Lý do chọn đề tài Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để có thể phát triển, mọi lĩnh vực KT-XH đều phải chú ý đến cơ sở hạ tầng và nếu nói riêng ngành giáo dục và đ
Trang 1GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QU KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CH
I VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 2GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QU KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CH
I VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1 Chủ nhiệm đề tài
Nguyễn Đắc Trung - Phó Trưởng Phòng Tổ chức – Hành chính
2 Các thành viên
Hoàng Thúy Nga – Chuyên viên Phòng Tổ chức – Hành chính
Phạm Hải Yến – Chuyên viên Phòng Tổ chức – Hành chính
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Nội dung đề tài 4
CHƯƠNG I: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 6
1.1 Lịch sử vấn đề 6
1.1.1 Trong nước 6
1.1.2 Quốc tế 10
1.2 Một số khái niệm nền tảng của vấn đề nghiên cứu 12
1.2.1 Khái niệm cơ sở vật chất – thiết bị 12
1.2.2 Khai thác cơ sở vật chất thiết bị 15
1.2.3 Sử dụng cơ sở vật chất thiết bị 15
1.2.4 Vị trí và vai trò của CSVC-TB 16
1.2.5 Hiệu quả của việc khai thác và sử dụng CSVC-TB 17
1.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn 19
1.3.1 Cơ sở lý luận 19
1.3.2 Cơ sở thực tiễn 21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA CÁC ĐƠN VỊ TRONG VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 23
2.1 Khái quát chung về Viện Đại học Mở Hà Nội 23
2.1.1 Viện Đại học Mở Hà Nội 23
2.1.2 Bộ phận cơ sở vật chất – thiết bị 23
Trang 52.2 Thực trạng cơ sở vật chất của Viện Đại học Mở Hà Nội 25
2.2.1 Cơ sở vật chất 25
2.2.2 Trang thiết bị đào tạo và phục vụ đào tạo 27
2.3 Thực trạng sử dụng cơ sở vật chất của Viện ĐH Mở Hà Nội 30
2.3.1 Sử dụng cơ sở vật chất 30
2.3.2 Sử dụng trang thiết bị 32
2.4 Nguyên nhân của thực trạng 34
2.4.1 Nguyên nhân khách quan 34
2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 35
2.5 Đánh giá chung việc sử dụng cơ sở vật chất – thiết bị 36
2.5.1 Về khai thác 36
2.5.2 Về sử dụng 36
CHƯƠNG III: GIÁI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 38
3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 38
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng cơ sở vật chất tại Viện Đại học Mở Hà Nội 39
3.2.1 Giải pháp về công tác tài chính 39
3.2.2 Giải pháp về công tác xây dựng cơ bản và khai thác CSVC 40
3.2.3 Giải pháp về công tác đầu tư, khai thác và sử dụng trang thiết bị 40
3.2.4 Nâng cao nhận thức và chuyên môn sử dụng CSVC-TB 42
3.2.5 Ban hành các các văn bản về định mức tiêu chuẩn, quy định, quy chế quản lý và sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật 43
3.2.6 Xây dựng các định mức tiêu chí về sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật làm tiêu chuẩn thi đua để đánh giá cán bộ và giảng viên 44
3.2.7 Tổ chức hệ thống thông tin quản lý, khai thác và sử dụng CSVC-TB 45 3.2.8 Kiểm tra, giám sat và đánh giá 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sơ đồ quan hệ giáo dục và dạy học 20
Hình 2.1: Sơ đồ chức năng bộ phận Quản trị 24
Hình 2.2: Studio 26
Hình 2.3: Phòng hội thảo truyền hình 26
Hình 2.4: Phòng học - Trung tâm Eleaning 27
Hình 2.5: Hệ thống thông tin của Viện 29
Hình 2.6: Tổng hợp các địa điểm của Viện 30
Hình 2.7: Tổng hợp CSVS- Thiết bị 32
Trang 7ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để có thể phát triển, mọi lĩnh vực KT-XH đều phải chú ý đến cơ sở hạ tầng và nếu nói riêng ngành giáo dục và đào tạo, chủ yếu bao gồm các cấp khối công trình của trường học
(phòng học, phòng thí nghiệm, khu thể dục thể thao, khu hành chính, thực hành, thư
vi ện…) và các trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động dạy - học từ các loại bàn
ghế, bảng, dụng cụ dạy học đơn giản đến các thiết bị giáo dục hiện đại như đèn chiếu, máy vi tính, máy projector
Nghị quyết Hội nghị lần 2 Ban chấp hành Trung ương - Khóa III Đảng CSVN xác định nhiệm vụ: “…Nâng cao chất lượng giáo dục, phấn đấu sớm có một
số trường học đạt tiêu chuẩn quốc tế trên cơ sở xây dựng đội ngũ giáo viên mạnh, tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa các điều kiện dạy và học” Nghị quyết Trung ương 2
- Khoá VIII của Đảng CSVN cũng đã đề ra những giải pháp chủ yếu quan trọng nhất, có tính khả thi cao, để phát triển giáo dục: “…Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, tăng cường Cơ sở vật chất – Kỹ thuật các trường học Từng bước áp dụng các phương pháp giáo dục tiên tiến và sử dụng phương tiện hiện đại Tăng cường Cơ sở vật chất – Kỹ thuậtlà một yếu tố rất quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục”
Đối với một đơn vị giáo dục, chất lượng đào tạo cũng như chất lượng đầu ra quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của Nhà trường Có nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, trong đó không thể không kể đến yếu tố cơ
