Bước sang giai đoạn tiếp theo của quá trình xây dựng và phát triền, từ cuối năm 2010 đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, BGH và cùng với sự đồng tâm nhất trí của tất cả cán bộ trong to
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
**********
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN
Các giải pháp và quy trình vận động nguồn vốn
của các đối tác trong và ngoài nước
cho hạ tầng CNTT của Viện ĐH Mở HN
Mã số: V2014-13
Chủ nhiệm đề tài: Ths Lại Minh Tấn
Hà Nội, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
**********
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHCN CẤP VIỆN NĂM 2014
Các giải pháp và quy trình vận động nguồn vốn
của các đối tác trong và ngoài nước
cho hạ tầng CNTT của Viện ĐH Mở HN
Mã số: V2014-13
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
Ths.Lại Minh Tấn
Hà Nội, 2014
Trang 3DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
STT Họ và tên Ghi chú
1 Lại Minh Tấn
2 Nguyễn Việt Quang
3 Lê Quỳnh Mai
DANH SÁCH CÁC CHUYÊN GIA TƯ VẤN ĐỀ TÀI
1 TS.Lê Văn Thanh Viện trưởng-Trưởng Ban QLDA
2 TS.Trương Tiến Tùng Phó Viện trưởng-Phó ban QLDA
3 Ths.Đinh Tuấn Long Uỷ viên Ban QLDA
4 Ông Nguyễn Xuân Quế Uỷ viên Ban QLDA
5 PSG.TS.Trần Hữu Tráng Uỷ viên Ban QLDA
6 Bà Hoàng Thị Ngân Anh Uỷ viên Ban QLDA
Trang 4Mục lục
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
Phần I: MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Thuật ngữ 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
3.1 Mục tiêu chung 7
3.2 Mục tiêu cụ thể 7
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 8
4.1 Các tiếp cận nghiên cứu 8
4.2 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Phạm vi nghiên cứu 8
Phần II: NỘI DUNG 9
Chương 1: Giới thiệu chung 9
1.1 Thực trạng các Nguồn vốn trên Thế giới và tại Việt Nam 9
1.2 Các đặc trưng của các nguồn vốn (ODA, FDI, vốn trong nước) 15
1.2.1 Tổng quan 15
1.2.2 Đặc trưng của các nguồn vốn 18
Vốn ODA 18
Vốn FDI 22
Vốn ngân sách Nhà nước 25
1.2.3 Các bước chung nhất để tiếp cận một Nguồn vốn 27
* Thu hút vốn 27
* Giải ngân vốn 28
* Sử dụng vốn 28
Chương 2: Thực trạng các nguồn vốn đầu tư vào Viện trong năm qua 29
2.1 Giai đoạn 1993 - 2005 29
2.2 Giai đoạn 2006 - 2010 30
2.3 Giai đoạn 2011 tới nay 31
Chương 3: Các giải pháp và quy trình vận động một nguồn vốn ODA 34
3.1 Các giải pháp chung 34
3.2 Các giải pháp riêng 35
3.3 Quy trình vận động và các bước để hình thành một NV ODA 36
3.3.1 Quy trình vận động 37
3.3.2 Các bước để hình thành Nguồn vốn 38
Chương 4: Kết luận và kiến nghị 41
4.1 Kết luận 41
4.2 Kiến nghị 41
Tài liệu tham khảo 42
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Ý nghĩa
1 CNTT Công nghệ Thông tin
2 MPI Ministry of Planning & Investment
3 MOF Ministry of Finance
4 MOET Ministry of Education and Tranning
5 ODA Official Development Assistance
6 FDI Foreign Direct Investment
7 ICOR Incremental Capital - Output Ratio
8 NSNN Ngân sách Nhà nước
10 ĐTPT Đầu tư phát triển
Trang 6Phần I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Viện Đại học Mở Hà Nội là một trường đại học công lập, hoạt động trong hệ thống các trường đại học của Quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý Viện được thành lập ngày 03 /11 /1993 theo Quyết định số 535/TTg của Thủ tướng chính phủ Sứ mạng của Viện là: Mở cơ hội học tập cho mọi người với chất lượng tốt, phục vụ nhu cầu học tập đa dạng với nhiều loại hình đào tạo, đa ngành, đa cấp
độ, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước và hội nhập Quốc tế Viện Đại học Mở Hà Nội là một cơ sở đào tạo tại chỗ và đào tạo từ xa nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng tiềm lực cán bộ khoa học kĩ thuật của đất nước
Hiện nay Viện Đại học Mở Hà Nội có trên 55 nghìn sinh viên, bao gồm các
