Với riêng tại Việt Nam hiện nay, tại các trường đại học có đào tạo về chuyên ngành thiết kế, mỹ thuật, chương trình giảng dạy môn hình họa vẫn còn chung chung chứ chưa có sự nghiên cứu,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN
NGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN HÌNH HỌA TẠI KHOA TẠO DÁNG CÔNG NGHIỆP
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Mã số: V2015- 28
Chủ nhiệm đề tài: ThS Lê Trọng Nga
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN
NGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN HÌNH HỌA TẠI KHOA TẠO DÁNG CÔNG NGHIỆP
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Mã số: V2015- 28
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
(ký, h ọ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Trang 3THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Họ và tên Đơn vị công tác và lĩnh vực
chuyên môn
Nội dung nghiên cứu cụ thể được
giao
ThS Lê Trọng Nga Khoa Tạo dáng CN
Phó chủ nhiệm khoa Chủ nhiệmđề tài ThS.Trần Hữu Tiến Khoa Tạo dáng CN
Giảng viên ngành thời trang Ủy viên CN.Nguyễn Thị Thanh Hà Khoa Tạo dáng CN
Giảng viên ngành thời trang Ủy viên
CN Nguyễn Thị Hường Khoa Tạo dáng CN
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ CHUYÊN MÔN
- Design-Thiết kế tạo mẫu
- Graphics design - Thiết kế đồ họa
- Interrior design -Trang trí nội thất
-Fashion design- Thiết kế thời trang
Trang 5CÁC HÌNH ẢNH MINH HỌA
Hình 1 Tượng em bé cài lược 21
Hình 2 Khoảng trống và hình cơ bản 23
Hình 3 Khoảng trống với hình họa người………… ……….22
Hình 4 Giáo trình hình hoạ 3 của Triệu Khắc Lễ, tr52 30
Hình 5 A.A.IVANOV Hình họa nữ Cuối 1983 đầu 1984 Bút chì và than trên giấy 31
Hình 6 Vẽ người toàn thân – chất liệu than 34
Hình 7 Giáo trình hình họa đại học Mỹ thuật Công nghiệp 36
Hình 8 Giáo trình hình họa đại học Mỹ thuật Công nghiệp 37
Hình 9 Cách đo tỷ lệ mẫu (sử dụng thân viết chì hoặc que đo) 39
Hình 10 Que đo và dây dọi 40
Hình 11 Hình họa nghiên cứu của Leonardo da Vinci 43
Hình 12 Hìnhhọa nghiên cứu của Albrecht Dürer 44
Hình 13 Vẽ hình họa theo tiếp cận cấu trúc của Nga 45
Hình14 Bài hình họa nghiên cứu của sinh viên Nga 47
Hình 15 Hình vẽ nghiên cứu cơ thể người của Michelangelo 48
Hình 16 Hình vẽ nghiên cứu giải phẫu cơ thể người của Leonardo da Vinci 50
Hình 17 Nghiên cứu cơ thể người bằng các hình khối đơn giản của Luca Cambiaso và Durer 51
Hình 18 Bài hình họa nghiên cứu chất liệu than đen trắng của sinh viên Đại học mỹ thuật Việt Nam 60
Hình 19 Bài hình họa nghiên cứu chất liệu sơn dầu của sinh viên Đại học mỹ thuật Việt Nam 62 Hình 20 Bài hình họa nghiên cứu của giảng viên Đại học Mỹ thuật thành phố
Trang 6Hình 21 Bài hình họa nghiên cứu chất liệu chì đen của sinh viên Đại học mỹ
thuật Công nghiệp 68
Hình 22 Bố cục…… 96
Hình 23 Diễn tả khối 97
Hình 24 Khối lập phương 100
Hình 25.Khối trụ 100
Hình 26 Khối tròn 100
Hình 27 Tỷ lệ tượng 99
Hình 28: Tả khối tượng mảng 100
Hình 29 Đầu tượng chân dung 103
Hình 30 Tượng bán thân 103
Hình 31 Tượng toàn thân 104
Hình 32 Chân dung người 104
Hình 33 Vẽ người bán thân và toàn thân, chất liệu chì và than 105
Hình 34.Vẽ người toàn thân chất liệu than 105
Hình 35 Vẽ chân dung người chất liệu màu 106
Hình 36 Vẽ người bán thân, toàn thân chất liệu sơn dầu 107
Hình 37.Ký hoạ chân dung 109
Hình 38 Ký hoạ nhóm người 109
Hình 39 Ký hoạ dáng người 110
Hình 40 Ký họa nhóm người theo chủ đề 110
Hình 41 Ký họa phong cảnh, bút sắt, mực nho và màu đồng chất 111
Hình 42 Ký hoạ phong cảnh bằng màu nước 112
Hình 43 Ký hoạ người dáng đứng ngồi 113
Hình 44 Ký hoạ phong cảnh, công trình kiến trúc 113
Hình 45.Ký hoạ phong cảnh, công trình kiến trúc - chất liệu màu nước 114
Trang 7Hình 46 Cách chia tỷ lệ dáng người 115
Hình 47 Ký hoạ dáng người 116
Hình 48 Ký hoạ dáng người - mực nho, màu nước 117
Hình 49 Ký họa thâm diễn, tả kỹ chất liệu của trang phục 118
Hình 50 Tĩnh vật chì 119
Hình 51 Chân dung chì 120
Trang 8MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU 13
1 Tính cấp thiết của đề tài 13
2 Mục tiêu nghiên cứu 13
3 Phạm vi nghiên cứu 13
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 14
5 Kết cấu của báo cáo đề tài 14
II PHẦN NỘI DUNG 15
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH HỌA VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN HÌNH HỌA 15
1.1 Kiến thức chung về hình họa 15
1.1.1 Khái niệm 15
1.1.2 Nguồn gốc của hình họa 16
1.1.3 Vai trò của hình họa 18
1.1.4 Các yếu tố nghiên cứu của hình họa 19
1.1.4.1 Nét, mảng và hình khối 19
1.1.4.2 Sáng - tối 20
1.1.4.3 Tỷ lệ và cân đối 20
1.1.4.4 Phối cảnh 21
1.1.4.5 Động và tĩnh 21
1.1.4.6 Đơn lẻ và tổ hợp 22
1.1.4.7 Mảng đặc và khoảng trống 22
1.1.4.8 Tâm lý thị giác của hình 24
1.1.4.9 Cân bằng 26
1.1.4.10 Điều hòa đậm nhạt – giải quyết chính phụ 26
1.1.4.11 Bố cục 30
Trang 91.2 Phương pháp vẽ hình họa 33
1.2.1 Yêu cầu của một bài hình họa 33
1.2.2 Cách thức tiến hành một bài hình họa 35
1.2.2.1 Đặt mẫu 35
1.2.2.2 Tìm bố cục 35
1.2.2.3 Quan sát, nhận xét mẫu 38
1.2.2.4 Xác định bố cục bài vẽ 38
1.2.2.5 Dựng hình 38
1.2.2.6 Kiểm tra hình vẽ 39
1.2.2.7 Que đo 39
1.2.2.8 Dây dọi 40
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG TÌNH HÌNH GIẢNG DẠY MÔN HÌNH HỌA CỦA VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 41
2.1 Khái quát về quan điểm và thực tế giảng dạy môn hình họa tại các trường đào tạo Mỹ thuật trên thế giới 41
2.1.1 Khái quát về sự ra đời của môn hình họa 41
2.1.2 Giảng dạy môn hình họa tại các trường Mỹ thuật Nga 44
2.1.3 Giảng dạy môn hình họa tại các trường Mỹ thuật thế giới 48
2.2 Thực tế giảng dạy môn hình họa tại các trường đào tạo Mỹ thuật tại Việt Nam 53
2.2.1 Giảng dạy môn hình họa trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam 54
2.2.1.1 Các khoa đào tạo hệ đại học: 55
2.2.1.2 Thời lượng giảng dạy môn hình họa: 55
2.2.1.3 Quan điểm và thực trạng môn hình họa tại Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam: 56 2.2.1.4 Chất liệu thể hiện chính trong học tập môn hình họa tại Trường
Trang 102.2.1.4.1 Ch ất liệu than đen trắng: 58
2.2.1.4.2 Ch ất liệu sơn dầu: 60
2.2.2 Giảng dạy môn hình họa tại trường Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh 63
2.2.2.1 Chương trình đào tạo: 63
2.2.2.2 Các khoa, ngành đào tạo (hệ đại học): 63
2.2.2.3 Thời lượng giảng dạy môn hình họa: 63
2.2.2.4 Đổi mới về chương trình và phương pháp giảng dạy: 64