sở vật chất, trang thiết bị dạy học Ngoài các yếu tố như nội dung chương trình, giáo trình đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy, công tác quản lý, công tác kiểm tra, đánh giá yếu tố cơ sở vật chất có vai trò hết sức quan trọng Một nhà trường có đầy đủ các yếu tố nêu trên nhưng cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của xã hội thì không thể có chất lượng đào tạo Do đó, việc tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị tiên tiến hiện đại là một việc quan trọng góp phần nâng cao hiệu suất lao động, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo đảm bảo chất lượng đội
Trang 9ngũ lao động đáp ứng tốt với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong xu thế hội nhập hiện nay
Viện Đại học Mở Hà Nội là một đơn vị công lập, hoạt động trong hệ thống giáo dục Quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý Là một cơ sở đào tạo đại học, trên đại học với nhiều loại hình đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ, quy mô đào tạo lớn với hơn 36 nghìn sinh viên các hệ Thực tế đòi hỏi cần có một hệ thống
cơ sở hạ tầng, trang thịết bị lớn, phục vụ yêu cầu cho hoạt động và sự phát triển của Nhà trường Tuy nhiên từ khi thành lập đến nay, Viện Đại học Mở Hà Nội chưa được nhà nước cấp đất xây dựng cơ sở đào tạo, chỉ được giao quản lý và sử dụng chung với Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội nhà B101 phố Nguyễn Hiền, Bách Khoa, Hà Nội để làm trụ sở, với diện tích đất nhỏ hẹp 1.962 m2 Hàng năm, Viện phải chi hàng trăm tỷ đồng cho việc thuê cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo, nên gặp không ít khó khăn
Hơn nữa Viện ĐH Mở Hà Nội là đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập nên kinh phí chi cho cơ sở vật chất, trang thiết bị của Nhà trường phục vụ cho đào tạo có nhiều hạn chế Bên cạnh việc trang bị mới thì làm thế nào sử dụng, khai thác hiệu quả vốn cơ sở vật chất hiện nhằm vừa tăng cường hiệu suất lao động, nâng cao chất lượng đào tạo đồng thời tránh lãng phí trong sử dụng, tiết kiệm ngân sách cho Viện là một nội dung cần được quan tâm Chính vì vậy, việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng cơ sở vật chất là một yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với Nhà trường
Từ những nhận định trên, từ thực tiễn sử dụng cơ sở vật chất của Nhà
trường, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác
và sử dụng cơ sở, vật chất của Viện Đại học Mở Hà Nội”
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Sự gia tăngnhanh chóng của cơ sở vật chất và tốc độ phát triển của trang thiết
bị đã và đang tạo ra tiềm năng to lớn cho quá trình dạy học và việc ứng dụng có
Trang 10hiệu quả các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại đã đem lại chất lượng mới cho các phương pháp dạy và học hiện nay…
Trong đề tài này, về mặt lý thuyết tập trung nghiên cứu các quy định, nguyên tắc về quản lý, khai thác và sử dụng CSVC-TB Nghiên cứu và tổng hợp một số giải pháp và phương pháp trong công tác khai thác và sử dụng CSVC-TB qua đó tìm ra những giải pháp hiệu qủa để áp dụng
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu tổng hợp thực trạng công tác khai thác và sử dụng CSVC-TB tại Viện Những thuận lợi, khó khăn hiện nay về cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị trong toàn Viện Kết hợp với những kiến thức của phần nghiên cứu lý thuyết, căn cứ đặc thù và thực chất hiện trạng của Viện, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng cơ sử vật chất và trang thiết
bị của Viện Đại học Mở Hà Nội
3 Mục đích nghiên cứu
Cơ sở vật chất trường học, lớp học được coi là điều kiện tiên quyết trong phát triển giáo dục, cơ sở vật chất không đảm bảo sẽ ảnh hưởng tiêu cực hoặc không thể triển khai các hoạt động dạy và học
Chính vì vậy, đề tài hướng đến mục tiêu tìm ra một số giải pháp và đề xuất thực hiện tại Viện Đại học Mở Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng sử dụng, khai thác cơ sở, vật chất tại
Viện Đại học Mở Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý và khai thác, sử dụng cơ
sở vật chất của Viện từ khi thành lập đến nay Nhóm nghiên cứu thực hiện khảo sát kiểm tra thực tế tại cơ sở I của Viện và tất cả các cơ sở đào tạo của Viện, các Khoa tại khu vực Hà Nội
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trong phạm vi giới hạn đã đề cập ở trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các văn bản quy định của
Nhà nước, của Viện về công tác quản lý, sử dụng tài sản trang thiết bị cơ
sở vật chất; Nghiên cứu các tài liệu có liên quan
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp: Khảo sát, điều tra
thông tin về việc sử dụng cơ sở vật chất của các bộ phận, đơn vị trong Viện, từ đó thống kê số liệu Thông qua các số liệu cụ thể, nhóm nghiên cứu sẽ phân tích, tổng hợp chỉ ra những hạn chế, tồn tại và đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng cơ sở vật chất
6 Nội dung đề tài
MỞ ĐẦU
Chương I: Cơ sở lý luận về việc sử dụng CSVC trong trường ĐH
- Lịch sử vấn đề
- Một số khái niệm nền tảng của vấn đề nghiên cứu
- Cơ sở vật chất và khai thác, sử dụng cơ sở vật chất trong nhà trường
Chương II: Thực trạng sử dụng CSVC của các đơn vị trong Viện
- Khái quát chung về Viện Đại học Mở Hà Nội
- Khái quát tình hình thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của Viện Đại học Mở Hà Nội
- Thực trạng cơ sở vật chất của Viện Đại học Mở Hà Nội
- Thực trạng sử dụng cơ sở vật chất của Viện Đại học Mở Hà Nội