hệ chính quy tập trung, từ xa, tại chức (VLVH) và cao học Viện đang liên kết đào tạo với 128 cơ sở giáo dục trong cả nước từ Cần Thơ đến Điện Biên, Lai Châu
Viện Đại học Mở Hà Nội đã trải qua 21 năm xây dựng và phát triển, để có được những thành quả như ngày hôm nay không thể không ghi nhận công sức của tập thể Nhà trường trong suốt những năm qua Nhà trường đã đi qua quãng đường với sự lãnh đạo của 02 Lãnh đạo tiền nhiệm từ năm 1993 đến 2010, trong giai đoạn này là quá trình xây dựng, củng cố và định hướng sự phát triển bền vững của Nhà trường, tuy nhiên trong giai đoạn này quá trình áp dụng Công nghệ Thông tin (CNTT) vào mọi mặt của Nhà trường là chưa được chú trọng do cả điều kiện khách quan và chủ quan mà quan trọng hơn là tầm nhìn chiến lược của Lãnh đạo chưa có, tính đồng thuận và sự kết hợp giữa các đơn vị làm công nghệ trong Nhà trường chưa cao
Bước sang giai đoạn tiếp theo của quá trình xây dựng và phát triền, từ cuối năm 2010 đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, BGH và cùng với sự đồng tâm nhất trí của tất cả cán bộ trong toàn Viện, Nhà trường đã thực sự bước sang một trang mới, một hướng đi mới cho sư phát triền bền vững của Viện Đại học Mở Hà Nội đó là đẩy nhanh quá trình tin học hóa trong tất cả các hoạt động của Nhà trường
và nhất là cương quyết chuyển đổi phương thức đào tạo theo phương thức truyền thống sang phương thức đào tạo trực tuyến E-Learing với sự trợ giúp đắc lực của CNTT
Trang 7Để đẩy nhanh được quá trình tin học hóa và quá trình đào tạo theo phương thức E-Learing của riêng mình, Viện Đại học Mở Hà Nội phải có nguồn đầu tư tài chính rất lớn để đầu tư cho thiết bị và đào tạo nguồn nhân lực Với nguồn vốn tự có do tích lũy trong nhiều năm, Nhà trường cũng đã cố gắng để theo đuổi các mục tiêu chiến lược mà Đảng ủy BGH đề ra, tuy nhiên để quá trình phát triển được nhanh chóng, đúng hướng và hiện đại, Đảng ủy BGH cũng đề ra quyết tâm phải tìm những nguồn vốn từ các tổ chức trong và ngoài nước để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, để tận dụng được các công nghệ tiên tiến của bên ngoài, hơn nữa Đảng ủy BGH cũng nhận thấy chưa nhiệm kỳ lãnh đạo nào mà Nhà trường được sự ủng hộ và đồng thuận về mọi mặt của Bộ GD và ĐT và của các Bộ nghành liên quan
Chính vì vậy, đầu năm 2012 Đảng ủy BGH đã giao cho Trung tâm CNTT tìm hiểu, xây dựng các đề xuất để tìm các các nguồn vốn trong và ngoài nước cho các hoạt động CNTT của Nhà trường, sau gần ba năm tiến hành, Trung tâm CNTT
muốn báo cáo kết quả thông qua đề tài “Các giải pháp và quy trình vận động
nguồn vốn của các đối tác trong và ngoài nước cho hạ tầng CNTT của Viện Đại
2 Thuật ngữ
1 Ministry of Planning & Investment Bộ kế hoạch và Đầu tư
2 Ministry of Finance Bộ Tài chính
3 Ministry of Education and Tranning Bộ giáo dục và Đào tạo
4 Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
5 Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
6 Incremental Capital - Output Ratio Hiệu quả sử dụng vốn
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Xây dựng được quy trình chung để vận động các nguồn vốn khác nhau để từ
đó làm căn cứ tiếp tục vận động các nguồn vốn khác cho sau này
3.2 Mục tiêu cụ thể
• Đưa ra được các giải pháp và quy trình vận động nguồn vốn ODA Chính phủ Hàn Quốc đầu tư cho hạ tầng CNTT của Viện Đại học Mở Hà Nội
Trang 8• Đề xuất các giải pháp và quy trình để vận động thêm các nguồn vốn khác, vào các lĩnh vực khác của Nhà trường
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Các tiếp cận nghiên cứu
Cách tiếp cận: Thực tiễn có sự tham gia:
Đây là một hoạt động tiếp cận xã hội để đánh giá các mối quan hệ, tìm hiểu khả năng thực tế để đưa ra các giải pháp thích ứng với mỗi mối quan hệ và từ đó phát triển hướng nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Do kết quả của đề tài nhằm đưa ra giải pháp và quy trình vận động các nguồn vốn trong và ngoài nước cho hạ tầng cơ sở CNTT của Viện Đại học Mở Hà Nội nên nhóm nghiên cứu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
