1. Trang chủ
  2. » Toán

Những nét cơ bản về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, trang trí trong các điện thờ Mẫu (Nữ Thần) trên quê hương Nam Định

17 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là câu đối của người xưa khắc ữên đá tại cửa phía Nam lăng Mầu như để cho hiện tại và mai sau hiểu về một bà mẹ mẫu mực của đất Son Nam, ngẫm về một phụ n[r]

Trang 1

NHỮNG NếT Cơ I ỉ A n vế NGHệ THUẬT KI€N TRÚC,• • 9 DIỄU KHÁC, TRHNG TBÍ TRONG các f>IÌN THỜ MÃU * •

(Nữ THẦN) TRỄN ỌUỂ HƯƠNG NAM ĐỊNH

ĐỖ Đình Thọ *

Tín ngưỡng thờ Nữ Thần của người Việt hình thành từ buổi sơ khaii của lịch sử con người sống bằng nông nghiệp lúa nước ở vùng:

Đông Nam châu Á, cùng với tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những;

người có công với dân, với nước tiếp theo đã ừở thành một thứ “Văn hoải

tâm linh” ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của cư dân Việt Nam từ lâu đời

Nam Định là mảnh đất đông dân cư nằm sát biển Đông và cũng là

mảnh đất cuối cùng của hạ lưu châu thổ sông Hồng, được thiên nhiên ưu đãi

nên cuộc sống của cư dân nơi đây sớm phát triển cả về chính trị, kinh tế, vãn

hoá, xã hội

Phải nói rằng: Tiến trình phát ứiển lịch sử nhân loại đã tạo cho cư dâm

Việt Nam nói chung, Nam Định nói riêng có điều kiện và thời cơ giao lưu,

nên về mặt văn hoá, cư dân Nam Định cũng có nhiều thuận lợi tiếp thu nền

văn minh thế giởi Từ khi Đạo Phật, Đạo Lậo, Đạo Khổng, Đạo Thiên Chủa

đi theo các tập đoàn phong kiến, tư bản xâm lược Việt Nam từ những năm

đầu tiên của công nguyên đến thế kỷ XVI, XVII, XVIII, XIX đế quốc, thực

dân Pháp đã đặt ách thống trị trên đất Việt Nam Nền văn hoá Việt Nam có

những diễn biến phong phú, phức tạp, hấp dẫn: Có nhập, có xuất, có tiếp thu,

có loại trừ, cỏ phát triển thành cái mới, nền văn hoá Việt Nam luôn luôn

được bổ sung rồi dung hợp để hình thành bộ mặt mới phù hợp với thời đại

* Chi hội Văn nghệ dân gian tỉnh Nam Định

Trang 2

N h ữ n g nét cơ bản về nghệ thuật kiên ữúc, điêu khắc 373

Có thể nói: Qua các cơn lốc xoáy của tập đoàn phong kiến xâm lược phương Bắc và các tập đoàn tư bản, đế quốc phương Tây, các tôn giáo ngoại lai đã xâm nhập vào Việt Nam, nhưng chưa bao giờ nền văn hoá cũng như tôn giáo tín ngưỡng bản địa bị mai một hoặc mất đi, ngược lại nó đã tiếp thu một cách có chọn lọc để tự tại, để phát triển theo xu hướng mới của cuộc sống

Đó là tín ngưỡng thờ Mầu, thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ Việc đưa những người có công với dân, với nước trở thành Nhân Thần vào hệ thống thờ Mầu, chứng tỏ sự toan tính thông minh khôn khéo của nhân dân, kể cả việc đưa các phủ mẫu liền kề với các chùa thờ Phật để nương bóng Phật làm cho tín ngưỡng thờ Mau an bài cũng là những toan tính nhạy bén nhằm duy trì, phát triển thành Đạo Mầu Việt Nam hiện nay

