yêu cầu về các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh ..... Th
Trang 1MẪU TRANG PHỤ BÌA LUẬN VĂN
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐĂNG MINH THẮNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐĂNG MINH THẮNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI SỨC
KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật học, Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHAN ANH TUẤN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan dưới đây là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS.Phan Anh Tuấn Các trích dẫn trong
luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực, được chú thích đầy đủ Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ một công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Đăng Minh Thắng
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ luật Tố tụng dân sự BLTTDS
Tòa án nhân dân tối cao TANDTC Thành phố Hồ Chí Minh TP.HCM Viện kiểm sát nhân dân VKSND
Trang 5Mục Lục
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: 8
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 8
1.1.Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 8
1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác 8
1.1.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác 11
1.2.Cơ sở, nguyên tắc, nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 16
1.2.1 Cơ sở của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 16
1.2.2 Nguyên tắc của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 18
1.2.3 Nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 21
1.3 Các yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật hình sự tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 25
1.3.1 Chất lượng của quy phạm pháp luật 25
1.3.2 Chất lượng của cán bộ áp dụng pháp luật 26
Tiểu kết Chương 1 28
CHƯƠNG 2 29
Trang 6THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 29
2.1 Khái quát thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 29 2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 32 2.2.1 Thực trạng định tội danh tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 32 2.2.2 Thực trạng định khung hình phạt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 36 2.2.3 Thực trạng quyết định hình phạt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 39 2.2.4 Thực trạng áp dụng các biện pháp xử lý hình sự khác đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 42 2.2.5 Nguyên nhân của những thực trạng gặp phải trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 48 Tiểu kết Chương 2 50
CHƯƠNG 3 51 CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TỘI
CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 51
3.1 yêu cầu về các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh 51
Trang 73.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 54 3.2.1 Giải pháp về pháp luật 54
3.2.2 Các giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 63 Tiểu kết Chương 3 68
KẾT LUẬN 69
Trang 8Trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, các cơ quan nhà nước
đã ra sức ngăn chặn các hành vi phạm tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của mọi người dân Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng quan hệ ngoại giao với các quốc gia trên thế giới thì tình hình tội phạm nói chung cũng như tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác diễn ra hết sức phức tạp, tính chất thủ đoạn của tội phạm càng ngày tinh vi và liều lĩnh Do đó, hoạt động xét xử của Tòa án là vô cùng quan trọng, đảm bảo tính nghiêm minh cũng như sự công bằng của pháp luật Đây cũng chính là chủ trương của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Theo đó, việc tăng cường công tác áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử đối với các vụ án hình sự nói chung cũng như tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác là trách nhiệm của những người cầm cân nảy mực, có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao chất lượng của hoạt động xét xử
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ nền kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục khu vực phía nam của Việt Nam Cũng vì những thuận lợi trên mà TPHCM luôn là thành phố được con người lựa chọn nhiều nhất sinh sống và
Trang 92
