Phân Tích BCTC Công Ty Cổ phần Vĩnh Hoàn Giai đoạn 2017 2019 Phân Tích BCTC Công Ty Cổ phần Vĩnh Hoàn Giai đoạn 2017 2019 Phân Tích BCTC Công Ty Cổ phần Vĩnh Hoàn Giai đoạn 2017 2019 Mọi chi tiết liên hệ: mttvy.trisedcogmail.com SĐT: 0913500410
Trang 1Liên hệ Email: vymorin6@gmail.com hoặc để lại Tin nhắn/Zalo: 0913 500 410 để viết
luận văn, khóa luận, đề án tốt nghiệp
MỤC LỤC
Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 6
1.7 Kết cấu của đề tài 6
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 7
2.1 Khái niệm, mục đích ý nghĩa của Phân tích báo cáo tài chính 7
2.1.1 Khái niệm báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính 7
2.1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của báo cáo tài chính 7
2.1.1.2 Khái niệm phân tích báo cáo tài chính 8
2.1.2 Mục đích phân tích báo cáo tài chính 8
2.1.2.1 Phân tích tài chính đối với nhà quản lý doanh nghiệp 9
2.1.2.2 Phân tích tài chính đối với nhà đầu tư 9
2.1.2.3 Phân tích tài chính đối với các tổ chức tín dụng 10
2.1.2.4 Phân tích tài chính đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp 10 2.1.2.5 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 11
2.1.2.6 Đối với các bên có liên quan khác 11
2.2 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính 12
2.2.1 Phương pháp so sánh 12
Trang 22.2.2 Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích 13
2.2.3 Phương pháp phân tích nhân tố 14
2.2.3.1 Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố 14
2.2.3.2 Phân tích thực chất của các nhân tố 17
2.2.4 Phương pháp Dupont 17
2.3 Nội dung phân tích báo cáo tài chính 20
2.3.1 Phân tích Bảng cân đối kế toán 20
2.3.1.1 Phân tích cấu trúc tài chính 20
2.3.1.2 Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh 25
2.3.1.3 Phân tích khả năng thanh toán 30
2.3.1.4 Phân tích tình hình công nợ 33
2.3.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh 36
2.3.2.1 Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh 37
2.3.2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản 39
2.3.2.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn 40
2.3.2.4 Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí 41
2.3.3 Phân tích năng lực dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh 43
2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến phân tích Báo cáo tài chính 44
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH NỘI DUNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH 45
3.1 Tổng quan Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn 45
3.2 Phân tích nội dung Báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn 48
3.2.1 Phân tích Bảng cân đối kế toán 48
3.2.1.1 Phân tích cấu trúc tài chính 49
3.2.1.2 Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh 55
3.2.1.3 Phân tích khả năng thanh toán 56
Trang 33.2.1.4 Phân tích tình hình công nợ và tính thanh khoản của hàng tồn kho 57
3.2.2 Phân tích Báo cáo kết quả kinh doanh 66
3.2.2.1 Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh 66
3.2.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản 71
3.2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 72
3.2.2.4 Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí 73
3.2.3 Phân tích năng lực dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh 75
CHƯƠNG 4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VĨNH HOÀN 78
Trang 4Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong nền kinh tế thị trường mỗi doanh nghiệp là một tế bào kinh tế, là một đơn vị độc lập tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu về lợi nhuận Vì vậy tối đa hóa lợi nhuận là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Muốn vậy, doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh hiệu quả sử dụng vốn quản lý và sử dụng tốt nguồn tài nguyên vật chất
c ng như nhân lực của mình để có những quyết sách, chiến lược phù hợp
Phân tích hoạt động tài chính là c ng việc thường xuyên và vô cùng cần thiết không những đối với chủ sở hữu doanh nghiệp mà còn cần thiết đối với tất cả các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có quan hệ về kinh tế và pháp lý với doanh nghiệp Đánh giá được đúng thực trạng tài chính, doanh nghiệp sẽ đưa ra các quyết định kinh tế thích hợp, sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả vốn và các nguồn lực; nhà đầu tư có quyết định đúng đắn với sự lựa chọn đầu tư của mình; các chủ nợ được đảm bảo về khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với khoản cho vay; nhà cung cấp và khách hàng đảm bảo được việc doanh nghiệp sẽ thực hiện các cam kết đặt ra; các cơ quan quản lý Nhà nước có được các chính sách để tạo điều kiện thuận lợi c ng như hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đồng thời kiểm soát được hoạt động của doanh nghiệp bằng pháp luật
Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán được xem như tấm gương phản ánh toàn diện về tình hình tài chính, khả năng và sức mạnh của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Do đó việc trình bày các báo cáo tài chính một cách trung thực và khách quan sẽ là điều kiện tiên quyết để phân tích chính xác hoạt động tài chính của doanh nghiệp Nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích hoạt động tài chính và đánh giá thực trạng tài chính của một
doanh nghiệp nên t i đã chọn đề tài “Phân tích Báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn giai đoạn 2017 – 2019” làm luận văn tốt nghiệp
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 5Xuất phát từ phân tích Báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn đề tài nghiên cứu hướng tới các mục tiêu sau:
- Nghiên cứu và hệ thống những vấn đề lý luận chung và thực tiễn về hệ thống Báo cáo tài chính và Phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng theo các quy định và chế độ hiện hành của Việt Nam
- Vận dụng những lý luận chung vào việc phân tích Báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn từ đó tác giải đưa ra những đánh giá về thực trạng tài chính của Công ty
Qua đó tác giả đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao năng lực tài chính của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu tổng quát nhất: Giải pháp nào nâng cao năng lực tài chính của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn Để trả lời cho câu hỏi đó đề tài nghiên cứu tập trung làm rõ các câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:
- Lý luận chung về phân tích Báo cáo tài chính được áp dụng thế nào trong các doanh nghiệp Việt Nam?
- Thực trạng vận dụng lý luận phân tích Báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn?
- Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua sử dụng các chỉ tiêu phân tích Báo cáo tài chính?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu tập trung phân tích hệ thống Báo cáo tài chính của Công ty
Cổ phần Vĩnh Hoàn trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tác giả luận văn đã kết hợp nhiều phương pháp với nhau, bao gồm:
Trang 6- Về phương pháp thu thập số liệu, tác giả luận văn sử dụng các số liệu thứ cấp là các Báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn
- Về phương pháp phân tích số liệu được sử dụng là các phương pháp phân tích Báo cáo tài chính
1.6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu “Phân tích Báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn giai đoạn 2017 – 2019” có những đóng góp quan trọng về cả lý luận và thực
tiện
Trên khía cạnh lý luận, với việc đi sâu nghiên cứu về đề tài đặt ra, tác giả hệ
thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính
Về ý nghĩa thực tiễn, trên cơ sở những vấn đề lý luận được nghiên cứu và hệ
thống hóa, tác giả đã đi sâu phân tích tình hình tái chính của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn trên tất cả các khía cạnh, từ đó đưa ra những đánh giá về thực trạng tài chính của Công ty về cả ưu điểm và nhược điểm đồng thời đề xuất các kiến nghị có tình hình thực tế và khả thi
1.7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn gồm bốn chương với các nội dung chính như sau:
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về phân tích Báo cáo tài chính
Chương 3: Phân tích nội dung Báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn
Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn
Trang 7Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
2.1 KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
2.1.1 Khái niệm báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính
2.1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của báo cáo tài chính
a Khái niệm Báo cáo tài chính
Hệ thống các bảng biểu, thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp được gọi là Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả c ng như tình hình tài chính kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Nói cách khác, báo cáo kế toán tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những người quan tâm (chủ doanh nghiệp nhà đầu tư nhà cho vay cơ quan thuế và các cơ quan chức năng …)
b Ý nghĩa của Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý của doanh nghiệp c ng như các cơ quan chủ quản và các đối tượng quan tâm tới doanh nghiệp Điều đó được thể hiện chi tiết rõ ràng nhất ở những vấn đề sau đây:
- Báo cáo tài chính là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh tổng quan nhất về tình hình tài sản, tài chính, các khoản nợ, nguồn hình thành tài sản và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
- Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin tài chính chủ yếu để nhằm đánh giá tình hình, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ đã qua báo cáo tài chính nhằm hỗ trợ cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động nguồn vốn vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 8- Báo cáo tài chính có tầm quan trọng trong việc phân tích, nghiên cứu, phát hiện những khả năng tiềm tàng, bên cạnh đó nhằm đề ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư của chủ sở hữu các nhà đầu
tư các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp
- Báo cáo tài chính còn là những căn cứ vô cùng quan trọng để đánh giá đúng
c ng như xây dựng các kế hoạch kinh tế – kỹ thuật, tài chính của doanh nghiệp giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
2.1.1.2 Khái niệm phân tích báo cáo tài chính
Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá tài chính của doanh nghiệp, giúp cho các chủ thể quản lý có lợi ích gắn với doanh nghiệp nắm được thực trạng tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp, dự đoán được chính xác tài chính của doanh nghiệp trong tương lai c ng như những rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải; qua đó đề ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ
Các chủ thể có lợi ích gắn với doanh nghiệp và các đối tượng có liên quan đều quan tâm đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp Mỗi đối tượng quan tâm theo giác độ và với mục tiêu khác nhau Các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
- Các nhà quản lý doanh nghiệp
- Nhà đầu tư (kể cả Các cổ đ ng hiện tại và tương lai)
- Những cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp như: Ngân hàng tổ chức tài chính người mua trái phiếu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp khác
- Những người hưởng lương trong doanh nghiệp
- Cơ quan quản lý Nhà nước;
- Nhà phân tích tài chính;
2.1.2 Mục đích phân tích báo cáo tài chính
Trang 9Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết định với mục đích khác nhau Vì vậy, phân tích tài chính đối với mỗi đối tượng khác nhau sẽ đáp ứng các mục tiêu khác nhau Cụ thể:
2.1.2.1 Phân tích tài chính đối với nhà quản lý doanh nghiệp
Là người trực tiếp quản lý điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý hiểu rõ nhất tài chính doanh nghiệp do đó họ có nhiều thông tin phục vụ cho việc phân tích Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lý nhằm đáp ứng những mục tiêu sau:
- Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý doanh nghiệp trong giai đoạn đã qua việc thực hiện các nguyên tắc quản lý tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp ;
- Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc về đầu tư tài trợ, phân phối lợi nhuận phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp;
- Cung cấp thông tin cần thiết cho những dự đoán tài chính;
- Cung cấp các căn cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp
Phân tích tài chính làm rõ điều quan trọng của dự đoán tài chính mà dự đoán
là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ, không chỉ chính sách tài chính mà còn làm rõ các chính sách chung trong doanh nghiệp
2.1.2.2 Phân tích tài chính đối với nhà đầu tư
Các nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý
sử dụng được hưởng lợi và c ng chịu rủi ro Đó là những cổ đ ng các cá nhân các đơn vị, doanh nghiệp khác Các đối tượng này quan tâm trực tiếp đến những tính toán về giá trị của doanh nghiệp Thu nhập của các nhà đầu tư là cổ tức được chia
và thặng dư giá trị của vốn Hai yếu tố này phần lớn chịu ảnh hưởng của lợi nhuận thu được của doanh nghiệp Trong thực tế các nhà đầu tư thường quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp Câu hỏi chủ yếu phải làm rõ là: Sức sinh lời bình quân vốn kinh doanh, sức sinh lời vốn cổ phần của doanh nghiệp là bao nhiêu?
Trang 10Giá của cổ phiếu trên thị trường so với mệnh giá, so với giá trị ghi sổ như thế nào? Các dự án đầu tư dài hạn của doanh nghiệp dựa trên cơ sở nào? Tính trung thực, khách quan của các báo cáo tài chính đã công khai Nếu họ không có kiến thức chuyên sâu để đánh giá hoạt động tài chính của doanh nghiệp thì nhà đầu tư phải dựa vào những nhà phân tích tài chính chuyên nghiệp cung cấp thông tin cần thiết cho các quyết định của họ
Như vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp đối với nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp và ước đoán giá trị cổ phiếu, khả năng sinh lời, phân tích rủi ro trong kinh doanh dựa vào việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, nghiên cứu các thông tin kinh tế, tài chính, những cuộc tiếp xúc trực tiếp với ban quản lý doanh nghiệp, đặt hàng các nhà phân tích tài chính doanh nghiệp để làm rõ triển vọng phát triển của doanh nghiệp và đánh giá các cổ phiếu trên thị trường tài chính nhằm ra quyết định đầu tư có hiệu quả nhất
2.1.2.3 Phân tích tài chính đối với các tổ chức tín dụng
Các tổ chức tín dụng là những nguời cho doanh nghiệp vay vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh Khi cho vay, họ phải biết chắc được khả năng hoàn trả tiền vay Thu nhập của họ là lãi suất tiền cho vay Do đó phân tích hoạt động tài chính đối với người cho vay là xác định khả năng hoàn trả
