1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy từ thực tiễn tỉnh bắc ninh

85 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 782,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy.. Từ các lý do trên, học viên đã lựa chọn đề t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Hà Nội - 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học này là độc lập của riêng tôi

Các kết quả được viết trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả

Trang 4

1.2 Những yếu tố đảm bảo thực hành quyền công tố của Viện kiểm

sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túyError! Bookmark not defined.

Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ

SƠ THẨM VỤ ÁN MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 29

2.1 Những quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực

hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án ma túy 29

2.2 Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2015

đến năm 2019 39

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH

QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ

ÁN MA TÚY 58

3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy 58

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy 61

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ Luật hình sự

BLTTHS: Bộ Luật tố tụng hình sự

CQĐT: Cơ quan điều tra

KSĐT: Kiểm sát điều tra

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là hai chức năng cơ bản của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) các cấp được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa tại Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 Việc đảm bảo thực hiện chức năng này là nhiệm vụ trọng tâm cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về "Một số nhiệm

vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" [1]; Nghị quyết số NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 24/5/2005 về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020" [2]; Nghị quyết số 49-NQ/TW Bộ Chính trị, ngày 02/6/2005 về

48-"Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" [3] Hoạt động của VKSND là một hoạt động xuyên suốt bắt đầu từ giai đoạn giải quyết tin báo, điều tra, truy tố, xét xử đến giai đoạn thi hành án hình sự Trong tố tụng hình sự, chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử của Viện kiểm sát là đặc biệt quan trọng, bởi vì quyết định truy tố (bản cáo trạng) là cơ sở pháp lý để Tòa án đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm Vì thế hoạt động này của Viện kiểm sát

sẽ tạo điều kiện cho Toà án nhân dân tuyên một bản án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và có tính thuyết phục, nâng cao chất lượng công tác đấu tranh phòng ngừa vi phạm và tội phạm, hạn chế thấp nhất việc kháng cáo, kháng nghị Kiểm sát viên (KSV) căn cứ quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo đúng tội danh, đề xuất mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đây chính là việc Kiểm sát viên đã đảm bảo tốt công tác thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự

Tỉnh Bắc Ninh là tỉnh có địa giới hành chính sát với Thủ đô Hà Nội,

Trang 7

nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng Từ khi tái lập tỉnh đến nay, Bắc Ninh

đã có những bước phát triển khá nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đời sống vật chất và văn hoá tinh thần của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện Tuy nhiên, cùng với sự phát triển vượt bậc của kinh

tế - xã hội cũng kéo theo sự gia tăng của các loại tội phạm trên địa bàn tỉnh, trong đó nổi lên là các tội phạm ma túy Trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy được xác định là nhiệm vụ hết sức quan trọng của chính quyền trong tỉnh Bắc Ninh nói chung và các

cơ quan tư pháp trong tỉnh trong đó có VKSND nói riêng, là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế xã hội, sự ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh Bắc Ninh

Viện kiểm sát nhân dân các cấp của tỉnh Bắc Ninh đã quán triệt tốt các chủ trương về cải cách tư pháp trong việc tăng cường hoạt động công tố trong giai đoạn xét xử, đã phối hợp chặt chẽ với Tòa án hai cấp giải quyết các vụ án hình sự về tội phạm về ma túy và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Các vụ án về ma túy đã được Tòa án các cấp xét xử theo đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian vừa qua thể hiện còn nhiều tồn tại và hạn chế, cũng là những thách thức đối với ngành kiểm sát trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Xuất phát từ đặc điểm của loại tội phạm này là có nhiều phương thức, thủ đoạn phạm tội tinh vi, xảo quyệt; số lượng vụ án có chiều hướng gia tăng, tính chất mức độ nguy hiểm ngày càng cao; cùng với

đó là sự xuất hiện của nhiều loại chất ma túy mới, hậu quả xảy ra ngày càng nghiêm trọng gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, đòi hỏi cần phải được phát hiện và xử lý kịp thời Song, do nhiều lý do khác nhau mà công tác

Trang 8

THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh vẫn còn xảy ra tồn tại, hạn chế, sai sót, dẫn đến một số vụ án sơ thẩm còn

để sửa, hủy, gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của công dân, của các tổ chức, cơ quan có liên quan, chưa đáp ứng được tình hình ổn định chính trị tại địa phương, cũng như ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động của ngành Kiểm sát hai cấp tỉnh Bắc Ninh

Từ các lý do trên, học viên đã lựa chọn đề tài “Thực hành quyền công

tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”

làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành tốt nghiệp Thạc sĩ Luật tại Học viện khoa học xã hội, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự để góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm của Viện kiểm sát, đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đấu tranh phòng chống tội phạm ma tuý từ lâu không còn là vấn đề chỉ giới hạn trong biên giới, lãnh thổ quốc gia mà nó đã trở thành vấn đề nóng bỏng mang tính toàn cầu Từ yêu cầu đòi hỏi khách quan, bức thiết của cuộc đấu tranh này đã thu hút nhiều nhà khoa học trong nước và thế đã quan tâm nghiên cứu, tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, tổng kết, xuất bản các tài liệu phục vụ việc phòng chống ma tuý Công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự là công tác quan trọng của ngành kiểm sát nhằm đảm bảo truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật Quá trình nghiên cứu luận văn, học viên đã tìm hiểu và tiếp cận nghiên cứu được một số công trình khoa học có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài như:

- Giáo trình Đào tạo " Nghiệp vụ kiểm sát" của Trường Đại học kiểm

sát Hà Nội [26]

- Luận án tiến sĩ "Quyền công tố ở Việt Nam" của tác giả Lê Thị Tuyết

Trang 9

Hoa [12]

- “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố

ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay” cña VKSND tối cao (năm 1999);

- “Chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, Luận án tiến sỹ của

Trần Văn Quý năm 2017

- “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự từ thực tiễn huyện Trà Bồng, tỉnh Quãng Ngãi”, Luận văn thạc sỹ của

Trương Thị Thu Thắm, năm 2017

- “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự từ thực tiễn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc sĩ Luật

của Trương Khắc Dương, năm 2017

- “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi”, Luận văn thạc sĩ Luật của