- Nguyên nhân của thực trạng
Trang 12- Đánh giá chung việc sử dụng cơ sở vật chất
Chương III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng CSVC của Viện Đại học Mở Hà Nội
- Một số cơ sở để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng cơ sở vật chất ở Viện Đại học Mở Hà Nội
Cơ sở lý luận
Cơ sở thực tiễn
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng cơ sở vật chất tại Viện Đại học Mở Hà Nội
Giải pháp về công tác tài chính
Nhóm giải pháp về công tác xây dựng cơ bản
Nhóm giải pháp về công tác quản lý
Mối quan hệ giữa các giải pháp
Trang 13CHƯƠNG I: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG VÀ KHAI THÁC
CƠ SỞ VẬT CHẤT TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Lịch sử vấn đề
1.1.1. Trong nước
Cơ sở vật chất và thiết bị trường học là mối quan tâm rất lớn đối với tất các trường CĐ, ĐH tại Việt Nam hiện nay Để thực hiện tốt nhiệm vụ và mục tiêu trong giáo dục đào tạo, các trường đều cần một cơ sở vật chất và thiết bị đủ để phục vụ công tác dạy và học Khi một khảo sát tương đối chi tiết của Cục Cơ sở vật chất,
thiết bị trường học (Bộ Giáo dục - Đào tạo) về cơ sở vật chất các trường ĐH, CĐ
công lập được công bố với 50% trường ở mức dưới chuẩn, nhiều người đã gọi đó là
“thảm cảnh” của nền giáo dục ĐH Song đó là một thực tế đã nhiều năm, khi các trường ĐH tồn tại, phát triển không theo một kế hoạch và quy chuẩn chung nào về
cơ sở vật chất Do hoàn cảnh kinh tế của đất nước, việc đầu tư của nhà nước đối với Giáo dục còn nhiều hạn chế, các trường cũng không đủ khả năng để đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học
Tại khu vực Hà Nội, bình quân diện tích đất/sinh viên của các trường chỉ có 13m²/sinh viên Còn tại TP.HCM là 10m²/sinh viên Cả hai thành phố này có khoảng 30-40% số trường có bình quân diện tích đất dưới 5m²/sinh viên Một số trường trong tình trạng cực kỳ chật chội, chẳng hạn ĐH Xây dựng Hà Nội chỉ có 0,84m²/sinh viên, ĐH Luật Hà Nội là 0,67m²/sinh viên, ĐH Ngoại thương Hà Nội là 1,08m²/sinh viên và ĐH Kinh tế TP.HCM chỉ 0,54m²/sinh viên [12]
Theo khảo sát này (ở gần 200 trường ĐH, CĐ), khu học tập của sinh viên
hầu hết trong tình trạng lạc hậu và xuống cấp nghiêm trọng Nhiều trường ĐH công lập vẫn phải thuê cơ sở bên ngoài làm nơi học tập hoặc bắt sinh viên học tăng ca do thiếu giảng đường Lãnh đạo Trường ĐH Khoa học Huế cho hay trường có hàng chục phòng học cấp 4 đang xuống cấp nặng nề nhưng chưa thể tu sửa Đại diện ĐH
Mỏ địa chất Hà Nội cũng cho biết không chỉ thiếu phòng học, trường này còn không có phòng chuyên dùng phục vụ công tác chấm thi, hội thảo quốc tế; các
Trang 14phòng học, giảng đường hầu như không có phương tiện kỹ thuật (máy tính, máy
chi ếu, video )
Trong bối cảnh cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo của các trường ĐH, CĐ công lập thiếu thốn hiện nay, một số trường đã chủ động tìm lối đi riêng để khắc phục tình trạng này
Ngân sách giáo dục hạn chế được coi là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng nghèo nàn, lạc hậu về cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo của các trường ĐH, CĐ, dù ông Nguyễn Trường Giang, Vụ Ngân sách tài chính sự nghiệp -
Bộ Tài chính, vẫn khẳng định ngân sách dành cho giáo dục ĐH đã được ưu tiên “hết mức có thể” Thực tế không thể tìm sự đột phá ở việc tăng chi ngân sách cho giáo dục ĐH hiện nay
Tăng cường đầu tư thiết bị dùng chung là hướng mà nhiều trường ĐH, CĐ đã
và đang tính đến trong điều kiện kinh phí eo hẹp Theo lãnh đạo ĐH Bách khoa Hà Nội, năm học 2009-2010, trường đã lắp đặt thiết bị đồng bộ cố định cho 18 giảng đường, hệ thống này được theo dõi và hỗ trợ kỹ thuật từ xa thông qua tín hiệu của giảng viên báo về phòng trung tâm Đây cũng là trường đi đầu trong việc triển khai xây dựng phòng thí nghiệm mở theo mô hình phòng thí nghiệm đa ngành, phòng thí nghiệm liên ngành Cán bộ trong và ngoài trường đều có thể đăng ký sử dụng thiết
bị của các phòng thí nghiệm trên
Theo ông Nguyễn Cảnh Lương - hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, ngoài việc tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh liên kết đào tạo để qua đó đầu tư cho cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, trường cũng đầu tư nghiên cứu để khai thác tối đa thiết bị hiện đại của các phòng thí nghiệm trọng điểm [12] Để duy trì hoạt động của hệ thống phòng thí nghiệm, lãnh đạo nhà trường cho biết đã phải áp dụng hàng loạt biện pháp tiết kiệm nghiêm ngặt để giảm chi, đồng thời xây dựng định mức vật tư hóa chất tiêu hao cho các bài thí nghiệm
Trang 15TS Lâm Mai Long, phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, cho rằng tăng cường nguồn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước là giải pháp đáng kể nhất để khắc phục tình trạng thiếu thốn hiện nay ở các trường Theo ông, nguồn đầu tư này chủ yếu dựa vào các tổ chức phi chính phủ và các dự án vốn vay ODA, song quan trọng nhất vẫn là tận dụng những cơ hội tài trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ và các doanh nghiệp Việc này đòi hỏi sự chủ động của các trường