Bà Chúa Liễu xuất hiện sau các vị anh hùng trong huyền thoại (Bà Âu

Cơ, Bà Lăng Thị Tiêu ) và các vị nữ anh hùng trong lịch sử (Bà Trưng, Bà

Triệu, Bà Ỷ Lan, Bà Trần Thị Dung) nhưng vị trí của Bà Chúa Liễu vẫn vượt lên trên các vị kể trên trong tâm thức dân gian và Bà đã thực sự trở thành vị Nữ Thánh Mầu cao nhất trong 6 vị của “Thiên bản lục kỳ” và là một trong “Tứ bất từ' của Việt Nam

Vì nhân dân thấy ờ Bà: Là Tiên, là Người, là Thần, là Phật, là Thánh,

là Mẩu nghi thiên hạ, chính vì thế mà Bà Chúa Liễu đã lên ngôi đại diện cao nhất cho các Bà của tín ngưỡng Tứ Phủ, Tam Phủ một cách tự nhiên

Quê hương cha mẹ sinh ra bà ở (Quảng Nạp - Ý Yên lần thứ nhất) ở

An Thái (Thiên Bản lần thứ hai) thuộc địa bàn Nam Định Từ đó mặc nhiên mảnh đất này trở thành Thủ Phủ của tín ngưỡng thờ Mầu Việt Nam thời cận đại, đương đại, đó là đất Thánh “Phủ Dầy” ngày nay Các công trình thờ Mau nơi đâỳ được Vua quan, sĩ thứ các thế hệ chung tay xây dựng trờ nên một cụm công trình nguy nga, tráng lệ, mang bản sấc Việt Nam

Chúng ta hãy đến với quần thể điện Mầu ở Phủ Dầy (xã Kim Thái huyện Vụ Bản) rồi sang Phủ Nấp (xã Yên Đồng, huyện Ý Yên) để thấy rõ những nét cơ bản về Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, trang trí mỹ thuật trong các điện thờ Mẩu ở Nam Định Theo huyền thoại về Mầu thì hai điểm này là nai Mầu giáng trần: Lần thứ nhất ở Quảng Nạp (Phủ Nấp), làm con gái một gia đình nông dân họ Phạm; lần thứ hai ở Phủ Dầy (Vân Cát) trong một gia đình họ Lê, kết duyên với Trần Đào Lang, sinh 2 con (ở Tiên Hương) rồi bỗng nhiên về trời Mộ phần của Mau ở tại đất Tiên Hương, năm 1936 hội Đào Chi đền Phổ Hoá ở Huế ra góp công, góp cùa tôn tạo thành lăng mộ bằng đá to đẹp uy nghi như ngày nay

Trang 3

374 Văn hó a th ờ NửTHẨN - MẪU ở V lỆ T NAM VÀ CHÂU Á

Quần thể điện Mầu ở Phủ Dầy có tới 20 công trình lớn nhỏ được xây' dựng trên một vùng đất rộng có thế núi, thế sông, thế nhìn ra biển Đông và lài vùng đồng bằng ruộng, vờn, ao, sông ngòi đẹp như một bức tranh thuỷ mạc;

mà tấm bia năm Minh Mệnh thứ 19 đã miêu tả:

ẽiĐất đẹp xưa nay chính chốn này Muôn dãn nhờ cậy phúc ơn dầy Mây vùng An Thái luôn bao phủ Nức tiếng anh linh mọi điềú hay

I Một số công trình kiến trúc tiêu biểu

1 Phủ Tiên Hương

Theo ừuyền thuyết, tư liệu và bi ký thì phủ Tiên Hương xây dựng từ thời Lê Cảnh Trị (1663 -1671) đến 1841 được chuyển thành công trình gạch ngói và năm Duy Tân thứ 9 (1915) tổng đốc Nam Định là Đoàn Triển cho xây dựng lớn như ngày nay

Phủ xây trên khu đất rộng 1 mẫu 4 sào, bốn bề tiếp giáp nhà dân, đường cái và xa xa là núi Tiên Hương che chắn mặt tây như bức bình phong khổng lồ