Phan Thị Sa, năm 2018

- “Tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam

từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc sĩ Luật của Nguyễn Thành Tất,

năm 2018

Ngoài ra còn các bài viết của nhiều tác giả đăng trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Toà án, Tạp chí Luật học của Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Công an nhân dân… và nhiều

chuyên đề nghiệp vụ như: “Tổng hợp kinh nghiệm thực hành quyền công tố

và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án ma tuý lớn” của Vụ 2- VKSND

tối cao (năm 2004);

Nhìn chung, có thể thấy các đề tài nghiên cứu trước đó đó đề cập các góc độ khác nhau của công tác THQCT và KSXX tội phạm, tuy nhiên, chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu vấn đề THQCT và KSXX sơ thẩm

Trang 10

đối với vụ án về ma túy từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh Vì vậy, luận văn của học viên nghiên cứu về một vấn đề mới không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố Học viên kế thừa dưới góc độ lý luận và cách tiếp cận của những công trình nêu trên trong nghiên cứu để hoàn thiện luận

tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, góp phần cùng với các cơ quan tư pháp trong tỉnh bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tổ chức và công dân

3.2 Nhiệm vụ

Thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ma túy Từ đó, tập trung phân tích khái niệm, đặc điểm, hình thức thực hiện và các yếu tố đảm bảo việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

- Phân tích những quy định pháp luật, thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về

ma túy của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Bắc Ninh Thành tựu đạt được và hạn chế, tìm ra những nguyên nhân hạn chế, dẫn đến những tồn tại, hạn chế của công tác này

Trang 11

- Đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm công tác thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án ma túy

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án ma túy từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 đến năm 2019

5.Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng để phân tích khái quát các vấn đề lý luận cũng như đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp bảo đảm trong công tác thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án ma túy từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh

- Phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, xem xét những vấn

đề cần nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lý luận với thực tiễn, các quy định của pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án

ma túy của Viện kiểm sát nhân dân và thực tế áp dụng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh

- Phương pháp thống kê: được sử dụng khi đánh giá thực trạng áp dụng pháp trong luật thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Bắc Ninh

Trang 12

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả cũng sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp khảo sát thực tế

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh Luận văn đã đóng góp nghiên cứu những vấn đề lý luận trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy của Viện kiểm sát nhân dân, làm đa dạng thêm những vấn đề lý luận liên quan đến lĩnh vực này

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các Trường Đại học chuyên ngành luật

và không chuyên ngành luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng

Kết quả nghiên cứu luận văn có thể được dùng làm tư liệu tham khảo cho các Điều tra viên, Kiểm sát viên trong Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, nhất là những Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác thực hành quyền công tố

và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án ma túy nhằm nâng cao trình độ lý luận

và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ

7 Kết cấu của Luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Luận văn gồm 3 chương Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

Chương 2 Những quy định pháp luật và thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN MA TÚY

1.1 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án

ma túy

1.1.1 Khái niệm

*Khái niệm quyền công tố:

Cũng như các chế định pháp luật khác, quyền công tố là một khái niệm gắn liền với lịch sử, là sản phẩm tiến bộ của xã hội loài người, xuất hiện đồng thời với sự ra đời của nhà nước Do đó, quyền công tố luôn song hành với bản chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời khỏi công quyền

Theo Từ điển Tiếng Việt, "Công tố" được tách nhỏ, hiểu từng nghĩa như sau: "công" có nghĩa là "thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư", còn "tố"

có nghĩa là "nói về những sai phạm tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người", "công tố" có nghĩa là

"điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án" Tại Việt Nam, quyền công tố được đề cập nhiều khi nhắc đến chức năng của Viện Kiểm sát Tuy nhiên, cho đến nay khi chúng ta đang hướng tới sự hoàn thiện quy định pháp luật cũng như đẩy mạnh cải cách tư pháp, thì nhận thức vấn đề này vẫn chưa có sự thống nhất cao Có thể khái quát một số quan điểm khác nhau ở những vấn đề sau:

Thứ nhất, quyền công tố là quyền của Nhà nước dùng để bảo vệ lợi ích

công được thực hiện trong cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp như TTHS, tố tụng dân sự, kinh tế, lao động hay chỉ riêng lĩnh vực TTHS

Trang 14

Thứ hai, ngay cả những người theo quan điểm quyền công tố là quyền

của Nhà nước dùng để bảo vệ lợi ích công chỉ riêng trong lĩnh vực TTHS cũng chưa thống nhất Có quan điểm cho rằng quyền công tố xuất hiện ở cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; quan điểm khác lại cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn truy tố, xét xử

Thứ ba, quyền công tố là quyền của Nhà nước dùng để bảo vệ lợi ích

công và nhà nước giao quyền này cho cơ quan nhất định thực hiện Vấn đề khác biệt về quan điểm là ở chỗ nhà nước giao cho cơ quan nào, một cơ quan hay nhiều cơ quan

Từ những phân tích trên, khái niệm quyền công tố được hiểu như sau:

Quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự của Nhà nước, được nhà nước giao cho VKS thực hiện nhằm phát hiện, điều tra tội phạm, truy tố người phạm tội trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa

*Khái niệm thực hành quyền công tố

Hiện nay, vấn đề quyền công tố và thực hành quyền công tố còn có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên bản thân các quan điểm đó cũng đều có những điểm hợp lý nhất định Ngay cả những người đang tiến hàng tố tụng cũng còn nhiều nhầm lẫn giữa QCT và THQCT cho rằng là một, nhưng đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau nhưng có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Việc xác định rõ quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa không chỉ giúp phân định rõ ràng, đúng đắn chức năng, nhiệm vụ, xác định vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung, trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng mà còn giúp cho nhận thức thống nhất và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cải cách tư pháp

Xuất phát từ quan niệm về quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm

Trang 15

tội (người phạm tội và pháp nhân phạm tội) thì thực hành quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội, truy tố ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó Để buộc tội đối với chủ thể

đã thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật đã quy định hàng loạt các hoạt động

tố tụng, như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người đã thực hiện hành vi phạm tội, buộc tội đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quan điểm truy tố