• Trải nghiệm thực tế: Trên cơ sở phân tích hiện trạng hệ thống công nghệ thông tin của các Nhà trường, những định hướng phát triển của Nhà trường trong hiện tại và tương lai
• Tư duy Khoa học: Phân tích các điểm mạnh và yếu của hệ thống CNTT tại Viện Đại học Mở Hà Nội để từ đó có hướng đi và hướng tiếp cận thích hợp
• Nêu vấn đề, thảo luận nhóm để từ đó có được những ý kiến thống nhất, không duy ý chí, tạo động lực cho quá trình nghiên cứu
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu để đưa ra các giải pháp và quy trình vận động các nguồn vốn trong và ngoài nước cho hạ tầng cơ sở CNTT của Viện Đại học Mở
Hà Nội
Trang 9Phần II: NỘI DUNG
Chương 1: Giới thiệu chung
Nội dung của Chương 1 nhằm giới thiệu tổng quan về các loại nguồn vốn cả trong và ngoài nước, đồng thời nêu nên cách thức, quy trình của những loại nguồn vốn đó đầu tư cho Giáo dục nói chung và cho CNTT nói riêng
1.1 Thực trạng các Nguồn vốn trên Thế giới và tại Việt Nam
Cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ trên thế giới, đặc biệt là Công nghệ Thông tin tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho sự phát triển của kinh tế tri thức, làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp đào tạo, đồng thời tạo cơ hội cho Việt Nam dễ dàng tiếp cận được các thành tựu của tri thức nhân loại
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu của thời đại Đất nước hội nhập ngày càng sâu, rộng vào cộng đồng quốc tế Các chính sách "mở cửa" của Nhà nước ngày càng thông thoáng, tạo cơ hội lớn cho Viện Đại học Mở Hà Nội tiếp cận được những công nghệ mới trong giáo dục, những chuyên gia trẻ về CNTT đẳng cấp quốc tế sang giảng dạy và truyền đạt những kinh nghiệm
Các Trường Đại học lớn như Đại học Bách Khoa, Đại học Kinh Tế, Đại học Thủy Lợi, Đại học Thái Nguyên, v v cũng đã áp dụng CNTT trong các hoạt động của Nhà trường rất hiệu quả Đó cũng là môi trường cho chúng ta có nhiều cơ hội học hỏi và rút ra những kinh nghiệm
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong việc đảm bảo nguồn tài chính để từ đó có những đầu tư phù hợp trong sự phát triển của Nhà trường, chính vì vậy chúng ta phải hiểu rõ thực trạng của các nguồn vốn Nhà nước trong những năm qua để trên cơ sở đó có những đánh giá chính xác nguồn đầu tư cũng như nguồn vốn và danh mục đầu tư
Trong những năm gần đây, hoạt động đầu tư phát triển (ĐTPT) đã góp phần quan trọng trong thúc đẩy và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, thực tế nguồn vốn này vẫn chưa phát huy hiệu quả cao Cơ chế phân bổ và thực hiện vốn vẫn tập trung quá nhiều vào lĩnh vực hạ tầng cơ sở, chưa đầu tư thoả đáng cho các dự án về CNTT hoặc các Dự án có khả năng thu hồi vốn, trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá làm tăng GDP, một vài thống kê sẽ cho ta thấy thực trạng hoạt động đầu tư ở Việt Nam thời gian qua
Trang 10Bức tranh toàn cảnh về vốn đầu tư cho nền Kinh tế
Về cơ cấu vốn đầu tư
Trong thời gian từ 2005 đến 2012, tỷ trọng vốn đầu tư phát triển (ĐTPT) toàn xã hội luôn chiếm rất cao trong GDP (cao nhất là năm 2007 với 46,52%) Tuy nhiên, tỷ trọng này đang có xu hướng giảm mạnh, đến năm 2012 chỉ còn 33,5% trong GDP
Trong thời gian từ 2009-2012, tỷ trọng vốn đầu tư trong GDP theo 3 khu vực
sở hữu đều giảm (KTNN - 11%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước -3,96% và khu vực kinh tế có vốn FDI -18,54%) Sự sụt giảm tỷ trọng vốn đầu tư/GDP của khu vực KTNN là do chủ trương cắt giảm đầu tư công trong thời gian qua
Số liệu tại bảng trên cho thấy, tổng vốn ĐTPT toàn xã hội đã liên tục tăng từ
343.135 tỷ đồng năm 2005 lên 989.300 tỷ đồng năm 2012 (tăng lên 2,88 lần) Trong
