóm) và chỉ rõ mục đích, yêu cầu, cách thức thực hiện để giao cho học viên tự học, tự nghiên cứu Liệt kê đủ chi tiết các công việc học viên phải làm;
- Biên soạn các tiêu chí đánh giá, xác định thời gian nộp báo cáo kết quả tự học, tự nghiên cứu của học viên và thông báo cho học viên ngay khi giao nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu;
- Cung cấp tài liệu và giới thiệu địa chỉ tìm tài liệu tối thiểu học viên cần đọc, nghiên cứu Hướng dẫn cách thức tìm kiếm, xử lí thông tin khi tự học, tự nghiên cứu (chỉ rõ cách tìm kiếm theo cấu trúc kiến thức của bài học, cụ thể đến từng chương, mục, trang, của các học liệu thông qua các phiếu học tập phát cho học viên trong giờ lên lớp của bài học đó);
- Tạo điều kiện cho học viên được tiếp xúc dễ dàng và nhận các tư vấn cần thiết;
- Đánh giá, nhận xét kết quả tự học, tự nghiên cứu, tận dụng thời gian trả bài như một giờ giải đáp và sửa lỗi cho học viên;
- Đánh giá kết quả tự học, tự nghiên cứu của học viên và tích lũy kết quả cuối cùng của môn học
Trang 24-16-
1.2.1.4.2 Vai trò và nhiệm vụ của người học
Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, người học phải được tạo điều kiện để thực sự trở thành người đàm phán tích cực và có hiệu quả: (i) với chính mình trong quá trình học tập, (ii) với mục tiêu học tập, (iii) với các thành viên trong nhóm và trong lớp học, và (iv) với người dạy
Học viên đại học trong xã hội hiện đại không chỉ là những người thu nhận kiến thức thụ động từ giáo viên và từ sách vở mà điều quan trọng là họ phải là những người biết cách học như thế nào Nhiều công trình nghiên cứu về tâm lí học đại học cho thấy rằng học viên có những nhu cầu, động cơ học tập, và những chờ đợi khác nhau về ngành học, một môn học, và trong quá trình học họ thường xuyên điều chỉnh kế hoạch học tập của họ cho phù hợp với những mục tiêu của môn học Kiến thức thường được xác định lại khi học viên khám phá nhiều hơn về nó và trong khi xây dựng kế hoạch học tập cho riêng mình, học viên có thể nhận ra rằng các chiến lược học tập trước đó của họ có thể không còn phù họp nữa và có thể bị thay thế bằng các chiến lược học tập mới phù hợp hơn Quá trình điều chỉnh này được gọi là quá trình đàm phán với chính mình trong quá trình học tập để đạt được những mục tiêu mà môn học đề ra Hơn nữa, học không hoàn toàn là một hoạt động cá nhân; nó xảy ra trong một môi trường văn hóa xã hội nhất định trong đó sự tương tác giữa những người học với nhau có vai trò hết sức quan trọng trong thu nhận và tạo kiến thức Xem học như là một vấn đề cá nhân thì không khác nào xem quá trình này xảy ra trong chân không, và có lẽ cách nhìn này không phù hợp với thế giới hiện đại, một thế giới trong đó hội nhập và toàn cầu hóa đang đang là xu thế tất yếu Thực tế này yêu cầu người học phải có thêm một vai trò nữa; đó là, vai trò của người cùng đàm phán trong nhóm và trong lớp học
Ngoài những vai trò đã kể trên, người học trong phương thức đào tạo theo tín chỉ còn là người tham gia vào môi trường cộng tác dạy - học Trong vai trò này, người học được xem như là một thành phần hợp pháp trong quá trình dạy - học Họ vừa như