2.2.3 Giảng dạy môn hình họa tại trường Đại học sư phạm nghệ thuật trung ương 66
2.2.4 Giảng dạy môn hình họa tại trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp 68
2.2.4.1 Các khoa chuyên ngành: 68
2.2.4.2 Đặc điểm riêng của chương trình đào tạo: 68
2.2.5 Tổng kết chung về thực trạng môn hình họa trong đào tạo mỹ thuật hiện nay ở Việt Nam: 69
2.2.5.1 Quan điểm chung về môn học: 69
2.2.5.2 Về chương trình và thời gian đào tạo: 70
2.2.5.3 Về sự đổi mới trong chương trình đào tạo: 70
2.2.5.4 Về xây dựng giáo trình, tài liệu: 71
2.3 Thực trạng giảng dạy và học tập môn hình họa tại khoa Tạo dáng công nghiệp – Viện Đại học Mở Hà Nội 71
2.3.1 Về chương trình đào tạo: 71
2.3.1.1 Chương trình đào tạo theo hệ thống niên chế (áp dụng đến khóa 19, niên khóa 2010-2015): 71
2.3.1.1.1 Hình họa 71
2.3.1.1.2.Ký họa: 73
Trang 112.3.1.2 Chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ (áp dụng từ khóa 20,
niên khóa 2011-2016 cho đến khóa 23, niên khóa 2015-2020): 74
2.3.1.2.1 Ch ương trình hình họa 74
2.3.1.2.2 Ch ương trình ký họa 76
2.4 Xây dựng, đổi mới chương trình đào tạo môn hình họa, ký họa cho các chuyên ngành thiết kế của khoa Tạo dáng Công nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội 77
2.4.1 Tính đặc trưng của các chuyên ngành thiết kế: 77
2.4.1.1 Đặc trưng và mục tiêu đào tạo của chuyên ngành thiết kế Đồ họa 77
2.4.1.2 Đặc trưng và mục tiêu đào tạo của chuyên ngành thiết kế Nội thất 79
2.4.1.3.Đặc trưng và mục tiêu đào tạo của chuyên ngành thiết kế Thời trang 81
CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY MÔN HÌNH HỌA CHO CÁC CHUYÊN NGÀNH THIẾT KẾ 83
3.1 Nhiệm vụ và yêu cầu 83
3.1.1 Yêu cầu về chuyên môn 83
3.1.2 Yêu cầu về giáo trình 83
3.2 Xây dựng chương trình môn hình họa đào tạo theo hệ thống tín chỉ 84
3.2.1 Chương trình môn hình họa đào tạo theo hệ thống tín chỉ : 84
a/ Học phần I: 88
b/ Học phần II : 89
c/ Học phần III : 89
d/ Học phần IV : 90
e/ Học phần V : 90
Trang 123.2.1.2 Kiến thức cơ bản môn ký họa dành riêng cho từng chuyên ngành
91
3.2.1.2.1 Chuyên ngành Đồ họa 91
3.2.1.2.2 Chuyên ngành N ội thất 93
3.2.1.2.3 Chuyên ngành Th ời trang 95
3.2.2 Lý thuyết căn bản môn hình họa 97
3.2.2.1 Hình họa căn bản chung cho các chuyên ngành đào tạo 97
3.2.2.1.1 V ẽ khối cơ bản 97
3.2.2.1.2 V ẽ đầu tượng phạt mảng 101
3.2.2.1.3 V ẽ đầu tượng chân dung.(Chất liệu chì) 102
3.2.2.1.4 V ẽ tượng bán thân.(Chất liệu chì) 103
3.2.2.1.5 V ẽ tượng toàn thân (Chất liệu chì) 104
3.2.2.1.6 V ẽ chân dung người mẫu (Chất liệu chì, than) 104
3.2.2.1.7 V ẽ bán thân người mẫu (Chất liệu bột màu) 106
3.2.2.1.8 V ẽ toàn thân người mẫu (Chất liệu sơn dầu) 106
3.2.2.2 Ký họa dành riêng cho các chuyên ngành đào tạo 107
3.2.2.2.1 Ký h ọa đối với chuyên ngành Đồ họa 109
3.2.2.2.2 Ký h ọa đối với chuyên ngành Nội thất 112
3.2.2.2.3 Ký h ọa đối với chuyên ngành thời trang 115
3.2.3 Giảng viên hướng dẫn thực hành trên lớp, tự học tại nhà, tài liệu nghiên cứu 119
3.2.3.1 Bài tập về nhà môn ký họa chuyên ngành Đồ họa 121
3.2.3.2 Bài tập về nhà môn ký họa chuyên ngành Nội thất 122
3.2.3.3 Bài tập về nhà môn ký họa chuyên ngành Thời trang 122
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 123
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
Trang 13I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống các môn học của ngành thiết kế nói riêng, Mỹ thuật nói chung như: thiết kế Nội thất, thiết kế Thời trang, thiết kế Đồ họa…, môn Hình họa là một môn cơ sở ngành (cơ bản), đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nghệ thuật hiện nay, xây dựng nền tảng vững chắc cho sinh viên học tập, tiếp thu các môn học chuyên ngành khác
Với mô hình đào tạo truyền thống theo đơn vị học trình, học sinh mất nhiều thời gian trên lớp, hiệu quả chất lượng không cao có nhiều phần học còn chung chung, chưa phù hợp, khu biệt với từng chuyên ngành đào tạo Trong khi đó, từng ngành thiết kế có tính đặc thù riêng liên quan nhiều đến sự hỗ trợ của môn hình họa, giúp người học tiếp cận thực tế, bám sát với yêu cầu của ngành học Hiện theo mô hình đào tạo theo tín chỉ, môn hình họa cần thiết phải đổi mới cho phù hợp
Vì vậy, việc nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học môn hình họa là hết sức cấp bách, việc thống nhất hệ thống bài giảng, phương pháp giảng là rất cần thiết đối với ngành mỹ thuật công nghiệp hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu, xây dựng chương trình học môn hình họa theo khảo sát trên cơ sở thực tế
- Mục tiêu của môn học: Đổi mới phương pháp dạy và học, yêu cầu thực hiện riêng các phần học phù hợp với từng chuyên ngành
- Nội dung của bài giảng chú trọng đến các bài lý thuyết, đồng thời có những bài hướng dẫn thực hành đơn giản, dễ hiểu giúp phát triển kỹ năng thực hành, khả năng giải quyết vấn đề liên quan tới nội dung môn học Đối với người học được
tư vấn và tìm tài liệu tham khảo hỗ trợ cho người học tự nghiên cứu
3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu thí điểm môn hình họa liên quan đến lĩnh vực thiết kế cụ thể cho các ngành: Thiết kế Nội thất, Thiết kế
Trang 144 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Môn hình họa là môn học được coi là xương sống của ngành mỹ thuật nói chung
và ngành thiết kế mỹ thuật công nghiệp nói riêng Môn học chiếm khá nhiều đơn
vị tín chỉ Hệ thống môn học được chia ra nhiều giai đoạn: Từ nền tảng ban đầu
là nghiên cứu hình khối, tiếp đến nghiên cứu tượng chất liệu thạch cao từ chân dung đến tượng toàn thân Giai đoạn tiếp theo là nghiên cứu người mẫu và cuối cùng là môn ký họa
Để đáp ứng nhu cầu đào tạo theo hệ thống tín chỉ, cần thiết phải có quá trình nghiên cứu đưa ra chương trình đào tạo môn hình họa cho phù hợp Thông qua việc nghiên cứu, phân tích đánh giá rút kinh nghiệm, xây dựng phương pháp dạy
và học hợp lý nhất, phù hợp với đào tạo chuyên ngành thiết kế công nghiệp như: ngành thiết kế Nội thất, thiết kế Thời trang, thiết kế Đồ họa
Với riêng tại Việt Nam hiện nay, tại các trường đại học có đào tạo về chuyên ngành thiết kế, mỹ thuật, chương trình giảng dạy môn hình họa vẫn còn chung chung chứ chưa có sự nghiên cứu, thiết kế để khu biệt cho từng chuyên ngành cụ thể và phù hợp với hệ thống đào tạo theo tín chỉ, tăng tính chủ động cho người học
5 Kết cấu của báo cáo đề tài
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Đề tài nghiên cứu được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1:Cơ sở lý luận về hình họa và phương pháp giảng dạy môn hình họa