Tổng thể công trình theo kiểu nội trùng thiềm, ngoại chữ quốc, lớn nhỏ

có trên 10 toà với năm, bảy chục gian Những công trình chính là các toà phủ thờ và ba toà phương đình mặt tiền

Các toà thuộc đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, làm theo kiểu dáng cổ truyền dân tộc Riêng cung đệ tứ, có người gọi là bái đường gồm 7 gian dài 22m, rộng 8m, hệ thống xà cột vuông lác cạnh, làm rất cầu kỳ, chạm khắc nhiều

đề tài trên bẩy, ữên xà, trên mê cốn khá tinh tế, công phu như gợi cho tư duy con người nhận biết cảnh “đào tiên trường thọ ”, cảnh “kim tiền phú lộc” mà thế gian đang có sự ước muốn “phúc, lộc, thọ Những đề tài tứ quý, tứ linh cũng rất hấp dẫn nên toà nhà lớn, dùng toàn loại gỗ tứ thiết mà vẫn thanh thoát, nhẹ nhàng, vui mắt và dễ chịu

Trước sân là “Nguyệt hồ” làm cân đối theo trục đối xứng Quanh hồ

có tường hoa làm cầu kỳ đẹp mắt, cửa xuống hồ có rồng chầu và giữa tường hoa gắn tấm bia làm kiểu cuốn thư khá độc đáo, nội dung nói việc xây dựng phù

Trang 4

Phía ngoài có ba toà phương đình, tuy quy cách to nhỏ, số gian khác nhau nhưng phong cách làm kiểu chồng diêm tám mái như nhau, kết cấu kiểu thượng giường, hạ kẻ như nhau Hai toà tả hữu cân đối, hài hoà đẹp mắt Trong nhà còn đặt những hàng bia đá theo trình tự cân đối, khiển tả hữu phương đình không chỉ là nghi thức tô điểm cho mặt tiền, mà còn có chức năng bảo vệ bia, những di sản vừa có giá trị nhân văn, vừa có giá trị điêu khắc mà tiền nhân để lại

Toà phương đình ở giữa có 3 gian trông bề thế hơn, cũng làm theo kiểu

mê cốn, bẩy kẻ, những người thợ đã trau chuốt hơn, đục đẽo công phu hơn Những cặp nghê đỡ trụ non đấu rế, những mảng đề tài tùng, cúc, trúc, mai trên từng lá con ở các vỉ

Xung quanh phương đình được diễu tường hoa song tiện, cửa phía Tây

có rồng chầu, hai cửa phía Đông tạo đôi cặp hổ rất sinh động từ trên nhao xuống, lại ngước đầu, ngoái cổ nhìn nhau, tựa đón mừng người vào cửa, khiến toà phương đình đã tạo cho mặt tiền phù Tiên Hương thêm ý nghĩa, hấp dẫn, gợi cảm cho khách thập phương đến lễ và tham quan Phủ Tiên Hương có khá nhiều đồ thờ tự, tượng pháp, câu đối đại tự được gia công cầu

kỳ, ví như bộ đèn bằng đồng có 36 nơi cắm nến, người thợ phải khéo gia công, kết họp với tư duy vũ trụ mới có thể làm được Bộ đinh đồng, hạc đồng cũng được đúc với kỹ thuật cao, lại có ữỉnh độ hội hoạ nên hoạ tiết trang trí thật trang nhã

Ba bộ long ngai cỡ lớn, được chạm cầu kỳ các cặp rồng chầu, phượng,

ly, quy và hoa cách điệu, lại sơn thiếp theo kỹ thuật truyền thống nên hàng trăm năm, mà ánh vàng, ừong nền sơn đỏ vẫn còn bóng sáng và ấm áp lạ thường Sập đá dài 2,20m X 2,00m làm kiểu chân quỳ dạ cá, hoạ tiết bốn góc là chim thần cách điệu, một phong cách nghệ thuật từ lâu đời được bảo lưu kế thừa, rồi đường nét hổ phù cũng là đề tài quen thuộc, nhưng thể hiện cho sinh động đâu có dễ, do vậy sập đá mặc dù mang phong cách thời Nguyễn như các hiện vật kể trên cũng là những di vật đáng kể