là những cộng sự với người dạy trong việc xác định nội dung và phương pháp giảng dạy, vừa là người cung cấp thông tin phản hồi về bản thân mình như là những người học (trình độ, khó khăn, thuận lợi, nhu cầu, chờ đợi, mong muốn về môn học, v.v.) cho người dạy để người dạy có thể điều chỉnh nội dung, phương pháp và thủ thuật giảng
Trang 25-17-
dạy phù hợp, tăng hiệu quả day - học
Cụ thể, người học có nhiệm vụ:
* Đối với giờ lý thuyết
- Lập kế hoạch chi tiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ đối với từng giờ học mà giảng viên giao: tìm, đọc, ghi chép những tài liệu liên quan, hoàn thành bài tập, chuẩn bị bài trình bày tại các buổi thảo luận, chuẩn bị các nội dung làm việc theo nhóm, các vấn đề cần hỏi để trao đổi với giảng viên, ôn bài, đọc bài mới, ;
- Thực hiện thật tốt kế hoạch chi tiết nói trên để tích lũy được kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu từng bài học;
- Trước khi đến lớp: xem xét lại việc hoàn thành kế hoạch học tập của mình để chắc chắn đã hoàn thành "khối lượng kiến thức" mà giảng viên đã yêu cầu hoặc các vấn đề cần trao đổi nhằm giải đáp những khúc mắc, chưa rõ;
- Ghi chép trên lớp cho được các mục sau:
+ Mục tiêu của bài học và cấu trúc của nội dung bài học;
+ Những kiến thức cốt lõi của bài học định hướng tư duy và cho việc lập kế hoạch hoàn thành "khối lượng kiến thức" theo yêu cầu;
+ Các hướng dẫn của giảng viên cho học viên tự học (ví dụ học liệu nào, ở đâu, địa chỉ
cụ thể của các kiến thức cần tìm, cách xử lí các kiến thức đó để hoàn thành mục tiêu bài học)
* Đối với giờ thảo luận
- Nhận nội dung, vấn đề nghiên cứu, mở rộng, đi sâu vào bản chất, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, chuẩn bị bài trình bày theo sự phân công và hướng dẫn của giảng viên;
- Trình bày báo cáo theo phân công;
- Theo dõi, bổ sung, góp ý bài trình bày của các bạn cùng lớp, hoàn chỉnh bài trình bày
đó hoặc của mình;
- Hỏi, đối thoại, tranh luận những vấn đề đã trình bày tại buổi thảo luận;
Trang 26* Giờ hoạt động theo nhóm
- Nhận nhiệm vụ, thời hạn hoàn thành, mẫu báo cáo hoạt động theo nhóm;
- Nhóm trưởng lên kế hoạch phân công (bằng văn bản) cho từng thành viên với nhiệm
vụ, thời gian hoàn thành, nguồn tài liệu tham khảo, lịch họp nhóm theo kế hoạch Chủ động thực hiện các nhiệm vụ đặt ra của buổi thảo luận nhóm hay bài thực hành, triển khai kế hoạch mà bản thân đã dự kiến, chuẩn bị trước, xem xét kết quả đạt được so với mục tiêu đặt ra;
- Nhóm trưởng lập báo cáo, thông qua toàn nhóm trước khi nộp cho giảng viên Xem xét lại những gì đã thu nhận được và tóm tắt lại kết quả chính các buổi hoạt động theo nhóm cho bản thân và lưu giữ phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của phương thức đào tạo theo tín chỉ
* Giờ tự học, tự nghiên cứu
- Nhận và xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu mà giảng viên giao (nhà trường khuyến khích học viên nghiên cứu mở rộng hơn những nội dung và vấn đề được giao);
- Thực hiện thật tốt kế hoạch nói trên (mạnh dạn liên hệ với giảng viên để được tư vấn,
hỗ trợ về vấn đề đang tự học, tự nghiên cứu);
- Viết báo cáo thu hoạch theo các tiêu chí đánh giá của giảng viên, tranh thủ những ý kiến góp ý của bạn, tư vấn của giảng viên trước khi nộp bài;
- Hệ thống hóa, lưu giữ tài liệu, kết quả tự học, tự nghiên cứu thuận tiện cho việc tra cứu, sử dụng sau này
1.2.1.4.3 Vai trò của đề cương môn học
a Đề cương môn học là gì?
