1. Trang chủ
  2. » Sinh học

Những giá trị toàn cầu của di sản văn hóa Campuchia

12 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn từ giữa thế kỷ XX, nó được giới thiệu đến công chúng và ngày nay, điệu múa này trở thành biếu tượng của văn hóa Khơ Me và thường xuyên được biểu diễn t[r]

Trang 1

NHỮNG GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CỦA DI SẢN VĂN HỎA CĂMPUCHIA

Chea Vanny*

Cămpuchia là đất nước nam ơ phía dông nam bán dáo Dông Dương, giữa vĩ độ 103 và 108, và giữa vĩ tuyến 10 và 15 Cămpuchia tiếp giáp với Lào về phía bac, với Thái Lan về phía tây với Việt Nam về phía nam và phía đông Diện tích cua Cămpuchia là 181.035 km2 và dân số khoảng 14 triệu người

Theo những nghiên cứu lịch sử và khảo cô hục cũng như những tài liệu có liên quan, nền văn minh của đất nước Cămpuchia cổ dại ánh hương tới toàn bộ khu vực Nền văn minh này bị ảnh hương bới văn hóa

Ẩn Độ từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên Người Cămpuchia theo hai tôn giáo chính có nguồn gốc từ Ản Độ là Ấn Độ giáo và Phật giáo Liên quan đến sự hành đạo cua hai tôn giáo này người Khư Me cổ đã đè lại nhiều công trình kiến trúc và diêu khắc vĩ đại

Nhiều ngôi đền lịch sư trang hoàng tráng lệ được coi là cung điện của các vị thần Mặc dù một số ngôi đền đã bị phá huỷ, nhiều ngôi đền vẫn giữ được vẻ đẹp để công chúng chiêm ngưỡng, đặc biệt là ngôi đền Angkor Wat Ngôi đền này được toàn thế giới chiêm ngưỡng như một kiệt tác kiến trúc

Người Khơ Me cổ cũng để lại nhiều tuyệt tác nghệ thuật mà một

số trong số đó đã được xếp trong Danh sách Di sản Thế giới Đó là:

- Đền Angkor Wat: 1992;

- Điệu múa Khơ Me cổ: 2003;

- Sân khấu bóng Khơ Me: 2005;

- Đền Preah Vihear: 2008

* TS Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Hàn lãm Cămpuchia.

Trang 2

I Đcn Angkor Wat

Đên Anukor Wat chi là môt tro na sỏ hàn o •— c 11 trăm nuôi đen ơ phíacr I băc Cămpuchia hiện thời vẫn còn nhừng di tích năm rái rác trôn diện tích khoảng 300km2 Đen Angkor Wat dược hình thành và xảy cỉựim dưới thời vua Suryavarman II (1113 -1150) Đây cũng dỏnu thời là thu

dô cua đô quốc Kha Me đe quốc dà phát triên từ thê kỷ thứ IX về phía băc hô Tonle Sap Ngôi đên chứa đựng nhiêu nét Dông Nam A và có nhiều ảnh hướng về chính trị và vãn hóa tới toàn khu vực cho tới khi ngôi đên dan bị bỏ quên vào thê ky XIV Chăc chăn dây là một tro ne nhừng kỷ quan của thê giới vê nghệ thuật và kiên trúc Thời kỳ Aimko băt dâu vào năm 802 sau công nguvcn khi quốc vương Jayavarman II

là nuười Khơ Mc theo An Đô ui áo tuvên bô ônii là "vi vua toànV— • c * C T •

quvên" và là "vua - than”, cho tới năm 1431, khi vua Khư Me Porgneavat dời thủ đô từ Ầngkor vồ Toulbasan (một luiyện ơ tinh Kampongcham ngày nay)

Các nhà kiến trúc và điêu khắc thời Ảniỉko dã sánu tao nên nhũn”CT C r • ngôi đền và vẽ bán đồ thế giới vũ trụ trên đá Những trang trí của người Khơ Me đều lấy cảm hứng từ tôn giáo và những sinh vật huyền thoại trong Án Độ giáo và Phật giáo được chạm khấc trên các bức tường Các ngôi đèn dược xây dựng theo nguyên tăc kiên trúc cua người k h ơ Me

cố quy định ràng mồi ngôi đền gồm một điện thờ trung tâm, một sân nhò, một bức tường và một hào bao quanh Các mô típ cua người Khơ

Me sử dụng nhiều sinh vật trong thần thoại cua Phật giáo và Án Độ giáo, ví dụ Cung diện Hoàng gia ờ Phnoni Pênh sư dụng các mô típ như