Chỉ trong hai năm 2009-2010, ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM đã nhận được nguồn tài trợ gần 1,7 triệu USD, trong đó có những dự án lớn như dự án phòng thí nghiệm điện trị giá khoảng 20 tỉ đồng do Tập đoàn GE tài trợ Đầu tháng 12-2009, nhà trường đã tiếp nhận và đưa vào sử dụng phòng thí nghiệm tự động hóa vốn đang là ước mơ của không ít trường ĐH Phòng thí nghiệm này được trang bị máy móc, thiết bị thuộc loại hiện đại nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong lĩnh vực tự động hóa công nghiệp hiện đại Đặc biệt, phòng thí nghiệm này còn được trang bị hệ thống mạng công nghiệp hiện đại ba lớp EtherNet, ControlNet và DeviceNet Tất cả thiết bị này của Hãng Rockwell Automation (Mỹ) tài trợ với tổng giá trị 355.603 USD [12]
Làm thế nào để thu hút những nguồn tài trợ như thế? Theo ông Long, việc tài trợ trang thiết bị cho các trường, doanh nghiệp cũng có lợi vì nhà trường chính là nơi đào tạo, cung ứng nhân lực cho doanh nghiệp Chưa kể các doanh nghiệp còn có nhu cầu quảng cáo thương hiệu và thiết bị của họ “Các doanh nghiệp tìm đến trường ĐH không phải là tình cờ Tuy nhiên, nhà trường cũng phải chủ động tìm kiếm, mời gọi họ Chất lượng đào tạo của nhà trường đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này Vì vậy các trường cần công khai chất lượng đào tạo của mình, khi người ta tin cậy sẽ tìm đến trường” - ông Long nói
Không ít ý kiến cho rằng dù các trường ĐH, CĐ đều đang thiếu thiết bị, song bản thân việc đầu tư mua sắm trang thiết bị cũng chưa được thực hiện một cách khoa học Vì vậy hiệu quả đầu tư chưa được như mong muốn Theo ông Trần Tiến
Trang 16Phức (ĐH Nha Trang), trong nhiều khó khăn về kinh phí, việc xây dựng trung tâm
thí nghiệm thực hành sử dụng chung là giải pháp tốt nhất của trường để khắc phục
sự thiếu thốn thiết bị phục vụ đào tạo Với hướng đi này, nhà trường đã có thể tăng tần suất hoạt động của thiết bị, sử dụng tối đa cơ sở vật chất đã được đầu tư, việc điều hành, bảo dưỡng, sửa chữa cũng dễ dàng hơn
PGS.TS Trần Cảnh Vinh, hiệu trưởng Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM, nhận xét: “Bản thân các trường đã yếu mà đầu tư lại bị xé lẻ, mạnh ai nấy làm nên ngày càng yếu hơn Không chia sẻ tài nguyên thì làm sao mạnh lên được” Theo ông Vinh, về bản chất, đầu tư cơ sở vật chất cho các trường công của Nhà nước chính là đầu tư công Vì vậy, các trường nên chia sẻ thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm với nhau và khi cần thiết, thành lập lại hội đồng hiệu trưởng các trường
ĐH để cùng bàn tính việc chia sẻ “tài nguyên”
Bên cạnh đó, ông Vinh cho rằng các thiết bị thí nghiệm hiện đại từ các dự án cũng chính là một nguồn “tài nguyên” quan trọng khác có thể chia sẻ cho các trường ĐH Các bộ ngành hiện nay đều có rất nhiều dự án “Ngành giao thông vận tải có rất nhiều dự án, các dự án này đều có những thiết bị thí nghiệm hiện trường
(máy đo độ rung, khảo sát nền đất ) trị giá hàng tỉ đồng Nguồn tài nguyên này
chính là tài sản công Khi kết thúc dự án nên đưa những thiết bị này về các trường
ĐH đào tạo nhân lực cho ngành giao thông”, ông Vinh đề nghị
Nhìn chung, các trường CĐ, ĐH tại Việt Nam đang từng bước xây dựng cơ
sở vật chất trang thiết bị đào tạo ngày càng phát huy tốt nhiệm vụ giáo dục của cơ
sở Bên cạnh các trường được sự quan tâm và hỗ trợ vốn từ nguồn ngân sách, không
ít trường phải tự chủ trong việc đầu tư cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị dạy
và học Để giảm bớt các khó khăn, nhà nước nên có một số chính sách phù hợp để
hổ trợ khối các trường không có hỗ trợ ngân sách trong đào tạo [3][7]
Tóm lại, ngoài các yếu tố khách quan về chủ trương, chính sách và nguồn vốn để đầu tư mua sắm xây dựng cở vật chất trong các trường học Với những cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện có Các trường phải có giải pháp quản lý, khai thác và
sử dụng sao cho có hiệu quả nhằm đảm bảo chất lượng dạy và học trong nhà trường
Trang 17Việc khai thác và sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị trong nhà trường là vấn đề cần phải giải quyết sao cho có hiệu quả tốt nhất Tránh tình trạng chỗ thiếu nơi thừa,
sử dụng không hiệu quả các trang thiết bị đã đầu tư [6]
1.1.2 Quốc tế
Quá trình phát triển của khoa học giáo dục, hoạt động giáo dục và dạy học đã được nghiên cứu có hệ thống từ thời Komenxky cho đến ngày nay Nhưng hầu như các công trình nghiên cứu chỉ tập trung nhiều vào mục tiêu, nội dung và phương pháp của việc giáo dục và dạy học, còn phương tiện và điều kiện để thực hiện các thành tố trên dường như chưa được quan tâm một cách triệt để, đó là CSVC-KT của
trường học (đất đai, môi trường tự nhiên, trường sở, các cấp khối công trình, phòng
h ọc, phòng thí nghiệm thực hành, bàn ghế GV và HS, bảng, thiết bị và các trang
thi ết bị khác…)
Mãi đến thời V.A Xukhomlinski, Nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga trong
tác phẩm “Trường trung học Pavlưsh” (Tổng kết kinh nghiệm công tác giảng dạy -
trường học [12]
Trong cuốn sách “Tổ chức lao động của hiệu trưởng” tác giả Zakharốp đã trình bày về yêu cầu, điều kiện và tác dụng của CSVC-KT của trường học Trong cuốn sách “Những vấn đề quản lý trường học” của các tác giả P.V Zimin - M.I Kônđkốp - N.I Saxerđôtôp đã đề cập các phương tiện cơ sở vật chất của trường học