đó, khu vực vốn FDI tăng nhanh nhất (4,5 lần); Nhìn chung, quy mô vốn cho ĐTPT đều tăng trong thời gian từ 2005 - 2012, tuy nhiên có xu hướng chững lại trong tất
cả các khu vực (năm 2012 chỉ cao hơn so với năm 2011 là 64.805 tỷ đồng), đặc biệt
là trong 2 năm gần đây, tổng vốn đầu tư Nhà nước đã không còn chiếm ưu thế mà đứng sau khu vực kinh tế ngoài Nhà nước
Cơ cấu vốn đầu tư
Vốn ĐTPT từ khu vực KTNN có xu hướng giảm dần tỷ trọng trong toàn bộ giai đoạn 2005-2012 từ 47% xuống còn khoảng 37% Vốn ĐTPT từ khu vực ngoài Nhà
Trang 11nước giữ nguyên tỷ trọng trong giai đoạn này Khu vực FDI có sự gia tăng đóng góp cho vốn ĐTPT, tỷ trọng đóng góp vốn ĐTPT của khu vực này tăng từ 14,89% năm
Bức tranh toàn cảnh về vốn đầu tư cho Giáo dục
Theo thống kê từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến hết tháng 2/2013, lĩnh vực giáo dục - đào tạo cả nước thu hút 170 dự án FDI, với tổng
số vốn đăng ký đầu tư hơn 468 triệu USD Kết quả thu được trong việc thu hút và
sử dụng vốn FDI vào giáo dục và đào tạo còn khá khiêm tốn, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế
Quy mô tính trung bình trên một dự án còn quá thấp (khoảng 2,8 triệu USD), số
dự án đầu tư quá ít (170/14.100 dự án đầu tư nước ngoài), đứng thứ 17/18 ngành, lĩnh vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Cụ thể về đầu tư ODA của Hàn Quốc trong năm 2013 và 2014 vào Việt nam chúng ta cũng thấy tỷ trọng mất cân đối về đầu tư cho Giáo dục so với các ngành nghề khác
Trang 12Trong năm 2013, ODA của Hàn Quốc vào Việt Nam có 7 dự án mới và chỉ có 1
dự án duy nhất về CNTT với số vốn là 5,2tr $ / tổng số 30,1Tr $
Trang 13Sang năm 2014, ODA của Hàn Quốc vào Việt Nam có 8 dự án mới và chỉ có 2
dự án duy nhất về CNTT với số vốn là 4,2tr $ / tổng số 68,87Tr $
Trang 14Và phân bố mất cân xứng
Điều đáng nói, các dự án chủ yếu tập trung vào hai thành phố lớn là Hà Nội và
Hồ Chí Minh, chưa có một dự án FDI vào dịch vụ giáo dục được thực hiện ở nông thôn Tính riêng các dự án FDI giáo dục – đào tạo tại hai thành phố này đã chiếm tới 93,3% tổng vốn đăng ký
Cụ thể, tại Hồ Chí Minh có 83 dự án với tổng vốn đầu tư 204,5 triệu USD, chiếm 48,8% về số dự án và chiếm 43,6% về tổng vốn đầu tư; Hà Nội có 58 dự án với 233 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 34,1% tổng số dự án và chiếm 49,7% về tổng vốn đầu tư
Thêm vào đó, ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh, mật độ dân số ngày càng tăng vì vậy giá tiền thuê đất cũng ngày càng leo thang, dẫn tới chi phí xây dựng dự án sẽ tăng Mặt khác, nếu ở hai thành phố lớn này ngày càng xuất hiện nhiều các trung tâm đào tạo của cả ở trong và ngoài nước sẽ dẫn tới nguy cơ nhu cầu thị trường bị bão hòa Trong khi đó, ở vùng nông thôn, với một lực lượng lao động dồi dào có nhu cầu lớn về giáo dục, thì số dự án đăng ký cấp giấy phép đầu tư còn ít
Số liệu FDI trong lĩnh giáo dục đào tạo phân theo loại hình cơ sở giáo dục
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trong 170 dự án đang có hiệu lực, số lượng các trung tâm đào tạo ngắn hạn chiếm số lượng lớn nhất, với 103 dự án, chiếm 42,5% về tổng vốn đăng ký; cơ sở giáo dục phổ thông có 20 dự án, chiếm 33,2%; cơ sở giáo dục mầm non có 34 dự
Trang 15án, chiếm 9,4% về tổng vốn đầu tư Điều đáng nói là cơ sở giáo dục đại học chỉ có
nghiệp cũng ít không kém với 9 dự án, có tổng vốn đầu tư trên 10 triệu USD Các
cơ sở khác chỉ có 1 dự án duy nhất
Về đối tác đầu tư, các nước có nền giáo dục - đào tạo hiện đại như:
Singapore, Australia, Đài Loan, Hoa Kỳ, Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản đều có nhiều
dự án dạy nghề, dạy ngoại ngữ, dạy phổ thông tại Việt Nam Các tổ chức đầu tư cho giáo dục gồm:ADB, UNICEF, UNESCO, OXFAM, SIDA, KOICA, JACA
1.2 Các đặc trưng của các nguồn vốn (ODA, FDI, vốn trong nước)