nợ của khách hàng Tuy nhiên phân tích đối với những khoản cho vay dài hạn và những khoản cho vay ngắn hạn có những nét khác nhau
Đối với những khoản cho vay ngắn hạn, các tổ chức tín dụng ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp Nói khác đi là khả năng ứng phó của doanh nghiệp khi nợ vay đến hạn trả Đối với các khoản cho vay dài hạn, các tổ chức tín dụng dài hạn phải thẩm định tài chính các dự án đầu tư quản lý được quá trình giải ngân sử dụng vốn cho từng dự án đầu tư để đảm bảo khả năng hoàn trả nợ thông qua thu nhập và khả năng sinh lời của doanh nghiệp c ng như kiểm soát dòng tiền của các dự án đầu tư của doanh nghiệp
2.1.2.4 Phân tích tài chính đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp
Trang 11Người hưởng lương trong doanh nghiệp là người lao động của doanh nghiệp,
có nguồn thu nhập chính từ tiền lương được trả Bên cạnh thu nhập từ tiền lương một số lao động còn có một phần vốn góp nhất định trong doanh nghiệp Vì vậy, ngoài phần thu nhập từ tiền lương được trả họ còn có tiền lời được chia Cả hai khoản thu nhập này phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp c ng như chính sách đãi ngộ cơ hội thăng tiến trong sử dụng lao động của doanh nghiệp Do vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp giúp họ định hướng việc làm ổn định và yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp theo công việc được phân công
2.1.2.5 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Đây là các cơ quan đại diện cho quyền lực và lợi ích của Nhân dân như: Bộ Tài chính (Cục Tài chính doanh nghiệp cơ quan Thuế cơ quan tài chính các cấp cơ quan Hải quan), Quản lý thị trường thực hiện nhiệm vụ quản lý, giám sát nền kinh tế, doanh nghiệp là đối tượng quản lý, mọi diễn biến, hoạt động của doanh nghiệp đều được phản ánh qua các dòng di chuyển của các nguồn lực tài chính từ bên ngoài vào doanh nghiệp và từ doanh nghiệp ra thị trường nên phân tích tài chính doanh nghiệp cần cung cấp thông tin về tình hình quản lý, sử dụng và bảo toàn vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp, giám sát việc thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước, kiểm tra việc chấp hành luật pháp của doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản lý của các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao một cách hiệu quả hơn
2.1.2.6 Đối với các bên có liên quan khác
Thuộc nhóm này có các nhà cung cấp khách hàng các đối thủ cạnh tranh, các cơ quan truyền th ng đại chúng … c ng rất quan tâm đến tài chính của doanh nghiệp với những mục tiêu cụ thể
Tóm lại, Phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng chủ thể quản lý có cơ sở cần thiết để lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm
Trang 122.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Để tiến hành phân tích tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích thường kết hợp sử dụng các phương pháp mang tính nghiệp vụ - kỹ thuật khác nhau như phương pháp so sánh phương pháp loại trừ phương pháp dự báo phương pháp Dupont Mỗi một phương pháp có những tác dụng khác nhau và được sử dụng trong từng nội dung phân tích khác nhau Cụ thể:
2.2.1 Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích kinh
tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng Mục đích của so sánh là làm rõ sự khác biệt hay những đặc trưng riêng có và tìm ra xu hướng, quy luật biến động của đối tượng nghiên cứu; từ đó giúp cho các chủ thể quan tâm có căn cứ để đề ra quyết định lựa chọn Khi sử dụng phương pháp so sánh các nhà phân tích cần chú ý một
số vấn đề sau đây:
Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu: Chỉ tiêu nghiên cứu muốn so sánh
được phải đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường
Gốc so sánh:
Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về không gian hay thời gian, tuỳ thuộc vào mục đích phân tích Về không gian, có thể so sánh đơn vị này với đơn vị khác, bộ phận này với bộ phận khác, khu vực này với khu vực khác Việc so sánh
về kh ng gian thường được sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu vực Cần lưu ý rằng, khi so sánh về mặt kh ng gian điểm gốc và điểm phân tích có thể đổi chỗ cho nhau mà không ảnh hưởng đến kết luận phân tích Về thời gian, gốc so sánh được lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước năm trước) hay kế hoạch, dự toán
Cụ thể:
- Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ
Trang 13trước (năm trước) Lúc này sẽ so sánh trị số chỉ tiêu giữa kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu ở các kỳ gốc khác nhau;
- Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích Khi đó tiến hành so sánh giữa trị số thực tế với trị số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu
- Khi đánh giá vị thế của doanh nghiệp trong ngành đánh giá năng lực cạnh tranh thường so sánh chỉ tiêu thực hiện của doanh nghiệp với bình quân chung của ngành hoặc so với chỉ tiêu thực hiện của đối thủ cạnh tranh
Các dạng so sánh:
Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối
- So sánh bằng số tuyệt đối: phản ánh qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi
so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm) phân tích với kỳ (điểm) gốc
- So sánh bằng số tương đối: Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số
tương đối, các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, xu hướng biến động, quy luật biến động của các chỉ tiêu kinh tế
2.2.2 Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích
Phương pháp này được sử dụng để phân chia quá trình và kết quả chung thành những bộ phận cụ thể theo các tiêu chí nhất định để thấy rõ hơn quá trình hình thành và cấu thành của kết quả đó theo những khía cạnh khác nhau phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng chủ thể quản lý trong từng thời kỳ Trong phân tích, người ta thường chi tiết quá trình phát sinh và kết quả đạt được của hoạt động tài chính doanh nghiệp thông qua những chỉ tiêu kinh tế theo những tiêu thức sau:
- Chi tiết theo yếu tố cấu thành của chỉ tiêu nghiên cứu: chi tiết chỉ tiêu nghiên cứu thành các bộ phận cấu thành nên bản thân chỉ tiêu đó;
- Chi tiết theo thời gian phát sinh quá trình và kết quả kinh tế: chia nhỏ qúa trình và kết quả theo trình tự thời gian phát sinh và phát triển;
Trang 14- Chi tiết theo không gian phát sinh của hiện tượng và kết quả kinh tế: chia nhỏ qúa trình và kết quả theo địa điểm phát sinh và phát triển của chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp phân tích nhân tố
Phân tích nhân tố là phương pháp được sử dụng để nghiên cứu, xem xét các chỉ tiêu kinh tế tài chính trong mối quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng thông qua việc xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và phân tích thực chất ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
2.2.3.1 Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
Là phương pháp được sử dụng để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng
cụ thể của từng nhân tố đến sự biến động của từng chỉ tiêu nghiên cứu Có nhiều phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố, sử dụng phương pháp nào tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các nhân tố ảnh hưởng Các phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của từng chỉ tiêu còn gọi là phương pháp loại trừ bởi vì để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác Đặc điểm của phương pháp này là lu n đặt đối tượng phân tích vào các giả định khác nhau Tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các nhân tố ảnh hưởng mà sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn phương pháp số chênh lệch hay phương pháp cân đối
a Phương pháp thay thế liên hoàn
Là phương pháp xác định ảnh hưởng của từng nhân tố bằng cách thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi Sau đó so sánh trị số của chỉ tiêu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu chưa có biến đổi của nhân tố cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó Đặc điểm và điều kiện áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn như sau:
- Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu;
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu;
Trang 15- Mối quan hệ giữa chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu với các nhân tố ảnh hưởng thể hiện dưới dạng tích số hoặc thương số;
- Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng và xác định ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo thứ tự nhân tố số lượng được xác định trước rồi mới đến nhân tố chất lượng; trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hoặc nhiều nhân tố chất lượng thì xác định nhân tố nguyên nhân trước, nhân tố kết quả sau;
- Thay thế giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu một cách lần lượt Cần lưu ý là có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần và nhân tố nào đã thay thế thì được giữ nguyên giá trị đã thay thế (kỳ phân tích) cho đến lần thay thế cuối cùng, nhân tố nào chưa thay thế vẫn giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc;
- Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố và so với số biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc để kiểm tra quá trình tính toán
Phương pháp thay thế liên hoàn có thể được khái quát như sau:
Chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu là Q và Q chịu ảnh hưởng của các nhân tố a, b, c, d Các nhân tố này có quan hệ với Q và được sắp xếp theo thứ tự từ nhân tố số lượng sang nhân tố chất lượng, chẳng hạn Q = abcd Nếu dùng chỉ số 0
để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ gốc và chỉ số 1 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ phân tích thì Q1 = a1b1c1d1 và Q0 = a0b0c0d0 Gọi ảnh hưởng của các nhân tố a, b, c,
d đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu Q (ký hiệu là ∆Q) lần lượt là ∆a ∆b ∆c ∆d, với giả định các nhân tố biến đổi lần lượt từ a đến d, ta có:
∆Q = Q1 – Q0 = ∆a + ∆b + ∆c + ∆d
Trong đó:
∆a = a1b0c0d0 – a0b0c0d0
∆b = a1b1c0d0 – a1b0c0d0
Trang 16∆c = a1b1c1d0 – a1b1c0d0
∆d = a1b1c1d1 – a1b1c1d0
b Phương pháp số chênh lệch
Là phương pháp c ng được dùng để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến
sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu Điều kiện, nội dung và trình tự vận dụng của phương pháp số chênh lệch c ng giống như phương pháp thay thế liên hoàn, chỉ khác nhau ở chỗ để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh lệch về giá trị kỳ phân tích so với kỳ gốc của nhân tố đó (thực chất là thay thế liên hoàn rút gọn áp dụng trong trường hợp chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu có quan hệ tích số với các nhân tố ảnh hưởng) Dạng tổng quát của số chênh lệch như sau:
c Phương pháp liên hệ cân đối
Phương pháp cân đối là phương pháp được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu nếu chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu có quan hệ với nhân tố ảnh hưởng dưới dạng tổng hoặc hiệu Xác định mức độ ảnh hưởng nhân tố nào đó đến chỉ tiêu phân tích, bằng phương pháp cân đối người ta xác định chênh lệch giữa thực tế với kỳ gốc của nhân
tố ấy Tuy nhiên cần để ý đến quan hệ thuận, nghịch giữa nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu (thực chất là hình thức rút gọn của phương pháp thay thế liên hoàn khi các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích có quan hệ dạng tổng, hiệu)
Phương pháp cân đối có thể khái quát như sau:
Trang 17Chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu là M chịu ảnh hưởng của nhân tố a,b,c thể hiện qua công thức: M = a + b – c
Nếu dùng chỉ số 0 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ gốc và chỉ số 1 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ phân tích thì M1 = a1+b1-c1 và M0 = a0+b0-c0 Gọi ảnh hưởng của các nhân tố a b c đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu M (ký hiệu là ∆M) lần lượt là ∆a ∆b ∆ c ta có:
∆ M = M1 – M0 = ∆a + ∆b + ∆c Trong đó:
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố a: ∆a = a1 – a0
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố b: ∆b = b1 – b0
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố c: ∆c = - (c1 – c0)
2.2.3.2 Phân tích thực chất của các nhân tố
Sau khi xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố để có đánh giá và
dự đoán hợp lý trên cơ sở đó đưa ra các quyết định và cách thức thực hiện các quyết định cần tiến hành phân tích tính chất ảnh hưởng của các nhân tố Việc phân tích được thực hiện thông qua chỉ rõ và giải quyết các vấn đề như: chỉ rõ mức độ ảnh hưởng xác định tính chất chủ quan, khách quan của từng nhân tố ảnh hưởng, quan điểm cơ sở đưa ra ý kiến đánh giá và dự đoán cụ thể của nhà phân tích về vấn
đề phân tích đồng thời xác định ý nghĩa của nhân tố tác động đến chỉ tiêu đang nghiên cứu, xem xét nhằm cung cấp cơ sở cho các quyết định điều chỉnh hoạt động tài chính doanh nghiệp của chủ thể quản lý
2.2.4 Phương pháp Dupont
Phương pháp phân tích tài chính Dupont được phát minh bởi F.Donaldson Brown, một kỹ sư điện người Mỹ là nhà quản lý tài chính của công ty hóa học khổng lồ Dupont Khi Dupont mua lại 23% cổ phiếu của tập đoàn General Motors (GM) vào những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ trước, giao cho Brown tái cấu trúc lại tình hình tài chính của nhà sản xuất xe hơi này ng đưa ra hệ thống hoạch định và kiểm soát tài chính trong đó phương pháp dupont được áp dung để nghiên
Trang 18cứu các chỉ số tài chính cơ bản của GM.Theo Alfred Sloan, nguyên chủ tịch của
GM, phần lớn thành công của GM về sau này có sự đóng góp kh ng nhỏ từ hệ thống hoạch định và kiểm soát tài chính của Brown, kể từ đó đã đưa phương pháp Dupont trở nên phổ biến trong các tập đoàn lớn tại Mỹ đến nay phương pháp dupont được sử dụng cực kỳ rộng rãi trong việc phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp
Nội dung của phương pháp phân tích Dupont:
Phương pháp dupont dựa trên cơ sở kiểm soát các chỉ tiêu phân tích tài chính phức tạp Mỗi chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ tài chính dưới dạng các tỷ số, khi tỷ số tài chính tăng hay giảm tùy thuộc vào mẫu số và tử số của tỷ số đó Mặt khác, mỗi
tỷ số tài chính còn ảnh hưởng bởi các quan hệ tài chính của doanh nghiệp với các bên có liên quan và quan hệ nội tại của các hoạt động tài chính mà nó phản ánh Chính vì vậy, việc thiết lập quan hệ của mỗi tỷ số tài chính với những nhân tố ảnh hưởng đến nó theo một trình tự logic, chặt chẽ và nhìn rõ ràng hơn các hoạt động tài chính của doanh nghiệp để có cách thức tác động vào từng nhân tố một cách hợp lý
và hiệu quả nhất
Các bước thực hiện:
1 Thu thập số liệu từ Báo cáo tài chính
2 Tính toán (sử dụng bảng tính)
3 Giải thích sự thay đổi của ROA ROE …
4 Nếu kết luận xem xét không chân thực, kiểm tra số liệu và tính toán lại
Ưu điểm của phương pháp Dupont:
Tính đơn giản Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp cho chủ thể quản lý kiến thức căn bản về giải pháp tác động tích cực đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp;
Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách tài chính của doanh nghiệp;
Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thấy rõ hơn thực trạng tài chính của doanh nghiệp, cân nhắc việc tìm cách th n tính c ng ty khác hay đầu tư
Trang 19mở rộng quy mô hoạt động của doanh nghiệp… nhằm tăng thêm doanh thu và hưởng lợi thế nhờ quy m bù đắp khả năng sinh lợi yếu kém hay nên thực hiện những bước cải tổ cơ bản trong hệ thống quản lý, quy trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm chuyên nghiệp công tác lập và thực thi các chính sách tài chính, chiến lược sản xuất và tiêu thụ sản phẩm…
Hạn chế của phương pháp Dupont:
Phụ thuộc vào mức độ tin cậy của số liệu đầu vào trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp nên ảnh hưởng bởi các phương pháp và giả định cuả kế toán doanh nghiệp
Hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE
Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng nguồn vốn hình thành nên tài sản nên tách tỷ số trên thành 2 nhân tố ảnh hưởng:
ROE = ROA Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu Ta thấy ROE phụ thuộc vào hệ số sinh lời ròng của tài sản (ROA) và hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu
Mà hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh lại phụ thuộc vào 2 nhân tố:
Trang 20
- Tác động tới cơ cấu phân bổ vốn th ng qua điều chỉnh tỷ lệ vốn đầu tư ngắn hạn và vốn đầu tư dài hạn phù hợp với đặc điểm ngành nghề kinh doanh, chu
kỳ phát triển của doanh nghiệp;
- Tăng hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn, thông qua việc phát triển thị trường để doanh thu thuần và quản trị vốn lưu động hợp lý, hiệu quả;
- Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giảm tỷ suất chi phí trong doanh thu để tăng khả năng sinh lời hoạt động của doanh nghiệp
Tóm lại, Phân tích tình hình tài chính dựa vào mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn đối với quản trị tài chính doanh nghiệp, đánh giá được hiệu quả kinh doanh một cách sâu sắc và toàn diện, đánh giá đầy đủ và khách quan những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó, đề ra được hệ thống các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường công tác cải tiến tổ chức quản lý và điều hành hoạt động tài chính doanh nghiệp, góp phần không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ở các kỳ tiếp theo
2.3 NỘI DUNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
2.3.1 Phân tích Bảng cân đối kế toán
2.3.1.1 Phân tích cấu trúc tài chính
a Phân tích cơ cấu tài sản
Phân tích cơ cấu tài sản cần xem xét sự biến động của tổng tài sản c ng như từng loại tài sản thông qua việc so sánh giữa cuối kỳ với đầu năm cả về số tuyệt
Trang 21đối lẫn số tương đối của tổng số tài sản c ng như chi tiết đối với từng loại tài sản, giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng tfai sản qua các thời kỳ,
sự thay đổi này bắt đầu từ những dấu hiệu ticshc ực hay tiêu cực trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không Bên cạnh
đó việc phân tích này còn cung cấp cho nhà phân tích thấy được sự biến động về quy m kinh doanh năng lực kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích cơ cấu tài sản doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra và
so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích và kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản và được xác định theo công thức sau:
Để nắm được chính xác tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp, nắm được các nhân tố có ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến sự biến động về cơ cấu tài sản của doanh nghiệp thì nhà phân tích còn phải kết hợp với việc phân tích ngang tức là
so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc trên cả phương diện về số tuyệt đối và số tương đối
Tuỳ theo từng loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh để xem xét tỷ trọng từng loại tài sản là cao hay thấp Nếu là doanh nghiệp sản xuất thì cần phải có lượng
dự trữ nguyên vật liệu đầy đủ nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất sản phẩm Nếu là doanh nghiệp thương mại thì cần phải có lượng hàng hoá dự trữ đầy đủ để cung cấp cho nhu cầu bán ra
Đối với các khoản nợ phải thu, tỷ trọng càng cao thể hiện doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn càng nhiều Do đó hiệu quả sử dụng vốn thấp Ngoài ra khi nghiên cứu đánh giá phải xem xét tỷ suất đầu tư trang bị TSCĐ đầu tư ngắn hạn và dài hạn
Nếu tổng số tài sản của doanh nghiệp tăng lên thể hiện quy mô vốn của doanh nghiệp tăng lên và ngược lại Cụ thể:
Trang 22Về TSCĐ của doanh nghiệp: nếu tăng lên thể hiện cơ sở vật chất kỹ thuật
của doanh nghiệp được tăng cường, quy mô vốn về năng lực sản xuất được mở rộng
và xu hướng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có chiều hướng tốt
Nó cho biết năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp Trị
số của chỉ tiêu này tuỳ thuộc vào từng ngành kinh tế cụ thể
Chi phí xây dựng cơ bản: nếu tăng lên thể hiện doanh nghiệp đầu tư thêm
công trình XDCB dở dang, nếu giảm thể hiện một số c ng trình XDCB đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng làm tăng giá trị TSCĐ
Vốn bằng tiền của doanh nghiệp: nếu tăng lên sẽ làm cho khả năng thanh
toán của doanh nghiệp thuận lợi và ngược lại Tuy nhiên, vốn bằng tiền ở một mức
độ hợp lý là tốt, vì nếu quá cao sẽ làm cho hiệu quả sử dụng vốn kh ng cao nhưng quá thấp lại ảnh hưởng đến nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: nếu tăng lên thể hiện doanh nghiệp
ngoài đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh còn đầu tư cho lĩnh vực tài chính khác và ngược lại
Các khoản phải thu: nếu tăng thì doanh nghiệp cần tăng cường công tác thu
hồi vốn, tránh tình trạng bị ứ đọng và sử dụng vốn không có hiệu quả Nếu các khoản phải thu giảm thì chứng tỏ doanh nghiệp đã tích cực thu hồi các khoản nợ phải thu, giảm bớt được hiện tượng bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán làm cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn
Hàng tồn kho: nếu giảm chứng tỏ sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp có
chất lượng cao đủ sức cạnh tranh trên thị trường Nếu tăng doanh nghiệp phải xem xét lại sản phẩm hàng hoá của mình có phù hợp với nhu cầu của thị trường không Mặt khác để đánh số dư hàng tồn kho tốt hay chưa tốt, cần phải so sánh với số dự trữ theo kế hoạch Số dư hàng tồn kho tăng hay giảm so với dự trữ cần thiết là đều không tốt, bởi vì nếu tăng sẽ gây ứ đọng vốn, nếu giảm sẽ dẫn đến thiếu nguyên vật liệu cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gây ảnh hưởng đến tính liên tục của hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 23Bên cạnh việc phân tích được cơ cấu tài sản, chúng ta cần phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm biết được khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp
c ng như mức độ độc lập, tự chủ trong kinh doanh hay những khó khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu
b Phân tích cơ cấu nguồn vốn
Cấu trúc vốn thể hiện chính sách tài trợ doanh nghiệp liên quan đến nhiều khía cạnh khác trong công tác quản trị tài chính.Phân tích cơ cấu nguồn được thực hiện nhằm đánh giá tình hình huy động vốn của doanh nghiệp Do vậy, khi phân tích nguồn vốn cần xác định mức độ độc lập (hoặc phụ thuộc) về mặt tài chính của doanh nghiệp qua việc so sánh từng loại nguồn vốn giữa cuối kỳ với đầu năm cả về
số tuyệt đối lẫn tương đối xác định và so sánh giữa cuối kỳ với đầu năm về tỷ trọng từng loại nguồn vốn trong tổng nguồn vốn Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp có khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ là cao và ngược lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn thì khả năng đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp
Khi phân tích cơ cấu vốn, các nhà phân tích sẽ tính ra và so sánh tình hình biến động nguồn vốn giữa kỳ phân tích và kỳ gốc
Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn được xác định như sau:
Để xác định được chính xác tình hình huy động vốn, nắm bắt được các nhân
tố ảnh hưởng, các nhà phân tích sẽ kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh
sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về cả số tuyệt đối và số tương đối trên tổng số nguồn vốn
Qua việc phân tích cơ cấu nguồn vốn sẽ cho các nhà phân tích nắm được trị
số và sự biến động của các chỉ tiêu như: Hệ số tài trợ, hệ số nợ so với vốn chủ sở
Trang 24hữu, Hệ số nợ so với tổng nguồn vốn và các chỉ tiêu này đều cho thấy được mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp
c Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp không chỉ phản ánh nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của doah nghiệp mà còn phải ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Vì vậy, cần thiết phải phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản để thấy được chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp
Để phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, các nhà phân tích sử dụng các chỉ tiêu sau:
Hệ số nợ trên tổng tài sản: hệ số nợ là một hệ số quan trọng để quyết định
đầu tư vào doanh nghiệp đó hay kh ng; hệ số này cho biết mức độ an toàn tài chính cao hay thấp, có trang trải được nợ khi doanh nghiệp phá sản hay không?
