1. Trang chủ
  2. » Hóa học

Những yếu tố liên quan đến gánh nặng của người chăm sóc cho trẻ tự kỷ ở Việt Nam

4 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những phát hiện này cho thấy rằng điều dưỡng và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho gia đình và trẻ em mắc bệnh tự kỷ nên chú ý nhiều hơn vào việc cải thiện khả năng íự chăm[r]

Trang 1

University, ChonBuri, Thailand.

6 McCaffery, M., & Beebe, A (1989) Pain: Clinical

manual for nursing practice S t Louis, MO: Mosby

Elsevier

7 Montgomery, G H., Schnur, J B., Erblich, J.,

Diefenbach, M A., & Bovbjerg, D H (2010)

Presurgery psychological factors predict pain, nausea,

and fatigue one week after breast cancer surgery

Journal o f Pain and Symptom Management, 39(6),

1043-1052

8 Paddison, J s., Booth, R J., Hill, A G-, &

Cameron, L D (2006) Comprehensive assessment of

peri-operative fatigue: development of the Identiiy-

Consequence Fatigue Scale Journal of

Psychosomatic Research, 60(6), 615-622.

9 Puranasamriddhi s (2009) Fatigue and factors

related to fatigue after hysterectomy (Unpublished

Master’s thesis) Mahidol University, Bangkok,

Thailand

10 Rubin, G J., Hardy, R., & Hotopf, M (2004) A

systematic review and meta analysis of the incidence

and severity of postoperative fatigue Journal of

Psychosomatic Research, 57(3), 317-326.

11 Svensson, I., Sjostrom, B., & Haljamae, H

(2000) Assessment of pain experience after elective

surgery Journal o f Pain and Symptom Management,

20(3), 193-201

12 Tabachnick, B G., & Fideli, L s (2001) Using

multivariate statistic (5med.) Boston: MA: Allyn &

Bacon/ Pearson Education

13 Trang, N T T (2015) Factors predictina postoperative fatigue among patients with closed fracture o f leg undergoing internal fixation in Khanh Hoa General Hospital, Vietnam (Unpublished thesis)

Burapha University, ChonBuri, Thailand

14 Wickstrom, K., Nordberg, G., & Johansson, F (2005) Predictors and barriers to adequate treatment

of postoperative pain after radical prostatectomy

AcutePain, 7,167-176.

15 Yu, J., Zhuang, c L., Shao, s J., Liu, s., Chen,

w z., Chen, B c., Shen, X., & Yu, z (2015) Risk factors for postoperative fatigue after gastrointestinal

surgery Journal o f Surgical Research, 194(1), 114-

119

16 Zaion, M L (2004) Correlates of recovery among older adults after major abdominal surgery

Nursing Research, 53(2), 99-106.

Tác g iả : Mai Thị Lan Anh

(Phó giám đốc Trung tâm thực hành Tiền lâm sàng, trường Đại học điều dường Nam Định)

Người hướng dẫn: PGS TS Nujjaree C haim ongkol (Trưởng khoa Điều dường, trường Đại học Burapha, Thái Lan)

Yunee Pongjaturawit,

Trường bộ môn điều dưỡng nhi, Khoa điều ơưỡng, trường Đ ại học Burapha, Thái Lan

TÓM TẮT

Mục đích của nghiên cứu này là đề đánh giá mức độ gánh nặng và mối liên quan của nó với khả năng tự chăm sóc của trẻ, quá trình chăm sốc và hỗ trợ xã hội cho những người chăm sóc trẻ bị bệnh tự kỷ Đây ià một nghiên cứu mô tả cắt ngang đưực tiến hành tại Bệnh viện Nhi Trung ương, Hà Nội, Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ tháng hai đến tháng tư năm 2015 Phương pháp lấy mẫu thuận tiện được sử dụng để thu thập chỉn mươi người chăm sóc trẻ mắc bệnh tự kỷ Công cụ nghiên cứu bao gồm một bảng câu hỏi về thông tin chung của người chăm sóc và trẻ; 20 câu hỏi ve khả năng tự chăm sóc bản thân của trẻ; 12 câu hỏỉ về hỗ trợ xã hội và 21 câu về gánh nặng chăm sóc Phương pháp thống kê mô tả và hệ số tương quan Pearson được sử dụng để phân tích dữ liệu