Trang 27Để phát huy tính tự chủ, sáng tạo của GV và SV trong quá trình dạy và học, đề cương môn học là “cái thống nhất” vì ở đó quy định: Mục tiêu môn học; Quy trình dạy học và Cách thức kiểm tra đánh giá Đây là những nội dung mà bất cứ GV nào triển khai cùng một môn học phải thống nhất
Việc sáng tạo ra cách chuyển tải và tích lũy kiến thức, kỹ năng của GV và SV thuộc vào mục tiêu của từng môn học Trong đề cương môn học phải chỉ rõ thời gian, hình thức kiểm tra; quy định và yêu cầu của từng bài kiểm tra; cách đánh giá, trọng số đánh giá kết quả học tập của từng phần Dựa vào đó, người dạy, người học tự lập kế hoạch cũng như phương pháp dạy – học của mình Để đảm bảo được các mục tiêu nhận thức, kỹ năng và các nhóm mục tiêu khác, các hình thức kiểm tra cần đa dạng: tự luận, trắc nghiệm, bài tập nghiên cứu cá nhân, nhóm Thời gian kiểm tra cũng được tiến hành thường xuyên: theo tuần, tháng, giữa kỳ, hết môn
Nội dung chi tiết môn học được thiết kế theo các: chương, mục, tiểu mục và ấn định thời gian thực hiện theo từng tuần hoặc bội số của nó Nội dung môn học được xây dựng phải đảm bảo đáp ứng những mục tiêu môn học đã đặt ra Nội dung môn học được coi là chất liệu để thực hiện mục tiêu môn học
Căn cứ định nghĩa tín chỉ, nội dung trong chương trình môn học gồm 3 phần:
- Phần bài giảng trực tiếp trên lớp
- Phần không giảng trực tiếp trên lớp mà GV có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể
SV tự học, tự nghiên cứu ở ngoài lớp
- Phần dành riêng cho tự học, chuẩn bị bài, làm bài tập, thảo luận nhóm, xemina, làm thí nghiệm… và các hoạt động khác có liên quan đến môn học
b Vai trò của đề cương môn học
Trang 28-20-
•
• Đối với giảng viên
Đề cương môn học thể hiện sức mạnh của tập thể, sự thống nhất cao của các GV trong cùng tổ bộ môn và cũng là những quy định nghiêm ngặt đối với họ khi thực hiện vai trò người thầy trong quá trình dạy học Người giảng viên cần thực hiện nghiêm túc những điều đã cam kết với nhà trường, với SV thông qua bản đề cương môn học và còn
có nhiệm vụ giúp SV thực hiện tốt những quy định trong đó Ngoài ra, GV cần đưa ra những điều chỉnh, bổ sung phù hợp về mặt chuyên môn và các điều kiện khách quan để văn bản này ngày càng hoàn thiện, hữu ích và cập nhật
•
• Đối với sinh viên
Theo mô hình đào tạo theo tín chỉ, SV có quyền chủ động trong quá trình học tập của mình từ việc chọn các môn học, sắp xếp lịch học, lập kế hoạch học và cả lựa chọn phương pháp học cho mình sao cho phù hợp nhất Để làm được điều này, SV cần phải nghiên cứu thật kỹ đề cương môn học trước mỗi môn học Trong từng môn học,
SV bám sát các mục tiêu của từng bài học
để có sự chuẩn bị bài, nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp Có kế hoạch ôn tập và hoàn thành các bài tập, bài kiểm tra theo đúng tiến độ đã quy định trong đề cương
Tóm lại, ĐCMH vừa là kế hoạch dạy – học đối với GV và SV vừa là một “văn bản pháp lý”, một “cam kết” được thực hiện trong mối quan hệ giữa GV – SV – nhà trường Ngoài ra, ĐCMH còn là “kim chỉ nam” đối với GV và SV để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc dạy – học và đích đến cuối cùng là đạt được những mục tiêu môn học đã đề ra
1.2.2 Đổi mới phương pháp giảng dạy theo phương thức đào tạo tín chỉ
Trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, ba vấn đề lớn cần được quan tâm, đó là:
- Cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo theo hệ thống tín chỉ như phần mềm đào tạo tín chỉ, hệ thống máy tính nối mạng, mạng nội bộ, thư viện điện tử, giảng đường đa phương tiện, phòng thí nghiệm…
- Tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ như tổ chức cho sinh viên đăng ký lịch học, tổ chức đáp ứng được các nhu cầu đăng ký lịch học của sinh viên…
Trang 29-21-
- Đổi mới phương pháp giảng dạy trong đào tạo theo tín chỉ theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo của sinh viên, giảng dạy theo phương pháp tích cực, lấy sinh viên làm trung tâm của quá trình giảng dạy
Như vậy việc áp dụng học chế tín chỉ ở các trường đại học là để đáp ứng nhu cầu chủ động của sinh viên trong học tập, và cũng đòi hỏi tính chủ động rất cao của sinh viên trong việc lập kế hoạch dự kiến đăng ký các môn học, chọn lựa môn học ngay từ đầu cho cả chương trình học bốn hay năm năm Sinh viên phải chủ động tìm hiểu đề cương các môn học, rồi theo đó mà chuẩn bị đọc tài liệu trước giờ học, tích cực chủ động tham gia thảo luận trong lớp, cũng như làm bài tập, viết tiểu luận, làm dự án
ở nhà
Việc áp dụng học chế tín chỉ không những đòi hỏi những thay đổi về phía nhà trường, về phía giảng viên mà còn đòi hỏi những thay đổi rất lớn về phía người sinh viên, đặc biệt là tính chủ động rất cao của sinh viên
Như vậy việc chuyển từ học tập theo học chế sang học chế tín chỉ sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và động lực không nhỏ trong việc đổi mới phương pháp dạy
- học
Việc đổi mới dạy học trong các trường đại học đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước Để nâng cao chất lượng đào tạo làm cơ sở cho việc nâng cao lợi ích cho người lao động, chúng ta không còn con đường nào khác là đổi mới phương pháp dạy học, giúp người học chuyển từ cách học bị động sang cách học chủ động Điều này không chỉ đơn giản là sử dụng các công cụ trợ giúp giảng dạy như máy tính, máy chiếu mà còn phải thay đổi một cách có kế thừa tư duy trong giảng dạy
và tạo ra một môi trường dạy học tích cực và thân thiện
Về mặt tư duy, điều quan trọng nhất là người thầy phải chỉ ra con đường mà sinh viên sẽ phải đi, cách đi trên con đường đó, còn người sinh viên bắt buộc phải đi trên con đường đó trong suốt quá trình học một học phần Người thầy cần đi sâu vào bản chất của các khái niệm ban đầu của từng chương, từng bài, nhắc lại những kiến thức là nền tảng để hình thành nên những khái niệm đó Điều này sẽ làm cho sinh viên định hướng được cái mà họ phải phát triển từ những cái họ đã biết Hãy giúp cho sinh
Trang 30-22-
viên hình dung ra những khái niệm ban đầu là gì? Sau đó, chỉ ra cái đích mà họ phải đi tới, cũng như cách đi thông qua những kiến thức cũ và cuối cùng, họ phải tự tìm, tự học để hiểu được vấn đề cốt lõi của học phần Một nguyên lý quan trọng là những gì sinh viên tự làm được nên để họ tự làm, tự khám phá Vì vậy, người thầy cần phải đưa
ra những vấn đề đòi hỏi sinh viên phải đầu tư công sức và thời gian để đọc, để tìm hiểu Nếu người thầy không đặt ra những vấn đề như vậy thì dù cố ép sinh viên họ cũng không bao giờ đọc 1 cuốn sách tham khảo nào cả