Hệ số nợ cho biết phần trăm tổng tài sản của c ng ty được tài trợ bằng các khoản nợ là bao nhiêu Hệ số nợ thấp có thể cho thấy việc sử dụng nợ không hiệu quả, còn hệ số nợ cao thể hiện gánh nặng về nợ lớn, có thể dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán
Để đánh giá tỷ số nợ của doanh nghiệp, phải căn cứ nhiều yếu tố như ngành nghề, quy mô doanh nghiệp, mục đích vay vốn … th ng thường, hệ số nợ ở mức 60% (60/40) là chấp nhận được, khá an toàn
Khi ta biến đổi ta có công thức:
Như vậy có nghĩa là nếu doanh nghiệp muốn giảm hệ số nợ thì phải tăng hệ
số tài trợ
Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu:
Trang 25
Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn (lớn hơn 1) chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu càng ít làm cho khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng kém và ngược lại
2.3.1.2 Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh
Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh chính là việc xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp Mối quan hệ này phản ánh cân bằng tài chính của doanh nghiệp Vì thế, phân tích tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính là phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp
Cân bằng tài chính của doanh nghiệp thường được xem xét dưới góc độ luân chuyển vốn và góc đội ổn định nguồn tài trợ
a Phân tích cân bằng tài chính dưới gốc độ luân chuyển vốn
Xét theo quan điểm luân chuyển vốn, tài sản ban đầu (gồm tài sản ngắn hạn ban đầu và tài sản dài hạn ban đầu) của doanh nghiệp được hình thành trước hết bằng nguồn vốn chủ sở hữu; nghĩa là doanh nghiệp sử dụng số vốn chủ sở hữu của mình để tài trợ tài sản ban đầu phục vụ cho hoạt động kinh doanh Số tài sản ban đầu được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu này không bao gồm số tài sản trong thanh toán (khoản bị chiếm dụng) Mối quan hệ này thể hiện qua đẳng thức:
Vốn chủ sở hữu = TSNH ban đầu + TSDH ban đầu
Cân đối này chỉ mang tính lý thuyết nghĩa là với nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp đủ trang trải các loại tài sản ban đầu phục vụ cho các hoạt động chủ yếu mà không phải đi vay hoặc chiếm dụng Trong thực tế thường xảy ra các trường hợp sau:
- Vế trái > Vế phải: Với số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp lớn hơn số tài sản ban đầu Do vậy, số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp dư thừa, không sử dụng hết nên sẽ bị chiếm dụng
Trang 26- Vế trái < Vế phải: Với số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhỏ hơn tài sản ban đầu Do vậy để có số tài sản ban đầu phục vụ cho các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải đi vay hoặc chiếm dụng vốn từ bên ngoài
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, khi vốn chủ sở hữu kh ng đáp ứng đủ nhu cầu về vốn kinh doanh, doanh nghiệp được phép đi vay để bổ sung vốn kinh doanh Do vậy ta có quan hệ cân đối sau:
VCSH + Vốn vay hợp pháp = TSNH ban đầu + TSDH ban đầu
Trên thực tế hầu như cân đối không xảy ra mà thường xảy ra các trường hợp sau:
- Vế trái > Vế phải: Với số vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp hiện có của doanh nghiệp lớn hơn số tài sản ban đầu, tức là không sử dụng hết số vốn hiện có
Do vậy, số vốn dư thừa của doanh nghiệp sẽ bị chiếm dụng
- Vế trái < Vế phải: Lượng tài sản ban đầu phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lớn hơn số vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp Do vậy để có
đủ tài sản phục vụ cho nhu cầu kinh doanh, doanh nghiệp buộc phải đi chiếm dụng vốn trong thanh toán (chiến dụng hợp pháp và bất hợp pháp)
Mặt khác, do tính chất cân bằng của Bảng Cân đối kế toán, tổng số tài sản
luôn luôn bằng tổng số nguồn vốn nên từ cân đối “VCSH + Vốn vay hợp pháp =
TSNH ban đầu + TSDH ban đầu” chúng ta có cân đối sau đây:
VCSH + Vốn vay hợp pháp + Nguồn vốn thanh toán = TSNH ban đầu + TSDH
ban đầu + Tài sản thanh toán
Trong đó Nguồn vốn thanh toán là toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng của các đối tác trong thanh toán (kể cả chiếm dụng bất hợp pháp); Tài sản thanh toán về thực chất là số tài sản của doanh nghiệp nhưng bị các đối tác chiếm dụng, doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi
Cân đối “VCSH + Vốn vay hợp pháp + Nguồn vốn thanh toán = TSNH
ban đầu + TSDH ban đầu + Tài sản thanh toán” có thể biến đổi về cân đối như
sau:
Trang 27Vốn CSH + Vốn vay hợp pháp – Tài sản ban đầu (TSNH ban đầu và TSDH
ban đầu) = Tài sản thanh toán – Nguồn vốn thanh toán
Cân đối “Vốn CSH + Vốn vay hợp pháp – Tài sản ban đầu (TSNH ban
đầu và TSDH ban đầu) = Tài sản thanh toán – Nguồn vốn thanh toán” cho
thấy: số vốn mà doanh nghiệp bị chiếm dụng (phần chênh lệch giữa vốn chủ sở hữu
và vốn vay hợp pháp lớn hơn số tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn tương ứng) đúng bằng số chênh lệch giữa số tài sản phát sinh trong quá trình thanh toán (nợ phải thu ngắn hạn và dài hạn) với nguồn vốn chiếm dụng trong thanh toán (nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn) và ngược lại; số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng (phần chênh lệch giữa số tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn lớn hơn số vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp) đúng bằng số chênh lệch giữa nguồn vốn chiến dụng trong thanh toán (công nợ phải trả) với số tài sản phát sinh trong quá trình thanh toán (nợ phải
thu ngắn hạn và dài hạn) Cân đối “Vốn CSH + Vốn vay hợp pháp – Tài sản ban
đầu (TSNH ban đầu và TSDH ban đầu) = Tài sản thanh toán – Nguồn vốn thanh toán” trên đây thể hiện cân bằng tài chính hay cân đối giữa tài sản và nguồn
tài trợ tài sản của doanh nghiệp
b Phân tích cân bằng tài chính dưới gốc độ ổn định nguồn tài trợ
Xét theo góc độ ổn định về nguồn tài trợ tài sản, toàn bộ nguồn tài trợ tài sản (nguồn vốn) của doanh nghiệp được chia thành nguồn tài trợ thường xuyên và nguồn tài trợ tạm thời
- Nguồn tài trợ thường xuyên: là nguồn vốn mà doanh nghiệp được sử dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh Nguồn tài trợ thường xuyên bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay - nợ dài hạn, trung hạn (trừ vay, nợ quá hạn)
- Nguồn tài trợ tạm thời: là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt động kinh doanh trong khoảng thời gian ngắn Nguồn tài trợ tạm thời bao gồm các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn, các khoản vay - nợ quá hạn kể cả các khoản chiếm dụng bất hợp pháp của người bán người mua, của người lao động
Dưới gốc độ này, cân bằng tài chính được thể hiện qua đẳng thức:
Trang 28TSNH + TSDH = Nguồn tài trợ thường xuyên + Nguồn tài trợ tạm thời
Các nguồn vốn bảo đảm cho hoạt động sản xuất - kinh doanh (nguồn tài trợ tài sản) của doanh nghiệp được thể hiện khái quát qua bảng sau:
Bảng Các nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp
Tổng
số nguồ
Nguồn tài trợ tạm thời
Biến đổi cân bằng tài chính “TSNH + TSDH = Nguồn tài trợ thường
xuyên + Nguồn tài trợ tạm thời” ở trên ta được:
TSNH – Nguồn tài trợ tạm thời = Nguồn tài trợ thường xuyên – TSDH
Khi phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn người phân tích c ng cần chú trọng đến vốn hoạt động thuần (còn gọi là vốn ngắn hạn thường xuyên) là số vốn mà doanh nghiệp không cần phải vay mượn hay đi chiếm dụng, được sử dụng để duy trì những hoạt động bình thường, diễn ra thường xuyên tại doanh nghiệp Vốn hoạt động thuần có thể tính theo một trong hai cách sau:
Vốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Hoặc:
Vốn hoạt động thuần = Nguồn tài trợ thường xuyên – Tài sản dài hạn
Nếu vốn hoạt động thuần lớn hơn 0 thì đây là dấu hiệu tài chính bình thường hay khả quan, thể hiện sự cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nguồn vốn ngắn hạn
Trang 29hoặc cân đối giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản dài hạn Cân bằng tài chính trong trường hợp này gọi là cân bằng tốt
Ngược lại nhỏ hơn 0 sẽ thể hiện một sự mất cân đối giữa tài sản ngắn hạn và
nợ ngắn hạn và mất cân đối giữa nguồn tài trợ thường xuyên với tài sản dài hạn Điều này chỉ ra rằng doanh nghiệp dùng nguồn tài trợ tạm thời cho cả tài sản dài hạn và nếu tình trạng này kéo dài thì có thể dẫn đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp có thể mất dần và đi đến bờ vực phá sản Và tất nhiên, cân bằng tài chính trong trường hợp này là cân bằng xấu