Ở Việt Nam, từ quy định của Hiến pháp và pháp luật, thực tiễn thi hành thì từ trước đến nay quyền công tố chỉ được giao duy nhất cho Viện kiểm sát Chủ thể duy nhất có chức năng thực hành quyền công tố ở Việt Nam là Viện kiểm sát nhân dân Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

Theo nghĩa tiếng Việt, “thực hành” được hiểu là “làm để lý thuyết áp dụng vào thực tế” Do đó, thực hành quyền công tố có thể hiểu là hoạt động mang những quy định của pháp luật về quyền công tố thuộc chức năng của Viện kiểm sát đưa vào thực tế nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi phạm tội Theo đó, cần phải hiểu khái niệm thực hành quyền

công tố như sau: Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát thực hiện các

quyền năng pháp lý được Nhà nước giao trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người có hành vi phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó

* Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm:

Trang 16

Giai đoạn xét xử sơ thẩm được hiểu là một giai đoạn tố tụng kế tiếp giai đoạn truy tố, bao gồm hai phần cơ bản chuẩn bị xét xử và xét xử công khai tại phiên tòa Trong Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử

vụ án hình sự quy định, tùy theo tính chất mức độ hành vi phạm tội và nội dung vụ án mà VKS phối hợp với Tòa án để chuẩn bị các nội dung sau: phương hướng giải quyết; thời gian, địa điểm xét xử; danh sách những người cần triệu tập đến phiên tòa; thông tin về sức khoẻ, tâm trạng của bị cáo; việc tuyên truyền, giáo dục và những vấn đề khác có liên quan Đối với vụ án có tính chất phức tạp, thì có thể mời lãnh đạo các cơ quan có thẩm quyền tiến

hành tố tụng và một số cơ quan hữu quan khác tham dự

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm THQCT trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm của VKSND là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng

pháp lý thuộc nội dung QCT của VKS để truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, bắt đầu từ khi chuyển bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn cùng hồ sơ vụ án sang Tòa án để xét xử và kết thúc khi bản án và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, khi VKS kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, bị cáo có kháng cáo bản án sơ thẩm và hồ sơ vụ án được chuyển lên cơ quan có thẩm quyền cấp trên

*Vụ án ma túy:

Án ma túy là một trong các loại án hình sự Khái niệm vụ án ma túy có nguồn gốc từ khái niệm “vụ án hình sự” Theo Từ điển Luật học thì: “Vụ án hình sự là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự đã được Cơ quan điều tra khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định”

Vụ án ma túy là vụ án hình sự đã được khởi tố về một hoặc một số tội quy định trong Bộ luật Hình sự Theo pháp luật hiện hành thì căn cứ khởi tố

Trang 17

vụ án hình sự phạm tội về ma túy là Bộ luật Hình sự năm 2015 tại Chương

XX “Các tội phạm về ma túy” gồm 13 điều (từ Điều 247 đến Điều 259)

Từ kết quả nghiên cứu của mình, tác giả đưa ra khái niệm: Vụ án ma túy

là vụ phạm pháp về ma túy đã được cơ quan có thẩm quyền theo luật định kiểm tra, xác minh xác định có hành vi phạm tội về ma túy được quy định trong Bộ luật Hình sự đã xảy ra và đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ phạm pháp đó để điều tra, giải quyết theo quy định của tố tụng hình sự

*Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án ma túy

Từ việc phân tích giai đoạn xét xử sơ thẩm, quyền công tố, thực hành quyền công tố và việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, tác giả đồng tình với quan điểm của một số tác giải trình bày tại công trình [26, tr.10] và [22, tr.9] như sau là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng

pháp lý thuộc nội dung QCT của VKS để truy cứu TNHS đối với người phạm tội về ma túy trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, bắt đầu từ khi chuyển bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn cùng hồ sơ

vụ án sang Tòa án để xét xử và kết thúc khi bản án và quyết định của Tòa án

có hiệu lực pháp luật, khi VKS kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, bị cáo có kháng cáo bản án sơ thẩm và hồ sơ vụ án được chuyển lên cơ quan có thẩm quyền cấp trên Từ cách tiếp cận trên, khi đề cập đến khái niệm thực hành

quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cần chú ý một số điểm cơ bản sau: Về đặc điểm: thực hành quyền công tố được thực hiện bởi

cơ quan duy nhất là VKS trong tố tụng hình sự; là việc truy tố bị can ra trước Tòa án, trên cơ sở kết quả điều tra, thu thập chứng cứ và chứng minh được người phạm tội ở các giai đoạn điều tra, truy tố; là việc buộc tội bị cáo và bảo

vệ sự buộc tội tại phiên tòa bằng các phương thức được pháp luật quy định Đây là đặc điểm quan trọng bậc nhất vì nó thể hiện đầy đủ quyền năng pháp

Trang 18

lý của VKS tại phiên tòa được thực hiện thông qua người đại diện của VKS là Kiểm sát viên Đối tượng ở đây là hành vi phạm tội và chủ thể phạm tội Về phạm vi: từ thời điểm bắt đầu của giai đoạn xét xử sơ thẩm, tức là từ khi VKS chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án sang Tòa án và kết thúc bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật

Đối với công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án ma túy của VKS hai cấp, cần nhìn nhận rằng, về trình tự, thủ tục thực hiện giữa các cấp VKS là không có sự khác biệt, nhưng về phạm vi thẩm quyền thực hành quyền công tố lại có sự khác nhau Theo quy định của Bộ luật TTHS, VKS cấp nào thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì VKS cấp đó quyết định việc truy tố Thẩm quyền truy tố của VKS được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án

Cụ thể hơn, đối với tội phạm về ma túy là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XX (từ Điều 247 đến Điều 259 ) BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý xâm phạm đến độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy

Như vậy, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các

vụ án ma túy của VKSND cấp huyện chỉ giới hạn đối với các loại tội phạm

mà mức của khung hình phạt cao nhất là đến 15 năm tù, cụ thể: Điều 247; Khoản 1, 2 Điều 248; Khoản 1, 2, 3 Điều 249; Khoản 1, 2 Điều 250; Khoản 1,