Xu hướng hiện đại: Kiến thức rất đa dạng và thay đổi theo thời gian -> Giảng dạy là khai thác và tận dụng nội lực của sinh viên để họ sẽ tự học suốt đời -> Tăng cường những môn học rèn luyện tư duy
Như vậy với xu hướng mới về phương pháp giảng dạy trong đó quan niệm “học sinh là trung tâm của hệ thống giáo dục” đã làm thay đổi tiêu chí và cánh thức giảng dạy của giảng viên và phương pháp học của sinh viên
Đầu tiên, chúng ta phải chú trọng đến các tiêu chí cho việc dạy và học ở đại học trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy đó là:
* Việc dạy cách học, học cách học để tạo thói quen, niềm say mê và khả năng học suốt đời là nội dung bao quát của việc dạy và học ở Đại Học
* Lấy người học làm trung tâm hoặc hướng vào người học (learner centered) để
phát huy tính chủ động của người học
* Công nghệ thông tin, truyền thông và các thiết bị, phương tiện giảng dạy hiện đại có thể giúp con người chọn nhập và xử lý thông tin nhanh chóng để biến thành tri thức
Từ các tiêu chí trên, chúng ta thấy rằng vai trò của người thấy đã thay đổi trong
đó yêu cầu:
* Nhà giáo Đại học hiện nay không còn là người đơn thuần truyền thụ kiến thức
mà là người hướng dẫn, hỗ trợ và tư vấn cho sinh viên tìm chọn và xử lý thông tin Do
đó người thầy phải nắm bắt được nhu cầu của người học và tổ chức để họ quản lý được thời gian của mình, có tính đến sự khác biệt cá thể, đồng thời động viên họ tích cực
Trang 31-23-
tham gia vào quá trình nâng cao năng lực nhận thức và tư duy, chỉ dẫn và giúp đỡ họ phát triển các kỹ năng học tập độc lập như tự quyết định mục tiêu của bản thân, tự tìm kiếm và xử lý thông tin, tự đánh giá năng lực và chất lượng học tập của mình để sản phẩm đào tạo của đại học có thể là những thực thể tiếp tục phát triển sau khi tốt nghiệp
và suốt đời
* Vị trí của nhà giáo đại học không phải được xác định bằng sự độc quyền về thông tin và tri thức có tính đẳng cấp, mà bằng trí tuệ và sự từng trải của mình trong quá trình dẫn dắt SV tự học
* Điểm cơ bản và quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy-học đại học hiệu quả là người thấy nêu vấn đề và phát huy tối đa khả năng tự học và tư duy độc lập của sinh viên Các cách dạy học theo lối truyền thống truyền đạt - lĩnh hội cần được thay đổi bằng những cách làm mới cùng với sự hỗ trợ của phương tiện mới hiện đại
- Luôn liên hệ với thực tiễn đang thay đổi
- Làm cho SV biết hợp tác và chia sẻ
- Tận dụng sự hỗ trợ của phương tiện dạy học
- Nghiên cứu khoa học cũng là một yêu cầu đối với giảng viên và đồng thời nó khẳng định “tính đại học”, là thành tố không thể thiếu trong việc hình thành phương pháp dạy-học mới trong các trường đại học, giúp thầy tìm kiếm, phát hiện, giúp trò gắn học với hành, phát triển tư duy logic và rèn luyện phương pháp luận sáng tạo Dựa trên những định hướng nghiên cứu lớn của từng trường, mỗi giảng viên phải xây dựng cho mình một hướng đề tài nghiên cứu lâu dài, trên cơ sở đó xác định kế hoạch nghiên cứu khoa học cho từng thời kỳ Có thể huy động những khả năng to lớn của sinh viên vào việc cùng thực hiện từng phần của đề tài Nghiên cứu khoa cũng chính là phương thức hiệu quả nhất để thầy có thể nâng cao chất lượng chuyên môn của mình