Cămpuchia phát triến theo các thời kỳ dưới thời đế quốc Khư Me từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ XV và được lưu giữ lại trong nhiều công trình của đền Ảngkor Những gi còn lại của kiến trúc thế tục cua thời kỳ này là rất hiếm vì chỉ có các cơ sở tôn giáo mới được xây dựng bằng đá Kiến trúc của thời kỳ Angkor có nét đặc trưng và phong cách xây dựng rât đặc biệt và đây là một trong những phương pháp chính để xác định niên đại của các ngôi đền cùng với chữ khắc trên đá Vì tầm anh hưởng cùa đế quốc Khơ Me và do rất nhiều kiệt tác nghệ thuật còn được giữ lại nên di sản này dã được xếp vào Danh sách Di san Thế giới

Trang 3

Nhóm các đền đài trong khu vực Ảngkor đã được đưa vào danh sách di sản thế giới bao gồm:

- Angkor wat

- Baseichamkrong

- Banteay srei

- Chau Say tevoda

- Kravan

- Brerup

- Ta Prohm

- Bakheng

- Banteay Kdei

- Baphone

- East Mebon

- Lolei

- Preah khan

- Thomanan

- Bakong

- Banteay Samre

- Bayon

- Kbal spean

- Neak Poan

- Preah Ko

II Điêu múa Khơ Me cố

Điệu múa Khơ Me cổ là một hình thức múa của người Cămpuchia Ban đầu, điệu múa này chỉ dành cho hoàng tộc Trong giai đoạn từ giữa thế kỷ XX, nó được giới thiệu đến công chúng và ngày nay, điệu múa này trở thành biếu tượng của văn hóa Khơ Me và thường xuyên được biểu diễn trong các sự kiện công cộng, các ngày lễ và dành cho khách du lịch Điệu múa cổ này nổi tiếng vì cách các vũ nữ sử dụng đôi bàn tay và đôi bàn chân để biểu lộ tình cảm Có tới 4.000 động tác khác nhau trong thể loại múa này Lập lại thời kỳ vàng son vào những

Trang 4

năm 1960 điệu múa cô Khơ Me, còn được gọi là múa ba lê Hoàng gia

Cămpuchia ( The Royuì Ballel o f Cambodia), sau khi được UNESCO

chọn là Kiệt tác Di sản văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại, đã trở thành điệu múa nôi tiếng nhất trong văn hóa và xã hội

Reamker, một phiên ban điệu múa An Độ mang tên Ramayuna, đã có

ảnh hưởng lớn đến điệu múa Khơ Me cổ này Nó ảnh hưởng đến độngo • J *—•

tác, cách di chuyển và cốt truyện Điệu múa bất nguồn từ Rcamker

Dance được gọi là robam sovcmn macha và robum moni mekaìa Trên

thực tế, tất cả các điệu múa đều gợi cho khán giả về điệu múa trên thiên đàng Đó chính là điệu múa của một thiên thần hav Apsara trong thần thoại tiếng Phạn, nhằm mang lại điều may man và thành công cho khán giả Điệu múa Khơ Me cổ này được tạo ra bàng cả trái tim nghệ thuật Người biểu diễn được trang sức bằng rất nhiều đồ kim hoàn

Trong tiếng Anh, điệu múa này được biết đến dưới các tên gọi

khác nhau như Khư Me Royal Dalìeí (múa ba lê 1 loàng gia Khơ Mc) và

Cambodian Court Dance (điệu múa 1 loàng gia Cãmpuchia) Trong The Cambridge Guide to Theatre (Sách hướng dãn về sân khấu cua Cambridge) và trong Danh sách các Kiệt tác Di sản Phi vật thế và

Truyền khấu của nhân loại của UNESCO, điêu múa này có tên là Ruyal

Dallel o f Cambodia Tuy nhiên, UNESCO cũng sử dụng cả thuật ngữ

"Khư Me classìcưl dance" Dôi với người K.liơ Me, diệu múa này

được biết một cách chính thức là Robíim Preah Reachca Trop, nghĩa

là “Những điệu múa về sự thịnh vượng của Hoàng gia”, hay đơn giản

là Robam Dưói chỗ độ Lon Nol, điệu múa dược dôi tên thành Robam

Kbach Boran Khứ Me, nghĩa là “điệu múa theo phong cách Khơ Mc

cồ”, một thuật ngừ không mấy liên quan đến quá khứ hoàng gia của

nó Đây là một hình thức nghệ thuật với phong cách độc đáo và chủ yếu do nữ giới trình diễn Trong thời kỳ báo hộ của Pháp, diệu múa cô

bị hạn chế, thường chỉ được biểu diễn trong hoàng cung với người biểu diễn là vợ, thiếp, họ hàng của vua và những người hầu trong cung điện, vì thế những tên gọi điệu múa này trong phương Tây thường gắn với hoàng gia