(thiết bị của các phòng học, hệ thống các phòng học trong trường phổ thông…),
đồng thời cũng nêu ra yêu cầu và cách thức quản lý các phương tiện nhưng mang tính chất khái quát
Nhằm hỗ trợ tốt nhất cho nhu cầu học tập, nghiên cứu và sinh hoạt của sinh viên, bên cạnh chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế, các trường học ở Canada không ngừng đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, các trung tâm nghiên cứu cũng như khu học xá cho học sinh, sinh viên Và cũng chính nhờ vào những chính sách hậu hĩnh mà chính phủ Canada đã, đang và sẽ đầu tư cho nền giáo dục nước nhà cùng
Trang 18với những thành tựu, những sản phẩm nổi bật của công nghệ cao mà có thể thấy ở bất kì trường học nào ở Canada, một hệ thống đồ sộ các lớp học, thư viện, phòng thí nghiệm, phòng tin học, trung tâm y tế, bảo tàng, rạp hát, rạp chiếu phim, phòng triển lãm nghệ thuật, sân bóng hay các thiết bị thể dục thể thao
Các phòng học được xây dựng thoáng mát, rộng rãi và được trang bị đầy đủ máy chiếu, máy tính để phục vụ tốt hơn cho việc học tập cũng như micro thuận tiện cho việc giảng dạy của giảng viên Thư viện trong các trường ở Canada cung cấp hàng ngàn đầu sách đa dạng thuộc các ngành nghề khác nhau Nhiều trường học còn chú trọng đầu tư cho các trung tâm nghiên cứu, học thuật để hỗ trợ tối đa cho học sinh, sinh viên Bên cạnh đó, ở các trường đại học, cao đằng, những ký túc xá cho sinh viên cũng được trang bị đầy đủ tiện nghi và hiện đại Ở một số trường còn được lắp máy sưởi dọc hành lang từ ký túc xá đến khu học tập, nghiên cứu
Để đào tạo những thế hệ trẻ toàn diện, các trường học ở Canada cũng không thể lơ là việc chăm chút cho những sân bóng, sân tập thể thao và không ngừng đổi mới các dụng cụ thể dục thể thao để bồi dưỡng thể chất cho học sinh, sinh viên Và bên cạnh việc học tập, học sinh, sinh viên ngoài việc có thể tự do giải trí còn được tiếp thu thêm kiến thức ngoài ngành học nhờ vào những vỡ diễn ở rạp hát, những bộ phim tài liệu ở rạp chiếu hay những tác phẩm nghệ thuật được trưng bày triển lãm Với các trường CĐ, ĐH trên thế giới cũng đầu tư rất mạnh mẽ vào cơ sở vật chất nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho việc dạy, học và nghiên cứu của giảng viên và sinh viên Nhờ vào cơ sở vật chất hiện đại như vậy mà các trường học trên thế giới mang lại cảm giác an tâm và sự tin tưởng tuyệt đối cho những học sinh, sinh viên bản địa cũng như sinh viên quốc tế đã, đang và sẽ theo học Bên cạnh đó, những điều kiện này còn giúp cho học sinh, sinh viên trong và ngoài nước có điều kiện tốt nhất để nghiên cứu và học tập và giành giành vị trí cao trong các kỳ thi quốc tế về ngôn ngữ, toán học, khoa học
Để đào tạo những thế hệ trẻ toàn diện, các trường học trên thế giới cũng không thể lơ là việc chăm chút cho những sân bóng, sân tập thể thao và không
Trang 19ngừng đổi mới các dụng cụ thể dục thể thao để bồi dưỡng thể chất cho học sinh, sinh viên [9]
Không thể phủ nhận một điều rằng, khi tiếp cận với nền giáo dục của các quốc gia phát triển người ta có thể cảm nhận được những văn minh tiên tiến của nhân loại đã được ứng dụng trong một nền giáo dục chất lượng
1.2 Một số khái niệm nền tảng của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm cơ sở vật chất – thiết bị
CSVC-TB là toàn bộ hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật do con người tạo nên để phục vụ cho nhu cầu và mục đích nào đó trong cuộc sống như: Nhà cửa, máy móc, xe cộ, trang thiết bị dạy và học [5]
Đây là một trong những thành tố cấu thành quá trình dạy học và giáo dục, là yếu tố góp phần đảm bảo chất lượng dạy học và nâng cao khả năng sư phạm Với vị trí và vai trò quan trọng đó, quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là nhiệm vụ quan trọng mà Hiệu trưởng – người đứng đầu nhà trường phải thực hiện nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệthống cơ sở vật chất-thiết bị giáo dục phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và đào tạo của nhà trường
Cơ sở vật chất và thiết bị dạy và học bao gồm các thiết bị dùng chung, các thiết bị trực quan, các thiết bị thực nghiệm bộ môn, các thiết bị nghe nhìn và các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học
Thiết bị dạy học được sản xuất, cung cấp hàng loạt, đồng bộ theo những tiêu chuẩn kỹ thuật xác định của quốc tế hoặc trong nước là các thiết bị dạy học chính quy Ngoài ra còn có các thiết bị dạy học không chính quy do giáo viên và học sinh
tự làm hoặc sưu tầm, tận dụng cũng góp phần không nhỏ trong việc dạy học
Trang 20CSVC-TB trường học là tất cả các phương tiện vật chất được huy động vào việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục đích giáo dục
Hệ thống CSVC và thiết bị dạy học bao gồm từ các công trình xây dựng (với
nghiệm, phương tiện nghe - nhìn cho đến quyển sách, ngòi bút, viên phấn … Đây là một hệ thống đa dạng về chủng loại và có một số bộ phận tương đối và phức tạp về mặt kỹ thuật Tính đa dạng và phong phú của hệ thống tạo ra không ít trở ngại trong quản lý và sử dụng [11]
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn đã viết: “CSVC-TB là những hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật khác nhau được sử dụng để phục vụ việc giáo dục