Phủ Tiên Hương là công trình được tôn tạo vào thời Nguyễn, nhưng khi xây dựng đã biết trân ừọng và phát huy nét đẹp truyền thống, do vậy đã tạo nên một màu sắc văn hoá tiêu biểu và là một di tích trong quần thể di tích Phủ Dầy được Nhà nước công nhận xếp hàng cấp Quốc gia năm 1975

2 Phủ Vân Cát

Là một di tích quan trọng nằm ừong tổng thể di tích Phủ Dầy Đền thờ Mầu được dân làng xây dựng từ năm 1578, đến năm 1643 lại được sửa sang,

N h ữ n g n ét cơ bản về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc 375

Trang 5

376 V a n h ó a th ờ N ữ th ấ n - MẪU ở V lỆ T NAM VÀ CHÂU A

tôn tạo Thời nhà Nguyễn việc tu sửa Đền, Chùa, Miếu, Phủ được các quan chức chú ý và nhiều vị Tổng đốc, Tri huyện, Tổng lý ở các địa phương, miền Bắc đã cùng nhân dân đầu tư công của xây dựng, tu bổ, tôn tạo Nên Phủ Vân cũng là một công trình được xây dựng khá quy mô

Có nhiều câu đối, đại tự khẳng định Vân Cát - Phủ Dầy là nơi sỉnh ra Tiên chúa Liễu Hạnh như:

Vạn cố trạch (muôn thuở nơi nhà cũ)

Giáng sinh từ (ngôi đền thờ, sinh ra Thánh Mầu)

Đản sinh cố trạch (nhà cũ nơi Thánh mẫu giáng sinh)

Tiên nhân cựu quán (quê cũ của ngựời Tiên)

* Công trinh kiến trúc và giá trị nghệ thuật điêu khắc:

Phủ Vân Cát nằm trên vùng đất cao rộng trên 2 mẫu đứng biệt lập phía Tây Bắc làng, không bị thổ cư làm ảnh hường nên cảnh quan khá đẹp Khu nội tự phủ, đền và chùa rộng hàng mẫu Ba phía Bấc, Đông, Nam giáp ruộng lúa, phía Tây có đường cái chạy theo thế vòng cung, cùng những cây

cổ thụ, cây lưu niêm khiến sự bề thế, hoành tráng càng được nhân lên

Toàn bộ công trình làm theo trục đối xứng Đông - Tây với các toà phương du, đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ làm cân đối hài hoà Phía Nam phủ

về hai bên còn có nhà khách, hành lang khiến tổng công trình phủ có'tới 10 toà lớn nhỏ, đẹp ở bình diện và về cả không gian

Hai bên phủ có đền thờ vua Lý Nam Đế và chùa thờ Phật, được làm lui vào sau, khiến phủ thờ Mầu vẫn giữ vị trí trọng yếu của toàn cảnh

Trong số hàng chục toà lớn nhỏ, từ ngoài vào trong nổi lên một số công trình kiến trúc có giá trị thiết kế và điêu khắc tiêu biểu như toà phương

du, toà đệ tứ

- Phương dtt Vân Cát được làm giữa hồ nước mà nền được bó đá cẩn quy đẹp mắt, xung quanh có hành lang với nhiều mảng hoạ tiết như hoa chanh, voi chầu, các mảng chạm đá trúc mai rất kỳ công Hai phía Bắc - Nam có cầu đá mà dầm cầu chạm hoạ tiết bầu rượu, túi thơ, mặt cầu là những phiến đá xanh viền kép theo dáng cong cong, cũng làm cho phương

du thêm đẹp

- Song thuỷ lâu làm kiểu mái cong, xà bẩy chạm khắc tinh tế các đề tài

sen quy, mai điểu, rồi thông, mai, cúc, trúc, khiến đây là nơi gió mát mẻ, lại

Trang 6

378 Ván h ó a th ờ N ữ THÁN - MẴU ở VlỆT NAM VÀ CHÂU Á

3 Lăng mộ Thánh Mầu Liễu Hạnh

“Bất tử linh tinh sơn hà tịnh thọ

Như sinh khí phách thiên địa trường tồn ”