Chương 2:Hiện trạng tình hình giảng dạy môn hình họa của Việt Nam và trên Thế giới
Chương 3:Ứng dụng phương pháp dạy môn hình họa cho các chuyên ngành
thiết kế
Trang 15II PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH HỌA VÀ PHƯƠNG PHÁP
GIẢNG DẠY MÔN HÌNH HỌA 1.1 Kiến thức chung về hình họa
1.1.1 Khái niệm
- Nhu cầu vẽ là một hiện tượng tự nhiên, là bản năng của con người Trẻ em biết vẽ trước khi biết viết, biết đọc Bằng chứng là một đứa trẻ mới 2,3 tuổi, nếu
có một vật trong tay như bút, phấn hoặc chỉ là một mẩu gạch cũng có thể gạch và
vẽ những hình, nét trên mặt phẳng trong khi chưa biết viết, biết đọc Lịch sử văn minh nhân loại cũng ghi nhận một hiện tượng tương tự như vậy, các hình vẽ và hình hoạ đã có rất lâu trước khi phát minh ra chữ viết Khoảng 20.000 năm trước đây, người nguyên thuỷ đã biết vẽ lên vách hang đá nơi mình sinh sống những hình người, hình thú vật Và thật kỳ diệu, những bức vẽ ấy sống động và rất gần với hiện thực, với đối tượng được miêu tả
- Hiện thực của tự nhiên, của xã hội luôn là đối tượng trung thành cho con người đi tìm cái đẹp Sự tìm tòi, khám phá vốn là đặc tính của hoạ sỹ Vì vậy, nghiên cứu thực tế, vẽ lại thiên nhiên một cách trung thực là yêu cầu hết sức cần thiết đối với người mới học mỹ thuật
- Theo “Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông”, hình hoạ là môn vẽ người hoặc vật tương đối kỹ và chính xác, được thể hiện bằng nhiều kỹ thuật và chất liệu khác nhau như chì đen, than, màu bột, sơn dầu Từ xưa tới nay, nghiên cứu
và thể hiện vẻ đẹp con người luôn được đề cao, là đối tượng để hoạ sỹ khám phá, sáng tạo Con người là sản phẩm cao quý nhất, đẹp nhất của giới tự nhiên Việc nghiên cứu người mẫu (nhất là người mẫu khoả thân) luôn là mục tiêu của người học và sáng tác mỹ thuật Bởi con người là một mẫu đẹp nhất về cơ cấu, về tỷ lệ Những hình tượng nghệ thuật thể hiện trên người khoả thân khác hẳn về chất, nội dung và hình thức nghệ thuật với những loại tranh ảnh đồi trụy Tuy nhiên, để vẽ được người mẫu, cần có những luyện tập từ thấp tới cao, từng bước một với những kiến thức và kỹ năng cơ bản của vẽ hình hoạ
Trang 16- Những pho tượng lý tưởng về tỷ lệ, cấu trúc và vẻ đẹp của cơ thể con người đã được các nhà điêu khắc cổ đại Hy lạp như Pô-li-clét, Mi-rông, Phi-đi-át thể hiện mãi mãi là những chuẩn mực tuyệt tác của nhân loại Vì thế, người
ta đã mệnh danh cho đất nước Hy Lạp cổ đại là "Vương quốc của cái đẹp" Không thoả mãn với những gì đã có, các hoạ sỹ thời Phục Hưng ý, mà tiêu biểu
là Lê-ô-na đờ Vanh-xi, Mi-ken-lăng-giơ, Ra-pha-en đã vẽ nên những bức hình hoạ tuyệt vời về vẻ đẹp con người Lịch sử mỹ thuật đã cho thấy, hầu hết các hoạ
sỹ nổi tiếng đều có trình độ rất cao về hình hoạ Đó chính là cái gốc giúp họ thành công trong xây dựng tác phẩm
- Hình hoạ có vai trò rất lớn trong học tập và sáng tác mỹ thuật Hoạ sỹ
người Pháp Anh-gơ-rơ cho rằng: “Đường nét là hình hoạ hay đúng ra nó là tất
c ả trong thiên nhiên, mọi vật tồn tại đều có hình thể, vẽ trước hết là ghi lại các hình th ể đó trên mặt phẳng của không gian hai chiều”(1)
Vậy hình hoạ là gì?
- Hình họa là phương pháp dựng hình để mô tả đối tượng khách quan có thực mà mắt ta quan sát được bằng đường nét, mảng, hình khối, sáng tối… để tạo không gian trên mặt phẳng Không gian trong hình họa có thể là một màu hoặc nhiều màu
- Hình họa là môn học nhằm rèn luyện khả năng quan sát, vẽ lại đối tượng nhìn thấy Qua đó, hình họa cũng rèn luyện khả năng cảm thụ, cảm xúc và thị hiếu thẩm mỹ về hình
- Hình hoạ là môn học cơ bản của hội hoạ, có vai trò quan trọng trong học tập, nghiên cứu và sáng tạo mĩ thuật Với những đặc trưng về cấu trúc, hình dáng, tỉ lệ cùng các tương quan đậm nhạt, sáng tối Hình hoạ nghiên cứu vẻ đẹp của đồ vật, vẻ đẹp con người trong giới tự nhiên thông qua nhiều kĩ thuật và chất liệu vẽ khác nhau nhằm tái tạo không gian thực của mẫu trên mặt phẳng
- Có nhiều cách gọi khác nhau về hình hoạ, song tựu trung lại có những cách gọi chính là: Hình hoạ, vẽ theo mẫu, vẽ tả thực, vẽ mẫu sống
1.1.2 Nguồn gốc của hình họa
- Những bức vẽ được phát hiện trong hang động An-ta-mi-ra (Tây Ban Nha) năm 1875 đã được khẳng định là Nghệ thuật Tiền sử Bức vẽ được diễn tả
Trang 17rất thực, sống động với việc vờn bóng khối, diễn tả ánh sáng và các sắc thái tương phản rất công phu
- Ngoài ra, nghệ thuật Tiền sử còn được tìm thấy ở các hang động ở Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Nga và Châu Phi… Điểm nổi bật trong các bức vẽ này là người nguyên thủy đã biết loại trừ những gì là chi tiết, chắt lọc lại được những điểm rất cơ bản, đặc trưng và tinh tế Từ cái vỏ giống nhau được lặp đi lặp lại của sự việc họ đã đơn giản để diễn tả bản chất của đối tượng, bằng lối hình học hoá và đồ hoạ hoá
- Những hình vẽ tìm thấy ở nước ta được khắc trên vách đá ở hang Đồng Nội (Hoà Bình) Đặc biệt, trống đồng cổ với các hoa văn tinh tế được phát hiện ở Đông Sơn (Thanh Hoá) vào năm 1924 không chỉ đạt đỉnh cao về kỹ thuật chế tác mà còn là tinh hoa, biểu tượng tiêu biểu của văn minh người Việt cổ Đặc điểm quan trọng của nghệ thuật tạo hình trên trống đồng là con người; con người chiếm vị trí chủ đạo trong thế giới muôn loài Đó là hình các chiến binh, vũ đạo
và con người trong sinh hoạt đời thường như chèo thuyền, giã gạo Hình vẽ người được đơn giản và cách điệu khá cao theo hướng đồ hoạ hoá, kỷ hà hoá một cách khúc triết, sinh động
- Như vậy, có thể nói nghệ thuật ra đời do nhu cầu của con người Trong lao động săn bắn và hái lượm, trong đấu tranh với thiên nhiên nghiệt ngã để bảo tồn
và phát triển, người nguyên thuỷ đã sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật (trong đó có hội hoạ) cho mình Những tác phẩm hội hoạ đầu tiên trong buổi bình minh của loài người đều mang nặng dấu ấn của hình hoạ Đó là những hình vẽ các con vật, hình người với các động tác đa dạng, sống động Với cách vẽ đường viền chu vi hay những mảng màu đậm đặc, hình ảnh được miêu tả chứng tỏ khả năng quan sát và rất thuộc mẫu của người vẽ Dù đơn giản hay tinh tế, vụng về hay trau chuốt, chất hiện thực vẫn là phẩm chất đầu tiên của bức vẽ
- Hình vẽ có trước chữ viết: Trước khi dùng những ký hiệu đơn giản để nói lên tư tưởng của mình, (tức chữ viết), con người đã biết vẽ Những hình vẽ trên hang động của người nguyên thuỷ không chỉ để trang trí, nó còn là ký hiệu thông tin để ghi nhớ và báo cho cộng đồng những con thú cần săn bắn Qua những bức tranh ở Sa-ha-ra (Châu Phi) có thể nhận biết hai giống bò thông qua cấu tạo của