Đối với nguồn vốn ngân sách Nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lựơc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của Doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước Với cơ chế tín dụng, các đợn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đàu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu
tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
Trang 16Nguồn vốn đầu tư từ Doanh nghiệp Nhà nước: Được xác định là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế, các Doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn khá lớn Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế Nhà nước với sự tham gia của các Doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với chủ trương tiếp tục đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các Doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội
* Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các Doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trong dân
cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hay do tích luỹ truyền thống Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt … nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống Ngân hàng Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập
và chi tiêu của các hộ gia đình
Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường Nó là kênh bổ sung các nguồn vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư - bao gồm cả Nhà nước và các loại hình Doanh nghiệp Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn dỗi của các Doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ trung ương và chính quyền địa phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế Đây được coi là một lợi thế mà không một phương thức huy động nào có thể làm được
Nguồn vốn nước ngoài
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế (international capital flows) Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước
Trang 17phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước thế giới thứ ba đặc biệt quan tâm Dòng vốn này diễn ra với nhiều hình thức, mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không hoàn toàn giống nhau Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngoài như sau:
- Tài trợ phát triển vốn chính thức (ODF - Official Development Finance) Nguồn này bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức (ODA - Offical Development Assistance) và các hình thức viện trợ khác Trong đó, ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF;
- Nguồn tín dụng từ các Ngân hàng Thương mại
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
* Nguồn vốn ODA
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn vốn ODF nào khác Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay tương đối lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…) Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể Nếu không việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền Kinh tế Điều này có hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có thể nhận vốn, vừa bảo tồn được những mục tiêu có tính nguyên tắc
* Nguồn vốn FDI
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác nguồn vốn khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự
án đầu tư hoạt động có hiệu quả Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về trình độ kỹ thuật, công nghệ hay cần
Trang 18nhiều vốn Vì thế nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư
1.2.2 Đặc trưng của các nguồn vốn
Vốn ODA
* Xuất xứ của ODA
Đại chiến Thế giới thứ 2 kết thúc cũng là thời điểm mở đầu cho một cuộc chiến
mới kéo dài gần nửa thế kỷ, đó là chiến tranh lạnh giữa phe Xã hội chủ nghĩa
(XHCN) và Tư bản chủ nghĩa, mà đứng đầu là Liên Xô và Hoa Kỳ Hai cường quốc này thực thi nhiều biện pháp, đặc biệt là về kinh tế để củng cố hệ thống đồng minh của mình