và đào tạo toàn diện học sinh, sinh viên trong nhà trường Đó là những đồ vật, những của cải vật chất và khung cảnh tự nhiên xung quanh nhà trường”
Các khái niệm này chứa đựng nhiều khái niệm cụ thể như: trường học, thư viện trường học, sách giáo khoa, thiết bị dạy học, dụng cụ thí nghiệm, thiết bị giáo dục chính quy, thiết bị giáo dục tự làm, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, phòng
- Khối phòng học, phòng học bộ môn
- Khối phục vụ học tập
- Khối phòng hành chính
Trang 21- Khu sân chơi bãi tập
- Khu vệ sinh
- Khu để xe
Thiết bị giáo dục: Thiết bị dạy học bao gồm các thiết bị dùng chung, các
thiết bị trực quan, thực nghiệm và các thiết bị kỷ thuật (Các phương tiện nghe nhìn)
Thiết bị dạy học các bộ môn được sử dụng thường xuyên nhất chúng trực tiếp tham gia vào quá trình giảng dạy và học tập, gắn liền với nội dung và phương pháp trong từng tiết học Các thiết bị giảng dạy và học tập tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc - họa và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống… nhằm đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
Thư viện: bao gồm sách báo,sách giáo khoa và sách tham khảo là thành phần chính của thư viện trường học, đó là sách được Bộ giáo dục và Đào tạo cho phép sử dụng trong trường học, phòng đọc và cho mượn, kho sách, là loại CSVC trọng yếu
là phương tiện cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu của GV,
SV và công nhân viên trong nhà trường Đồng thời là nguồn tri thức quan trọng của sinh viên và giáo viên”
Các bộ phận vừa kể trên hình thành nên hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật đa dạng về chủng loại và có một số trang thiết bị tương đối phức tạp về mặt kỹ thuật,
ví dụ như: phòng LAB, máy tính, máy projector, hệ thống mạng internet Tính năng đa dạng và phong phú của hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật tạo ra không ít trở ngại trong quá trình quản lý, khai thác và sử dụng
Như vậy, có thể khẳng định rằng: CSVC-TB là thành phần không thể thiếu được trong việc đào tạo con người trong nhà trường; là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình giáo dục và góp phần quyết định vào chất lượng giáo dục của nhà trường;
là điều kiện thiết yếu của quá trình sư phạm; là phương tiện để tác động đến sinh viên và cũng là phương tiện để truyền thụ lĩnh hội tri thức Là thành tố quan trọng trong hệ thống giáo dục
Trang 22Vì vậy để làm tốt các vai trò trên thì toàn bộ khung cảnh nhà trường với các công trình phải được xây dựng đúng chuẩn mực, trang bị đầy đủ khang trang sạch đẹp thể hiện nét hiện đại của nhà trường XHCN, bền vững theo thời gian, phù hợp với tâm sinh lý của sinh viên, tạo được cảm giác yên tâm của các bậc phụ huynh, đồng thời nó sẽ có giá trị giáo dục hết sức to lớn, gây ấn tượng sâu sắc và lưu lại suốt đời trong ký ức sinh viên
1.2.2 Khai thác cơ sở vật chất thiết bị
Lập kế hoạch khai thác, sử dụng và sửa chữa định kỳ, đột suất cơ sở vật chất bao gồm: tài sản, phòng học, phòng máy, hội trường, phòng họp, trang thiết bị, công
cụ, dụng cụ lao động, học tập cho toàn Trường Hướng dẫn và kiểm tra việc quản lý
và sử dụng cơ sở vật chất tại các đơn vị Bảo đảm cung cấp điện và cấp thoát nước trong nội bộ Trường Tổ chức các hoạt động dịch vụ bằng cách tận dụng cơ sở hiện
có, chủ yếu là dịch vụ trường học và vui chơi giải trí cho sinh viên
Khai thác CSVC-TB trường học là sự tác động có mục đích của người khai thác đến các đối tượng như: Người xây dựng CSVC-TB, cũng như người sử dụng CSVC-TB, tổ chức phối hợp hoạt động của các đối tượng sao cho duy trì và phát triển CSVC-TB nhằm đạt được mục đích nhất định
Việc khai thác CSVC-TB trường học phải được thực hiện đúng quy định đã được ban hành, CSVC-TB phải được khai thác và đưa vào sử dụng đúng mục đích
và lên kế hoạch cụ thể sao cho việc sử dụng CSVC-TB đạt hiệu quả cao nhất
1.2.3 Sử dụng cơ sở vật chất thiết bị
Sử dụng cơ sở cật chất – thiết bị là quá trình người lao động, giảng viên và sinh viên sử dụng những cơ sở vật chất và trang biết bị phục vụ cho quá trình dạy và học tại nhà trường Dạy học mà không có cơ sở vật chất – thiết bị thì không bao giờ đạt được mục tiêu, nhưng việc sử dụng cơ sở vật chất – thiết bị không đúng cũng không phát huy được hiệu quả của quá trình dạy học và học cũng như trong quá trình quản lý đào tạo Vì vậy để sử dụng tốt cơ sở vật chất – thiết bị cần:
Trang 23- Cơ sở vật chất – thiết bị phải đủ về số lượng, tốt về chất lượng, được bảo quản kỹ thuật tốt và tổ chức khai thác tốt cơ sở vật chất – thiết bị
- Phải đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất - môi trường có điều kiện kỹ thuật điện, nước, trang bị nội thất phòng học sân bãi
- Người sử dụng cơ sở vật chất – thiết bị (cán bộ thiết bị, giáo viên) phải có
trình độ chuyên môn phù hợp, làm chủ cơ sở vật chất – thiết bị và tâm huyết nghề nghiệp để truyền thụ kiến thức cho người học thông qua cơ sở vật chất – thiết bị
Vậy, để sử dụng tốt cơ sở vật chất – thiết bịphải giải quyết tốt một số vấn đề