Kết quả nghiên cứu cho tháy tuổi trung bình của mẫu ià 36,70 tuổi (SD = 7,03) và trung bình số năm chăm sóc cho trẻ tự kỷ ià 7.40 năm (SD = 2,13) Điềm số trung bình khả năng tự chăm sóc bản thân của trẻ theo quan điềm của người chăm sóc là 2.72, hỗ trợ xã hội là 3,59 và ờ mức độ vừa phải Điểm số trung bình gánh nặng

chăm sóc là 3.72 và ở mức cao Có mối tương quan nghịch giữa gánh nặng chăm sóc và khả năng tự chăm sóc

của trẻ (r = -.53, p < 001) và hỗ trợ xã hội (r =-.23, p <0,05) Tuy nhiên, thời gian chăm sóc không có tương quan đáng kể về mặt thống kê với gánh nặng cham sóc (p> 0,05)

Những phát hiện này cho thấy rằng điều dưỡng và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho gia đình

và trẻ em mắc bệnh tự kỷ nên chú ý nhiều hơn vào việc cải thiện khả năng íự chăm sóc bản thân của trẻ và tăng cường hỗ trợ xã hội, nhằm làm giảm gánh nặng cho những người chăm sóc cho trè tự kỷ

FACTORS RELATED TO BURDEN AMONG CAREGIVERS OF CHILDREN WITH AUTISM IN VIETNAM

A uthor: Mai Thi Lan Anh (Vice director of Pre-ciinicai Practice Center, Namdinh University of Nursing)

A dvisory com m ittee:

- Assoc Prof Dr Nujjaree Chaimongkol (Dean of Faculty of Nursing, Burapha University, Thailand)

-Assist Prof Dr Yunee Pongjaturawit (Head of Pediatric Department, Faculty of Nursing, Burapha University, Thailand)

2 1 0

Trang 2

The aim of this study was to examine the level of burden and its relationships with child self-care ability, duration of care and social support among caregivers of children with autism A descriptive correlational study was conducted at National Hospital of Pediatrics, Hanoi, Vietnam Data were collected from February to April in

2015 A convenience sampling technique was used to recruit ninety caregivers of autistic children Research instruments included Demographic questionnaire, the Child Self-care Ability Scale, the Social Support Questionnaire and the Caregiver’s strain Questionnaire Descriptive statistics and Pearson correlation coefficients were used for data analysis

The results revealed that mean age of the sample was 36.70 years (S.D = 7.03) and average years of care

for autistic children was 7.40 years (S.D - 2.13) Mean score of child self-care ability was 2.72 (S.D = 50) and of

social support was 3.59 (S.D = 0.67) which were at a moderate level Mean score of caregiver burden of the sample was 3.72 (S.D = 0.30) which was at a high level There were statistically significant negative relationships between child self-care ability and caregiver burden (r= -.53, p < 001) and between social support and caregiver

burden (r= -.23, p < 05) However, duration of care was not significantly correlated to caregiver burden (p > 05).

These findings suggest that nurses and health care providers who provide care for families and children with autism should pay more attention ÍO improving child self-care ability and strengthening social support Consequently, burden among caregivers of children with autism would be lessened

ĐẶTVÁN ĐỀ

Bẹnh tự kỷ là một rối loạn phát triển tâm íhần đặc

trưng bởi sự thiếu hụt về kỹ năng giao tiếp và ngôn ngữ,

kỹ năng xã hội và có hành vi lặp lại Trên thế giới, tỷ lệ

tự kỷ tiếp tục gia tăng ờ mức báo động (Newschaffer,

Fa!b, & Gurney, 2005) Theo CDC, nẳm 2014 thống kê

rằng ở Hoa Kỳ cứ 68 trẻ thì có 1 trẻ bị mắc bệnh tự k ỷ

Tại Việt Nam, với dân số 83 íriệu, đã có khoảng

160.000 trẻ em mắc bệnh tự kỷ (Brown, 2009)