xây dựng tương lai Điều này đã tạo điều kiện cho các loại tội phạm phát triển như ma túy, cướp giật tài sản và đặc biệt là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe cho người khác Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe cho người khác đã một phần nào đó đã đạt được kết quả nhất định đáng khích lệ, góp phần quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Mặc dù vậy, tình hình tội phạm trên địa bàn TPHCM còn nhiều thách thức, khó khăn, gây bất an đời sống nhân dân Đối tượng phạm tội ngày càng có xu hướng trẻ, tính bạo lực ngày gia tăng do nhiều nguyên nhân gây bức xúc, bất an trong dư luận Vấn
đề đặt ra nữa là công tác xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác trên địa bàn TPHCM vẫn còn nhiều sai sót, ảnh hưởng đến uy tín của hệ thống Tòa án, tác động tiêu cực đến lòng tin của nhân dân vào sự công minh, ảnh hưởng đến nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm
BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực chính thức từ ngày 01/01/2018 đã giải quyết được rất nhiều vấn đề trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Tuy nhiên, nghiên cứu quy định của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác còn chưa được rõ ràng, nhiều bất cập cần phải được làm rõ để tạo điều kiện thuận lợi trong công tác
áp dụng pháp luật hình sự về tội này trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Từ những phân tích trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Áp
dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác từ thực tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn
thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trang 103
Liên quan đến đề tài của luận văn có nhiều công trình khoa học pháp lý ở các dạng tài liệu khác nhau Một trong các công trình nghiên cứu được kể đến:
* Giáo trình, sách chuyên khảo:
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình luật hình sự (phần các
tội phạm), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội;
- Trường Đại học Luật TPHCM (2016), Giáo trình luật hình sự Việt Nam
(phần các tội phạm- quyển 1), Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam;
- Cao Thị Oanh - Lê Đăng Doanh (chủ biên) (2016), Bình luận khoa học
Bộ luật hình sự năm 2015, Nxb Lao động;
Một số giáo trình và sách đã đề cập đến tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở khía cạnh tổng quát, đặt tội này trong tổng thể các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Hơn thế nữa, các công trình nghiên cứu này chủ yếu phục vụ cho công tác giảng dạy nên chưa đề cập đến các bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật
Tạp chí:
- Đỗ Đức Hồng Hà (2004), “Phân biết tội giết người với tội cố ý gây
thương tích”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3;
- Phạm Minh Tuyên (2018), “Một số ý kiến về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 134 Bộ luật
Hình sự năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1;
- Nguyễn Văn Dũng (2018), “Bàn về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2017”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 19;
- Lương Minh Phương (2013), “Áp dụng pháp luật xong xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe con người của Tòa án nhân dân tỉnh
Trang 11niên gây ra”, Tạp chí Kiểm sát, số 25
Mỗi một công trình nghiên cứu ở trên luận bàn các vấn đề xoay quanh tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới góc
độ lý luận cũng như thực tiễn Trên cơ sở đó đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật hình sự Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu trên cơ sở Bộ luật hình sự năm 1999, hiện nay Việt Nam đang áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015, đã có một số thay đổi so với trước đây Đa số công trình chỉ tập trung bàn về quy định thực tiễn áp dụng của tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong các trường hợp cụ thể mà không nghiên cứu một cách có hệ thống về áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Điều đó cho phép tác giả khẳng định đề tài “Áp dụng pháp luật hình sự
đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
từ thực tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh” không trùng lặp với các công trình đã
nghiên cứu đã công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở đi nghiên cứu ly lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh luận văn sẽ đưa ra các kiến nghị
góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự liên quan đến tội này và đưa ra các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định của luật hình sự về tội
Trang 125
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, luận văn cần đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm, cơ sở, nguyên tắc của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