(Không thể mất, sự tốt đẹp và anh linh còn mãi với non sông,

Chết như sống, khí tiết hào hùng tồn tại lâu dài cùng trời đất)

Đó là câu đối của người xưa khắc ữên đá tại cửa phía Nam lăng Mầu như để cho hiện tại và mai sau hiểu về một bà mẹ mẫu mực của đất Son

Nam, ngẫm về một phụ nữ tiêu biểu của dân tộc nêu tấm gương trọn đạo làm con với cha mẹ, quê hương, vẹn nghĩa làm vợ thương chồng thương con Lại

dũng cảm đấu tranh xoá đi nỗi bất công đè lên đầu phụ nữ Đức siêu phàm,

là đức tốt của Thánh Mầu Liễu Hạnh sẽ bất tử, như câu nói của cổ nhân:

“Kim Thạch khả diệt nhi phong lưu bất diệt

(Vàng đá có thể mất, nhưng phẩm đức tốt được lưu truyền không thể mất)

Thánh Mẩu Liễu Hạnh có ba độ sinh, hoá Nhưng giai đoạn Giáng sinh

lần hai ờ Vân Cát làm con gia đình họ Lê với tên là Lê Thị Thắng, còn gọi

Giáng Tiên là anh linh hơn cả, sự linh thiêng hiển hiện, kỳ dị bất thường nổi

trội hơn cả và cũng để lại nhiều huyền thoại, ấn tượng trong dân gian hơn cả

(như Huyền tích về Thánh Mau ờ nhiều sách đã ghi)

Sách Nam Định địa dư chí của Đệ Tam giáp Tiến sĩ Khiếu Năng

Tĩnh, biên soạn năm Tự Đức thứ 32 (1879), Khiếu Năng Tĩnh thi đỗ làm

quan, ông đã để tâm tra cứu mảnh đất, con người quê hương, ấy vậy mà

phải mấy thập kỷ sau mới thành sự Niên hiệu Duy Tân thứ 9 (1915), “Tân

biên Nam Định tinh địa dư chí lược” mới được ra đời Phần giới thiệu

huyện Vụ Bản sách ghi:

- Tại xã Tiên Hương có ngôi mộ cổ, bốn phía cây cối xanh tốt, không khí mát mẻ, cảnh sắc u tịch Tương truyền là mộ công chúa Liễu Hạnh, có

bia mộ nhỏ nhưng không còn chữ Nhân dân trong vùng, làng xóm các nơi

mỗi khi có tật bệnh thường ra khu lăng mộ này hái lá, bẻ cành, hoặc đào rễ

cây về sao sắc uống Thường thì khi đến hái lá phải thắp hương trên mộ,

khấn vái cầu xin sẽ khỏi bệnh Nếu tự tiện hái lá, lại đem lời nhạo báng tất bị

ốm đau Nhưng nếu đem lễ vật ra mộ lễ sám hối thì bệnh tất lại bình thường

Lễ vật chi cần hương hoa, cốt tâm thành là được

Khu mộ này bằng đất, đến thời Minh Mệnh quan huyện cho xây viền

khu mộ và xây viền quanh mộ, lại xây bệ bằng gạch cho người đến đặt lễ cầu

may Tại cổng có câu đối ghi:

Trang 7

N h ư n g nét cơ bản về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc 379

“Hoa thào sao chiên năng liệu bệnh

Kính thành tuỳphục tức an khang”