Hình thức múa cũng được trình diễn dưới một vài hình thức sân

khấu Khơ Me (.Lkhaon) như Lkhaon Kbuch Boran (loại hình cơ bản của kịch múa cổ do nữ giới biếu diễn) và Lkhaon Khaol (một loại hình kịch

Trang 5

múa do nam giới trình diễn) Những vũ công Khơ Me cố được gọi là

Apsaru dancers (vũ câng Apsura) Theo nghĩa hiện nay thì gọi như vậy

có thê là không chính xác vì người ta nghĩ rằng Apsara chi là một kiêu nhân vật do vũ công biếu diễn

III Sân khấu rối bóng Kho' Me

Sân khấu rối bóng Khư Me là một hình thức nghệ thuật truyền thống của Cămpu chia, sử dụng bóng của những hình cắt từ da bò để diễn tả các câu chuyện Một số con rối bóng có tay và chân có thể chuyển động hoặc có mồm để mở ra, bắt chước lời nói và bài hát của người kể chuyện Sân khấu rối bóng thường bao gồm các nhân vật hài hước và thường dựa trên những câu chuyện của đời sống thường nhật

Sân khấu rối bóng Khơ Me (hay còn gọi là Lkhaun N ang Sbek;

tiếng Khư Me - [lkhaon nai] sbaek]) là các hình thức kịch bóng, trong đó

người ta sử dụng các con roi bóng bằng da Hai thế loại chính là Sbek

Thom, mô tả Reamker, và loại kia là Sbek Toch, thể loại dùng những

con rối nhò hơn và rất nhiều câu chuyện Một thể loại nữa được gọi là

Sbek Por sử dụng những con rối da có mầu sắc Kịch rối bóng của

Cărnpuchia gần gũi và giống kịch rối bóng của Thái Lan, bán đảo Malay và Indonesia

Trang 6

ìXaniỊ shek (sân khấu bóng - hav l khaon Nang Sbck) trong tiêng

k h ơ Me cỏ nghĩa là có liên quan chặt chẽ với Nang Yai cúa Thái Lan, với Wayang của Malaysia và Indonesia như các dáo Java và Bali vì thế

người ta cho răng naníỊ shek có thê xuât phát từ Indonesia hoặc Malaysia từ nhiều thế ky trước Nanạ shck cũng là một loại hình nghệ

thuật dang bị suy tàn và có thê bị biến mất vì trong những năm qua sự quan tâm cùa công chúng đốn loại hình nghệ thuật này đã giám di nhiều trước sự tấn công cua những loại hình yiai trí hiện dại Trước khi công nghệ hiện đại như phim anh video vô tuyến lan tràn rộng rãi người Kha Me rất thích xem sân khấu roi hóng và những hình thức giai trí thời

đó Ớ Cămpuchia có ba thế loại sân khau rối bóng Đó là:

- N tm gSbek thom, một nghệ thuật gồm kịch câm hát nhạc múa

kê chuyện với dàn nhạc Pinpeat đệm kèm Loại hình này chủ yêu mô tá Reamker

- Ncmg Shckloch, còn được gọi là Nang Kalun và đôi khi còn gọi

là Ayanịỉ (sân khấu bóng nhó), sứ dụng những con rối nhỏ hơn và rất

nhiêu các loại chuyện kê

- Sbekpor (sân khau roi mẩu): sư dụng những con rối bằng da có

mầu sắc

Shek Thom là mội sân khau bóng Khơ Mt’ cao 2m các con rối

không có khớp nối được làm bang những miếng da có lồ thùng Có từ

trước thời kỳ Ảngko, Shck Thom, cùng với Roval Ballel (balê hoàng

gia) và kịch mặt nạ được coi là các loại hình nghệ thuật thiêng Vì các loại hình nghệ thuật này dành cho thần linh nên các buôi biếu diễn thường chi diễn ra trong những dịp đặc biệt, ba bốn lần một năm như vào dịp tết của người Khơ Me sinh nhật nhà vua hoặc để biếu thị sự sùng kính đối với những người nổi tiếng Sau khi thời kỳ Ảngko suy tàn vào thê kỷ XV sân khấu rối bóng phát triển vượt khòi khuôn khổ hoạt động nghi lề và trờ thành một hình thức nghệ thuật, nhưng vần giữ được các khía cạnh nghi lễ cua nó