Một vấn đề cũng rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học là: đổi mới cách dạy thì phải đổi mới cách học Nhiều sinh viên hiện nay thụ động trong học tập:
- Không tìm tòi thông tin mở rộng kiến thức chuyên môn của mình
- Không phát huy hết tiềm năng của các phương tiện học tập
Trang 32-24-
-Không vận dụng các phương pháp sáng tạo trong học tập
- Trước yêu cầu cầu việc đổi mới phương pháp dạy học thì sinh viên cũng phải thay đổi cách học theo hướng:
- Học cách thức đi tới sự hiểu biết Coi trọng sự khám phá và khai phá trong học thuật
- Học kỹ năng thực hành và thái độ thực tiễn trong nghề nghiệp
- Học phong cách độc lập, sáng tạo, linh hoạt trong nhận thức và hành động Biết mềm hoá tư duy và tuỳ cơ ứng biến
- Học phương pháp nghiên cứu đi từ phân tích đối tượng và mô trường để tìm giải pháp đồng bộ giải quyết những tình huống đa chiều
- Phải sử dụng các thiết bị nghe nhìn hiện đại như USB, kim từ điển, máy nghe nhạc, PC Pocket…để hỗ trợ học tập
Một điều khá thuận lợi trong việc đổi mới phương pháp dạy và học đại học là theo "Đề án đổi mới giáo dục ĐH Việt Nam" từ 3 đến 5 năm tới chuyển các cơ sở giáo dục Đại Học đang đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ (HCTC)
- Học chế tín chỉ là phương thức đào tạo trong đó sinh viên chủ động lựa chọn từng môn học theo một số ràng buộc qui định trước nhằm tích lũy từng phần và tiến tới hoàn tất toàn bộ chương trình đào tạo để được cấp bằng tốt nghiệp
- Học chế tín chỉ cũng tạo điều kiện tối đa để cá nhân hóa qui trình đào tạo, trao quyền chủ động cho sinh viên trong việc đăng ký sắp xếp lịch học, việc tích lũy tín chỉ theo các môn học, kể cả sắp xếp thời gian học ở trường, thời gian tốt nghiệp
Một số hình thức dạy học cần phát huy vai trò trong học chế tín chỉ
+ Giờ lên lớp lý thuyết (Lecture) khi dạy học theo HCTC
Giờ lên lớp lý thuyết với hình thức thuyết trình là giờ dạy học đặc trưng của nhà trường, vì đây là một hình thức triển khai dạy học trên lớp với mục tiêu truyên đạt khối lượng kiến thức lý thuyết đến người học lĩnh hội được tính logic, hệ thống của vấn đề thông qua phần thuyết trình, giảng giải, phân tích, chứng minh, biện luận của giảng viên [9]
Trang 33-25-
+ Giờ tư vấn chuyên môn (Academic adviser)
Đối với dạy học trong HCTC, tư vấn chuyên môn được coi là một hình thức dạy học bắt buộc do chính giảng viên (trợ giảng) hoặc đội ngũ giảng viên tư vấn học tập (Tutor) đảm nhiệm Thông qua hình thức này, tạo cơ hội hỗ trợ cho sinh viên trao đổi, giải đáp thắc mắc, hệ thống hóa, củng cố những vấn đề lý thuyết chưa được sáng tỏ (vì
lý do khách quan lẫn chủ quan) cũng như những vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ môn học [9]
+ Giờ thực hành, thực tập
Đối với các môn học phải thực hành thì tùy thuộc đặc thù của môn học mà tổ chức giờ thực hành, thực tập trong QTDH môn học đó Phương pháp này trong đào tạo theo tín chỉ thì SV phải có thời gian học và chuẩn bị bài ở nhà Hình thức dạy GV đã thực hiện khi còn đào tạo theo niên chế
Trang 34
-26-
CHƯƠNG II: CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO MÔN TIN HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ VÀ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY TIN HỌC CHUYÊN NGÀNH TẠI KHOA KINH TẾ - VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Để đề ra được các giải pháp nâng cao hiệu quả học tập, nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu chương trình đào tạo môn Tin học chuyên ngành cho SV khoa kinh tế