2 Điều 251; Khoản 1, 2, 3 Điều 252; Khoản 1, 2 Điều 253; Điều 254; Khoản

1, 2 Điều 255; Điều 256; Khoản 1, 2 Điều 257; Khoản 1, 2, 3 Điều 258; Điều

259 Bộ luật hình sự Bên cạnh đó, VKS cấp huyện theo quy định của pháp luật còn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử khi VKS cấp trên ủy quyền xét xử Trước khi kết thúc điều tra, chậm nhất là 02 tháng, VKS cấp trên phải thông báo cho VKS cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền

Trang 19

xét xử sơ thẩm vụ án để cử KSV cùng tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án Ngay sau khi ban hành quyết định truy tố, VKS cấp trên ra quyết định phân công cho VKS cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án được ủy quyền, VKS cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật TTHS VKS cấp tỉnh thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án

ma túy quy định cụ thể ở Khoản 3, 4 Điều 248; Khoản 4 Điều 249; Khoản 3,

4 Điều 250; Khoản 3, 4 Điều 251; Khoản 4 Điều 252; Khoản 3, 4 Điều 253; Khoản 3, 4 Điều 255; Khoản 3, 4 Điều 257; Khoản 4 Điều 258 Bộ luật hình

sự Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm cho hoạt động truy tố và xét xử các vụ

án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân được đúng

người, đúng tội, đúng pháp luật

1.1.2 Đặc điểm và hình thức thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

1.1.2.1 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

Thứ nhất, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử đối với các

vụ án về ma túy là hoạt động thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước đối với chủ thể phạm tội về ma túy

Pháp luật luôn là một thanh công cụ thể hiện ý chí, quyền lực của Nhà nước, chức năng thực hành quyền công tố của VKS được coi là công cụ hữu hiệu thực hiện ý chí của Nhà nước Ở một khía cạnh nhất định, thực hành quyền công tố còn mang tính chính trị, đảm bảo phục vụ cho những mục đích chính trị của Nhà cầm quyền Điểm khác biệt với hình thức thực hiện pháp luật khác, thực hành quyền công tố hoạt động theo ý chí đơn phương của cơ

Trang 20

quan Nhà nước có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ chủ thể nào khác

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án về ma túy của VKS là hoạt động thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với chủ thể phạm tội về ma túy nhằm đưa chủ thể phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ việc buộc tội tại phiên tòa Quyền buộc tội là quyền năng của Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội Đây là một hoạt động cá biệt của cơ quan Nhà nước thể hiện chức năng duy trì giữ gìn trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, thực hiện các biện pháp chứng minh người phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà bị coi là tội phạm

Thứ hai, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử đối với các vụ

án về ma túy là việc bảo vệ cáo trạng tại phiên tòa thông qua việc xét hỏi, luận tội và tranh luận tại phiên tòa

Việc thực hiện chức năng THQCT của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy tại phiên tòa là việc bảo vệ cáo trạng, thể hiện sự buộc tội của Nhà nước đối với bị cáo Điều này cũng góp phần đảm bảo thực hiện quyền lực Nhà nước, cụ thể là thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân

Trong giai đoạn xét xử đối với các tội phạm về ma túy thì VKS thực hành quyền công tố nhằm đảm bảo việc buộc tội và bảo vệ việc buộc tội đúng quy định pháp luật, đảm bảo các hành vi xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân mà cụ thể là xâm phạm đến độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, tiền chất ma túy được xử lý nghiêm minh trước quy định pháp luật

Trang 21

Thứ ba, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với các vụ án về ma túy ở cấp huyện có nhiều đặc điểm khác so với việc thực hành quyền công tố tại cấp tỉnh

Ở các cấp huyện, các vụ án ma túy thường mang tính chất nghiêm trọng, lượng ma túy ít, phần lớn xét xử đối với những đối tượng nghiện ma túy, không có tính tổ chức, không manh động Đa phần, những đối tượng này thường bị bắt quả tang, quá trình xét xử, các bị cáo đều nhận tội Do đó, việc xét hỏi, luận tội thường tập trung vào biên bản phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản niêm phong và mở niêm phong vật chứng Đối với các biên bản này, đối tượng được tham gia, ký vào biên bản ngay từ đầu, nếu kiểm sát chặt chẽ các tài liệu trên thì việc buộc tội các bị cáo tại phiên tòa sẽ được đảm bảo

Các vụ án ma túy lớn rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền giải quyết ở cấp tỉnh Các vụ án này có số lượng ma túy lớn, nhiều loại ma túy khác nhau, đối tượng phạm tội mang tính tổ chức, có sự câu kết chặt chẽ Phần lớn các vụ án đều là bắt quả tang, có nhiều vụ án bắt do truy xét nên cần thu thập chứng cứ vật chất khác để buộc tội các đối tượng như thu giữ điện tín, trích xuất hình ảnh camera để làm chứng cứ bổ trợ Các

bị cáo thường đối mặt với mức án cao của khung hình phạt tội ma túy nên các

bị cáo có xu hướng chối tội, bởi vậy việc thực hành quyền công tố tại phiên tòa cần phải đưa ra các tài liệu chứng cứ thuyết phục Doi itínhi iđặci ithùi icủai icáci

Trang 22

1.1.2.2 Hình thức thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

Theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có quyền buộc tội, luận tội bị cáo, tranh tụng tại phiên toà, đề xuất hình phạt và các biện pháp tư pháp khác Việc thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm cho hoạt động truy tố và xét xử các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm

của Toà án nhân dân được thực hiện đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Các quyền năng này của VKS được thể hiện qua các hình thức: văn bản pháp luật cá biệt có tính “mệnh lệnh” - quyết định; biên bản; công văn; hành vi và lời nói của Kiểm sát viên tại phiên tòa

THQCT ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là một dạng hoạt động áp dụng pháp luật và hình thức thực hiện cũng theo các quy trình chung

và được thực hiện qua những giai đoạn sau:

- Nghiên cứu lại toàn bộ hồ sơ vụ án, xem xét, đánh giá các tình tiết,

chứng cứ có liên quan ở giai đoạn điều tra, truy tố

Việc nghiên cứu hồ sơ là nhiệm vụ trọng tâm của Kiểm sát viên khi được phân công thực hành quyền công tố xét xử vụ án hình sự Chỉ khi nghiên cứu

hồ sơ, nắm vững nội dung, bản chất vụ án, thì Kiểm sát viên mới có thể hoàn thành việc buộc tội bị cáo, tranh luận tại phiên toà công khai Đối với tội phạm về ma túy, cần nghiên cứu kỹ biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong, mở niêm phong vật chứng; kết luận giám định, biên bản ghi lời khai của bị cáo, người làm chứng

và những người tham gia tố tụng khác Việci itríchi icứui inàyi igiúpi iKiểmi isáti iviêni

Trang 23

khởii iđầui ihếti isứci iquani itrọngi icủai iquái itrìnhi igiảii iquyếti ivụi ián,i inói icói iýi inghĩai itiêni

quyếti iđếni iviệci ihoàni ithànhi inhiệmi ivụi icủai iKiểmi isáti iviêni itạii iphiêni itoà

Chuẩn bị tốt ở giai đoạn này là nền tảng vững chắc để Kiểm sát viên chủ động, bản lĩnh tiến hành hoạt động tố tụng tiếp theo Do đặc thù riêng của từng vụ án nên việc nghiên cứu hồ sơ tuỳ đòi hỏi Kiểm sát viên có phương pháp nghiên cứu phù hợp Từ kết quả nghiên cứu đó sẽ giúp định hướng cho Kiểm sát viên có những quyết định nhạy bén, phản ứng nhanh trước phiên tòa Vì vậy, việc nghiên cứu hồ sơ vụ án ban đầu có một ý nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo cho việc thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát đảm bảo đúng pháp luật, việc giải quyết vụ án hình sự được tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật

- Xem xét, dẫn nguồn, lựa chọn quy định pháp luật

Vấn đề này được thực hiện dựa trên năng lực pháp luật, trình độ hiểu biết, kiến thức pháp lý của Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của VKSND Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về

ma túy của Viện kiểm sát nhân dân cần phải tổng hợp lại toàn bộ chứng cứ, những vấn đề liên quan đã xử lý ở giai đoạn điều tra, quyết định truy tố người phạm tội để xét xử ở Toà án có đúng thẩm quyền hay không, đồng thời phải nghiên cứu, xem xét các quy định pháp luật khác liên quan để áp dụng xử lý

vụ án Tómi ilại,i igiaii iđoạni iápi idụngi iphápi iluậti inàyi icầni iđòii ihỏii iphảii ilựai ichọni iđúngi

củai iquyi iphạmi iphápi iluật

- Ban hành quyết định áp dụng pháp luật

Trang 24

Bani ihànhi iquyếti iđịnhi iápi idụngi iphápi iluậti itrongi igiaii iđoạni ixéti ixửi ilài iviệci iViệni

- Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật

Việci itổi ichứci ithựci ihiệni iquyếti iđịnhi iápi idụngi iphápi iluậti ilài igiaii iđoạni icuốii icùngi

1.2.1 Yếu tố pháp lý

Để thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử được đảm bảo thì cần phải có cơ sở pháp lý hoàn thiện được vận hành xuyên suốt, chặt chẽ Theo đó, cơ sở pháp lý của thực hành quyền công tố kiểm sát xét xử của VKSND đối với các tội phạm về ma túy là Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật

Trang 25

tố tụng hình sự năm 2015, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan khác

Bộ luật hình sự là văn bản pháp luật duy nhất quy định về tội phạm và hình phạt, là căn cứ pháp lý quan trọng nhất trong việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự Đâyi ilài icơi isởi iphápi ilýi iquani itrọngi ichoi iviệci ithựci ihànhi iquyềni icôngi

tối iđốii ivớii icáci iloạii itộii iphạmi ihìnhi isựi inóii ichung,i itộii iphạmi imai itúyi inóii iriêng.i Thực hành quyền công tố đối với tội phạm về ma túy là chức năng nhiệm vụ của VKSND nhằm bảo vệ các lợi ích của nhà nước và xã hội, nhằm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn, hạn chế và tiến tới đẩy lùi các nguy cơ tội phạm ma túy gây ra trong đời sống cộng đồng Bộii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iiluậtii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iihìnhii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iisựii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iinămii

ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii2015ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iiraii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iiđờiii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iiđánhii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iidấuii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iimộtii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iibướcii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iiphátii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iitriểnii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iimớiii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iicaoii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iihơnii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iicủaii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iihoạtii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iiđộngii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iilậpii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii

phápii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iihìnhii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iisựii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iinướcii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iita,ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iivìii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iinóii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iiđượcii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iihìnhii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iithànhii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iikhôngii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iichỉii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iitrênii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iicơii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iisởii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iitổngii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iiihợpii ii ii

ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iinhữngii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iikinhii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iinghiệm,ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iithànhii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iitựuii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iicủaii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iithựcii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iitiễnii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iiápii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iidụngii ii ii ii ii ii ii phápii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iiluậtii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iihìnhii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iisựii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iimàii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii

cònii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iilàii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iicácii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iitriii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iithứcii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iivềii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iikhoaii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iihọcii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iitiênii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iitiếnii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iitrênii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iithếii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii ii iigiới Đây chẳng những là công cụ sắc bén, hữu hiệu của Đảng, Nhà nước và của nhân dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy mà còn là yếu tố bảo đảm hàng đầu cho việc THQCT nói chung và THQCT ở giai đoạn XXST các vụ án hình sự

Nếu Bộ luật hình sự được coi là luật nội dung thì Bộ luật tố tụng hình sự được coi là luật hình thức và là căn cứ pháp lý quan trọng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan tiến hành tụng trong đó có Viện kiểm sát; nhiệm vụ quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong đó có Kiểm sát viên Bêni icạnhi iđó,i icòni iquyi iđịnhi itrìnhi itự,i ithủi itụci ixéti ixửi ivài imốii iquani ihễi igiữai icáci icơi

Trang 26

điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều Trongi iđói imộti isối iquyi iđịnhi ivềi iTHQCTi

mởi irộngi ihơni idiệni ingườii ithami igiai itối itụng

Luật tổ chức VKSND năm 2014 là cơ sở pháp lý quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của VKSND đối với án hình sự nói chung, án ma túy nói riêng Đây là

cơ sở pháp lý có hiệu lực cao, nhằm đảm bảo cho việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của VKSND trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử đối với tội phạm ma túy