Trang 18tải thông tin cho nhau Chữ tượng hình của người Ai Cập, Trung Quốc là loại chữ được biểu hiện trên cơ sở hình tượng sự vật Mặc dầu đã được đổi thay theo tiến trình tiến hoá lịch sử song nhiều chữ vẫn còn mang nặng dấu ấn đó cho đến ngày nay, là minh chứng cho khả năng hình vẽ làm biểu tượng và là phương tiện truyền tải thông tin nhanh nhất, đơn giản nhất Như vậy, trước khi có chữ viết, trong quá trình lao động, đấu tranh để tồn tại, phát triển và tự hoàn thiện mình con người đã sáng tạo ra các ký hiệu bằng hình vẽ Đó là những bảng mẫu chữ viết nguyên sơ đầu tiên; cùng với tiến trình văn minh nhân loại, chữ viết đã không ngừng được hoàn thiện và đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người
1.1.3 Vai trò của hình họa
Hình họa là một môn học cơ bản của hội họa, hình họa rất quan trọng đối với người làm nghệ thuật, đặc biệt là đối với sinh viên học mỹ thuật Nghiên cứu hình họa căn bản thông thường đều phải tuân theo những bước vẽ cụ thể, từ xác định mẫu vẽ, xác định bố cục, tìm tỉ lệ chung, tỉ lệ riêng từng phần cụ thể, dựng hình… cho đến bước cuối cùng là cấu tạo được không gian, bài vẽ sát mẫu thực được bầy ra trước mắt người vẽ, đối tượng được vẽ có thể là đồ vật, hoa lá, động vật, con người
Hình họa căn bản là bước khởi đầu của người học vẽ và từ đấy làm tiền đề tác động lên các môn học khác của chuyên ngành Trong các trường nghệ thuật tạo hình, môn hình họa là môn vẽ nghiên cứu các đồ vật có hình khối cơ bản và mẫu người khỏa thân hoặc mẫu người mặc quần áo Từ thời cổ đại người ta đã
đề cao vẻ đẹp của con người Trong các chuyện thần thoại mang đề tài tôn giáo, các thiên thần đều được diễn tả rất gần gũi và giống với con người thật Các họa
sĩ thời kỳ Phục Hưng ở Ý như Lê-ô-na đờ Vanh-xi, Mi-ken-lăng-giơ, en… đã vẽ những bức hình họa tuyệt vời Trong lịch sử mỹ thuật, hầu hết các danh họa đều có trình độ rất cao về hình họa Bước đầu khi học vẽ hình họa thường vẽ những hình khối cơ bản, sau đó là vẽ tượng chân dung, rồi đến vẽ người, con người được coi là sản phẩm hoàn mỹ nhất của tạo hóa Nghệ thuật ở thời đại nào cũng phản ánh con người là chính Con người có muôn vàn trạng thái vận động của cơ thể, của tâm tư trong mọi quan hệ với xã hội, thiên nhiên
Trang 19Ra-pha-Một bức hình họa đẹp phải là một tác phẩm có sự sàng lọc, có các yếu tố của ngôn ngữ tạo hình, bên cạnh đó phải có cách diễn đạt sinh động mang lại sức truyền cảm lớn Nghiên cứu hình họa là một điều hết sức quan trọng đặc biệt là hình họa vẽ người Tổng quan về lịch sử các nền mỹ thuật trên thế giới, thì việc dạy học nghệ thuật luôn coi hình tượng con người là đối tượng trọng điểm để nghiên cứu và học tập Từ “Chủ nghĩa nhân văn” trong thời Phục hưng ở Italia cuối thế kỉ XV, đến “Chủ nghĩa hiện thực” sau thắng lợi của cuộc cách mạng giai cấp tư sản ở Hà Lan thế kỷ XVII, từ “Chủ nghĩa cổ điển” trong các trường
mỹ thật Pháp thế kỷ XVIII đến “Chủ nghĩa ấn tượng” do cuộc cách mạng nghệ thuật không nằm ngoài chủ thể con người Nghệ thuật từ sự sáng tạo trong ý nghĩ của con người, được bắt nguồn từ cuộc sống với biết bao điều thú vị trong đó đã được các họa sĩ cảm nhận và sáng tác thành những tác phẩm bất hủ
Việc học vẽ hình họa người là điểm nhập môn trong các bài vẽ và sáng tác đối với sinh viên mỹ thuật Hình họa không chỉ có thể độc lập hoàn thành sáng tác nghệ thuật Đồng thời, nó lại là hòn đá tảng vững chắc cho tất cả các bài luyện tập chuyên ngành, có tác động bổ sung, hỗ trợ cho các môn học khác trong học Mỹ Thuật như: ký họa, vẽ bố cục, Trang trí, Điêu khắc… và các Ngành Nghệ thuật khác (Kiến trúc, Điện ảnh, Sân khấu, Thiết kế Mỹ thuật công nghiệp
1.1.4 Các yếu tố nghiên cứu của hình họa
Trang 20- Trong mỹ thuật, nhất là trong bố cục tranh có phân biệt mảng chính, mảng phụ, mảng nổi, mảng chìm, mảng đậm, mảng nhạt… Đó là cách gọi một lượng đậm nhạt màu nào đó chiếm diện tích nhất định trên mặt tranh, tạo thành 1 mảng riêng, khác biệt rõ rệt với các mảng xung quanh Một bức tranh đẹp đều có sự hài hoà chung của các hình mảng trong bố cục
Khối cầu thông thường cho ta quy luật ánh sáng theo các bước sau: sáng – trung gian – tối – phản quang, tính chất chuyển đổi sắc độ chậm của khối cầu cho bạn cảm giác êm nhẹ, mềm mại và tuần hoàn… Ngược lại khối hộp cho quan hệ sáng tối đối lập, dứt khoát, khỏe khoắn, mạnh mẽ và đột ngột Tuy vậy bạn phải liên tục suy tư về nó, vận dụng nó cho những bài học nâng cao về sau thì mới mong qua nó diễn đạt được những cung bậc tình cảm đúng như cảm xúc của mình
1.1.4.3 Tỷ lệ và cân đối
- Nói đến vẽ theo tự nhiên không thể không nói đến sự hài hoà của tỷ lệ và cân đối, bởi đó là phẩm chất cơ bản tạo nên vẻ đẹp của cuộc sống Tỷ lệ và sự
Trang 21cân đối không tách rời nhau mà cùng hiện diện, liên kết, hỗ trợ nhau phù hợp với đặc điểm và quan niệm thẩm mỹ của dân tộc, thời đại Để nắm bắt các quy luật chung của cấu tạo tự nhiên thông qua hình dáng, cấu tạo, tương quan tỷ lệ
- Theo mắt nhìn, không gian hiện ra theo 3 chiều: dọc, ngang và chiều sâu
Có diễn tả nét đúng hình, đúng tỷ lệ, đúng chiều của mọi vật mới làm nổi rõ khối của vật đó
1.1.4.5 Động và tĩnh
- Động tĩnh vốn chỉ là cấp độ trong quan hệ tương đối của tín hiệu thị giác đôi khi bạn có thể dựa vào động tĩnh mà xây dựng cho mình một hình họa vững vàng Động tĩnh còn có tác dụng rất lớn trong việc biểu cảm cảm xúc thẩm mỹ VD: Tượng em bé cài lược của Vũ Cao
Đàm sử dụng ba khối cơ bản: khối quả trứng
ở đầu, khối trụ ở cổ, khối hộp ở bệ tượng Sự
thay đổi trục tự nhiên của ba khối này trong
quan hệ tổng thể, qua đó ta nhận thấy chiều
hướng vận động cơ bản của ba khối dẫn tới
nhịp điệu tổng thể và cũng qua đó khối tượng
toát lên mỹ cảm
Hình 1.T ượng em bé cài lược
-V ũ Cao Đàm
Trang 221.1.4.6 Đơn lẻ và tổ hợp
- Khối cơ bản khi đứng đơn lẻ hầu như khó lòng dấy lên một kích thích mỹ cảm, nhưng chỉ cần hai hoặc ba khối hộp hay khối cầu đặt cạnh nhau, chúng đã
có thể tương tác cho nhau tạo nên một kích thích mỹ cảm nhất định
- Broncuxi dựng “cột vô tận” cao trên 30m, với kết cấu duy nhất những khối quả trám đồng dạng cụt hai đầu, nối tiếp nhau trùng trùng, dâng lên vươn cao hòa vào trời xanh, thăng hoa vĩnh cửu, làm nên một tổng thể hoành tráng đúng như tên gọi của nó!