(Lấy cỏ hoa sao sắc mà dùng khi đau ốm,

Tâm thành cầu khấn lại khoẻ mạnh như xưa)

Nêu những tình tiết trong Nam Định địa dư chỉ để thấy thêm về sự thể

rõ ràng của người con gái họ Lê, lấy chồng họ Trần và 21 tuổi qua đời, có phần mộ mai táng tại cánh đồng Quan, xứ Cây Đa thuộc Tiên Hương để ngẫm lại huyền tích công chúa Liễu Hạnh: như thật, lại như mờ mờ ảo ảo, đúng là sự kỳ dị và quả là “£>! nhất kỳ” trong “Thiên Bàn lục kỳ".

Mộ xa, cổng cũ đã được tôn tạo khác hẳn Từ nấm mồ bằng đất được làm lại ở khu đất rộng và cao, xung quanh cỏ cây xanh không lẫn với các phần mộ khác

Đồng quan Trần Vũ Thực cùng hội Xuân Kinh Phổ Hoá đã tổ chức cho khai thác đá xanh ở núi Nhồi Thanh Hoá, vận chuyển về gia công kỹ thuật rồi thi công, xây lắp tại Lăng và phải hai năm mới hoàn thành

Năm 1938 hoàn thành công trình, Lãng hoàn toàn bằng đá xanh, trên khu đất rộng 1.030m2 ở cánh đồng màu xứ Cây Đa, cách đường 56 chừng 200m, cách dẫy núi Tiên Hương chừng lkm và bên kia núi là mộ tổ họ Trần

Lê Khi Lăng đã hoàn thành, Thánh Mau Liễu Hạnh đã giáng bút, lời thơ giáng bút của Mầu có 4 câu thơ chữ Hán và 23 câu thơ lục bát, được Xuân kinh Phổ hoá Đào chi đệ tử nam nữ phụng lập trên bia đá vào ngày tốt tháng

Ba, niên hiệu Bảo Đại Mậu Dần (193.8):

- Vạn vật đô tòng tạo hoá công, Bạch đầu thương nhĩ phúc du đồng.

Thông minh tự ngã hoàng thiên phú,

Vô đoan liễu lục dữ đào hồng.

(Muôn vật từ xa tạo hoá xây,

Trẻ già đều hường phúc vui vầy.

Trời cho thông sáng lòng ta được,

Liễu biếc đào hồng cành đẹp thay)

Dưới bốn câu thơ chữ Hán, còn bài thơ thể lục bát nói lên việc xây dựng lăng là do tình cảm tốt đẹp, hay nói cách khác là có duyên của mọi

Trang 8

được chiêm ngưỡng nghệ thuật điêu khắc, làm cho ai bước chân tới cũng hài

lòng và cảm phục tài nghệ của ông cha, đề tài này chủ yếu là sản phẩm của

thời Nguyễn

- Toà bái đường còn gọi là đệ tứ gồm 5 gian lớn làm kiểu chồng diêm hai tầng, 8 mái cong cong như cánh hoa sen đều khiến có thể hình dung đây