Việc nuôi một đứa trẻ tự ky là một gánh nặnq đáng

kể cho người chăm sóc Họ phải dành rất nhiễu thời

gian để chăm sóc và giúp trẻ thích nghi được với cuộc

sống hàng ngày của chúng Ngày nay, tự kỷ là một

vấn đề kha phổ biến, đặc bỉệt là ơ các thành phố lớn,

nhưng hệ thốnci thông tin và dịch vụ rất khó được tiếp

cận, nhất là đoi với các gia đình có trẻ mới bị mắc

bệnh Hơn nữa, chi phí cho việc nuôi một đứa trẻ tự kỷ

lại nhiều hơn gấp ba lần so với nuôi những đứa tre

bình thường khác

Qua tổng quan tài liệu, các nhà nghiên cứu cho

rằng có nhiêu yếu tố liên quan đến gánh nặng của

những người chăm sóc cho trẻ bị bệnh tự kỷ, Tuy

nhiêrC trong phạm vi của nghiên cưu này, nhà nghiên

cứu tập trung vào khả năng tự chăm sóc của trẻ, quá

trình chăm sóc và các hỗ trợ xã hội, là những nhân tố

liên quan nhiều nhất đến gánh nặng của người chăm

sóc cho ìrẻ tự kỷ

Nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin về gánh

nặng của những người cham sóc tre, đặc biệt là

những người chăm sỏc cho trẻ em mắc bệnh tự kỷ ờ

Việt Nam Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến ganh

nặng sẽ được xác định và những kết quả này sẽ có lợi

cho các nghiên cứu khác đề lập kế hoạch hoặc thực

hiện một chương trình giúp giầm bớt gánh nặng cho

người chăm sóc trẻ tự ky ở Việt Nam

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

Thiết kế mô tả cắt ngang được sử dụng để xác

định mối liên quan giữa quá trình chăm sóc, khả năng

ỉự chăm sóc cùa trẻ, hỗ trợ xã hội và gánh nặng của

những người chăm sóc trẻ tự kỷ tại Bệnh viện Nhi

Trung ương, Hà Nội, Việt Nam từ tháng 2 đến tháng 4

năm 2015 Đối tượng nghiên cứu là những người đi

cùng trẻ tự kỷ đến đỉếu trị ngoại trú tại Bệnh viện Nhi

Trung ương, Hà Nội, Việt Nam

Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi để phòng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bao gồm: thông tin chung của trẻ và người chăm sóc; bộ câu hỏi đảnh giá kha năng tự chăm sóc của trẻ gồm có 20 mục; bộ câu hỏi

hỗ trợ xã hội được xây dựng để đánh giá mưc độ hỗ trợ mà người chăm sóc nhận được với 12 mục; bộ câu hoi gánh nặng chăm sóc vơi 21 mục

KẾT LUẬN

1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Kết quả cho íhấy rằng, độ tũổi trung bỉnh cùa những người chăm sóc là 36,70 ± 7,03 tuoi số năm trung bình đã chăm sóc cho trẻ tự kỷ là 7,40 Hầu hết những người chăm sóc ià cha mẹ của trẻ (92,20%),

nữ (86,70%) và đã kết hôn (98.90%) Khoảng một nửa trong số họ có trình độ giáo dục trung cấp (22.20%) và đại học (33,30%) Có 37,80% làm việc văn phòng, và 16,60% là nông dân

Độ tuổi trung binh của trẻ tự kỷ là 7,69 ± 2,43tuỗi Một nửa trong số trẻ là con đầu trong gia đình và hầu hết chúng íà con trai (93.30%) s ố năm trung bình được chẩn đoán bệnh tự kỷ là 4,58 ± 2,26 năm