- Kiến trúc sư người Mỹ Perter Elsenman đã dựng đài tưởng niệm Holocaust ở Berlin (đài tưởng niệm các nạn nhân do thái bị giết hại trong cuộc diệt chủng Holocaust của phát xít Đức) gồm 2711 khối bê tông cao thấp khác nhau trên diện tích 10.000m2 Đứng trước những khối bê tông hình hộp này, người xem bị lạc vào một mê cung mà ở đó chỉ có sự câm lặng bao phủ, cảm giác bất lực được dồn nén đến tận cùng im lặng và ghê rợn
1.1.4.7 Mảng đặc và khoảng trống
Nhiều bạn khi vẽ hình họa thường chỉ quan tâm tới mảng đặc, nhưng lại bỏ qua khoảng trống, mà không biết rằng mối quan hệ giữa mảng đặc và khoảng trống là rất mật thiết
Khoảng trống nói chung có thể là những phần mặt tranh hoàn toàn trống rỗng không có hình… khi mà sự hiện diện của một chủ thể chiếm chỗ nổi bật trên nền giấy Nói một cách khác, khi hình vẽ của bạn đang đóng vai trò choán chỗ và phần được chừa lại chính là khoảng trống
Khoảng trống xuất hiện song song ngay sau thao tác đưa một hình choán chỗ vào tranh… (người khoét cái lỗ tròn đầu tiên lên tượng trong nền điêu khắc hiện đại là Acsipencô người Nga Ông nhận ra tác dụng của nó một cách tình cờ
Ông tự thuật như sau: “một hôm thân sinh tôi mua về hai chiếc lọ hoa hoàn toàn
gi ống nhau, tiện tay, tôi đặt chúng cạnh nhau Bỗng tôi, phát hiện ra một chiếc
l ọ thứ ba, trong suốt, vô thể chất, do khoảng không giữa hai chiếc lọ kia tạo thành Đó là điểm xuất phát để tôi đi đến lý thuyết về một không gian trống rỗng được tượng trưng bằng sự vắng mặt của vật thể Từ đó nhìn vào đâu tôi cũng
Trang 23th ấy hư không gợi cho mình vô vàn những khối tượng và tôi đưa nó vào điêu
kh ắc” – Dẫn theo Thái Bá Vân - Điêu khắc Đình làng)
Lão Tử – Triết gia vĩ đại Trung Quốc nói: “Ba mươi sáu cái “bức” (nan hoa) quanh một cái “cốc” (trục) nhờ chỗ “không” mà “có” công dụng của cái xe Nặn đất thó làm chén bát, nhờ chỗ “không” mà “có” công dụng của chén bát Trổ cửa và cửa sổ để làm nhà nhờ chỗ “không” mà “có” công dụng của cái nhà Cho nên “có” để làm điều lợi, “không” để làm công dụng”
Tinh thần “có” “không”, “thường hữu”, “thường vô” được các họa sĩ Trung Hoa xưa biểu đạt cực kỳ phong phú, tài tình trên cơ sở quan hệ giữa mảng đặc và khoảng trống Những khoảng trống đầy biểu cảm là nơi gửi gắm hoài bão và tình cảm, tinh thần thanh khiết cao vợi của nhiều thế hệ họa sĩ Trung Hoa Tuy vậy chỉ cần nắm vững những khoảng trống có giá trị hỗ trợ giúp cho người học xây dựng được bài hình họa vững vàng
Trước hết cần đưa những khoảng trống trở về những hình thức đơn giản tới mức tối đa Nghĩa là có xu hướng hình học như: hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình thang, hình thoi…Và những khoảng trống sẽ được tạo ra bởi quan hệ giữa những hình đơn hay bộ phận cơ thể với nhau
Hình 2 Kho ảng trống và hình cơ bản
Ví dụ: ở mẫu vẽ cơ bản bao gồm hai khối hộp và cầu này, nếu người vẽ chỉ dựng hình trên cơ sở quan sát tương quan tỉ lệ giữa hai khối cầu và hộp thì vẫn cần so sánh tương quan tỉ lệ giữa hai khối này với phần khoảng trống, (phần được gạch
Trang 24đậm ở hình vẽ minh họa) Tỉ lệ giữa mảng đặc và khoảng trống ở bức vẽ phải có tính đồng bộ thống nhất và đồng dạng với tổng thể nơi mẫu vẽ
Đối với một bài vẽ hình họa người, có
thể người vẽ sẽ gặp nhiều khoảng trống hơn
nữa, đó là những khoảng trống bị kẹp bởi hai
hay ba bộ phận cơ thể Quan sát ví dụ về
khoảng trống trong bức vẽ phác hình họa
người ở đây, có thể nhận thấy: quan sát và sử
dụng những khoảng trống, đôi khi thay vì vẽ
phần thực, tức là vẽ trực tiếp vào bộ phận cơ
thể, thì người học có thể vẽ ngược lại nghĩa là
vẽ khoảng trống hoặc vẽ cùng lúc cả mảng
đặc lẫn khoảng trống, sau đó vẽ khoảng trống
(nếu nó tiện lợi cho việc nhìnvà so sánh tỉ lệ
Hình 3 Kho ảng trống với hình
h ọa người
của hình), phần còn lại sẽ là mảng đặc Với cách vẽ phối trợ xen kẽ không tách rời giữa mảng đặc và khoảng trống như vậy, đôi khi có thể xây dựng được bức
vẽ hình họa (dừng lại ở nét phác) đơn giản đến bất ngờ
Sự phối hợp nhiều khả năng quan sát khác, phối hợp với nhau cho thật linh hoạt, tạo ra cách nhìn những khoảng trống sẽ gợi mở và dẫn dắt người vẽ khám phá điều hòa quan hệ giữa mảng đặc và khoảng trống ở một phạm vi rộng hơn với đầy đủ ý nghĩa của nó
1.1.4.8 Tâm lý thị giác của hình
Sẽ là thiếu sót khi chúng ta dựng hình họa mà không hiểu biết về tâm lý thị giác của hình
Tác giả Nguyễn Quân đã có nhiều bài viết và có hẳn một cuốn “Tiếng nói của hình và sắc” qua đó tác giả phân tích kỹ tâm lý thị giác của hình
- Hình vuông – Khối vuông tĩnh – Tạo ấn tượng về một cố kết vững vàng chắc chắn nhưng cũng nặng nề kém linh hoạt đôi khi lạnh lùng
Trang 25- Hình chữ nhật đứng có hướng chuyển động chính là, trên dưới bởi vậy tạo cảm giác và ấn tượng tốt về chiều cao, sự hướng thượng và thăng thiên Tuy vậy
do bị kéo dài theo trục đứng nên cũng có xu hướng không chắc chắn và dễ đổ vỡ
- Hình chữ nhật nằm ngang có xu hướng chuyển động mạnh về chiều nằm ngang, bởi vậy đôi khi có cảm giác bị đè bẹp, và cũng không chắc chắn Tuy vậy
nó tạo nên ấn tượng về sự thanh bình, nghỉ ngơi nếu quá đà có thể rơi vào cảm giác quên lãng
- Hình Tròn – Khối cầu: Chứa đựng cả hai đặc tính động và tĩnh, hình tròn cũng như khối cầu cho ta cảm giác nhẹ, nhỏ, có cảm giác nhỏ về thể tích Đường tròn êm ái và gây cảm giác về nhục cảm Khi có nhiều vòng tròn kết hợp còn tạo nên cảm giác màu mè
- Hình Ô van: Hình ô van năng động hơn hình tròn, nó gợi sự chuyển động Khi bị doãng rộng nó tạo cảm giác uể oải Khi bị kéo dài về chiều cao nó cũng tạo cảm giác về sự đổ vỡ
- Hình tam giác: Có cảm giác chắc chắn ổn, có đôi khi lạnh lùng nếu đó là tam giác đều Hình tam giác chuyển động mạnh hơn về phía có góc nhọn nhỉnh hơn trong tổng thể Hình tam giác có đáy trùng với phương nằm ngang tạo cảm giác trang nghiêm, nâng lên về tinh thần, sự cao sang, sự thăng thiên và tán dương Hình tam giác ngược, hoặc hình thoi làm nảy sinh cảm giác không chắc chắn và mong manh
- Hình xoáy trôn ốc: Vô cùng năng động, có sức hút lớn và chuyển động mạnh mẽ, có khả năng tạo ảo giác nhưng cũng vì thế nó lại là hình không ổn định và bền vững
Các hình cơ bản khi trục tự nhiên bị thay đổi thường trở nên động hơn so với trạng thái bình thường
Việc nắm được chiều hướng chuyển động và trạng thái động, tĩnh của hình không những giúp người vẽ trong việc xây dựng một bố cục cơ bản cũng như trong những bước tìm hiểu sáng tạo mà còn hỗ trợ rất nhiều trong quá trình xây dựng một hình họa cơ bản
Trang 261.1.4.9 Cân bằng
Từ tổ tiên xa xưa đến con người ngày nay đều sống trong môi trường tự nhiên có sự cân bằng Dù cho điều kiện tự nhiên ngày nay có thể đã khác xưa, con người ngày nay cũng sáng tạo tự trang bị cho mình những phương tiện để cải thiện điều kiện sống đối với môi trường khắc nghiệt Tuy vậy con người thực ra vẫn sống trọn trong môi trường có quy luật của tự nhiên Tự nhiên bao giờ cũng
có khả năng điều tiết tốt nhất để có sự cân bằng, sự cân bằng đó diễn ra qua chu
kỳ của ngày và đêm, nóng và lạnh, thức và ngủ…
Trong hội họa cũng vậy, bức vẽ bao giờ cũng đòi hỏi có sự cân bằng thị giác Cơ sở cơ bản của cân bằng thị giác là dựa vào trục tung và hoành Điểm cân bằng của một bức vẽ về nguyên tắc thường ở giữa bức tranh