Ngoài những Bộ luật kể trên, các văn bản hướng dẫn của các cơ quan

tư pháp ở trung ương cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để VKSND áp dụng trong quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các tội phạm

1.2.2 Yếu tố về tổ chức bộ máy, con người

Kiện toàn tổ chức bộ máy làm việc có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử của

Trang 27

VKSND đối với các vụ án hình sự nói chung và án ma túy nói riêng được chất lượng và hiệu quả Nói đến tổ chức bộ máy thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các tội về ma túy là nói đến con người cụ thể, là Kiểm sát viên - chủ thể trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND

theo quy định Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Cán bộ là cái gốc

của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Có thể hiểu người cán bộ, công chức tốt là người vừa có phẩm chất

chính trị, đạo đức vừa phải có đủ trình độ, năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Đối với Viện kiểm sát nhân dân thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chuyên viên, càng yêu cầu phải có trình độ năng lực pháp luật tốt, điều này sẽ tác động trực tiếp đến việc áp dụng pháp luật, để tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm, xét xử công bằng, minh bạch Thựci ihiệni iphápi iluậti inghiêmi iminhi ilài iyêui

củai icôngi idân

Đối với Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, cán bộ, công chức công tác trong ngành Kiểm sát phải có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng, có những lối

xử sự theo đúng chuẩn mực của ngành cũng như yêu cầu của pháp luật Nhất

là trong quá trình thực thi công vụ, việc thực hiện pháp luật của cán bộ, Kiểm sát viên phải bảo đảm kịp thời, nghiêm minh Nhưi ivậy,i iđểi ibảoi iđảmi ithựci ihiệni

dục,i irèni iluyệni iphẩmi ichấti ichínhi itrị,i itưi itưởng,i iđạoi iđức,i ilốii isống

Cùng với việc đổi mới phương thức hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đẩy mạnh cải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng, trong những

Trang 28

năm qua công tác tổ chức cán bộ của ngành kiểm sát nhân dân đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Đội ngũ Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố cũng ngày càng được kiện toàn, bố trí vị trí việc làm theo năng lực, trình độ của từng người Bêni icạnhi iđó,i iviệci ikiệni itoàni itổi ichứci ivài inângi icaoi

án hình sự nói chung, các tội phạm về ma túy nói riêng Góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của pháp luật

1.2.3 Yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị, chế độ đãi ngộ

Vấn đề cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, kỹ thuật cần thiết phục

vụ cho công tác tuy chỉ là những yếu tố hỗ trợ nhưng lại có tác dụng rất lớn trong quá trình giải quyết vụ án Thực tiễn cho thấy, để làm tốt chức năng THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án thì Kiểm sát viên phải tham gia tố tụng ngay từ đầu, kể cả khi chưa khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; phải tiến hành một số hoạt động cần thiết như phúc cung, xác minh lời khai của người làm chứng… Để hoạt động đạt hiệu quả thì ngoài khả năng trình độ cũng như nhiệt huyết của cán bộ, KSV thì các yếu tố bổ trợ

như cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, kỹ thuật cũng hết sức cần thiết

Trang 29

Chếi iđội itiềni ilương,i ichếi iđội iđãii ingội iđốii ivớii iKSVi icũngi iđóngi imộti ivaii itròi ikhôngi

độ trợ cấp cho cán bộ làm công tác bảo vệ pháp luật nói chung, cán bộ KSV nói riêng để KSV toàn tâm, toàn ý phục vụ công tác và cống hiến cho sự nghiệp chung, chắc chắn chất lượng, hiệu quả công tác sẽ được nâng cao Ngoài ra, cũng cần nghiên cứu xem xét đến cơ chế đặc biệt để bảo vệ cán bộ công chức làm công tác bảo vệ nền tư pháp và thân nhân của họ, tránh sự hăm dọa, trả thù, xâm hại từ các đối tượng vi phạm pháp luật

1.2.4 Sự phối hợp của cơ quan tố tụng cùng cấp

Quani ihệi iphốii ihợpi igiữai icáci icơi iquani itiếni ihànhi itối itụng,i itrướci ihếti ilài icơi iquani

đó, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác thực hành quyền công tố Ngoàii ira,i imốii iquani ihệi iphốii ihợpi inàyi icòni ithểi ihiệni itrongi iviệci iphâni iloại,i igiảii iquyếti

cáci ithôngi itini ivềi itộii iphạm,i itrongi iviệci ilựai ichọni ivài igiảii iquyếti icáci ivụi iáni iđiểmi ivài iđưai

Trang 30

ngànhi iđãi iđượci ixâyi idựngi igiữai icáci icơi iquani itiếni ihànhi itối itụng

Bên cạnh đó, quan hệ giữa VKS với các ngành, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội cùng các đoàn thể quần chúng là cơ sở vững chắc cho VKS thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, phát huy được sức mạnh của toàn bộ

hệ thống chính trị trong đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng Chúi itrọngi imốii iquani ihệi igiữai iVKSi ivài iMặti itrậni itổi iquốci

sáti ivài icáci icơi iquani itưi iphápi ikhác

1.2.5 Công tác giám sát, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền

Thứ nhất, đó là sự giám sát từ Hội đồng nhân dân

Theoi icáci iquyi iđịnhi icủai iHiếni iphápi inămi i2013,i iLuậti itổi ichứci iVKSNDi inămi

Trang 31

của HĐND, của các đại biểu HĐND đối với hoạt động của VKS và các cơ quan tư pháp khác, xem xét để điều chỉnh lại hoạt động giám sát của HĐND đối với VKS cho phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp hiện nay.