2 Đánh giá các biến nghiên cứu

2.1 Gánh nặng chăm sốc: Các đối tượng có mức độ

cao về gánh nạng chăm sóc (M = 3,72, SD = 0,30) Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bang 1 như sáu:

Bang 1 Điểm sồ trung bình, độ lệch chuẩn (SD) và các mức điểm số Qánh nặng chăm sóc (n = 9 0 ) _

Gánh nănq M S.D. Phạm vi Mức độ Tống 3,72 0,30 3 - 5 Cao

Cu íhé Gánh năng khách quan 3,77 0,35 3 - 5 Cao Gánh năng chủ

quan 3,68 0,33 3 - 4 Cao

2.2 Khả năng tự chăm sóc của trẻ: Điểm số trung

binh khả năng tự chăm sóc của trẻ tự kỷ !à 2,71 (SD -0,49) và dao động từ 2 đến 4, đạt mức độ trung binh

2.3 Hỗ trợ xã hội: Điểm số trung bỉnh hỗ trợ xã hội

là 3,59 (SD = 0,66) và dao động từ 2 đến 6, đạt mức

độ vừa phải Chi tiết được trình bày trong bảng 3:

3 Mối quan hệ giưa các biến nghiên cứu và gánh nặng của những người chăm sóc cho ỉrẻ tự

Trang 3

kỷ ờ Việt Nam

Kết quà cho thấy quá trình chăm sóc không liên

quan đến gánh nặng (r = 0,13, p> 0,05) Trong khi đó,

khả năng tự chấm sóc cua tre có mối tương quan

nghịch đáng kể với gánh nặng của những người chăm

sóc cho trẻ tự kỷ (r = 0,53, p <0,001) Hỗ trợ xã hội có

mối tương quan nghịch với gánh nặng chăm sóc (r = -

.23; p <0,01) Những người chăm sóc cảm nhận mức

độ gánh nặng cao hơn khi khả năng tự chăm sóc của

trẻ và hỗ ìrự xã hội thấp Kết quả nghiên cứu được

trình bày trong bảng 4 như sau:

Bảng 4 Hệ số tương quan giữa quá trình chăm

sóc, kha năng tự chăm sóc, hỗ trợ xã hội và gánh

** p < 0 ,0 1 ,*** p<0,001

BÀN LUẨN

1 Gánh nặng cùa những người chăm sóc cho

trẻ tự kỷ Việt Nam

Những người chăm sóc trẻ tự kỷ trong nghiên cứu

này thể hiện mức độ cao về gánh nặng (M = 3,72, SD

“ 0,30) Kết quả này tương đương với các nghiên cửu

trước đây cho rằng chăm sóc cho một đứa trẻ tự kỷ có

liên quan ổếrt gia tăng căng thẳng gia đình và gánh

nặng cho người chăm sóc trong suốt cuộc đời của trẻ

(Leff & Waiizer, 1992; Siegel, 1997) Điều này có thể

được giải thích là do hầu hết những người chăm sóc

đều là cha mẹ đè của trẻ (92,20%), cộng thêm số năm

trung binh chăm sóc cho trẻ tương đổi cao (7.40) Cha

mẹ khi chăm sóc cho con 'bị bẹnh tự kỷ trong một

khoảng thời gian dài nhưng mức độ tiến triền khong rõ

ràng làm cho họ cảm thấy lo lắna cho tương lai của

đứa trẻ; cùng với mệt mỏi về the chất dẫn đến làm

tăng gánh nặng cho người chăm sóc Ngoài ra, kết quả

này có thể xuất phát từ nền văn hóa cua Việt Nam là

nền văn hóa truyền thống Đông Phương Các gia đình

cho rằng đây là sự trừng phạt cho tội lỗi của họ trong

quá khứ Đo đó, họ thương giấu đứã trẻ khuyết tật va

chậm phát triển trí tuệ, trì hoãn việc tìm đến bác sỹ điều

trị vì vậy càng làm tang mức độ căng thẳng, trầm cảm

và gánh nặng cho gia đinh cũng như người chăm sóc

(Ngô, 2008; Bộ Y tể & HPG, 2013) Ngoài ra, ngày nay,

mặc dù tự kỷ là một vẩn đề phổ biến nhưng hệ thống

thông tin và dịch vụ chăm sóc cho các đối tượng này rất

khó được tiếp cận ở Việt Nam (Nguyễn & Trần, 2008)

