Kết quả này phản ánh sự phát triển kinh tế - xã hội cùng những nỗ lực đáng kể của chính quyền địa phương trong công tác giáo dục, nâng cao nhận thức mọi mặt cho người dân, toong đó [r]
Trang 1NHẬN THỨC CỦA NAM GIỚI NGƯỜI DÂN TỘC MÔNG
VỂ YÊU CẨU THÃM KHÁM THAI ĐỊNH KỲ
CHO BÀ MẸ MANG THAI ■
(Nghiên cứu trường hợp xã Huôi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La)
NCS Phạm Thu Hà*
1 Đặt vấn đề
Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ là một trong tám mục tiêu thiên niên kỷ
mà Việt Nam đã cùng 197 quốc gia thành viên Liên hợp quốc cam kết thực hiện đạt được vào năm 2015 Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trưóc, trong
và sau khi sinh sẽ góp phẩn đám bảo giảm tỷ lệ tứ vong mẹ, trẻ sơ sinh; giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng; nâng cao chất lượng dân sô' các thếhệ tiếp theo Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao tiếp cận chăm sóc sức khoẻ bà mẹ Sức khoẻ bà mẹ đã có những cải thiện đáng kể, tỷ sô' tử vong mẹ đã giảm trong hai thập kỷ qua, từ 233
ca chết trên 100.000 ca sinh sông vào năm 1990 xu ông còn 69 ca chết trên 100.000 ca sinh sông vào năm 2009, giảm khoảng 2 phần 3 sô' ca tử vong
mẹ liên quan đêh thai sản Tuy nhiên, có sự khác biệt lón về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ giữa các vùng miền, tỷ sô' tử vong mẹ, tử vong trẻ em ở một sô' khu vực miền núi cao gâp 3, 4 lần so vói khu vực đổng bằng, đô thị và gâp 2 lẩn so vói mức trung bình cả nước (Tổng cục Thông kê, 2010) Ở khu vực miền núi và đồng bào dân tộc thiểu sô', mang thai và sinh đẻ là câu chuyện của tự nhiên Trong cộng đổng người dân tộc Mông ở xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, phụ nữ có thai không đi khám thai, không tiêm phòng uôh ván, vẫn lao động làm các công việc nặng nhọc và không có chế độ dinh dưỡng hợp lý Bài viết xoay quanh câu hỏi:
* Khoa Xà hội học, trường DH KHXH&NV, ĐHQG HN
Trang 2Nhận thức củ a nam giới người dân tộc m ông về y êu cầu
Nam giới - một trong hai chủ thể chính của hành vi sinh sản, người có quyền quyết định mọi vấn đề trong gia đình - có nhận thức như thê'nào
về yêu cầu thăm khám thai cho bà mẹ mang thai? Sô' liệu trong bài viết được trích dẫn từ đề tài luận án tiên sĩ "Vai trò của nam giới dân dân tộc Mông vùng Tây Bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản" (Nghiên cứu trường hợp xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La)
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chăm sóc sức khoẻ (CSSK) cho bà mẹ mang thai chính là chìa khoá then chổt đê’ đạt được mục tiêu nâng cao chả't lượng dân sô' Trách nhiệm CSSK cho bà mẹ mang thai thuộc về mọi cá nhân có liên quan, trong đó người chồng có vai trò quan trọng nhâ't Nhiều nghiên cứu đã chi ra, nếu người chông cùng chịu trách nhiệm, cùng chia sẻ những khó khăn mà người vợ phải đô'i mặt trong quá trình thai nghén, sinh đẻ thì sẽ góp phần rất lớn vào việc cải thiện tình trạng sức khoẻ của bà mẹ và thai nhi, đồng thời góp phần thực hiện công tác bình đẳng giới (Muleta, 2009) Trách nhiệm của nam giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản nói chung
và chăm sóc bà mẹ mang thai nói riêng đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam hết sức chú trọng từ hơn 30 năm nay Trong Quyết định 315/HĐBT ngày 24-8-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trường về chiên lược thông tin
- giáo dục - truyền thông trong dân sô' - sức khoẻ sinh sản có chương V bàn về trách nhiệm của nam giói, theo đó "Là một công dân, người chổng, người cha, nam giới có trách nhiệm và bổn phận tham gia tích cực vào chương trinh dân sô'và kế hoạch hoá gia đình "; Ở chi thị SỐ50/CT-