Về cơ bản có 3 cách cân bằng và qua đó phát sinh hình thức thứ 4 Khi vẽ một bức tranh theo trục đứng (trục tung) tức là bức vẽ đang có xu hướng thiếu trục hoành, nhu cầu tự thân ở đây là phải bổ sung cho nó thêm những đường hướng của trục hoành Ngược lại khi vẽ bức tranh trục ngang tức là bức vẽ đang
có xu hướng thiếu đường hướng của trục tung, nhu cầu tự thân ở đây là phải bổ sung cho nó những đường hướng theo trục tung Kiểu cân bằng này sẽ bắt gặp khá nhiều qua những tác phẩm của các họa sĩ Trung Hoa xưa Kiểu cân bằng trên tạo nên những trạng thái tình cảm mực thước ổn cố, nhịp nhàng và hài hòa, hiếm khi nó tạo nên những bất ngờ năng động Đó là hình thức cân bằng ổn định có chu kỳ
1.1.4.10 Điều hòa đậm nhạt – giải quyết chính phụ
Con người nhận biết được thế giới khách quan thông qua con mắt và ánh sáng, ánh sáng chiếu rọi vào vật thể làm nổi hình khối, làm cho vật có màu sắc Ánh sáng chiếu vào một hay hai chiều nào đó của vật thể tạo thành các độ đậm nhạt khác nhau làm cho vật thể đó nổi hình và khối lên, các chiều khác không nhận được ánh sáng sẽ chìm trong mảng tối Tuỳ thuộc vào cấu tạo hình khối, màu sắc và chất của vật mẫu, tuỳ thuộc vào nguồn sáng mạnh hay yếu mà tương quan cụ thể của vật mẫu thay đổi khác nhau
Người vẽ phải rèn luyện cái nhìn tổng thể, biết đơn giản hóa mối quan hệ tương hỗ các thành phần của mẫu trong không gian, tất cả phải nằm trong hệ
Trang 27thống ánh sáng chung Trong trường hợp mẫu đặt trong không gian của nhiều nguồn sáng thì điều cần thiết ở đây là người vẽ cần chọn nguồn sáng chính để diễn tả không gian của mẫu vẽ So sánh giải quyết tương quan đậm nhạt giữa các thành phần của mẫu nhằm tạo nên sự hài hòa
Sau khi dựng hình xong, người vẽ cần phân chia hệ thống đậm nhạt và các diện, khối lớn Sau đó lên đậm sơ bộ toàn bộ hệ thống bên tối và thường ưu tiên làm đậm trước cho những bộ phận có độ đậm mạnh hơn Khi có độ đậm ở mức trung bình mới bắt đầu lên đậm cho hệ thống bên sáng và cũng bắt đầu từ những
bộ phận đậm nhất của hệ thống sáng Mỗi khi lên đậm cho bên sáng phải thêm cho bên tối những độ đậm cần thiết để có được sự phân biệt hệ thống sáng tối lớn
Đó không phải là đánh bóng mà gọi là: điều hòa đậm nhạt Chỉ có thông qua điều hòa đậm nhạt mới có được bức vẽ có hệ thống sáng tối trong trẻo và thuận mắt; và cũng chỉ có thông qua điều hòa đậm nhạt người vẽ mới chủ động chọn vị trí hoặc bộ phận thích hợp làm điểm nhấn, điểm hút mắt hay mảng chính cho bức vẽ
Có thể người vẽ đã làm quen với việc giải quyết mối quan hệ chính phụ trong quá trình làm một bài tập bố cục người hoặc phong cảnh Nhưng vấn đề chính phụ và điều hòa đậm nhạt trên một bức vẽ hình họa lại hoàn toàn khác
Sở dĩ có điều này, có lẽ xuất phát từ hai cách nghĩ Khi tiến hành phác thảo
bố cục và khi đứng trước một mẫu vẽ Một bên, cần phải chủ động đưa vào mặt tranh những nhân vật, cây cối, nhà cửa hoặc đồ vật… ngược lại khi đứng trước mẫu hình họa người vẽ thường bị rơi vào thế thụ động Thực ra khi vẽ hình họa người vẽ rất cần bám sát mẫu, nhưng không để mình rơi vào thế thụ động bằng việc sao chép mẫu Việc quan sát, so sánh hệ thống hình khối lớn… rồi bắt đầu nét phác trên thế chủ động mới là phương pháp đúng đắn
Mẫu tượng là sự sáng tạo của nhà điêu khắc dựa trên các quy chuẩn về cấu tạo, tỉ lệ và hình khối của con người Vì thế, việc lấy mẫu tượng người toàn thân làm đối tượng nghiên cứu của hình hoạ trước khi vẽ người nhằm chuẩn bị tốt hơn kiến thức, kĩ năng cho sinh viên trong học tập là rất cần thiết
Thế nhưng, mục tiêu cao nhất của vẽ hình hoạ lại là con người; con người
Trang 28tạo hoá ban tặng luôn trường tồn qua các thời đại Việc nghiên cứu hình thể con người, nhất là ngưòi khoả thân là rất cần thiết trong học tập và sáng tác mĩ thuật Trên thực tế, vẽ người toàn thân đã là một hình thức nghệ thuật đầy đủ và hoàn hảo, được các hoạ sĩ chuyên tâm nghiên cứu và thể hiện Việc vẽ đi, vẽ lại một mẫu người cho đến khi đạt được kết quả như mong muốn về hình khối, đường nét, tương quan, đậm nhạt, chất liệu đòi hỏi phải vận dụng trí óc và những kiến thức chuyên môn đã học được luôn là điều hấp dẫn sinh viên
Tuy nhiên, vẽ tượng và vẽ người toàn thân có những điểm khác biệt Điều
dễ nhận thấy là vẽ tượng dễ hơn vẽ mẫu người rất nhiều Bởi lẽ, tượng đã được đơn giản hoá hình khối theo quan niệm của người sáng tác, lại bất động và đơn sắc Vì thế, khi vẽ tượng, sinh viên dễ quan sát, phân tích và thể hiện bởi luôn có một vị trí, không gian cổ định, không thay đổi về hình dáng, màu sắc và đậm nhạt Do đã thông qua khối óc và bàn tay sáng tạo của nhà điêu khắc nên các hình khối, đường nét của mẫu đã được khái quát hoá và các chi tiết không cần thiết đã được loại bỏ Do đó, sinh viên dễ so sánh, dễ phân biệt hình khối và các diện sáng tối, đậm nhạt trong quá trình thực hiện bài vẽ
Còn ở mẫu người lại khác, tuy về mặt cấu tạo chung cơ bản không thay đổi (nếu mẫu đạt chuẩn), song với từng người cụ thể lại có những đặc điểm riêng rất khác nhau; đôi khi tưởng như có mâu thuẫn vói lí thuyết chung về cấu tạo con người Vẽ mẫu người là vẽ một nhân vật cụ thể, có những đặc điểm riêng nhất định Mặt khác, người luôn hoạt động (dù có lúc yên tĩnh như khi ngồi mẫu) song mỗi hoạt động của con người đều phụ thụộc vào kết cấu xương, cơ và các điểm kết nối giữa chúng trong cơ thể Ngoài ra, màu sắc và sự chi phối của tương quan do ánh sáng đem lại, hoạt động của các giác quan như mắt, miệng cũng sẽ phức tạp hơn rất nhiều bởi đó là tâm điểm của giao lưu tình cảm Hơn nữa, dù mẫu ngồi hay mẫu đứng; người mẫu cũng không thể bất động như tượng được Vị trí, dáng thế sẽ luôn thay đổi đi ít khi nhiều vì mệt mỏi, vì trạng thái tình cảm, nên lúc vẽ, nếu không tinh tế, không chủ động và thường xuyên quan sát, phân tích, kiểm tra sẽ rất khó có được một bài vẽ đẹp, đạt yêu cầu Tuy vê mẫu người toàn thân đen trắng, màu sắc của con người và tương quan hoàn toàn phụ thuộc vào đậm nhạt song cũng khác hẳn với vẽ tượng Bởi bản thân tượng là đơn sắc, còn người là đa sắc và sự cảm nhận về màu, về chất lại hoàn toàn phụ
Trang 29thuộc vào khả năng diễn tả với các cung bậc khác nhau do đậm nhạt, sáng tối Ngoài ra, vễ mẫu người còn bị chi phối bởi trang phục, tương quan và độ mạnh yếu của nguồn sáng Đó cũng là những nguyên nhân lí giải tại sao vẽ mẫu người toàn thân lại là đỉnh cao, khó khăn hơn rất nhiều về tượng người trong hình hoạ Trong quá trình đẩy sâu chi tiết, ngoài cấu tạo hình khối, tỉ lệ và dáng thế của mẫu cần lưu ý thêm các điểm sau:
+ Xác định nguổn sáng chiếu vào mẫu tạo nên các độ đậm nhạt, hình mảng, đường nét cụ thể trên cơ thể người mẫu Luôn phải có ý thức quy nạp vào các hình khối, các diện tương quan cụ thể; từ tổng thể tới chi tiết và ngược lại Thói quen làm việc trên sẽ tạo ra các hoạt động “đồng thời ” của cả quá trình tiến hành bài vẽ
+ Đẩy sâu là giai đoạn tiến gần sát với người mẫu Khi xác định chi tiết luôn phải chú ý tới tổng thể Quá trình vẽ là quá trình quan sát và thể hiện tác động lẫn nhau, từ tổng thể đến bộ phận, từ rộng lớn đến chi tiết và ngược lại; thể hiện xong lại quan sất và quy trình đó được lặp đi lặp lại cho đến khi kết thúc bài
vẽ