Ngoài ra khi phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh để có nhận xét các đáng và chính xác về tình hình đảm bảo vốn, các nhà phân tích còn tính ra và so sánh các chỉ tiêu sau:
- Hệ số tài trợ thường xuyên: Hệ số này cho biết, so với tổng nguồn vốn của
doanh nghiệp, nguồn tài trợ thường xuyên chiếm mấy phần Trị số này càng lớn chứng tỏ tính ổn định về tài chính càng cao và ngược lại
- Hệ số tài trợ tạm thời:
Nguồn tài trợ tạm thời là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động kinh doanh trong một thời gian ngắn Nguồn vốn này bao gồm : vay nợ ngắn hạn, vay nợ quá hạn và các khoản chiếm dụng bất hợp pháp của người bán người mua, người lao động (mua hàng mà không có thanh toán, bán hàng mà không giao hàng, thuê công nhân mà không trả lương )
Tương tự như hệ số tài trợ thường xuyên, hệ số tài trợ tạm thời cho biết, so với tổng nguồn tài trợ, nguồn tài trợ tạm thời chiếm mấy phần Trị số của chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tính ổn định về mặt tài chính của doanh nghiệp càng thấp và ngược lại
-Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thường xuyên:
Thông qua chỉ tiêu này, nhà phân tích thấy được trong tổng số nguồn tài trợ thường xuyên, số vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn thì tính tự chủ và độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
- Hệ số tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn:
Trang 30Với chỉ tiêu này người phân tích biết mức độ tài trợ tài sản ngắn hạn bằng nợ ngắn hạn là cao hay thấp Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1 thì tính ổn định, bền vững về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
2.3.1.3 Phân tích khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là cơ sở đánh giá tình hình thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và triển vọng trong tương lai Để phân tích đầu tiên cần tính ra và so sánh số đầu kỳ, số cuối kỳ các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán như:
- Hệ số thanh toán tổng hợp;
- Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn
- Hệ số thanh toán của tài sản ngắn hạn
- Hệ số thanh toán nhanh
Trong đó quan trọng là hai chỉ tiêu hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh toán tổng hợp Sau đó dựa vào các tài liệu hạch toán liên quan, tiến hành thu thập số liệu liên quan đến các khoản có thể dùng để thanh toán với các khoản phải thanh toán của doanh nghiệp và sắp sếp các chỉ tiêu này vào bảng phân tích theo trình tự nhất định Tiêu chí sắp xếp của các chỉ tiêu nhu cầu thanh toán là mức độ khẩn trương của việc thanh toán, còn với chỉ tiêu khả năng thanh toán là khả năng huy động Doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán trong từng giai đoạn nếu các khoản có thể dùng để thanh toán lớn hơn các khoản phải thanh toán còn nếu ngược lại các nhà quản lý phải tìm kế sách huy động nguồn tài chính đảm bảo cho việc thanh toán nếu không muốn bị rơi vào tình trạng phá sản
a Hệ số khả năng thanh toán tổng hợp
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát phản ánh khả năng quan hệ giữa tài sản
mà doanh nghiệp hiện đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả Nó cho biết cứ trong một đồng nợ phải trả có bao nhiêu đồng tài sản đảm bảo Hệ số thanh toán tổng quát được khái quát hóa bằng công thức:
Trang 31
- Nếu hệ số khả năng thanh toán tổng hợp > 1: Chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tốt
- Nếu hệ số khả năng thanh toán tổng hợp < 1 quá nhiều thì chưa tốt vì điều
đó chứng tỏ doanh nghiệp chưa tận dụng được cơ hội chiếm dụng vốn
- Nếu hệ số khả năng thanh toán tổng hợp < 1 và tiến đến 0 báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp giảm và mất dần, tổng tài sản hiện có của doanh nghiệp kh ng đủ trả nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán
b Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh cho biết c ng ty có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền (trừ hàng tồn kho) để thanh toán ngay cho một đồng nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán nhanh được thể hiện bằng công thức:
- Nếu hệ số khả năng thanh toán nhanh = 1 được coi là hợp lý nhất vì như vậy doanh nghiệp vừa duy trì được khả năng thanh toán nhanh vừa không bị mất cơ hội do khả năng thanh toán nợ mang lại
- Nếu hệ số khả năng thanh toán nhanh < 1 cho thấy doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ
- Nếu hệ số khả năng thanh toán nhanh > 1 phản ánh tình hình thanh toán nợ không tốt vì tiền và các khoản tương đương tiền bị ứ đọng, vòng quay vốn chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Tuy nhiên, cũng như hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, độ lớn của hệ số này cũng phụ thuộc vào lĩnh vực ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp và kỳ hạn thanh toán của các khoản nợ phải thu, phải trả trong kỳ
c Hệ số khả năng thanh toán hiện hành
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành phản ánh mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán hiện hành thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động với nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải thanh
Trang 32toán trong kỳ do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình để thanh toán bằng cách chuyển đổi một bộ phận thành tiền Do đó hệ số thanh toán hiện hành được xác định bởi công thức:
- Nếu hệ số khả năng thanh toán hiện hành = 2 là hợp lý nhất vì như thế doanh nghiệp sẽ duy trì được khả năng thanh toán ngắn hạn đồng thời duy trì được khả năng kinh doanh
- Nếu hệ số khả năng thanh toán hiện hành > 2 thể hiện khả năng thanh toán hiện hành của doanh nghiệp dư thừa Nếu hệ số khả năng thanh toán hiện hành > 2 quá nhiều chứng tỏ vốn lưu động của doanh nghiệp bị ứ đọng trong khi đó hiệu quả kinh doanh chưa tốt
- Nếu hệ số khả năng thanh toán hiện hành < 2 cho thấy khả năng thanh toán hiện hành chưa cao Nếu hệ số khả năng thanh toán hiện hành < 2 quá nhiều thì doanh nghiệp không thể thanh toán được hết các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả, đồng thời uy tín đối với các chủ nợ giảm, tài sản để dự trữ kinh doanh kh ng đủ
Như vậy, hệ số này duy trì ở mức độ cao hay thấp là phụ thuộc vào lĩnh vực ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp và kỳ hạn thanh toán của các khoản
nợ phải thu, phải trả trong kỳ
d Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Trang 33dụng tốt tới mức nào và đem lại khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vây phải trả hay không
2.3.1.4 Phân tích tình hình công nợ
Tình hình công nợ của doanh nghiệp phản ánh rõ nét chất lượng hoạt động tài chính của doanh nghiệp Nếu hoạt động tốt, doanh nghiệp sẽ có ít công nợ, ít bị chiếm dụng vốn và c ng ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu hoạt động tài chính kém, doanh nghiệp sẽ phải đương đầu với các khoản công nợ kéo dài Phân tích tình hình công nợ là việc xem xét tình hình thanh toán các khoản phải thu, phải trả của doanh nghiệp qua đó có thể đánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động tài chính
a Phân tích tình hình công nợ phải thu
Các khoản phải thu của doanh nghiệp bao gồm: phải thu của khách hàng, phải thu người bán, phải thu của người lao động, phải thu khác…Khi phân tích các khoản phải thu này thường so sánh số cuối kỳ với số đầu kỳ hoặc qua nhiều thời điểm để thấy quy mô và tốc độ biến động của từng khoản phải thu cơ cấu của các khoản phải thu… Các th ng tin này là cơ sở để các nhà quản trị doanh nghiệp đưa
ra các quyết định phù hợp cho từng khoản phải thu của mình
Trong các khoản phải thu, phải thu của khách hàng thường chiếm tỷ trọng đáng kể, phải thu của khách hàng có ý nghĩa quan trọng đối với tình hình tài sản của doanh nghiệp Khi các khoản phải thu của khách hàng có khả năng thu hồi thì chỉ tiêu giá trị tài sản thuộc Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa cho quá trình phân tích Khi chỉ tiêu phải thu của khách hàng không có khản năng thu hồi thì độ tin cậy của tài sản trên Bảng cân đối kế toán thấp ảnh hưởng đến quá trình phân tích Do vậy phân tích tình hình phải thu của khách hàng ta thường thông qua hệ thống sổ chi tiết công nợ của từng khách hàng và các chỉ tiêu tài chính sau:
Số vòng quay khoản phải thu khách hàng:
Trang 34
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời,
ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này cao quá có thể phương thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ khi đó sẽ ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ
Số dư bình quân phải thu khách hàng được tính như sau:
Thời gian của một vòng quay các khoản phải thu khách hàng:
Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn và ngược lại
b Phân tích tình hình công nợ phải trả
Các khoản phải trả bao gồm: phải trả người bán, phải trả người lao động, các khoản phải nộp Nhà nước, phải trả tiền vay, phải trả khác…Khi phân tích các khoản phải trả ta thường so sánh số cưối kỳ với số đầu kỳ hoặc so sánh qua nhiều thời điểm liên tiếp để có thể thấy quy mô và tốc độ tăng giảm của từng khoản phải trả,
cơ cấu của từng khoản phải trả Các thông tin từ kết quả phân tích chính là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định phù hợp với các khoản phải trả của mình
Trong các khoản phải trả, phải trả nhà cung cấp thường có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng thanh toán và uy tín của doanh nghiệp Khi các khoản phải trả người bán không có khả năng thanh toán dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, uy tín của doanh nghiệp giảm sút Khi các khoản phải trả được thanh toán đúng hạn, uy tín của doanh nghiệp tăng cao góp phần xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp Mặt khác nó c ng thể hiện được tiềm lực của doanh nghiệp Do đó phân tích các khoản phải trả người bán là nội dung quan trọng trong việc phân tích tình hình công
Trang 35nợ của doanh nghiệp Việc phân tích này có thể được thực hiện thông qua các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải trả quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ doanh nghiệp thanh toán tiền hàng kịp thời, ít chiếm dụng vốn, uy tín của doanh nghiệp tăng cao Ngược lại, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ tốc độ thanh toán tiền hàng càng chậm, doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn nhiều, ảnh hưởng tới uy tín của doanh nghiệp
Số dư bình quân phải trả người bán được tính như sau:
c Phân tích mối quan hệ giữa công nợ phải thu và công nợ phải trả
Quan hệ này phụ thuộc vào những nhân tố như đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh cơ chế tài chính của doanh nghiệp m i trường tài chính…
Để phân tích rõ bản chất công nợ phải thu và công nợ phải trả ta có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoản phải trả (%):
Trang 36
Chỉ tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp bị chiếm dụng so với các khoản đi chiếm dụng Nếu tỷ lệ này lớn hơn 50% chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn, còn nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 50% chứng tỏ doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn của doanh nghiệp khác
Tỷ suất nợ phải trả tổng quát:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn công ty bỏ ra thì có bao nhiêu đồng
nợ phải trả Đây là chỉ tiêu phản ánh tổng quát tình hình công nợ của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công nợ của công ty càng lớn Quản trị công ty cần xác định rõ nguyên nhân nợ đọng các khoản phải trả nhằm có biện pháp xử lý công
- Xác định tính chất, thời gian và nguyên nhân các khoản phải thu, phải trả;
- Các biện pháp mà đơn vị áp dụng để thu hồi nợ và thanh toán nợ;
- Nguyên nhân dẫn đến các khoản tranh chấp nợ phải thu, phải trả
2.3.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất
Thực chất của hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế đƣợc xét trong một kỳ nhất định, tùy
Trang 37theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh Các chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả kinh doanh là cơ sở khoa học để đánh giá trình độ của các nhà quản lý căn cứ đưa ra quyết định trong tương lai Song độ chính xác của thông tin từ các chỉ tiêu hiệu quả phân tích phụ thuộc vào nguồn số liệu, thời gian và không gian phân tích
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh có thể khái quát như sau:
Phân tích hiệu quả kinh doanh là một nội dung cơ bản của phân tích tài chính nhằm góp phần cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển không ngừng Mặt khác, hiệu quả kinh doanh còn là chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần tăng thêm sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp trên thị trường Thông tin phân tích hiệu quả kinh doanh rất hữu ích cho nhiều đối tượng khác nhau để từ đó đưa ra các quyết định kinh doanh có lợi cho từng đối tượng
Nhiệm vụ phân tích hiệu quả kinh doanh được xét trên mọi góc độ khác nhau như phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả sử dụng nguồn vốn, hiệu quả
sử dụng chi phí Tùy theo mục tiêu các nhà quản trị kinh doanh có thể phân tích chi tiết đánh giá khái quát… sau đó tổng hợp để đưa ra nhận xét
2.3.2.1 Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh
Khi đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh, cần phải nghiên cứu một cách toàn diện cả về thời gian kh ng gian m i trường kinh doanh và đồng thời đặt nó trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn xã hội
Để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
a Tỷ suất sinh lợi của vốn
Đây là chỉ tiêu cho thấy khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp từ vốn
và được xác định bằng công thức:
Trang 38
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tốt đó là nhân tố hấp dẫn doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh
b Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu
Đây là chỉ tiêu đo lường mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn chủ sở hữu trong doanh nghiệp Chỉ số ROE phản ánh cả chỉ tiêu về lợi nhuận được thể hiện trên Báo cáo Kết quả kinh doanh và chỉ tiêu vốn chủ sở hữu bình quân, trên Bảng cân đối kế toán
Chỉ số ROE thể hiện mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn của doanh nghiệp, hay nói cách khác 1 đồng vốn bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lời
Về mặt lý thuyết, ROE càng cao thì khả năng sử dụng vốn càng có hiệu quả Những cổ phiếu có ROE cao thường được nhà đầu tư ưa chuộng hơn Và tất yếu những cổ phiếu có chỉ số ROE cao c ng có giá cổ phiếu cao hơn
c Tỷ suất sinh lợi của tài sản
Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp ROA là một chỉ số thể hiện mối tương quan giữa mức sinh lợi nhuận của một công ty so với chính tài sản của nó
Chỉ số ROA cho ta biết được doanh nghiệp kiếm được bao nhiều tiền và hưởng lợi nhuận là bao nhiêu trên 1 đồng tài sản Bởi vì tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu do đó ROA chính là thước đo hiệu quả của việc chuyển hóa số vốn đầu tư thành lợi nhuận Chỉ số ROA càng cao cho thấy c ng ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên số tiền đầu tư ít hơn
d Tỷ suất sinh lợi của doanh thu
Đây là chỉ tiêu đánh giả khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp, chỉ tiêu này c ng thể hiện trình độ kiểm soát chi phí của các nhà quản trị nhằm tăng sự cạnh tranh trên thị trường Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Trang 39
Sau khi tính được chỉ số ROS thì qua các con số cụ thể chúng ta có thể biết được rằng:
- Khi ROS > 0: C ng ty bán được hàng với giá cao, có lãi ROS càng lớn thì lãi càng lớn
- Khi ROS âm: biểu hiện của chi phí đang vượt tầm kiểm soát C ng ty đang
bị lỗ
2.3.2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản
Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
a Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA):
Cách xác định chỉ tiêu này tương tự như phần phân tích khái quát hiệu quả kinh doanh
b Số vòng quay của tổng tài sản
Hệ số vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản của công ty Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi một đồng tài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra Công thức tính Hệ số vòng quay tổng tài sản như sau:
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ các tài sản vận động chậm, có thể hàng tồn kho, sản phẩm dở dang nhiều, làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm Tuy nhiên, chỉ tiêu này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh đặc điểm cụ thể của tài sản trong các doanh nghiệp