Đối với Hoa Kỳ, nền kinh tế không những không bị tàn phá mà ngày càng giầu
có nhờ chiến tranh Năm 1945, GNP của Hoa Kỳ là 213,5 tỷ USD, bằng 40% tổng sản phẩm toàn thế giới Ở thái cực khác, các nước đồng minh của Hoa Kỳ lại chịu tác động nặng nề của cuộc chiến tranh Sự yếu kém về kinh tế của các nước này khiến Hoa Kỳ lo ngại trước sự mở rộng của phe XHCN Để ngăn chặn sự phát triển
đó giải pháp quan trọng lúc bấy giờ là giúp các nước tư bản sớm hồi phục kinh tế Năm 1947, Hoa Kỳ triển khai kế hoạch Marshall, viện trợ ồ ạt cho các nước Tây
Âu Từ năm 1947 đến 1951 Hoa Kỳ viện trợ cho các nước Tây Âu tổng cộng 12 tỷ USD (tương đương 2,2% GDP của thế giới và 5,6% GDP của Hoa Kỳ lúc bấy giờ)
Về phía mình, Liên Xô cũng sử dụng biện pháp trợ giúp kinh tế để củng cố và gia tăng số lượng các nước gia nhập phe XHCN Với tinh thần “quốc tế vô sản” Liên
Xô đã tài trợ cho nhiều quốc gia trên thế giới, từ các nước ở Châu Âu, Châu Á, đến Châu Phi và Mỹ La-Tinh Năm 1991, khi Liên Xô tan rã, tổng số tiền các nước còn
nợ Liên Xô lên đến con số khổng lồ, quy đổi ra đôla Mỹ là 120 tỷ
Viện trợ của Hoa Kỳ cho các nước Tây Âu và của Liên Xô cho các nước XHCN được coi là các khoản ODA đầu tiên Mặc dù mục tiêu chính của các khoản viện trợ này là chính trị nhưng chúng cũng đã có tác dụng nhất định giúp các nước tiếp nhận phát triển KTXH Đến năm 1960, trước sự đấu tranh mạnh mẽ của các nước đang
và kém phát triển, cộng với nhận thức thay đổi của các nước giầu đối với sự phát triển của các nước nghèo, tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thành lập
Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC) Uỷ ban này có nhiệm vụ yêu cầu, khuyến khích và
Trang 19điều phối viện trợ của các nước OECD cho các nước đang và kém phát triển Kể từ khi bản báo cáo đầu tiên của DAC ra đời vào năm 1961, thuật ngữ ODA được chính
thức sử dụng, với ý nghĩa là sự trợ giúp có ưu đãi về mặt tài chính của các nước
giầu, các tổ chức quốc tế cho các nước nghèo
* Đặc điểm của ODA
Một khoản tài trợ được coi là ODA nếu đáp ứng đầy đủ 3 điều kiện sau:
Một là: Được các tổ chức chính thức hoặc đại diện của các tổ chức chính thức cung cấp Tổ chức chính thức bao gồm các Nhà nước mà đại diện là Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên Quốc gia, và các tổ chức phi Chính phủ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Gắn với nguồn cung cấp, người ta chia ODA thành hai dạng: ODA song phương và ODA đa phương
ODA song phương: Chủ yếu do các nước là thành viên của DAC cung cấp Hiện nay Uỷ ban này có 22 quốc gia, hàng năm viện trợ một lượng ODA chiếm tỷ trọng khoảng 85% của toàn thế giới Năm 2006, các nước DAC viện trợ 103 tỷ USD và năm 2007: 102 tỷ USD Dự kiến trong ngắn hạn và trung hạn, lượng ODA
do các quốc gia này cung cấp tiếp tục tăng
ODA đa phương: Do các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, liên minh Châu
Âu, các Tổ chức tài chính Quốc tế như IMF, WB, ADB, Ngân hàng phát triển Châu Phi, Quỹ viện trợ của OPEC và các Tổ chức phi Chính phủ cung cấp
Hai là: Mục tiêu chính là giúp các nước đang phát triển (ĐPT) phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội Các lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA bao gồm: Xoá đói, giảm nghèo, nông nghiệp và phát triển nông thôn; cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng; cơ sở hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; các vấn đề xã hội như tạo việc làm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội; cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý Nhà nước, cải cách thể chế…