là một bông hoa sen vươn lên rất đẹp Những hàng bẩy, kẻ vừa có dáng cong

cong vươn lên, vừa lộ nét đẹp hai bên về các đề tài thông, mai, cúc, trúc hoá

long, rất sống động

Xà ngang, xà nách, trụ non, đấu rế cùng các mảng mê cốn của công trình

không chỉ soi chỉ công phu, tạo dáng các con nghê đội trụ rất tự nhiên, mà còn

từng nơi, từng cấu kiện chạm tứ linh tứ quý khiến khách du lịch, khách hành

hương đều hài lòng Và đặc biệt phần nội thất tượng pháp, ngai, kiệu, cửa

võng đồ thờ hoành phi, câu đối rất phong phú Có sản phẩm của thế kỷ XIX,

đầu thế kỷ XX Có sản phẩm mới tiến cúng gần đây, nhưng còn có cả cỗ ngai

thờ mang màu sắc văn hoá thế kỷ XVII - XVIII là di sản văn hoá quý hiếm

Các toà khác cũng được làm theo phong cách cổ truyền, bài trí tượng

Tam toà Thánh Mầu, tượng ngũ vị Tôn quan, Ngũ vị Quan hoàng, tượng Cô,

Cậu khá đầy đủ và đẹp mắt

Điều đặc biệt là phủ Vân còn hệ thống văn bia rất có giá trị về lịch sử,

đặt dưới ngũ văn lâu 3 tầng mặt tiền, cùng với hệ thống đồng trụ tường hoa

khiến tổng công trình nội trùng thiềm, ngoại chữ quốc ở đây vừa bố cục chặt

chẽ, vừa đẹp, đáp ứng yêu cầu hành hương, du lịch, xứng đáng là di tích lịch

sử - văn hoá cấp Quốc gia, được Nhà nước xếp hạng năm 1975 Đây quả là

nơi điện Thần quan trọng trong quần thể di tích Phủ Dầy, góp phần làm cho

mảnh đất địa linh thêm đẹp, thêm ý nghĩa Và đây cũng là nơi đông đào

khách hành hương sùng kính, về đây là về với cội nguồn đất Thánh như người

xưa đã ghi:

Bồng Hồ nào phải đâu xa Dấu xưa tốt đẹp thực là nơi đây!

Thiêng liêng còn đến hôm nay Khói nhang thờ phụng tháng ngày đông vui.

N h ữ n g nét cơ bản vé nghệ thuật kiên trúc, điêu khắc 377

Trang 9

3 8 0 V â n h ó a th ờ N ữ th ắ n - MẪU ở V iệ t NAM VÀ CHẢU Á

người, việc làm tốt đẹp này sẽ làm vui lòng Mẹ và Mẹ sẽ độ trì cho đàn con

có cuộc sống yên vui hạnh phúc

Tấm bia lưu giữ bài giáng bút được đặt trong nhà bia làm kiểu bốn mái cong cong, đỉnh mái là búp sen, bốn đầu kìm góc đao là chim phượng Nhà bia làm rất công phu lại hài hoà duyên dáng Hệ thống cột vuông có đấu thượng và bệ được soi chỉ kép công phu càng làm cho nhà bia tăng giá trị nghệ thuật Đặc biệt hơn là trên hai cột mặt chính diện được khắc nổi câu đối chữ Nôm, nói lên thân thể ba lần sinh, hoá, nêu tấm gương rất đỗi hiếu nghĩa, rất mực chung thuỷ của Mầu Đây là bản chất, đạo lý của dân tộc Việt Nam, nên từ giai đoạn Mầu giáng sinh lần nhất ở Vi Nhuế (1434), lần hai giáng sinh ờ Vân Cát (1557), lần ba hạ trần ờ Nga Sơn - Thanh Hoá (1609) tính ra đã trên 500 năm, cụ thể hơn nếu tính từ giai đoạn đầu đến nay (2012)

đã 580 năm, sự anh linh vẫn hiển hiện, lòng người vẫn ngưỡng mộ, như ánh sáng vô hình chiếu rọi những điều tốt đẹp đến quê hương Nam Định

“Sinh hoá suốt ba phen, trinh hiếu gương treo miền quận Bắc,

Tinh thần năm trăm lè, anh linh bóng rọi chốn thành Nam

Lăng xây kiểu hình vuông mỗi cạnh 24m, từ ngoài vào trong tạo 5 lớp tường hoa theo cấp độ khác nhau, tường trong cao hon tường ngoài, do vậy tuy chiều cao các tường hoa đều lm mà vẫn thấy rõ sự vươn dần lên phần

mộ, hình tượng như bốn mái che bốn phía cho thân mộ và bốn mặt tường hoa đều có cửa lên mộ, mỗi cửa lại có một bình phong làm kiểu cuốn thư, đục chạm hoa lá cách điệu nghệ thuật