về quản lý như đầu tư trang bị tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác, nâng cao trình độ nghiệp vụ kỹ thuật và kỹ năng cho giáo viên cho cán bộ phụ trách thiết bị thí nghiệm Thực hiện nghiêm túc các quy định về chuyên môn, kỹ thuật Đạt được hệ thống CSVC-TB hoàn chỉnh phục vụ cho dạy và học là việc làm lâu dài và tốn kém Phải xây dựng từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến hiện đại, bám sát vào nội dung chương trình, mục tiêu giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học thì mới thực hiện được
1.2.4 Vị trí và vai trò của CSVC-TB
Quá trình dạy học, giáo dục cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau Các thành tố cơ bản cấu thành quá trình dạy học là: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp – Giảng viên – Sinh viên - Thiết bị giáo dục Các yếu tố cơ bản này giúp thực hiện quá trình dạy học và mối quan hệ giữa chúng Mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành quá trình dạy học trong đó cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là một thành tố không tách rời Theo sơ đồ, các cặp thành tố
có quan hệ tương hỗ hai chiều Việc điều khiển tối ưu các mối quan hệ của các thành tố có thể coi là một nghệ thuật về mặt sư phạm Cơ sở vật chất và thiết bị có
Trang 24mặt trong quá trình nêu trên có vai trò như các thành tố khác không thể thiếu một thành tố nào
Như vậy, cơ sở vật chất và thiết bị là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của quá trình giáo dục, dạy học
Cơ sở vật chất và thiếtbị dạy học có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học, là một bộ phận của nội dung và phương pháp dạy học Đảm bảo tính trực quan trong dạy học, đảm bảo chất lượng kiến thức, thể hiện tường minh phương pháp làm việc, giúp sinh viên rèn luyện các kỹ năng, cho phép đa dạng hoá các loại hình dạy học
Phương tiện kỹ thuật dạy học cũng có khả năng sư phạm to lớn: tăng tốc độ truyền tải mà không làm giảm lượng thông tin, tạo điều kiện đi sâu vào bản chất sự vật và hiện tượng, tiết kiệm thời gian, tạo hứng thú và lôi cuốn người học, cho phép cải tiến các hình thức lao động sư phạm, tạo điều kiện cho sinh viên thực hành rèn luyện kỹ năng, tạo ra các tình huống sư phạm và “vùng hợp tác” giữa giảng viên và sinh viên
1.2.5 Hiệu quả của việc khai thác và sử dụng CSVC-TB
Hiệu quả là khái niệm chung để chỉ các kết quả hoạt động của các sự vật hiện tượng bao gồm hiệu quả về kinh tế, xã hội, đời sống, phát triển nhận thức Việc thực hiện đúng các mục tiêu, mục đích sẽ cho kết quả tốt Sự hiệu quả được định nghĩa là đạt được một kết quả giống nhau nhưng sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất
Là một quá trình với các chức năng thì quản lý và sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật thực chất là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá việc quản lý và sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và
Trang 25hiệu quả sử dụng của chúng Khai thác CSVC-TB bao gồm các công việc cụ thể như sau:
Lập kế hoạch: Là quá trình thiết lập các mục tiêu về cơ sở vật chất - kỹ
thuật, hệ thống các hoạt động và các điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu Xây dựng các quy định, quy chế, quy trình quản lý, sử dụng, sửa chữa và bảo quản cơ sở vật chất - kỹ thuật nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã đặt ra là nâng cao chất lượng đào tạo và đạt hiệu quả sử dụng
Một số ý nghĩa của công tác lập kế hoạch: Tư duy có hệ thống để tiên liệu các tình huống quản lý, phối hợp mọi nguồn lực của tổ chức hữu hiệu hơn, tập trung vào các mục tiêu và chính sách của tổ chức, nắm vững các nhiệm vụ cơ bản của tổ chức để phối hợp với các quản lý viên khác, sẵn sàng ứng phó và đối phó với những thay đổi của môi trường bên ngoài, phát triển hữu hiệu các tiêu chuẩn kiểm tra
Tổ chức: Là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn
lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được mục tiêu là quản lý và sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho việc dạy - học có hiệu quả nhất, tập trung vào những khía cạnh sau:
- Tổ chức việc thực hiện các kế hoạch
- Quy định việc sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật
- Tổ chức việc phân công người và các bộ phận phụ trách
- Thiết lập đầy đủ các loại hồ sơ sổ sách, văn bản có liên quan đến cơ sở vật chất- kỹ thuật
- Giáo dục tinh thần trách nhiệm và ý thức tiết kiệm
Lãnh đạo: Là điều hành giúp người quản lý thực hiện trách nhiệm khai thác
cơ sở vật chất - kỹ thuật một cách thuận lợi nhất, đạt hiệu quả cao nhất
Kiểm tra: Nhà quản lý phải kiểm tra việc khai thác và sử dụng cơ sở vật chất
- kỹ thuật theo các mục tiêu đã đề ra Tập trung vào ba yếu tố cơ bản:
- Xây dựng chuẩn kiểm tra để thực hiện
Trang 26- Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn
- Điều chỉnh hoạt động (khi thấy có sự chênh lệch) hoặc trong trường hợp
cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu
Như vậy, hoạt động khai thác cơ sở vật chất - kỹ thuật đối với các trường
CĐ, ĐH phải trải qua ba nội dung cơ bản là lập kế hoạch; tổ chức và lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch; kiểm tra đánh giá các hoạt động và thực hiện các mục tiêu khai thác và sử dụng cơ sở vật chất – thiết bị đã đề ra