- Phân tích và đánh giá áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định của BLHS năm 2015 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Chỉ ra những vướng mắc, hạn chế trong việc quy định và áp dụng các quy định của luật hình sự liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong BLHS năm 2015 Từ đó, đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định của luật hình sự Việt Nam hiện hành
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
+ Về không gian: với đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu hoạt động
áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
+ Phạm vi thời gian: Đề tài của tác giả nghiên cứu trong giới hạn của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác từ năm 2015 đến năm 2019
Trang 136
+ Nội dung: Nội dung nghiên cứu của luận văn là vấn đề áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người Bao gồm các hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án: Định tội danh, định khung hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, hoạt động kiểm sát điều tra, truy tố
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin với phép duy vật biện chứng, các quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này tác giả sử dụng để phân tích các quy định của pháp luật hiện nay cũng như phân tích các vụ án xảy ra trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp tổng hợp được tác giả sử dụng song song với phương pháp phân tích để tổng hợp và khái quát kết quả nghiên cứu của mình Đây cũng được coi là phương pháp trọng tâm tác giả sử dụng xuyên suốt bài luận văn của mình
- Phương pháp so sánh: Được tác giả sử dụng để so sánh đối chiếu các bản
án xét xử liên quan đến việc áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh Phương pháp này được tác giả sử dụng nhiều nhất ở nội dung chương 2 của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Với đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn xoay quanh việc áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Trên cơ sở đó,
Trang 147 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật hình sự đối với tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 158
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI
CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1.1.Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác
Quyền được sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền đã được pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia thừa nhận là quyền của con người Nếu tính mạng và sức khỏe của con người không được được Nhà nước và pháp luật thừa nhận, bảo vệ thì con người không thể yên tâm học tập, lao động và xây dựng đất nước Sức khỏe của con người là vô giá Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc là văn kiện pháp lý ghi nhận các quyền cơ bản của con
người Điều 3 Tuyên ngôn có quy định: “Ai cũng có quyền được sống, tự do
và an toàn thân thể” Điều 20 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” Trên cơ sở đó, quyền được bảo hộ sức khỏe được ghi nhận ở các
ngành luật dân sự, hành chính và hình sự Điều 134 BLHS năm 2015 quy định về tội CYGTT hoặc GTH cho người sức khỏe của người khác
BLHS năm 2015 không đưa ra bất kỳ một khái niệm nào về tội này,
nhưng theo Từ điển Tiếng viết của Viện ngôn ngữ, chúng ta có thể hiểu như
sau: “Cố ý” có nghĩa là định sẵn từ trước và thực hiện ý định đó [31, tr.205];
“Gây” có nghĩa là làm cho nảy sinh, phát ra [31, tr.377]; “Thương tích” là
dấu vết để lại trên thân thể do bị thương [31, tr.976]; “Tổn hại” là làm mất
Trang 169
mát, hư hại lớn; “Sức khỏe” nghĩa là sức mạnh của thân thể do không bị bệnh tật gì [31, tr.1012] Còn theo Từ điển của Bộ Tư pháp thì “Cố ý gây thương
tích” là hành vi xâm phạm thân thể, gây tổn hại cho sức khỏe người khác
dưới dạng thương tích cụ thể [1, tr.172] Tác giả Nguyễn Ngọc Điện lại cho rằng “Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn tác động vào cơ thể nạn nhân làm mất hoặc giảm chức năng các bộ phận trên cơ thể nạn nhân [2, tr.59]
Dựa vào những phân tích ở trên, tác giả có thể đưa ra khái niệm về tội
CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác như sau: “Tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, tác động trái pháp luật đến thân thể của người khác nhằm gây thiệt hại về sức khỏe cho người đó dưới dạng thương tích hoặc sự mất, suy giảm chức năng của các cơ quan, bộ phận trên cơ thể nạn nhân”
Trên đây, là khái niệm về tội CYGTT hoặc GTT cho sức khỏe của người khác Còn để có thể xây dựng được khái niệm áp dụng pháp luật hình
sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, trước hết chúng ta cần phải làm rõ khái niệm áp dụng pháp luật là gì?
Khi ban hành các quy phạm pháp luật, Nhà nước luôn hướng tới việc vận dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, thiết lập trật tự xã hội đáp ứng nhu cầu và lợi ích của nhân dân lao động và sự tiến bộ của xã hội Mục đích đó chỉ đạt được khi các chủ thể thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh trong đời sống thực tế Trong khoa học, có nghiên cứu cho rằng áp dụng
pháp luật là quá trình diễn ra ngay sau quá trình xây dựng pháp luật, bao gồm:
“toàn bộ những việc làm, những hoạt động, những phương thức nhằm thực hiện những yêu cầu đặt ra trong pháp luật, trong việc điều chỉnh các quan hệ
Trang 1710
xã hội” [30, tr.227] Dựa vào tính chất của hoạt động, của hành vi thực hiện
pháp luật, khoa học pháp lý chia thực hiện pháp luật ra thành bốn hình thức
cơ bản: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, và hình thức chúng ta đang quan tâm ở đây chính là áp dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các tổ chức và cá nhân thực hiện những quy định của pháp luật [33, tr.335] Ở đây các chủ thể áp dụng pháp luật luôn có sự tham gia của Nhà nước, hay nói cách khác không phải mọi chủ thể đều có thể áp dụng pháp luật như các hình thức thực hiện pháp luật khác
Trong các hoạt động giải quyết các án về dân sự, lao động, kinh tế hay hành chính là hoạt động mang tính chất độc lập Nhưng giải quyết án hình sự
là cả một quá trình có sự kết hợp giữa các cơ quan nhà nước với nhau Từ khái niệm áp dụng pháp luật, cho phép chúng ta hiểu áp dụng pháp luật hình
sự là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức cho các tổ chức
và cá nhân thực hiện các quy định của pháp luật hình sự, đảm bảo các quy định của pháp luật hình sự đi vào đời sống thực tế Thiếu đi sự đảm bảo này thì các quy phạm pháp luật hình sự không thể được thể hiện trong đời sống thực tế Thực tế đã chứng minh rằng, có rất nhiều trường hợp đã không có sự can thiệp của Nhà nước và nhiều quy phạm pháp luật hình sự không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng Và việc áp dụng pháp luật hình sự cũng chỉ được đặt ra trong những trường hợp cụ thể và của một số cơ quan nhất định Như vậy, pháp luật hình sự quy định sự hình thành pháp lý về tội phạm
và hình phạt, trong khi đó áp dụng pháp luật hình sự đóng vai trò quan trọng hơn là đưa những quy định hay thủ tục vào đời sống thực tế
Dựa vào khái niệm của áp dụng pháp luật và áp dụng pháp luật hình sự, chúng ta có thể xây dựng khái niệm áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý
Trang 1811
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: “Là
một hình thức của áp dụng pháp luật do người có thẩm quyền tiến hành và áp dụng những quy phạm pháp luật hình sự liên quan đến tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác để giải quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật hình sự quy định”
1.1.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác
Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác là một trong các loại áp dụng pháp luật, do
đó cũng mang đặc điểm của áp dụng pháp luật Cụ thể:
Thứ nhất, là hoạt động mang tính tổ chức- quyền lực nhà nước
Đặc điểm này thể hiện ở chỗ chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành thể hiện mệnh lệnh quyền uy phục tùng của Nhà nước đối với các chủ thể bị áp dụng Nếu như tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là các hình thức thực hiện pháp luật được thực hiện bởi bất kỳ chủ thể nào thì áp dụng pháp luật thì lại không dành cho tất cả Mỗi một cơ quan nhà nước sẽ được tiến hành các hoạt động áp dụng pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau Đối với hoạt động áp dụng pháp luật hình sự thì Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan Điều tra được coi là cơ quan tiến hành Tố tụng hình
sự xuyên suốt quá trình từ lúc bắt đầu cho đến giai đoạn ban hành ra văn bản
áp dụng pháp luật Cũng vì đặc điểm này, mà có ý kiến đã cho rằng “áp dụng
pháp luật không chỉ là hình thức thực hiện thực tế các quy phạm pháp luật mà còn là một phương tiện để tổ chức thực hiện các quy phạm pháp luật trong đời sống ”và “áp dụng pháp luật như là hình thức pháp luật thứ hai để quản
lý xã hội” [11, tr.422]
Ngoài ra, đặc điểm này còn được thể hiện ở chỗ ADPLHS được tiến hành theo ý chí đơn phương của Nhà nước Tức là không tồn tại sự thỏa thuận
Trang 1912