2.1 Chương trình đào tạo môn Tin học chuyên ngành theo học chế tín chỉ:
2.1.1 Các khái niệm Tin học
* Khái niệm Tin học: Tin học là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu quá
trình tự động hóa việc tổ chức, lưu trữ và xử lý thông tin của một hệ thống máy tính cụ thể hoặc trừu tượng (ảo) Với cách hiểu hiện nay, tin học bao hàm tất cả các nghiên cứu
và kỹ thuật có liên quan đến việc mô phỏng, biến đổi và tái tạo thông tin Trong nghĩa thông dụng, tin học còn có thể bao hàm cả những gì liên quan đến các thiết bị máy tính hay các ứng dụng tin học văn phòng
(Theo https://vi.wikipedia.org/wiki/Tinhoc)
* Tin học chuyên ngành (khối ngành Kinh tế): Tin học kinh tế là một ngành
khoa học nghiên cứu, thiết kế, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và hệ thống truyền thông trong các doanh nghiệp
(https://vi.wikipedia.org/wiki/Tin_học_kinh_tế)
Trang 35-27-
Tin học kinh tế còn có thể được coi như một ngành khoa học xã hội Để phát triển các hệ thống công nghệ thông tin, Tin học chuyên ngành kinh tế cần sử dụng lý thuyết hệ thống Những hệ thống công nghệ thông tin này trước hết tập trung vào phương diện kinh tế
2.1.2 Xây dựng giáo trình
Kể từ khi chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ, bộ giáo trình Tin học chuyên ngành gồm Tin học ứng dụng trong Kế toán và Tin học ứng dụng trong Quản trị - tài liệu lưu hành nội bộ - do nhóm Giáo viên Tin học tự biên soạn được chọn là giáo trình chính áp dụng cho sinh viên thuộc 2 chuyên ngành Kế toán và Quản trị kinh doanh Đây là bộ giáo trình được thiết kế nhằm mục đích phát triển kỹ năng cơ bản về
sử dụng bảng tính điện tử Excel để giải quyết các bài toán thông dụng trong hệ thống thông tin kinh tế như kiến thức chung về khoa học máy tính, hệ thống thông tin quản
lý, hệ thống thông tin kế toán, đặc biệt giúp sinh viên chuyên ngành có thể tiếp cận với các nội dung kế toán và quản trị chuyên ngành một cách vững chắc, cũng như cung cấp những kiến thức quản trị cơ bản cho hoạt động quản lý doanh nghiệp Ứng dụng các bài toán kinh tế trên Excel để nâng cao hiệu quả công việc, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
2.1.3 Phân bố kế hoạch học tập:
Giảng viên và sinh viên sẽ cùng học bộ giáo trình trên 90 tiết lý thuyết, SV tự học 90 tiết
Căn cứ vào hướng dẫn của khoản 4 điều 3 quy chế 43 (43/2007/QĐ-BGD&ĐT)
“Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ”, khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ thì môn THCN được quy đổi như sau:
Trang 36(QĐ 25 BGDĐT) (QĐ 43/2007/QĐ-BGD&ĐT)
/2006/QĐ-Số giờ chuẩn bị cá nhân
Bảng 2: Bảng quy đổi thời lượng môn THCN theo hệ thống tín chỉ
Từ bảng quy đổi nêu trên có thể thấy rằng 4 đơn vị học trình/ 1 học phần được quy đổi thành 3 tín chỉ Như vậy, tổng thời gian lên lớp theo đào tạo tín tăng lên so với đào tạo theo niên chế là 1800 phút/ 1 kỳ = 40 tiết học (45 phút/ tiết); số giờ tự chuẩn bị
cá nhân của sinh viên cũng tăng lên 30 giờ so với đào tạo theo niên chế