1.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Các giải pháp khai thác và sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
CSVC-TB hiện nay có thể kể đến một sốgiải pháp sau:
- Tuyên truyền, giáo dục mọi bộ phận, mọi thành viên trong nhà trường nắm vững các yêu cầu chuẩn về CSVC-TB của trường học, đồng thời nhận thức đúng và sâu sắc về việc khai thác, sử dụng và bảo quản CSVC-
TB hiện có
- Kế hoạch hóa công tác khai thác CSVC-TB Tổ chức bộ máy chỉ đạo và
có cơ chế phối hợp trong khai thác CSVC-TB Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng CB, GV về nghiệp vụ nhằm nâng cao năng lực sử dụng CSVC-TB
- Ban hành các văn bản về định mức tiêu chuẩn, quy định, quy chế quản lý
và sử dụng TB Xây dựng tiêu chí về sử dụng và bảo quản
CSVC-TB làm tiêu chuẩn thi đua để đánh giá CB và GV
Trang 27- Có đầy đủ thông tin trong quản lý CSVC-TB Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá và rút kinh nghiệm trong việc quản lý, khai thác và
sử dụng cơ sở vật chất – thiết bị
Quá trình giáo dục và dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau Các thành tố đó là: mục tiêu, nội dung, phương pháp, giảng viên, sinh viên và phương tiện (CSVC-TB) Các yếu tố cơ bản này giúp thực hiện quá trình giáo dục và dạy học
Sơ đồ dưới đây thể hiện các thành tố cấu thành quá trình giáo dục và dạy học
và mối quan hệ giữa chúng
Hình 1.1: Sơ đồ quan hệ giáo dục và dạy học
Mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành quá trình giáo dục và dạy học trong
đó cơ sở vật chất - kỹ thuật là một thành tố không thể tách rời được
Theo sơ đồ trên, các cặp thành tố tương ứng đều có mối quan hệ tương hỗ hai chiều Việc điều khiển tối ưu các mối quan hệ của các thành tố có thể được coi là một nghệ thuật về mặt quản lý và mặt sư phạm
Cơ sở vật chất - kỹ thuật có mặt trong quá trình nêu trên có vai trò và vị trí như các thành tố khác và không thể thiếu một thành tố nào Như vậy, cơ sở vật chất
- kỹ thuật là một bộ phận, một thành tố không thể thiếu được trong quá trình giáo dục và dạy học
Trang 281.3.2 Cơ sở thực tiễn
Cơ sở lý luận đã cho ta hiểu đầy đủ về khái niệm, nội dung, vị trí, vai trò, yêu cầu, cách quản lý về công tác tự làm, sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học Thế nhưng, thực tế trong các nhà trường hiện nay, thiết bị dạy học còn thiếu về số lượng, không đảm bảo về chất lượng, không đồng bộ về cơ cấu, một số thiết bị đã
cũ, hỏng, nguồn kinh phí do nhà nước cấp, mua sắm thiết bị còn rất hạn hẹp Bên cạnh đó, việc quản lý và sử dụng các thiết bị dạy học hiện có của nhà trường còn bất cập; nhận thức của cán bộ, giáo viên, về vai trò và ý nghĩa của thiết bị dạy học trong giáo dục còn hạn chế; kỹ năng sử dụng, sửa chữa, bảo quản thiết bị còn yếu; việc tổ chức dạy học các giờ thực hành còn hình thức, chiếu lệ
Hiện nay, Viện ĐH Mở Hà Nội có 1 cơ sở chính tại B101 Nguyễn Hiền, ngoài ra Viện có 2 cơ sở khác ở Long Hưng, Đà Nẵng và một số địa điểm đi thuê khác Đây là một khía cạnh rất đặc thù của Viện Do đó, Viện gặp phải những vấn
đề chính trong công tác khai thác và sử dụng CSVC-TB như sau:
Về trường sở: Do hệ thống giảng đường, địa điểm học tập phân tán do đó
việc khai thác và sử dụng chung tài nguyên gặp nhiều khó khăn dẫn đến gây lãng phí Ngoài ra, vì một số địa điểm đi thuê nên không tự chủ trong việc khai thác và
sử dụng Đây là một khó khăn mà Viện ĐH Mở Hà Nội rất khó có giải pháp tốt trong việc khai thác và sử dụng cơ sở vật chất
Về điện nước: Vì đặc thù của trường nên vấn đề sử dụng điện nước cũng gặp
những khó khăn về mặt khai thác và quản lý sử dụng Ngoài ra, ngay tại những cơ
sở của Viện trực tiếp quản lý và khai thác thì việc sử dụng cũng chưa đạt hiệu quả cao, còn rất lãng phí nhất là vấn đề sử dụng nguồn điện Chưa có hệ thống tự động
để đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm nguồn điện, nguồn nước Việc đầu tư không đồng bộ do đặc thù cũng dẫn đến việc một số thiết bị điện đã lỗi thời, hay hỏng hóc dẫn đến việc khai thác gặp nhiều vấn đề
Trang thiết bị quản lý và giảng dạy: Còn nhiều phòng ban, Khoa đầu tư
trang thiết bị chưa hiệu quả, chưa áp dụng khoa học kỹ thuật vào công tác khai thác
và sử dụng trang thiết bị Các thiết bị giảng dạy cũng chưa được sử dụng hết công
Trang 29suất Vẫn còn tình trạng nơi thiếu, nơi thừa và tình trạng đầu tư , sử dụng trang thiết
bị sai mục đích, không cần thiết vẫn đến lãng phí Việc bảo quản, bảo dưỡng và sử dụng vẫn chưa được chú trọng và có kế hoạch cụ thể
Về con người: Đâu đó vẫn còn có những cá nhân chưa sử dụng thành thạo
và có hiệu quả những thiết bị Ngoài ra, vẫn còn thiếu tinh thần trách nhiệm về bảo quản và sử dụng thiết bị, tài sản chung của nhà trường Vẫn chưa thường xuyên cập nhật thông tin, nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp làm việc khoa học để
áp dụng vào công việc và sử dụng trang thiết bị có hiệu quả cao
Do đó, trong khuôn khổ của đề tài sẽ tập trung nghiên cứu từ cơ sở lý luận,
cơ sở thực tiễn và nguyên tắc đề cuất giải pháp để đưa ra được những giải pháp mang tính trọng điểm có tính khả thi cao để có thể áp dụng kịp thời nhằm mục đích nâng cao hiệu quả công tác khai thác và sử dụng cơ sở vật chất – thiết bị của Viện Đại học Mở Hà Nội