TƯ ngày 6-3-1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng có nhâh mạnh "Vận động nam giới, làm cho nam giới thây đầy đủ trách nhiệm của bản thân với việc sinh đẻ trong gia đình" (Dần theo Hoàng Bá Thinh, 1999)
Cho đến hiện nay; vẫn có nhiều người cho rằng chăm sóc trước khi sinh là điều không cần thiết Tuy nhiên, thực tế cho thây để sinh ra được những đứa trẻ khoẻ mạnh thì những bà mẹ phải luôn được quan tâm đến tình trạng sức khoẻ, cũng như quá trình phát triển của thai nhi trong suốt thai kì Nhiều nghiên cứu đã chi ra rằng người chổng có vai trò rất lớn trong công tác chăm sóc trước sinh, đặc biệt là ở các quôc gia đang phát triển, nơi người chổng luôn có tiếng nói quyết định đôi với
Trang 3NCS Phạm Thị Hà
nhiều vấn đề trong gia đình Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng quyết định của người chổng là yếu tố quan trọng nhât tác động đến thực hành thăm khám thai của phụ nữ Vai trò cúa người chổng trong việc chăm sóc trước khi sinh là yếu tố quan trọng nhất trong việc thúc đẩy sức khỏe của bà mẹ mang thai và trẻ sơ sinh và cũng làm giảm tỷ lệ tà vong
bà mẹ và trẻ sơ sinh trong thời kỳ mang thai và thời gian sinh đẻ Do đó
sự tham gia của người chổng trong việc chăm sóc trước khi sinh được coi là một bước quan trọng trong việc mở rộng quy mô sử dụng dịch vụ chăm sóc trước khi sinh của phụ nữ (Mekonnen Muleta, 2009) Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng phụ nữ không thể tự quyết định về các vấn đề sinh sản, khoảng cách sinh, số con do họ có vai trò, địa vị thâp trong gia đình, đặc biệt là vùng nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu SỐ Chính điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sinh sản và đe doạ tuổi thọ của phụ nữ (Đặng Ánh Tuyết, 2006)
Trách nhiệm cúa nam giới trong chằm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai thể hiện trước hết ở nhận thức của họ đôi với yêu cầu thăm khám thai định kỳ, có nhận thức đúng thì mới có hành vi đúng Bài viết tập trung làm rõ nhận thức của nam giới người dân tộc Mông đôì vói yêu cầu thăm khám thai của bà mẹ mang thai, phân tích một sô' yêu tô' tác động đêh nhận thức của nam giới, từ đó đề xuất một sô' giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của nam giới, giúp họ nhận thức được trách nhiệm của bản thân trong chăm sóc sức khoẻ bà mẹ
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được vận dụng để đo lường và đánh giá nhận thức của nam giới là phỏng vấn bằng bảng hỏi Chúng tôi đã phỏng vân bằng bảng hỏi 300 nam giới đã có gia đình tại địa bàn nghiên cứu Thông tin thu về được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS
Khó khăn gặp phải khi sử dụng phương pháp này tại địa bàn nghiên cứu là có một bộ phận trong nhóm nam giới thuộc mẫu nghiên cứu còn chưa đọc thông, viết thạo Quá trình phiên dịch cũng gặp nhiều khó khăn vì một sô' thuật ngữ trong bảng hỏi khó dịch
sang tiếng Mông Bên cạnh đó, người dân tộc Mông còn Tất ngại
815
Trang 4Nhộn thức của nam giới người dân tộc m ông về y êu cầu
nam giới, do vậy quá trình điều tra cũng vâp phải sự từ chối không hợp tác của một sô' đối tượng
4 Kết quả nghiên cứu
4.1 Người Mông ở xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tinh Son La
Xã Huổi Một là xã vùng in của huyện Sông Mã, tình Sơn La Đây là
xã đặc biệt khó khăn nằm ở phía Tây huyện Sông Mã; phía Đông giáp