Thứ hai, đó là công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, thanh tra, kiểm

tra trong ngành Kiểm sát nhân dân

Tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, kiểm tra thanh tra trong ngành Kiểm sát được coi là yếu tố đặc biệt quan trọng bảo đảm việc THQCT ở giai đoạn XXST các vụ án hình sự Mặti ikhác,i imộti itrongi icáci inguyêni

trongi iquái itrìnhi ithựci ithii inhiệmi ivụ

Thứ ba, đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của cấp uỷ Đảng

Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội đó là một nguyên tắc hiến định Trong tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân, Đảng giữ vai trò lãnh đạo về chính trị, tư tưởng, đưa ra các quan điểm, nguyên tắc, hoạch định đường lối, chủ trương áp dụng pháp luật Đảngi ilãnhi iđạoi ivềi itổi ichức,i icáni ibộ,i iđói

Trang 32

tư và chỉ tuân theo pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thông qua việc cấp uỷ Đảng định kỳ nghe báo cáo tình hình hoạt động, thông qua kết quả kiểm tra, sẽ giúp cấp uỷ Đảng đánh giá được những ưu, khuyết điểm trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND Từ đó, các chủ trương lãnh đạo, kiện toàn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan VKS

Trang 33

vụ án hình sự đã phân tích trên, đã tạo ra cơ sở định hướng về lý luận, pháp lý

để tác giả nhận thức đúng đắn, phù hợp, tạo tiền đề nghiên cứu những nội dung đặt ra tại chương 02 của luận văn.

Trang 34

Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN

MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 2.1 Những quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án ma túy

Theo quy định pháp luật ở nước ta hiện nay, nội dung và quy trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tập trung vào các nội dung

2.1.1 Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa

Cáo trạng là văn bản pháp lý, thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát về

vụ án hình sự trên cơ sở kết quả hoạt động điều tra và ra quyết định truy tố người phạm tội ra trước Tòa án, đây là hoạt động đầu tiên của việc thực hành quyền công tố tại phiên tòa nhằm buộc tội bị cáo và cũng là cơ sở để Tòa án

tiến hành hoạt động xét hỏi Tại Điều 306 BLTTHS quy định “trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có) Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo” Theo quy định tại Điều 23 Quy chế thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình

sự ban hành kèm theo Quyết định số 505 ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao thì Kiểm sát viên phải công bố nguyên văn bản cáo trạng

Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, khi có sự thay đổi về nhận thức, đánh giá chứng cứ hoặc trên những tình tiết mới phát sinh trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu cần thiết thì KSV trình bày ý kiến bổ sung nhưng ý kiến

bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo Tại phiên toà, nếu có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố, có tình tiết mới theo

Trang 35

hướng có lợi cho bị cáo và làm thay đổi quyết định truy tố hoặc đường lối xử

lý đã được Lãnh đạo duyệt, thì KSV quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình, sau phiên toà KSV phải kịp thời báo cáo ngay với Lãnh đạo đơn vị Đối với vụ án được áp dụng theo thủ tục rút gọn, theo quy định tại Điều 463 Bộ luật TTHS năm 2015, KSV công bố quyết định truy tố, các trình

tự, thủ tục khác tại phiên tòa xét xử sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục

chung quy định tại Bộ luật này nhưng không tiến hành nghị án [6].

2.1.2.Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ

- Đối với việc xét hỏi: Tại phiên toà sơ thẩm, theo quy định tại Điều

307 BLTTHS thì chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi

chủ toạ phiên toà, các Hội thẩm đã hỏi xong Sở dĩ quy định trình tự xét hỏi như vậy là do xuất phát từ trách nhiệm chứng minh vụ án, xác định sự thật khách quan tại phiên toà là trách nhiệm chính của HĐXX Thông qua xét hỏi tại phiên toà, HĐXX phải xác định đầy đủ, toàn diện các tình tiết của vụ án làm cơ sở cho việc xác định tội danh, hình phạt và các quyết định sau này Căn cứ vào kết quả của việc xét hỏi, KSV thực hiện luận tội, rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội khác nhẹ hơn…

Việci ithami igiai ixéti ihỏii ilài ibắti ibuộci iđốii ivớii iKSV,i itrướci ikhii ithami igiai iphiêni itoà,i iKSVi

Trang 36

hình phạt và các quyết định khác Điều đó có nghĩa, KSV phải bảo đảm tất cả chứng cứ của vụ án phải được kiểm tra công khai tại phiên tòa KSVi icầni ichủi

- Xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ: Theo quy định tại Điều 312 Bộ luật TTHS năm 2015 thì vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng

được đưa ra để xem xét tại phiên tòa Khi cần thiết, HĐXX có thể cùng với KSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được KSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng HĐXX, KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn đề có liên quan đến vật chứng Đối với việc xem xét tại chỗ, khi xét thấy cần thiết thì HĐXX có thể cùng với KSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án KSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa có

Trang 37

quyền trình bày nhận xét của mình về nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án Việc xem xét vật chứng và xem xét tại chỗ cũng cần được lập thành biên bản theo quy định pháp luật Theoi iquyi ichếi ithựci ihànhi

vụi iáni ivài isaoi ichụpi iđểi ilưui ihồi isơi ikiểmi isát.

2.1.3 Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo

Luận tội có ý nghĩa rất quan trọng về mặt pháp lý cũng như chính trị Lời luận tội là sự buộc tội trực tiếp, chính thức và cuối cùng của VKS đối với

bị cáo Phần trình bày lời luận tội của Kiểm sát viên thường được sự quan tâm chú ý theo dõi đặc biệt của những người tham dự phiên toà và công chúng Xét về tính chất pháp lý thì luận tội của Kiểm sát viên chính là công cụ để Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên toà Để bản luận tội có chất lượng tốt thì cùng với việc phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án trước khi tham gia phiên toà để chuẩn bị dự thảo luận tội, Kiểm sát viên phải hết sức chú ý theo dõi để nắm được toàn bộ diễn biến của phiên toà; tích cực, chủ động tham gia xét hỏi, ghi chép đầy đủ các ý kiến của bị cáo, người bào chữa

và những người tham gia tố tụng khác để sửa đổi, bổ sung, cập nhật vào nội dung của luận tội Làm tốt việc luận tội cũng chính là làm tốt chức năng thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

Khác với bản cáo trạng, luận tội của KSV tại phiên toà chủ yếu là phải phân tích, đánh giá tình tiết, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo

đã gây ra những căn cứ kết tội đối với bị cáo, nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, phân tích, đánh giá các tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được áp