Hơn nữa, trẻ bị bệnh tự kỷ ờ nước ta chỉ có thể được

điều trị y tế thích hợp và theo dõi, phục hồi chức năng

tại các bệnh viện lớn ở trung tâm

2 Môi quan hệ giữa khà năng tự chăm sóc của

trẻ, quá trình chăm sóc, hỗ trợ xã hội và gánh nặng

của người chăm sóc cho trẻ tự kỷ ờ Việt Nam.

Kết quả của nghiên cứu cho íhấy khả năng tự

chăm sóc của trẻ và hỗ trợ xã hội có mối tương quan nghịch với gánh nặng chăm sóc, ngoại trừ quá trình chăm sóc Đối với khả năng tự chăm sóc của trẻ, có thể kết luận rằng khả năng tự chăm sóc của trẻ íự kỷ thấp thi gánh nặng cho người chăm sóc sẽ càna tăng Khả năng tự chăm sóc của trẻ tự kỷ thường íhẵp hơn

so với trẻ em bình thường cùng độ tuổi (Sigman & McGovern (2005) Vai trò người chăm sóc cùng vởi việc thực hiện các hoạt động đễ đáp ứng nhu cầu chăm sóc thể chất, tâm iý vả tình cảm cho trẻ, vì vậy, người chăm sóc phải thực hiện vai trò trách nhiệm của mỉnh với một sự iỗ lực vô cùng lớn, cùng với sự căng thẳng gặp phải thường ngày khi chăm sóc trẻ dẫn đến cảm nhận về gánh nặng chắm sóc theo quan điềm của

họ là rất lớn Ngoàỉ ra, kết quả của nghiên cứu này xác nhận các kết quả trước đây của Paul (2009), cho rằng các đặc tính của trẻ tự kỷ, vấn đề hành vi, đặc biệt ià khả năng tự chăm sóc của trẻ kém hơn bạn bè cùng trang lứa, dẫn đển làm tăng căng íhằng cũng như gánh nặng cho người chăm sóc

Về mặt hỗ trợ xã hội, kết quả từ nghiên cứu này cho thấy có mối tương quan nghịch giữa hỗ trợ xã họi

và gánh nặng (r = - 0,23, p <0,01) Có nghĩa rằng hỗ trợ xă hội nhận được càng nhiều, thì gánh nặng theo quan điểm cùa người chăm sóc càng giảm Khi có sự quan tâm, lo lắng, chia sẻ bớt mệt mỏi, căng thẳng trong cồng việc chăm sóc cho trẻ tự kỷ iừ những người quan trọng, các thành viên khác trong gia đình cũng như bạn bè và xã hội, thì những người chăm sóc

sẽ cảm thấy gánh nặng cua mình bởt đi phần nào Kết quả trong nghiên cứu này cũng hỗ trợ cho các nghiên cứu trước đây, đặc biệt, Stuart (20Ỏ8) cho rằng lần đầu tiên khi con họ được chẩn đoán tự kỷ, những người chăm sóc cần được hỗ trợ một cách hiếu quả từ các chuyên gia y tế và gia đinh thì gánh nặng theo quan điểm của họ sẽ giảm đi đáng kể

KIẾN NGHỊ

Cùng với việc đều trị, điều dưỡng nên giáo dục cho trẻ và người chăm sóc để họ thúc đẩy khả năng tự chăm sóc cùa trẻ vỉ khả năng tự chăm sóc của trẻ tự ky thường thấp hơn so với trẻ em bình thường ử cùng độ tuổi Tương tự như vậy, điều dưỡng nên tìm ra các chiến lược để iăng cường hỗ trợ xã hội cho người chăm sóc trè tự kỷ như: thúc đẩy sự tương íác giữa những người chăm sóc để học hỏi kỉnh nghiệm, cung cẩp thông tin y tế và các dịch vụ cần thiết từ hệ thống y tể và chính phu, kêu gọi trợ giúp từ cộna đồng, để làm giảm gánh nặng cho người chăm sóc đen mức tối thiểu TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Ý Tế (2014) Số liệu thống kê y tế năm 2013