giữa Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra với bị can, bị cáo và không bị ảnh hưởng bởi ý chí của chủ thể bị áp dụng pháp luật Suy cho cùng, Tòa án, Viện kiểm sát hay Cơ quan điều tra họ không nhân danh họ mà họ đang nhận danh Nhà nước, đại diện cho ý chí của Nhà nước cho tính tối cao của quyền lực nhà nước Và ý chí của Nhà nước được thể hiện rất rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật Họ đang thực hiện chức trách chuyển hóa các quy định của pháp luật hình sự để giải quyết vụ án một cách khách quan nhất
Thứ hai, áp dụng pháp luật hình sự là hoạt động được tiến hành theo những hình thức và thủ tục được pháp luật hình sự quy định rất rõ ràng và chặt chẽ
Cũng giống như áp dụng pháp luật thì ADPLHS cũng không thể áp dụng một cách tùy tiện Để giải quyết một vụ án hình sự cần phải có một quy trình rất rõ ràng từ giai đoạn điều tra, khởi tố hay là xét xử đều phải cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình áp dụng Tất cả các quy trình, thủ tục được cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng hình
sự Và điều này đồng nghĩa với việc ADPLHS không phải một hoạt động tùy tiện mà phải theo quy trình chặt chẽ
Thứ ba, ADPLHS là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với quan
hệ pháp luật hình sự
Nếu như việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong tất cả các lĩnh vực và có hiệu lực gần như phổ biến cho mọi chủ thể thì đối tượng của áp dụng pháp luật là sự điều chỉnh cá biệt,
cụ thể cho quan hệ xã hội khi có sự kiện phạm tội Bằng hoạt động ADPLHS , những quy định về pháp luật hình sự được cá biệt hóa, cụ thể hóa vào đời sống của xã hội
Thứ tư, áp dụng pháp luật hình sự đòi hỏi tính sáng tạo
Trang 2013
Khi nói đến áp dụng pháp luật là nói đến đặc điểm cá biệt cụ thể và ADPLHS cũng không ngoại lệ đặc điểm này Khi giải quyết một vụ án hình
sự nào đó, có nghĩa là khi cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật hình sự
họ phải nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, khách quan các tình tiết của vụ án, làm sáng tỏ cấu thành tội phạm để lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành văn bản đó Khi mà các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng mang tính chất khái quát cao trong khi đó thực tế thì muôn màu muôn vẻ nên khi chuyển hóa các quy định của pháp luật hình sự vào đời sống, bản thân các chủ thể áp dụng pháp luật phải sáng tạo và sự sáng tạo này nằm trong giới hạn sự cho phép của nhà nước Để áp dụng pháp luật hình sự tốt, Tòa án, Viện kiểm sát hay Cơ quan Điều tra phải có ý thức pháp luật cao, có kiến thức tổng hợp, có kinh nghiệm sống phong phú và có bản lĩnh nghề nghiệp
Thứ năm, hình thức thể hiện chính thức của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự chính là văn bản áp dụng pháp luật
Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách ban hành trên cơ sở văn bản quy phạm pháp luật, áp dụng vào từng trường hợp cụ thể nhằm xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể Thiếu nó, nhiều quy phạm pháp luật cụ thể không thực hiện được Nó luôn mang tính bổ sung trong trường hợp khi có yếu tố khác của vụ án xuất hiện Văn bản áp dụng pháp luật được thể hiện dưới những hình thức pháp lý nhất định
1.1.3 Mục đích áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác
Pháp luật muốn thực sự đi vào đời sống xã hội ngoài các yếu tố như điều kiện kinh tế, lịch sử, trình độ dân trí thì Nhà nước còn phải hết sức quan tâm đến công tác tổ chức áp dụng pháp luật một cách nghiêm minh Suy cho
Trang 2114
cùng, Nhà nước muốn duy trì được sự ổn định cần phải ban hành pháp luật Nhưng nếu ban hành rồi để đó thì chứng tỏ một điều sự quản lý của Nhà nước không mang lại hiệu quả Mục đích trực tiếp của áp dụng pháp luật nói chung cũng như ADPLHS nói riêng là bảo đảm cho các quy phạm pháp luật được thực hiện trong đời sống thực tế Thiếu đi hoạt động này coi như các quy phạm về tội phạm hay hình phạt của BLHS không có giá trị
Việc áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho người khác có vai trò cơ bản như sau:
Thứ nhất, áp dụng pháp luật hình sự đối với tội danh này giúp bảo vệ
sức khỏe của con người trước nguy cơ bị xâm hại của tội phạm, đồng thời răn
đe và giáo dục người phạm tội
Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Mọi người có quyền sống Tính
mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai tước đoạt tính mạng trái pháp luật; Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh sự, nhân phẩm.” Sức khỏe là thứ vô giá của con người
Mọi hành vi xâm phạm tới sức khỏe của con người thông qua việc làm cho người nào đó mất đi một phần hay toàn bộ sức lực của chính người đó đều bị