Ba là: Thành tố hỗ trợ (Grant element - GE) phải đạt ít nhất 25% Thành tố hỗ trợ, còn được gọi là yếu tố không hoàn lại là một chỉ số biểu hiện tính “ưu đãi” của ODA so với các khoản vay thương mại theo điều kiện thị trường Thành tố hỗ trợ càng cao càng thuận lợi cho nước tiếp nhận Chỉ tiêu này được xác định dựa trên tổ hợp các yếu tố đầu vào: Lãi suất, thời gian ân hạn, thời hạn cho vay, số lần trả nợ trong năm, và tỷ lệ chiết khấu Công thức xác định như sau:
Trang 20
Trong đó:
GE: Yếu tố không hoàn lại
r: Tỷ lệ lãi suất hàng năm
a: Số lần trả nợ trong năm (theo điều kiện của bên tài trợ)
d: Tỷ lệ chiết khấu của mỗi kỳ d = (1 + d’ )1/a - 1
d’: Tỷ lệ chiết khấu của cả năm (theo thông báo của OECD hoặc các thoả thuận của bên tài trợ)
G: Thời gian ân hạn
M: Thời hạn cho vay
* Vai trò của ODA
Nguồn vốn ODA được đánh giá là nguồn ngoại lực quan trọng giúp các nước ĐPT thực hiện các chiến lược phát triển KTXH của mình Vai trò của ODA thể hiện trên các phương diện cơ bản như:
- ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư phát triển, giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Vốn ODA với đặc tính ưu việt là thời hạn cho vay dài (thường là 10 - 30 năm), lãi suất thấp khoảng từ 0,25% đến 2%/năm Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện cho vay ưu đãi như vậy Chính phủ các nước ĐPT mới có thể tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường sá, điện, nước, thuỷ lợi và các hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế Những
cơ sở hạ tầng KTXH được xây dựng mới hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của các nước nghèo Theo tính toán của các chuyên gia của WB, đối với các nước ĐPT có thể chế và chính sách tốt, khi ODA tăng lên 1% thì tốc độ tăng trưởng tăng thêm 0,5%
- ODA giúp các nước ĐPT phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu tiên dành cho đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực
Trang 21này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học của các nước ĐPT Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chương trình
hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khoẻ cộng đồng Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng Quốc tế, các nước ĐPT đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người của quốc gia mình
- ODA giúp các nước ĐPT xoá đói, giảm nghèo Xoá đói nghèo là một trong những tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ Quốc tế đưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức Mục tiêu này biểu hiện tính nhân đạo của ODA Trong bối cảnh sử dụng có hiệu quả, tăng ODA một lượng bằng 1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9% tỷ lệ tỷ vong ở trẻ sơ sinh và nếu như các nước giầu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu được 25 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo
- ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán Quốc tế của các nước ĐPT Đa phần các nước ĐPT rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi cho cán cân thanh toán Quốc tế của các quốc gia này ODA, đặc biệt các khoản trợ giúp của IMF có chức năng làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nước tiếp nhận, từ đó ổn định đồng bản tệ
- ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực bổ sung cho đầu tư tư nhân Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam châm “hút” đầu tư tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ Đối với những nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực tư nhân vào công cuộc đổi mới của Chính phủ Tuy nhiên, không phải lúc nào ODA cũng phát huy tác dụng đối với đầu tư tư nhân Ở những nền kinh
tế có môi trường bị bóp méo nghiêm trọng thì viện trợ không những không bổ sung
mà còn “loại trừ” đầu tư tư nhân Điều này giải thích tại sao các nước ĐPT mắc nợ nhiều, mặc dù nhận được một lượng ODA lớn của cộng đồng Quốc tế song lại không hoặc tiếp nhận được rất ít vốn FDI
- ODA giúp các nước ĐPT tăng cường năng lực và thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ Quốc tế