Trang 38

dụng Trên cơ sở phân tích, đánh giá, KSV đề xuất đường lối xử lý đối với bị cáo về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự để HĐXX cân nhắc, đánh giá khi nghị án

Để có sức thuyết phục, đòi hỏi luận tội của KSV tại phiên toà phải thể hiện đầy đủ những tài liệu đã được điều tra trong hồ sơ vụ án và những tài liệu chứng cứ đó phải được kiểm tra, đánh giá tại phiên toà Đồng thời, bản luận tội của KSV phải thể hiện được sự đồng tình hay bác bỏ những tài liệu, chứng cứ, lập luận của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn xét hỏi mà họ trình bày, xuất trình Đặc biệt, bản luận tội phải lập luận, thể hiện đầy đủ quan điểm

về buộc tội, chứng cứ, tài liệu chứng minh hành vi phạm tội và tội phạm của

bị cáo phải giải đáp những yêu cầu những quan điểm của luật sư, người bào chữa của bị cáo nêu ra trong phần xét hỏi Thể hiện sự chủ động trước những tình huống, diễn biến mới xuất hiện tại phiên toà KSV phải phân tích, đánh giá chứng cứ một cách khoa học, lôgíc, chặt chẽ, xác định rõ hành vi phạm tội của bị cáo việc áp dụng pháp luật về trách nhiệm hình sự của bị cáo

Trướci ikhii ithami igiai iphiêni itòa,i iKSVi iphảii idựi ithảoi ibảni iluậni itộii itheoi imẫui icủai

Trang 39

danhi imài iVKSi iđãi itruyi itối inếui icói icăni icứi ivài icáci inộii idungi ikháci itheoi imẫui icủai

VKSNDTC

2.1.4 Tranh luận tại phiên tòa

Nghịi iquyếti isối i08-NQ/TWi ingàyi i02/01/2002i icủai iBội iChínhi itrịi ivềi imộti isối

Tranh luận của KSV tại phiên tòa sơ thẩm về hình sự là sự trả lời lại giữa KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nhằm làm rõ sự thật khách quan về mọi tình tiết vụ án như buộc tội, tăng nặng, giảm nhẹ, từ đó làm căn cứ giúp HĐXX ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Theoi iquyi iđịnhi itạii iĐiềui i322i iBội iluậti iTTHSi inămi i2015i ithì:i ibịi icáo,i ingườii

Trang 40

Trước khi tham dự phiên tòa, KSV dự kiến những vấn đề cần tranh luận bằng

đề cương tranh luận được dự thảo theo mẫu của VKSNDTC và lưu hồ sơ kiểm sát Tại phiên tòa, KSV phải ghi chép đầy đủ ý kiến tranh luận của những người tham gia tố tụng để chuẩn bị cho phần đối đáp KSVi iphảii iđưai irai

cáci iýi ikiếni iđó Trường hợp chủ tọa phiên tòa đề nghị KSV đáp lại những ý kiến

có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác chưa được tranh luận thì KSV thực hiện theo đề nghị của chủ tọa phiên tòa, nếu đã tranh luận một phần thì KSV tranh luận bổ sung cho đầy đủ, không lặp lại những nội dung đã tranh luận trước Trường hợp cần xem xét thêm chứng cứ, HĐXX quyết định trở lại việc xét hỏi thì sau khi xét hỏi xong KSV phải tiếp tục tranh luận theo quy định Khi tranh luận, KSV phải giữ

Ngày đăng: 07/02/2021, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
2. Ban chấp hành đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2015-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ
7. Bộ Nội vụ (2007), Tổ chức Nhà nước Việt Nam (1945-2007), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức Nhà nước Việt Nam
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
8. Nguyễn Chí Công (2018), Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét sở sơ thẩm vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ), Khoa luật, ĐHQG HN] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét sở sơ thẩm vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt "Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Tác giả: Nguyễn Chí Công
Năm: 2018
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ" 11. Đảng Cộng Sản Việt Nam, "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Võ Thành Đủ (2018), Thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về hối lộ ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về hối lộ ở nước ta hiện nay
Tác giả: Võ Thành Đủ
Năm: 2018
13. Lương Thúy Hà (2012), Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của Viện Kiểm sát Nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta, Luận văn thạc sỹ Luật hình sự, Khoa Luật, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của "Viện Kiểm sát Nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta
Tác giả: Lương Thúy Hà
Năm: 2012
16. Lê Thị Tuyết Hoa (2005), Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện chính trị QG HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền công tố ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa
Năm: 2005
17. Lê Thanh Hưng (2015), Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông), Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)
Tác giả: Lê Thanh Hưng
Năm: 2015
18. Trần Thị Hương (2018), Chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên nhân dân cấp tỉnh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Học viện CTQG HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên nhân dân cấp tỉnh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Hương
Năm: 2018
20. Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2003
21. Lê Tuấn Phong (2017), Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên ttrong thực hành quền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Học viện CTQG HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên ttrong thực hành quền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam
Tác giả: Lê Tuấn Phong
Năm: 2017
22. Nguyễn Hữu Phước (2016), Luận văn thạc sỹ “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình "Định
Tác giả: Nguyễn Hữu Phước
Năm: 2016
23. Tôn Thiện Phương (2002), Vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự, Khoa Luật, ĐHQGHN, Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự
Tác giả: Tôn Thiện Phương
Năm: 2002
24. Nguyễn Thái Phúc (1999), Một số vấn đề về quyền công tố của Viện kiểm sát, Kỷ yếu đề tài cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Một số vấn đề về quyền công tố của Viện kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 1999
25. Trần Văn Quý (2017), Chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, Luận án tiến sỹ, Học viện CTQG HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Trần Văn Quý
Năm: 2017
26. Trương Thị Thu Thắm (2017), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Trà Bồng, tỉnh Quãng Ngãi, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Trà Bồng, tỉnh Quãng Ngãi
Tác giả: Trương Thị Thu Thắm
Năm: 2017
27. Lê Hữu Thể (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra
Tác giả: Lê Hữu Thể
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2008
29. Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình đào tạo nghiệp vụ kiểm sát, Nhà xuất bản CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đào tạo nghiệp vụ kiểm sát
Tác giả: Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản CAND
Năm: 1996
30. Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Tác giả: Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2006

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w