xã Chiềng Khoong, phía Nam giáp xã Mường Cai, phía Tây giáp huyện Sô'p Cộp và xã Nậm Mằn, phía Bắc giáp xã Nà Nghịu Xã cách trurvg tâm huyện không xa nhưng có địa hình rất phức tạp, bị chia cắt bỏi các dãy núi cao và khe suối sâu khiến cư dân phân bô' rải rác thành các nhóm nhỏ cách xa nhau Toàn xã có 22 bản, trong đó có 14 bản của người Mông Bản của người Mông lại thường cư trú ở những vùng núi
đá cao, nằm sâu trong vùng rừng đặc dụng, giao thông đi lại vô cùng khó khăn Đây là một trong những yếu tô' bất lợi cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của xã Huổi Một nói chung và đặc biệt là trong cộng đồng dân tộc Mông nói riêng
Xã Huối Một là địa bàn có số lượng người Mông cư trú khá đông, chiếm 53,04% tổng dân sô' toàn xã Tính đến hết năm 2010, xã có 22 bản với 1.072 hộ, 6.024 nhân khẩu, trong đó người Mông có 445 hộ, 3.195 nhân khẩu (UBND tình Sơn La, 2012) Bản của người Mông thường có vài chục nóc nhà, họ quần tụ chủ yếu theo dòng họ, điều này thê’ hiện sự gắn bó giữa những người cùng họ, mà người Mông gọi là cùng họ, cùng
ma Sinh kế chủ yếu của người Mông là hoạt động sản xuâ't nông nghiệp đon giản, quy mô nhỏ, mang nặng tính tự cung, tự câp, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên đời sống còn rất bâp bênh Tinh trạng thiếu đói trong cộng đổng vẫn còn khá phô’ biến Cho đên nay, trình độ dân trí của đổng bào còn thâp, mặc dù xã đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học - xoá
mù chữ năm 1999; hoàn thành chương trình phô’ cập giáo dục THCS năm 2007; phổ cập tiêu học đúng độ tuổi năm 2008 (UBND tình Sơn La, 2012) Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy nhiều người Mông, đặc biệt là phụ nữ, tái mù chữ sau phổ cập Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 100% nhưng hẩu hết các em chỉ đi học đủ để biết chữ, bỏ học đã trở thành vấn nạn phổ biến, đặc biệt là đô'i với các em gái
Trang 5Nhận thức của nam giới người dân tộc m ông về y êu cầu
chính sự đánh giá chủ qúan của họ về nhận thức của bản thân Có 5% nam giói nhận định rằng họ biết rất rõ phụ nữ có thai thì phải đi khám thai, 56% cho rằng bản thân họ đã biết đến yêu cầu này, 14% không chắc chắn và 25% thì khẳng định họ hoàn toàn không biết
.Xem ti vi thấy họ nói là người có chửa thì phải đến các ca sờ y tế
để khám thai; cán bộ dân sô' và cán bộ y tế ở xã cũng nói thế" (Nam,
25 tuổi, làm ruộng)
Bên cạnh đó vẫn còn có ý kiên: "Tôi thây từ trước đêh giờ các bà có chửa không ai đi khám thai cả, tôi cũng không thấy ai nói đên yêu cầu này"; "Ngưòi Mông chúng tôi thường dựa vào kinh nghiệm, nêu mẹ của
cô gái chửa đẻ không bị làm sao thì cô gái đó cũng vậy; nếu đứa trước đẻ
dễ thì đứa sau cũng thệ nếu bình thường thì không phải đi khám thai, chỉ khi bị đau bụng thi mói đi thôi" (Nam, 52 tuổi, làm ruộng)
Có thể thấy, nhận thức về yêu cầu thăm khám thai của những người nam giói dân tộc Mông mới dừng lại ở mức độ nhất định Họ mới chỉ đơn giản biết rằng khi phụ nữ có thai thì cần đi khám thai theo
sự hưóng dẫn của cán bộ y tê^ tuy nhiên, khám bao nhiêu lần và khám vào những thòi điểm nào, vi sao phải đi khám thì không có một người nam giói nào biết Bên cạnh đó, không phải người nam giới nào cũng thực hành theo những gì mà họ được biết Theo kết quả điều tra, chỉ có 42% nam giới trả lòi rằng họ đã từng đưa vợ đi khám thai ờ cơ sở y tế Kinh tế phát triển hon, cộng vói sự giao thoa văn hoá mạnh mẽ hơn vói các cộng đổng dân tộc khác đã giúp cộng đổng người Mông tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế, CSSK Tuy nhiên, vẫn còn hơn một nửa