+ Lưu ý tới mối quan hệ tương hỗ và nương tựa lẫn nhau của các môn học trong mĩ thuật Biết khai thác và vận dụng kiến thức Giải phẫu tạo hình, Luật xa gần trong quá trình tiến hành vẽ hình hoạ
Trang 30Hình 4 V ẽ người toàn thân – chất liệu than (nguồn giáo trình hình hoạ 3 của
Tri ệu Khắc Lễ, tr52
Nghiên cứu tương quan giữa người mẫu và bối cảnh thông qua đậm nhạt,
độ sáng tối của bài vẽ Diễn tả độ đậm nhạt đúng cũng đổng nghĩa với việc gợi tả được sự nổi khối và chiều sâu của không gian
1.1.4.11 Bố cục
Sẽ là thiếu sót khi ta vẽ hình họa mà không đặt vấn đề bố cục Tại sao phải
bố cục? hiểu đơn giản thì bố cục giống như việc chúng ta cố gắng tìm ngôn từ để diễn đạt cho người khác hiểu nội dung mà chúng ta muốn trao đổi Vậy bố cục là rất cần thiết Nhiều sinh viên không ý thức được bố cục, tiện đâu vẽ đấy Mà bố cục bao giờ cũng đóng vai trò đầu tiên về mặt thẩm mỹ, cho nên người thầy bày mẫu phải làm sao có nhiều góc đẹp cho người học vẽ, và sinh viên cũng cần tìm cho mình bố cục đẹp nhất, khi vẽ vào bài cần cân chỉnh sao cho không to quá hoặc nhỏ quá
Bố cục là sự phối hợp những tín hiệu thị giác (hình khối, màu, nét và các biến thể v.v…) từ dạng tự do đơn lẻ, đến phức tạp trở nên một tổng thể có sự phối hợp hài hòa và chủ động trong một không gian cụ thể, nhằm biểu lộ định hướng nhất định trạng thái tình cảm của nghệ sỹ
Trang 31Có vô số kiểu bố cục, tuy vậy ta có thể nhóm chúng thành một vài loại bố cục cơ bản như sau:
- Bố cục đối xứng: Kiểu bố cục này thường được tạo ra từ trục tự nhiên của hình ảnh Trong khi các yếu tố phụ được phân chia ít nhiều đối xứng ở cả hai bên Kiểu bố cục này thường được các họa sỹ Trung cổ ưa sử dụng Nó tạo nên những giá trị có tính quyền lực, trang trọng…
- Bố cục lệch tâm: Bố cục này xuất phát điểm từ kiểu bố cục đối xứng, bằng cách xê dịch yếu tố được ưu tiên của hình ảnh lệch đôi chút khỏi trục tự nhiên Cách bố cục này được các họa sỹ Phục Hưng sử dụng, sau đó được các họa sỹ ấn Tượng rất ưa dùng Nó năng động và gần gũi, tự nhiên hơn hẳn so với bố cục đối xứng
- Bố cục chéo góc: Bố cục chéo góc hết sức năng động Chúng như kéo mắt người xem trượt xuống dốc hoặc vượt lên dốc tùy thuộc vào chiều chéo lên hay chéo xuống Chẳng hạn bức: “Maja khỏa thân” của F Goya (1716 – 1828) được
bố cục có xu hướng hút mắt người xem theo trục chéo đi lên
Hình 5.A.A.IVANOV Hình h ọa nữ Cuối 1983 đầu 1984 Bút chì và than trên
gi ấy
Trang 32Ngược lại bức vẽ “Ngụ ngôn về những người mù” – Bruegel Le Vieux (1525 – 1569) lại có bố cục có xu hướng kéo mắt người xem theo trục chéo đi xuống
- Bố cục trục ngang: Tình cảm ổn định, có điều kiện phối trợ với những hướng chéo lên nhất định tạo ấn tượng vui vẻ thanh thản và mạnh mẽ Nếu phối trợ với những hướng chéo đi xuống tạo cảm giác đổ vỡ, u ám
- Bố cục tam giác: Nếu bố cục nằm gọn trong tam giác thường gây cảm giác tôn nghiêm nhưng lạnh lùng Ngược lại bố cục nằm tương đối trong hình tam giác, gây cảm giác đi lên thăng hoa và phấn chấn…
- Bố cục tam giác đôi khi cũng gây nên những xung đột mạnh mẽ (bức chạm Chọi gà trong điều khắc Việt Nam
Ngoài ra còn có bố cục có xu hướng là hình tròn, bố cục có xu hướng là hình chữ nhật…những bố cục này bắt gặp khá nhiều ở mỹ thuật cổ Việt Nam… Tuy nhiên tất cả những hình thức bố cục trên sẽ trở nên vô cùng phong phú tùy thuộc vào sức sáng tạo của nghệ sỹ, mỗi chủ đề, mỗi họa sĩ đều có sở trường
và ưa dùng những kiểu bố cục khác nhau
- Bố cục chân dung thì đầu phải là trung tâm của bố cục những phần khác chỉ là hỗ trợ
- Bố cục tĩnh vật phải tạo được sự cân đối và hài hòa giữa các mảng là chính
- Bố cục nội thất phải chọn được góc tiêu biểu có chính có phụ và tạo được không gian có ánh sáng đẹp
- Bố cục ngoại thất cũng như phong cảnh,phong cảnh sinh hoạt thường có trung tâm, hoặc trọng tâm của bố cục, có gần có xa, to nhỏ, chính phụ phải hỗ trợ cho nhau
Trong trường hợp có sinh viên tìm được bố cục phá cách, phá luật mà vẫn đẹp thì cần khuyến khích Còn hướng dẫn chủ yếu là để sinh viên nắm được bố cục cơ bản thông thường, không nên đòi hỏi quá cao như một sáng tác Ngược lại bố cục quá tồi thì cần yêu cầu sinh viên tìm lại vì khi bố cục tồi thì những phần khác cũng khó mà bù lại được
Trang 331.2 Phương pháp vẽ hình họa
1.2.1 Yêu cầu của một bài hình họa
Trong các trường nghệ thuật tạo hình, hình họa là môn học cơ bản nhằm rèn luyện nhận thức thẩm mỹ và kỹ năng thể hiện hình khối không gian Hình họa trong tiếng Pháp được chỉ rõ là hình vẽ theo mẫu khỏa thân, tức là lấy cơ thể hoàn mỹ của con người làm đối tượng nghiên cứu
Hình họa là bộ môn nghệ thuật tạo hình dựa trên cơ sở nghiên cứu về luật
xa gần và giải phẫu tạo hình, nhằm phản ánh tính chất chân thực của sự vật hiện tượng dưới nhận thức thẩm mỹ của họa sĩ thông qua hoạt động nghiên cứu mẫu
tự nhiên Làm thế nào để nhanh chóng nắm bắt và thể hiện được hình khối, không gian với tính chân thực của sự vật hiện tượng? Và sau đó là thể hiện nó thông qua nhận thức thẩm mỹ của họa sĩ?
Trước hết hình họa không phải là một bức vẽ nói chung mà là một bài vẽ nghiên cứu cơ bản Hình họa giúp sinh viên có cách nhìn, cách vẽ có căn cứ khoa học và có phương pháp để dần hướng tới phối hợp một cách thống nhất nhịp nhàng giữa con mắt và bàn tay, nhằm diễn tả được đối tượng lên mặt giấy một cách chân thực và đạt giá trị thẩm mỹ
Khái niệm đúng, giống, chân thực trong nghệ thuật hoàn toàn không đồng nhất với khái niệm đúng, giống, chân thực như trong một vài phạm trù khác Các khái niệm này bao giờ cũng hàm trong đó chất lượng thẩm mỹ Nghĩa là phản ánh không nguyên xi các sự kiện mà phải có chọn lọc được những nét đặc trưng, tiêu biểu đồng thời có tính khái quát của sự kiện
Dẫn chứng về những phát biểu của các danh nhân văn hóa trong lĩnh vực này như sau:
- “Mắt người tái hiện lại và sự thỏa mãn một cách khác với loài vật, tai con
ng ười khác với tai các loài vật kém phát triển” (Mác - Anghen về nghệ thuật )
- “Trong nghệ thuật, điều quan trọng không phải là cái đúng của các sự
ki ện, mà là cái đúng của tâm lý sự kiện” (M.Goocki)
- “Con mắt của chúng ta thấy tất cả, nhưng trí óc của chúng ta chỉ chọn
l ọc những cái gì mà nó cho là đẹp” (N Put- xanh, danh họa Pháp)
Trang 34- “Tranh hay ở chỗ vừa giống vừa không giống, giống là mị tục, không
gi ống là lỗi thời” (Tề Bạch Thạch - danh họa Trung Hoa)
Từ những ý kiến trên, chúng ta hãy xem những tác phẩm của các danh họa trên thế giới như: Michelangelo, Ra-pha-en, Leonardo di ser Piero da Vinci Chúng ta đều thấy những nét tiêu biểu nhưng hết sức chân thực, hết sức giản dị
và luôn làm ta xúc động bởi chiều sâu tâm lí của các bức hình cũng như cảm xúc
về mặt nghệ thuật
Hình 6 V ẽ người toàn thân – chất liệu than
Dạy nghệ thuật nói chung và nghệ thuật tạo hình nói riêng (dù chỉ dừng lại
ở mức cơ bản) có thể chia làm hai ranh giới:
Ranh giới thứ nhất là những vấn đề hữu ngôn, nghĩa là có thể phân tích, cắt nghĩa bằng ngôn ngữ nói hay viết; phần kia là cái phần mà người dạy cũng như người học khó lòng phát biểu bằng ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết
Ở ranh giới thứ nhất cũng có thể chia làm hai phần:
Một là: những vấn đề cụ thể hóa bằng ngôn ngữ nói hay viết, nghĩa là bắt đầu từ những khối cơ bản – đó là bậc học có tính then chốt, nền tảng – ngàn dặm đường bắt đầu từ một bàn chân!