Mỗi con rối dược làm từ một miếng da duy nhất trong một nghi lễ đặc biệt vì mỗi nhân vật đều tượng trưng cho các vị thần Manh da được nhuộm bàng vỏ thân cây Kandaol Những người thợ thủ công vẽ những

Trang 7

hình họ muôn lên tâm da đã thuộc rôi căt và sơn trước khi găn tâm da đỏ lên hai que tre để các vũ công điều khiển khi biểu diễn

Theo truyền thống, các buổi biếu diễn được tổ chức ngoài trời, vào ban đêm và cạnh một cánh đồng lúa hoặc một ngôi chùa Một tấm màn trắng lớn được treo giữa hai khung cao bàng tre trước một đống lửa lớn, hoặc ngày nay là máy chiếu Bóng các con rối được chiếu lèn tấm phông màu trắng Những người điều khiển mang các con rối đến với cuộc sống bằng các bước múa rất dặc thù và chính xác Một dàn nhạc và hai người kể chuyện đệm cho buổi biểu diễn Lấy cám hứng từ

Reamker, phiên bản Ramayana của người Khơ Me , các buôi bicu diễn

kể lại sử thi này và có thể kéo dài vài dêm và cần đến 160 con rối cho mồi lần biếu diễn Dưới chế độ Khơ Me dỏ hà khấc, nhiều con rối đã bị phá hỏng và loại hình nghệ thuật linh thiêng này gần như bị hủy diệt Từ

năm 1979, Sbek Thom dần dần được khôi phục nhờ một số nghệ sĩ còn

sống sót Cho đến nay, ba sân khấu rối bóng đã có thế sống dậy từ đống tro tàn đảm bảo việc truyền dạy tri thức và kĩ năng liên quan, bao gồm

cả việc làm các con rối

IV Đen Preah Vihear

Đên Preah Vihear là một đên thờ An Độ giáo cùa người Khơ Me tại miền Bẳc, trên đinh dãy núi Dang Rek và ở dộ cao 625m so với mặt nước biển Tổ hcrp khu đền trải dài 800m theo trục bắc - nam Ngôi đền

Trang 8

chủ yếu được xây dựng trong thế kỷ XI và XII, dưới triều đại các vua Suryavarman I và Survavarman II

Vê mặt địa giới hành chính, ngôi đền thuộc xã Sraem, huyện Cheam Khsan, tỉnh Preah Vihear, cách Phnom Penh 400km về phía bắc

và cách đền Ăngkor 140km về phía đông bắc Di tích nổi tiếng bởi chất lượng kiến trúc và vị trí thuận lợi về môi trường tự nhiên và chức năng tôn giáo, cũng như chất lượng khắc chạm tuyệt vời trên đá Đây cũng là một kiệt tác kiến trúc nổi tiếng của người Khơ Me về sơ đồ, cách trang trí và mối quan hệ với môi trường cảnh quan Di tích này được bảo tồn đặc biệt tốt, chù yếu do vị trí xa xôi của nó

Tính chân thực của ngôi đền, đã được tạo nên xét từ góc độ kiến trúc mà các tòa nhà và chất liệu xây dựng thể hiện rõ các giá trị của tài sản này, đã được xác lập Đặc tính của các ngôi đền bao gồm tổ hợp đền; tính nguyên vẹn của tài sản phần nào đã bị mất do sự thiếu hụt một phần mũi đất từ vành đai ngoài của di tích Các biện pháp bảo vệ khu đền về mặt pháp lý là đầy đủ, những tiến triển trong việc xác định các thông số của Kế hoạch Ọuản lý cần phải được tổng hợp thành một Ke hoạch Quản lý toàn diện và được phô duyệt

Tại kỳ hợp lần thứ 32 của Uỷ ban Di sản thế giới tại Quebec, Canada năm 2008, đền Preah Vihear đã được công nhận là di sản thế giới theo tiêu chí giá trị nổi bật phổ quát Cụ thế “Preah Vihear là một kiệt tác nổi tiếng trong kiến trúc của người Khơ Me” Ngôi đền rất

“nguyên chất” cả về sơ đồ và các chi tiết trang trí” Trước khi ngôi đền được công nhận là di sản thế giới, chính phủ Hoàng gia Cămpuchia đã thành lập cơ quan quốc gia quản lý và bảo tồn di tích lịch sử đền Preah Vihear vào ngày 1-6-2006 như một cơ chế để tiến hành các nhiệm vụ bảo tồn và quản lý di tích này Sau khi ngôi đền được chính thức công nhận là di sản thế giới, Cơ quan Quốc gia quản lý và bảo tồn di tích lịch sừ đền Preah Vihear có nhiệm vụ thực hiện các dự án bảo tồn và phát triển bền vững các di tích đã được công nhận