Nội dung chi tiềt về cuốn tóm tắt thống kê Y tế 2013,

Nhà xuất bản Y học, 10-14

2 Nguyễn Trần Giáng Hương (2008) Xu hướng và dịch tễ học đặc trưng của trẻ tự kỷ íạị bệnh viện nhi Trung ương 2000-2007 Nghiên cứu Ỷ học thực hành,

4, 104-107

3 Đinh Thị Hoa (2010) Mô tả một số đặc điểm lâm sàng của írẻ tự kỷ trên 36 íháng tuổi và bước đầu nhận xét kết quả phục hồi chức năng ngôn ngữ

4 Ngô Xuân Dũng (2008) Đánh giá và phục hồi chức năng cho trẻ íự kỷ tại khoa thần kinh, bệnh viện

nặng chăm sóc

Biến Gánh năng (r)

Quá írình chăm sóc 0,13

Khả năng tự chăm sóc

Tống -0,53**

Chăm sóc chunq -0,58**

Chăm sóc theo tuối -0,33**

Hồ trợ xã hội

Tông 0,23*

Gia đình -0,17

Nqười quan trọng -0,15

Ban bè -0,13

2 1 2

Trang 4

-Nhi đồng 2 Bệnh tự kỷ Tài liệu hội thào 42 - 47.

5 Nguyễn Phữơng Minh (2013) Các yếu tố liên

quan đến hành vi tự chăm sóc của trẻ học đường mắc

bênh thalassemia ở Thái Nguyến, Việt Nam.

6 Newschaffer, c J., Faib, M D., & Gurney, J G

(2005) National autism prevalence trends from United

States special education data Pediatrics, 115(3),

e277-282

7 Centers for Disease Control and Prevention 1 in

68 children has been identified with autism 2015

(Accessed at http://www.cdc.gov/media/releases/

2Q14/p0327-autism-spectrum-disorder.html)

8 Brown, M (2009) Specialists speak out for autistic children: Look at Vietnam Retrieved from

http://www.lookatvietnam.com/2009/03/speciaiists- speak-out-for-autisticchildren html

9 Stuart, M., & McGrew, J H (2009) Caregiver burden after receiving a diagnosis of an autism

spectrum disorder Research in Autism Spectrum Disorders, 3(1), 86-97.

10 Taylor, B A., & Hoch, H (2008) Teaching children with autism to respond to and initiate bids for

joint attention Journal o f Applied Behavior Analysis,

41, 377-391.

CÁC YÉU TÓ Dự ĐOÁN TUÂN THỦ ĐIẺU TRỊ

Tác giả : Nguyễn Bá Tâm, Khoa Điều dư ỡ ng - Hộ sin h , Đ ại họ c Đ iều d ư ỡ n g Nam Đ ịnh

Người hướng dẫn: Tiến sỹ Ngô Huy Hoàng- Phổ hiệu trường, Đại học Điều dưỡng Nam Định.

Phó giáo sư Wannee Deoisres, Phó trư ở ng khòa Đ iều dưỡng, Đ ại h ọ c Burapha, Thái lan.