Theo hình thức TC thì yêu cầu đặt ra cho giảng viên là cần phải thay đổi phương pháp giảng dạy và nội dung giảng dạy để đạt hiệu quả tốt nhất mà không ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
* Phần kiến thức chuyên ngành
- Phần Quản trị: Nắm được các kiến thức tổng quan về phân tích và dự báo
kinh tế, các phương pháp dự báo và ứng dụng của Excel trong giải các bài toán dự báo
Trang 37-29-
kinh tế
- Phần Phần Kế toán: Nắm được ứng dụng Excel trong thực hành các phần hành của kế toán như lập chứng từ, sổ sách, báo cáo kế toán…
2.1.5 Mô tả nội dung học phần:
Mỗi HP đề cập đến các nội dung mà sinh viên đã nắm rõ kiến thức lý thuyết Kết cấu bài: Mỗi bài học gồm 2 phần: phần lý thuyết và phần thực hành SV sẽ được cung cấp những kiến thức về kinh tế, tài chính, cách sử dụng hàm, công cụ phù hợp Phần thực hành giúp sinh viên hiểu rõ từng bạn tập cho từng tình huống cụ thể Kết thúc mỗi nội dung học sẽ là ôn tập và kiểm tra lại kiến thức đã học của cả bài
2.1.6 Nội dung cụ thể của học phần THCN Kế toán
- Bài 1: Tổng quan về hệ thống thông tin kế toán và các ứng dụng của tin học trong
kế toán
Mục tiêu: Trang bị cho sinh viên các kiến thức về tổng quan về Hệ thống thông tin kế toán và ứng dụng tin học trong kế toán Cũng qua bài, học viên sẽ nắm được các nội dung liên quan đến các ứng dụng của Excel trong kế toán, ưu điểm của việc làm kế toán trên Excel Nắm được khái niệm về phần mềm kế toán và ưu điểm của phần mềm
kế toán
Trang 38-30-
Hình 1: Quy trình xử lý thông tin trên phần mềm kế toán
- Bài 2: Ứng dụng Excel trong ghi sổ kế toán chi tiết tiền lương
Mục tiêu: Trang bị cho sinh viên kiến thức về kỹ thuật thực hành các ứng dụng của Excel trong kế toán, cụ thể là hướng dẫn sinh viên cách lập và ghi sổ kế toán chi tiết
tiền lương (Bảng thanh toán lương, Bảng phân bổ lương và BHXH) thông qua bài tập kế toán tổg hợp mô phỏng hoạt động kinh tế của một doanh nghiệp
Hình 2: Mẫu bảng thanh toán lương của Công ty Nhất Linh Hình 3: Mẫu bảng phân bổ lương và BHXH của công ty Nhất Linh
- Bài 3: Ứng dụng Excel trong ghi sổ kế toán chi tiết nguyên vật liệu, TSCĐ, chi phí
Trang 39-31-
SX và tính giá thành sản phẩm
Mục tiêu: Hướng dẫn cho sinh viên kỹ thuật lập các Sổ chi tiết vật liệu, dụng cụ (sản
phẩm, hàng hóa); Bảng tổng hợp nguyên, vật liệu; Bảng phân bổ nguyên, vật liệu; Bảng phân bổ khấu hao Đồng thời hướng dẫn cho học viên cách tập hợp chi phí để tính giá thành sản phẩm thông qua Sổ chi tiết các TK 621, TK 622, TK 627, TK 154
và kế toán thành phẩm.
Hình 4: Mẫu sổ chi tiết vật liệu, dụng cụ của công ty Nhất Linh
Hình 5: Mẫu bảng phân bổ khấu hao TSCĐ của công ty Nhất Linh
Trang 40-32-
Hình 6: Bảng tính giá thành sản phẩm A của công ty Nhất Linh
- Bài 4: Ứng dụng Excel trong ghi sổ kế toán chi tiết doanh thu, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và xác định kết quả kinh doanh
Mục tiêu: Hướng dẫn sinh viên phương pháp kế toán xác định kết quả tiêu thụ thông qua cách lập các Sổ chi tiết TK 641 – chi phí bán hàng; Sổ chi tiết TK 642 – chi phí quản lý doanh nghiệp; Sổ chi tiết TK 632 – Giá vốn hàng bán; Sổ chi tiết TK 511 – doanh thu bán hàng Từ đó lập Sổ chi tiết TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh
Hình 7: Sổ chi tiết TK 641 của công ty Nhất Linh