sô' nam giói (58%) chưa ý thức rõ tầm quan trọng của việc thăm khám
thai định kỳ Họ cho rằng khám thai là không cần thiết, chỉ khi nào bà
mẹ mang thai bị ôm, bị đau bụng thì mới cần đi khám, nhưng trưóc khi đến cơ sờ y tế thì họ vẫn làm các thủ tục theo tâm linh (cúng ma), nêu không khỏi thì mói đi khám
Một điều đáng chú ý là hầu hết người chồng chỉ đưa vợ đi khám thai một lần duy nhất trong suô't thai kỳ Theo thống kê của trạm y tế xã, trong năm 2011 và năm tháng đầu năm 2012 có 186 trường hợp mang thai; tuy nhiên, sô' lượt khám thai mói dừng ở con sô' 113 lượt Cũng theo cán bộ y tế
818
Trang 6NCS Phạm Thị Hà
xă, mục đích chủ yêu của người chồng khi đưa vợ đi khám thai là đê biết giới tính thai nhi/ còn về tình trạng sức khoẻ thai phụ, sự phát triển của thai nhi thì ít được họ quan tâm đến Cộng đổng người Mông vẫn mang nặng quan niệm trong gia đình nhất thiết phải có con trai Chi có con trai mói nuôi dưỡng cha mẹ khi tuổi già và thờ cúng tổ tiên cha mẹ, con gái khi lây chổng sẽ trở thành ma bên nhà chồng; vì thê' nếu nhà nào không có con trai thì khi về già không có ai chăm sóc, nuôi dưỡng và nhâ't là đến khi chết thì không có ai làm ma cho và không có chỗ để chết, thường phải làm lán tạm trong rừng để chết ở đó Hầu hết những người nam giới được hòi đều muôn một mô hình gia đình lý tưởng là có 4 người con, hai con trai và hai con gái Hiện nay, gia đình người Mông không còn đẻ nhiều con như trước; tuy nhiên, họ cho rằng ít con là có 4 - 5 người con, còn gia đình đông con là phải có ữên 8 người con
"Đứa trước đẻ con gái rồi, nên đứa này đưa vợ đi siêu âm để xem
là con trai hay con g ái
(Nam, 21 tuổi, làm ruộng)
"Người Mông thì phải có con trai mói nuôi được bô' mẹ, con gái thì
dù đi lây chồng xa hay gần thì cũng không thể nuôi bô' mẹ được Nó chỉ sang nhà bô' mẹ đế chăm sóc được thôi chứ không để bô' mẹ sông trong nhà được vì đi lây chổng thì nó là khác ma rồi; khác ma thì không được cho bô' mẹ ở nhà và chết ở nhà con gái Thế nên, bô' mẹ không thể chết trong nhà con gái được mà chỉ được chết ở nhà con trai thôi vì cùng ma nhà mà; cho nên, người Mông thì bắt buộc phải có con trai"
(Nam, 45 tuổi, Bí thư Chi bộ bản)
"Người Mông thì phải có con trai đây, thích có một cặp thợ xẻ, tức
là có hai con trai và hai con gái Ai cũng thích thế Nhà nươc bảo đé hai con thôi nhưng phải cô' đẻ để có được 2 con trai, nêu chỉ có một con trai thì cũng không biết thế nào, cho nên cô' đẻ thêm"
(Nam, 37 tuổi, sửa xe máy) Nam giói không phải là người trực tiếp mang thai, không phải là người trực tiếp đến các cơ sở y tế đế thăm khám thai, nhưng nam giói lại có tiếng nói quyết định đến việc người phụ nữ mang thai ấy có đến
Trang 7NCS Phạm Thị Hà
Nhìn chung, cộng đổng người Mông tại địa bàn nghiên cứu có cuộc sông khá khép kín Họ thường cư trú ờ những vùng cao, xa trung tâm xã nên gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin, nhâ't là thông tin về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ bà mẹ
4.2 Nhận thức của nam giới v ề yêu cầu thăm khám thai cho bà mẹ mang thai
Thai nghén là giai đoạn tiềm ẩn nhiều nguy cơ (như chửa ngoài tử cung, dọa sảy thai, sảy thai, đẻ non ) đôì vói sức khoẻ bà mẹ mang thai Kinh nghiệm dân gian cho thấy "ngưòi chửa - cửa mả", dễ thây mang thai và sinh con có thể khiến người phụ nữ gặp những rủi ro, thiệt thòi về sức khoẻ, thậm chí cả sinh mạng Để tránh những nguy cơ nói trên cần có chế độ quản lý thai nghén sớm, trong suô't 9 tháng thai