TÓM TẤT

Giảm tỷ lệ tái nhập viện, nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy tim là một thách thức đối với ngành y tể nói chung và chăm sóc điều dưỡng nói riêng, trong đó không tuân thủ điều trị là một nguyên nhàn quan trọng dẫn đến tái nhập viện của bệnh nhân suy tĩm Nghiên cứu này mô tả tuân thủ điều trị và xác định những yếu tố dự đoán tuân thủ điều trị ở những bệnh nhân suy tim trưởng thành tại Nam Định dựa trên mô hình tuân thủ điều trị của WHO Mô tả cắt ngang trên 82 bệnh nhân ngoại trú, được chẩn đoán suy tim độ II và độ III, tại Bệnh viện đa khoa Nam Định, thời gian từ 01/09/2015 đến 15/11/2015 thông qua phỗng vấn bằng bộ cãu hỏi

có cấu trúc Kết quả cho thấy đa sổ người tham gia là 50-60 tuổi (61.0%) và gần hai phần ba (64,6%) bệnh nhân suy tim độ III Nhìn chung tuân thủ điếu trị là ờ mức độ trung bình (Mean = 3.55, SD - 0.61) Tuân thu dùng thuốc

ở mức đọ cao (Mean = 4.01, SD = 0.77) và tuân thù thay đoi lối sồng là trung bình (Mean - 3.45, SD ~ ổ 1) Phân tích hồi quy đa biến cho thấy giáo dục, kiến thức, trầm cảm và hỗ trợ từ điều dưỡng dự đoán đáng kể tuân thủ điều trị (R2 =0.708, F4 77 = 46.59, p<.001) Triệu chứng trầm cảm là yếu tố dự báo mạnh nhất và tiêu cực (Ị3 = -0.35, P <0.001), trình độ học vấn (73 = 0.15, p <6.05), kien thức về suy tim (Ị3 - 0.34, p <0.001) và hỗ trự y tá (73 = 0.16, p <0.05) cũng là yếu tố dự đoârĩ đáng kể và tích cực đển tuân thủ điểu trị Kết quả cho thấy, mặc dù không thể can thiệp đến trình ổộ học vấn bệnh nhân nhưng có thề phát triển cốc chương trình can thiệp điều dưỡng thích hợp tập trung vào những yếu tố dự đoán khác như giảm các triệu chứng trầm càm, nâng cao kiến thức về suy tim và nâng cao các hỗ trợ điều dương để cải thiện sự tuân thử điều trị ở những bệnh nhân suy tim.

Từ khóa: Suy tim / Tuân thủ đièu trị/ Chăm sóc suy tim

FACTOR PREDICTING TREATMENT ADHERENCE AMONG PATIENTS WITH HEART FAILURE IN NAM DINH, VIET NAM

Nguyen Ba Tam, Faculty of Nursing and Midwife, Namdinh University of Nursing

SUMMARY

Reducing the rate o f re-hospitalization, improve quality o f life among heart failure (HF) patients is a major public health challenge also nursing care Treatment non-adherence is a crucial factor shown to trigger re­ hospitalization This study describes treatment adherence and explores the predictive ability o f treatment adherence among adult Vietnamese HF patients base on multidimensional adherence model o f WHO The crosssectional design was used to study about 82 subjects, diagnosed as HF class II and class III, who were assessed during treatment follow-up visits to the outpatient cardiovascular department o f Namdinh General Hospital, Vietnam, from 01/09/2015 to 15/11/2015 by use structured interviews Data were analyzed via descriptive statistics and standard multiple regression The findings showed that the majority o f participants were age 50-60 (61.0 %) and nearly two-thirds (64.6%) were in HF class III Overall treatment adherence was moderate (Mean - 3.55, SD = 0.61) Medication adherence was high (Mean - 4.01, SD - 0.77) and lifestyle change adherence was moderate (Mean = 3.45, SD = 6.1) standard multiple regression analysis indicated that education, knowledge, depression and nurse support significantly predicted treatment adherence (R2 = 708, F4_ 77

= 46.59, p <.001) Depression, negatively related to treatment adherence, was the strongest predictor C/3 .35, p

<.001) Education (]3 =15, p <.05), knowledge (p -.34, p <.001) and nurse support (P =16, p <.05) were significantly and positively related to treatment adherence The results suggest that nurses, although they cannot affect patient educational attainment, can develop appropriate nursing intervention programs focusing on the other predictors to improve treatment adherence in HF patients.

Keyw ords: Heart failure/Treatment adherence/Heart failure’s Nursing care

Ngày đăng: 07/02/2021, 13:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w