Mỗi cạnh tường hoa có hai trụ góc, hai trụ cổng do vậy mỗi vòng tường có 12 trụ, trên đặt đấu và một bủp sen, khiến 5 vòng tường có 60 búp sen, đây là con số tròn trình một hội (60) mà thuyết âm dương đã đề cập Hoạ tiết trang trí trên tường hoa cũng không đơn điệu lớp ngoài tạo chấn song, lớp thứ hai tạo chữ “Thọ”, lóp thứ ba chạm nổi chữ “vợn” và nền

là kiểu trang trí “cẩn quy" (hình mai rùa) đều đặn Lớp thứ tự chạm các vòng

- tròn lồng vào nhau và lóp trên cùng tạo hình ổng hương bao quanh phần mộ Các trụ cổng của 5 vòng tường hoa đều chạm chi, tạo đấu, chạm câu đối mà nét chữ thật tài hoa, gợi cảm Hoạ tiết và chữ ở vòng tường hoa cũng toát lên

ý nghĩa trường tồn và từ thiện

Từ 4 cửa phía Đông, Tây, Nam, Bắc đều lên được phần mộ Mộ tạo hình bát giác, mỗi cạnh dài lm Thân mộ trên có lợi loe ra, rồi vát lên thành

Trang 10

mái, nhưng vẫn để lộ phần đất trồng cỏ đường kính 2,60m, là đường thông

âm - dương Mỗi cạnh ở phần mái vát lại được soi chỉ và tạo 21 bông hoa

nhỏ, như 21 “Núm vú" khiến tất cả quanh m ộ có 168 bông hoa nhỏ như “vm

mẹ, do vậy phần mộ vừa đẹp, vừa công phu, lại rất có ý nghĩa về nguyên lý

Mẹ Và trước kia cũng đã không ít người tới thăm lăng, ghé miệng vào bông hoa như để bú dòng sữa mẹ, hoặc mua những gói đất cát trộn đường đem về dùng khi cần thiết

Điều đặc biệt là tại các trụ cổng lên mộ đều có khắc câu đối nội dung tán dương công đức của Mầu

- Câu đối cửa phía Đông:

Từ ái nhất tâm nhân nhụ mộ,

Hiếu trinh thiên cổ nữ anh Phong.

(Lòng từ một niềm ngời kính mộ,

Hiếu trinh ngàn thuở đẹp tiếng thơm)

- Cửa phía Tây có câu đối:

"Diệu pháp huy chương chương Bắc quận,

Vân phàm phổ tế tế Nam Phương ”

(Phép lạ sảng ngời, ngờị đất bắc

Mây lành che chở, giúp dân Nam)

Câu đối còn nhiều, xin đề cập một đôi nói đến lòng thuỷ chung, uống nước nhớ nguồn là truyền thống cùa dân tộc:

“Trắc dĩ nan đàn sơn thốn thảo,

Ấm hà bội giác thuỳ chi nguyên ”

{Uổng giọt nước sông càng nghĩ về nguồn nước chảy

Trèo lên núi Dĩ (núi Mẹ) khó đền tấc cỏ tươi xanh)

Lăng Thánh Mầu Liễu Hạnh là công trình kiến trúc hoàn toàn bằng đá Đây là một tác phẩm điêu khắc độc đáo đầy công phu và đạt yêu cầu kỹ, mỹ thuật cao Do vậy từ năm 1975 được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử - văn hoá cấp Nhà nước và thực tế nhiều thập kỷ nay, lăng Thánh Mẩu đã thu hút hàng triệu lượt khách dâng hương, tham quan du lịch, góp phần không nhỏ tăng ý nghĩa cũng như vẻ đẹp khu quần thể di tích danh thắng Phủ Dầy

N h ữ n g nét bản về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc 381

Ngày đăng: 07/02/2021, 12:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w