Trang 35Hai là: ứng dụng những tiếp thu ở phần một, giải quyết những quan hệ phức tạp hơn tế nhị hơn… tiến gần tới tác phẩm nghệ thuật
Đối với người thầy hướng dẫn cần giúp sinh viên không sa đà vào các chi tiết vụn vặt, không tiêu biểu mà phải có cái nhìn khái quát, biết đưa vào bài các đường nét đã được chọn lọc và biết tổ chức chúng lại thành một bức tranh có chất lượng khá về các mặt Tránh quan niệm sai lầm học vẽ tức là trông thấy sao
vẽ thế ấy Lối vẽ sẽ làm hạn chế khả năng vươn lên của sinh viên Mặt khác, phải phân tích cho sinh viên hiểu chỗ yếu kém trọng việc bịa đặt tùy tiện, cái lối làm
ra vẻ sáng tạo, vẽ muốn khoe khoang nhưng lòe người xem bằng kĩ thuật Mỗi bức vẽ cần đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
1.2.2 Cách thức tiến hành một bài hình họa
Đối với người học vẽ, khi tiến hành một bài vẽ hình họa, việc nắm bắt được các quy trình cơ bản là rất cần thiết, nó sẽ hỗ trợ đắc lực để đạt được kết quả tốt nhất, cho dù đó là những bước tưởng như rất đơn giản Ví dụ bước đầu tiên,
trước khi bắt tay vào vẽ một bài hình họa, giáo viên kiểm tra tư thế đứng hoặc
ngồi của sinh viên, sau đó là cách gọt bút chì, cầm bút, cách sử dụng dây dọi, que đo
1.2.2.1 Đặt mẫu
- Đặt mẫu nơi có ánh sáng tốt
1.2.2.2 Tìm bố cục
- Chỗ vẽ thoải mái, góc độ nhìn rõ ràng, bố cục mẫu đẹp
- Đủ ánh sáng, không bị người đứng trước hoặc bảng vẽ che khuất tầm nhìn
- Giữ khoảng cách so với bảng vẽ đễ dễ so sánh và bảng vẽ có độ nghiêng vừa phải so với mắt nhìn
Trang 36Hình 7.Ngu ồn giáo trình hình họa đại học Mỹ thuật Công nghiệp
- Cách mẫu 3 lần so với chiều cao của mẫu để dễ quan sát và phân tích được toàn bộ mẫu (tránh ngồi quá gần mẫu vì chỉ thấy chi tiết mà không thấy được toàn bộ mẫu khiến hình dễ bị sai lệch về hình khối, tỷ lệ)
- Khi chọn chỗ vẽ phải chú ý sao cho tầm mắt có chỗ bao quát được toàn bộ đối tượng, mà không phải quay đi quay lại ảnh hưởng đến vị trí của điểm trông theo luật thấu thị Thông thường ta ngồi cách mẫu 2 lần chiều cao hoặc chiều rộng nhất của nó là vừa
Trang 37Hình 8.Ngu ồn giáo trình hình họa đại học Mỹ thuật Công nghiệp
Trang 38- Không nên để bóng phía trước mặt che lấp vật mẫu mà phải để theo hình chữ V phía tay phải là bảng, phía tay trái là mẫu Đặt như vậy có thể dễ dàng bao quát cả đối tượng vẽ cũng như bài vẽ Riêng những bài vẽ phải dùng bảng lớn thì không nên dùng ghế ngồi mà nên đứng, vì ngồi không thể bao quát được toàn bộ bài, tranh thông thường là đứng để vẽ,trừ những tranh nhỏ như khắc gỗ hoặc lụa, chân dung bán thân
- Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ vẽ như bút chì đã được gọt vát, gôm, kẹp giấy lên bảng, que đo, dây dọi…theo yêu cầu bài Không nên gọt bút chì tù quá khó
vẽ, cách cầm bút không nên như cầm bút viết mà phải cầm gần như ngửa lòng bàn tay, cầm bằng ngón trỏ và ngón cái đỡ bằng ngón giữa, ngón út tì vào giấy Không quá phụ thuộc vào que đo dây dọi, nên đo những tỉ lệ lớn tránh đo những tỉ lệ quá nhỏ
1.2.2.3 Quan sát, nhận xét mẫu
- Là công việc đầu tiên không thể thiếu khi tiến hành bài vẽ hình họa
- Vật mẫu cho dù là khối cơ bản hay tĩnh vật, con người … cũng đều cần quan sát toàn bộ về cách sắp xếp, mối tương quan hình thể, đậm nhạt, màu sắc, đường nét… qua đó so sánh, cân nhắc và hình thành ý tưởng bố cục bài vẽ
1.2.2.4 Xác định bố cục bài vẽ
- Sau khi quan sát, so sánh mẫu vẽ, phải ước lượng và xác định bố cục hình
vẽ trên tờ giấy sao cho hợp lý, cân đối và thuận mắt (tránh bố cục lệch, hình quá
- Sau khi có bố cục chung , bắt đầu vẽ dựng hình
- Cần đo và dọi lại các hình mẫu để thẩm định độ to nhỏ, dài ngắn và sự cân đối của mẫu, giúp cho khả năng ước lượng của mắt chính xác hơn
- Khi dựng hình cần chú ý đến hình dáng của mẫu và xác định các vị trí bộ phận, kết cấu cơ bản và đặc trưng hình thể chủ yếu của đối tượng
Trang 39- Khi phác hình nên cầm bút cho thoải mái Cách cầm bút tùy theo thói quen và tính cách từng người Nét phác nên mảnh nhẹ và thoải mái
- Cần dựng hình theo những đường hướng lớn, nét tương đối dài, khái quát hình thể của đối tượng, tránh đi ngay vào những chi tiết vụn vặt để dễ nhận xét
và quan sát toàn bộ bài vẽ
- Dần dần, mỗi lần phác lại, nét bút thu ngắn thêm để sát hình mẫu hơn, tránh cho hình vẽ bị méo mó, không đúng với tương quan và tỷ lệ thực
- Nên sử dụng nét thẳng để phác hình (cho dù là vẽ các đồ vật có dạng khối hình cầu)
- Đo là nguyên tắc rút ngắn vật thể theo nguyên lý đồng dạng
- Cách dùng que đo: người vẽ ngồi hoặc đứng t
trước mắt Que đo vuông góc với mặt đất, ngón tay cái
nheo lại để đo các chiều ngang, chiều dọc c
chúng với nhau rồi ghi lại trên que đo
Hình 9.Cách đo tỷ lệ mẫu (sử dụng thân viết chì hoặc que đo)
- Phương pháp đo là dùng một chiều nào đó của vật thể được rút ngắn lại làm đơn vị so sánh để tìm ra độ dài, ngắn chung cho từng bộ phận và toàn bộ vật mẫu nhằm kiểm tra lại sự ước lượng bằng mắt của người vẽ có chính xác không Qua đó, người vẽ có thể chỉnh sửa lại các sai sót về tỷ lệ để từng bước đẩy sâu bài vẽ
Trang 401.2.2.8 Dây dọi
Là sợi chỉ nhỏ có một đầu buộc vào một vật nhỏ gọi là quả dọi
Hình 10 Que đo và dây dọi
- Cách sử dụng dây dọi: người vẽ ngồi hoặc đứng tại chỗ, buông dây dọi qua các điểm cạnh, điểm góc của mẫu, nheo mắt lại xem các điểm đó nằm ở đâu, gần xa thế nào Qua đó, ta biết được vị trí của các điểm đó trên hình vẽ thông qua đường dọc của dây dọi
- Đây là phương pháp kiểm tra các độ nghiêng, các cạnh, góc, điểm song song của hình và sự cân bằng của mẫu Dây dọi giúp kiểm tra thế thăng bằng của hình vẽ với mẫu thực