Khu đền bao gồm một loạt các điện thờ, nối với nhau bởi một hệ thống các mặt lát, cầu thang, bậc thang để đi lên đồi tới điện thờ chính nằm tại đỉnh cao nhất về hướng nam của tổ hợp đền kéo dài trên 800m theo trục bắc nam Cách sắp xếp này làm cho đền Preah Vihear có một

Trang 9

bố cục kiến trúc hiếm thấy trong nền văn minh cùa người Khơ Me Một

số công trình được xây dựng vào thế kỷ thứ IX và một số công trình khác được xây dựng vào thế kỷ XI, dưới triều đại vua Suryavarman I (1002-1050), ngày nay người ta vẫn có thể nhìn thấy những công trình này Di tích này là nơi linh thiêng thờ vị thần Àn Độ giáo Shiva, hiện thân dưới tên gọi Sikharesvara (vị chúa của dinh núi - the Lord o f Peak)

và vị thần này được vẽ trên tường và lanh tô của di tích

Một điêm quan trọng cân ghi nhớ là Toà án Công lý Quôc tê (ICJ), tại phán quyết ngày 15-6-1962 “nhận thấy rằng đền Preah Vihear nằm trên lãnh thổ thuộc chủ quyền của Cămpuchia”

Mới đây, UNESCO vừa tuyên bố đưa ngôi đền vào Danh sách Di sản thế giới Sự kiện này rõ ràng chứng tỏ sự hưng thịnh của đế quốc Khơ Me trước đây

Sau đây là các tiêu chí đánh giá di sản thế giới của UNESCO

Tiêu chí lụa chọn:• é

1 Là một kiệt tác mang tính sáng tạo cùa con người;

2 Cho thấy sự trao đổi quan trọng những giá trị của con người trong một khoảng thời gian hoặc tronu lĩnh vực văn hóa của thế giới, về

Trang 10

những phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tượng đài, quy hoạch thành phố hoặc thiết kế cảnh quan;

3 Mang một nét độc đáo hay ít nhất khác thường về truyền thống văn hóa hay một nền văn minh mà hiện còn tồn tại hoặc đã mất đi

4 Là ví dụ nổi bật về một tổng thể xây dựng, kiến trúc hoặc cảnh quan để minh họa cho một hay nhiều giai đoạn có ý nghĩa trong lịch sử loài người;

5 Là ví dụ nổi bật về nơi định cư truyền thống của con người, việc sử dụng đất đai, sử dụng biển và điều đó đại diện cho một (hoặc các) nền văn hoá, hoặc mối quan hệ giữa con người với môi trường, đặc biệt khi môi trường bị tốn thương dưới tác động cùa sự thay đổi không thể tránh khỏi;

6 Gắn liền trực tiếp hoặc gián tiếp với các sự kiện hoặc truyền thống sống, với các tư tưởng hoặc niềm tin, với các tác phẩm văn học và nghệ thuật có ý nghĩa nổi bật (Uý ban cho rằng tiêu chí này cần được sử dụng cùng với các tiêu chí khác);

7 Chứa đựng các hiện tượng tự nhiên ưu tú hoặc các lĩnh vực có

vè đẹp tự nhiên khác thường và có tầm quan trọng thấm mỹ;

8 Là ví dụ nổi bật đại diện cho những thời kỳ chính trong lịch sử của trái đất, bao gồm dừ liệu về sự sống, nhừng quá trinh dịa chất có ý nghĩa đang diễn ra trong sự kiến tạo địa mạo, hoặc các đặc tính địa mạo, dịa văn có ý nghĩa;

9 Là những ví dụ nối bật đại diện cho các quá trình sinh học và sinh thái học có ý nghĩa đang diễn ra trong quá trinh tiến hoá và phát triển của hệ sinh thái đất, hệ sinh thái nước ngọt, hệ sinh thái duyên hải

và đại dương và các cộng đồng động thực vật;

10 Chứa đựng môi trường sống tự nhiên có ý nghĩa và quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, bao gồm những nơi có các loài mang giá trị phổ biến nổi bật đang có nguy cơ bị đe doạ theo quan điềm khoa học và bảo tồn

Kết luận

Cămpuchia là một trong những đất nước giàu có nhất về di sản văn hóa, cả văn hóa vật thể và phi vật thể ớ Đông Nam Á Một số di sán đă

Ngày đăng: 07/02/2021, 12:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w