kỳ, thai phụ cần được đi khám thai ít nhất 3 lần vào những thời điểm quan trọng như 12 tuần, 22 tuần và 32 tuần nhằm phát hiện sóm những rủi ro, nguy hiểm có thể gặp phải Đây là những kiến thức phổ thông, đòi hỏi mọi người trong độ tuổi sinh đẻ đều phải nắm được và nghiêm túc thực hành Tuy nhiên, trong cộng đổng dân tộc Mông ở xã Huổi Một, huyện Sông Mã không phải ai cũng biê't về yêu cầu này, nhâìt là đối vói nam giói (Biểu đồ 1):
Biểu đ ồ 1: Hiểu biết của nam giới vềyêu cầu thăm khám thai (%)
Trong nghiên cứu này, chúng tôi không đặt nặng mục tiêu kiểm tra nhận thức của nam giới mà chủ yêu đo lường sự nhận thức thông qua
SkB iết l át rò
* Biết 10
B iế t c h u a rỗ
ềi K h ổ n g b iế t
817
Trang 8Nhận thức của nam giới người dân tộc m ồng về y êu cầu
các cơ sở y tế để thăm khám thai không Gia đình người Mông theo chế
độ phụ quyền đặc trưng, đàn ông là trụ cột gia đình và đại diện giao tiếp vói xã hội Mọi vấn đề lớn nhò trong gia đình đều do người đàn ông quyết định, phụ nữ phục tùng và tuân theo; ngay cả những vân đề liên quan trực tiếp đến bản thân như vân đề sức khoẻ thì người phụ nữ cũng không tự quyết định mà luôn nghe theo sự sắp đặt của người chồng Nếu người chổng cho đó là nghiêm trọng cần phải đến khám ở các cơ sở y tế thì sẽ đưa vợ đi và ngược lại
Nghiên cứu cũng đã chi ra trình độ học vấn và truyền thông đại chúng là những yếu tô' có tác động đêh nhận thức của nam giới người Mông về chăm sóc sức khoẻ sinh sản nói chung và chăm sóc sức khoẻ bà
mẹ nói riêng Những nam giới có học vân cao và được tiếp cận vói các phương tiện truyền thông đại chúng thì biết nhiều hơn về việc phụ nữ có thai cần phải đi khám thai Tuy nhiên, như phần trên đã trình bày, họ mói chi trả lời được câu hỏi phụ nữ mang thai có phải đi khám thai hay không chứ chưa biết phải khám bao nhiêu lần và khám vào những thời điểm nào, đổng thời cũng không biết cụ thể về mục đích khám thai Do vậy, để nâng cao nhận thức của nam giói người về yêu cẩu thăm khám thai định kỳ cho thai phụ, cần chú trọng nâng cao trình độ học vân và làm tổt công tác truyền thông vể dân sô' và chăm sóc sức khoẻ sinh sản
4.3 M ột vài khuyên nghị nhằm nâng cao nhận thức của nam giới người Hmông v ề yêu cầu thăm khám thai cho bà mẹ mang thai
* Nâng cao trình độ học vấn
Để nâng cao nhận thức của nam giói về mọi vâh đề kinh tế - xã hội nói chung, vân đề chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai nói riêng cần thiết phải nâng cao trình độ học vân Chính quyền địa phương cần quan tâm hơn nữa đến công tác xoá mù chữ và tái mù chữ trên địa bàn, đặc biệt trong nhóm những người ở độ tuổi trung niên trở lên Chương trình giáo dục trong các nhà trường phổ thông cần tăng cường lổng ghép những nội dung về giới tính, giói, bình đẳng giói, bâ't bình đẳng giới để hình thành nền tảng nhận thức đúng đắn về vai trò giói trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai Trách nhiệm của nam giói trong cuộc sông gia đình cần phải được đưa vào chuông trình giáo dục
Trang 9NCS Phạm Thị Hà m •
cho trẻ em ngay tù khi còn nhò Việc nâng cao trinh độ, khuyến khích người dân đến trường sẽ giúp người nam giói Hmông nói riêng và người dân Hmông ở cộng đổng Tây Bắc nói chung mờ rộng kiến thức cũng như tầm nhìn phù hợp và thích ứng được vơi những biến đổi của thực tiễn xã hội cũng như có những hành vi cần thiết trong chăm sóc và bảo vệ họ, bảo
vệ thếhệ sau họ được phát triển một cách tổt nhất
* Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, giáo dục, truyền thông
Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông cẩn thay đổi phương thức hoạt động Hiện nay, nhóm đối tượng đích được mời đến để nghe tuyên truyền vẫn chỉ là phụ nữ Thiê't nghĩ, để nâng cao nhận thức của nam giói về vấn đề chăm sóc sức khoẻ bà mẹ thì công tác thông tin, giáo dục, truyền thông cần mở rộng phạm vi đôi tượng Nam giới mói chính là nhóm cần có những hiểu biê't sâu sắc về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và thai nhi vì trong gia đình người Hmông, nam giới quyết định mọi vấn để Nếu nam giói hiểu rõ về mục đích của yêu cầu thăm khám thai cho bà mẹ mang thai thì sẽ dần có sự thay đổi trong hành vi Họ sẽ chủ động đưa vợ đi khám thai, chăm sóc sức khoẻ cho người vợ khi mang thai
Cần tăng cả về sô' lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin, giáo dục, truyền thông Để công tác này đạt hiệu quả thiết thực đòi hỏi đội ngũ cán bộ truyền thông phải hiểu rõ tập quán của người dân, có sự trao đổi tiếp xúc thường xuyên Nội dung tuyên truyền phải phù hợp với nhận thức của người dân, đặc biệt là nhóm nam giới để họ nhận thức rõ ràng về ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề chàm sóc sức khoẻ sinh sản nói chung và chăm sóc bà mẹ mang thai nói riêng
Cẩn tranh thủ tiếng nói của trường bản vì họ là những người có vị trí rất quan trọng trong cộng đổng, là người được người dân tin tưởng, kính trọng Vì thế, công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động sẽ đạt hiệu quả cao hon khi nhận được sự đổng tình, ủng hộ của trưởng bản
5 Kết luận
Có hơn một nửa sô' nam giói được hòi cho rằng đã biết đến việc phụ
nữ có thai thì phải đi khám thai ờ cơ sở y tê'đề đảm bảo sức khoẻ cho cả
821
Trang 10Nhận thức của nam giới người dân tộc m ông về y êu cầu
mẹ và con Kết quả này phản ánh sự phát triển kinh tế - xã hội cùng những
nỗ lực đáng kể của chính quyền địa phương trong công tác giáo dục, nâng cao nhận thức mọi mặt cho người dân, toong đó có nhận thức về vân đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản: "Đổng bào hiện nay cũng có nhiều tiến bộ rổi, chúng tôi cũng thường xuyên quan tâm đêh đòi sông của bà con Ở những bản xa trung tâm, đường sá đi lại khó khăn, chúng tôi thường xuyên đến
để động viên bà con, giúp họ tăng gia sản xuất, nâng cao đòi sông " (Nam, 43 tuổi, cán bộ xã) Tuy nhiên, nhận thức của họ mới chi dừng lại ở mức độ biết chứ chưa thực sự hiểu rõ về ý nghĩa, tầm quan trọng và nhất
là những thời điểm cần thiết để đi khám thai Hơn nữa, mục đích của việc khám thai chủ yêu là để biết giới tính của thai nhi Trình độ học vâh và truyền thông đại chúng là những yêu tố có tác động tích cực đên nhận thức của nam giói về vân đề này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Vũ Quốc Khánh (2005), Người Hmông ờ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội
Hà Nội
2 Macionis, JohnJ (2004), Xã hội học,, NXB Thống kê, Hà Nội.
3 Muleta, Mekonnen (2009), Husbands' Rũles in Premtcd Care in Áddis Ababa,
Amsterdam Master7 s in Medical Anthropology, Faculty of Social and Behavioural Sciences, University of Amsterdam, The Netherlands.
4 Nguyễn Hoàng Nga (2007), Sự tham gia cùa nam giới vùng cao trong việc
thực hiện kê'hoạch hoá gia đình (Nghiên cứu trường hợp xã Cầm Ân,
huyện Yên Binh, tỉnh Yên Bái), Luận văn thạc sĩ Xã hội học, Đại học Quốc gia, Hà Nội.
huyện Sông M ã giai đoạn 2 0 1 2 -2 0 1 7
6 Tống cục thông kê (2010), Kêì quả tông điểu tra dân sô'năm 2009.
7 Đặng Anh Tuyết, "Khác biệt giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ
sinh sản và k ế hoạch hoá gia đình ớ Việt Nam hiện nay", Tạp chí Dân
sô'và phát triêh, sô' 6/2006, Website Tổng cục DS-KHHGĐ.