lên án và phải chịu trách nhiệm Hiện nay, tình trạng cố ý gây thương tích cho
người khác chúng ta có thể bắt gặp bất cứ nơi đâu với bất kỳ thủ đoạn nào và ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sức khỏe thậm chí là cả tính mạng của con người Nếu áp dụng pháp luật không hợp lý, không khách quan đúng người đúng tội dẫn đến hình phạt được áp dụng tương ứng không đủ mạnh để răn đe giáo dục và dẫn đến tình trạng tái phạm nhiều lần và càng ngày càng quy mô Việc áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan có thẩm quyền mang lại hiệu quả một phần nào đó có thể củng cố được niềm tin của người dân đối với
Trang 2215
Nhà nước Làm hạn chế được tình trạng xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người và nâng cao được ý thức chấp hành pháp luật của người dân
Thứ hai, ADPLHS đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác bảo vệ an toàn, trật tự xã hội
Hành vi xâm phạm tới sức khỏe của người khác bên cạnh làm ảnh hưởng tới nền kinh tế thì nó đặc biệt ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội cũng là nguồn gốc phát sinh ra nhiều hệ lụy nguy hiểm Thực tế cho chúng ta thấy các cuộc ẩu đả, gây gổ đánh nhau thường xuyên xảy ra tại nơi đông người xâm phạm an toàn, trật tự xã hội Bên cạnh đó, nó cũng có thể là nguyên nhân cho hành vi giết người, phá hoại tài sản làm mất trật tự Nếu APLHS đạt hiệu quả sẽ phần nào giảm bớt những tác hại mà do tội phạm này gây ra
Thứ ba, hoạt động ADPLHS đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác có vai trò trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự
Thực tiễn là cái chứng minh quy định của pháp luật phù hợp hay không phù hợp Thông qua hoạt động đưa các quy phạm pháp luật hình sự về tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác rút ra được quy định này đã toàn diện hay chưa? Có lỗ hổng nào không? Hay việc quy định pháp luật mà mỗi người hiểu khác nhau không thống nhất dẫn đến tình trạng lúng túng, áp dụng pháp luật một cách tùy tiện Trong quá trình ADPLHS còn giúp phát hiện ra những vi phạm mới nhưng chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh, hay quy phạm lỗi thời không còn phù hợp với xã hội ngày nào Và trên cơ sở đó, nảy sinh những tư duy pháp lý phù hợp đóng góp với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói
riêng
Trang 2316
Thứ tư, ADPLHS đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác là một trong các hình thức phổ biến và tuyên truyền giáo dục pháp luật cho người dân
Khi cơ quan nhà nước áp dụng pháp luật nói chung và ADPLHS nói riêng họ sẽ tiến hành phân tích, giải thích pháp luật chỉ ra những gì người phạm tội đã thực hiện và các chế tài tương ứng với hành vi phạm tội đó Nhờ
đó, mà có thể chuyển tải kiến thức pháp luật cho người dân đặc biệt thông qua các phiên tòa xét xử công khai đến tận nơi xảy ra vụ án hoặc vùng sâu vùng
xa
1.2.Cơ sở, nguyên tắc, nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.2.1 Cơ sở của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Hoạt động áp dụng pháp luật nói chung cũng như ADPLHS đối với tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác phải dựa
trên cơ sở thực tế và cơ sở pháp lý “Ở lĩnh vực khác, nếu như pháp luật có
thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau (không chỉ bằng cách áp dụng pháp luật) thì cần nhấn mạnh rằng, không tồn tại những cơ sở riêng của ADPL mà chỉ tồn tại những cơ sở chung của thực hiện pháp luật Bất cứ một hình thức thực hiện pháp luật nào khi được tiến hành cũng đều dựa trên hại
cơ sở là cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế” [26, tr.24]
■ Cở sở pháp lý
Pháp luật hình sự được coi là cơ sở pháp lý của việc ADPLHS Các quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành với mục đích xây dựng một hành lang pháp lý cho hành vi xử sự của chủ thể Các quy định của pháp luật hình
sự có thể đơn lẻ hoặc đã được pháp điển hóa, có thể là đạo luật hay các văn bản hướng dẫn của cơ quan lập pháp hay cơ quan tư pháp Điều 2 BLHS năm
Trang 2417
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định rõ: “1 Chỉ người nào phạm một tội
đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm pháp lý; 2 Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của
Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”
Như vậy, muốn áp dụng pháp luật hình sự phải dựa vào các quy phạm hình sự, và các quy phạm này có thể nằm trong các văn bản đơn lẻ nhưng trọng tâm nhất chính là BLHS năm 2015 Hiện nay, BLHS hiện hành quy định hàng trăm quy phạm điều chỉnh về hai nhóm đối tượng đó là tội phạm và hình phạt
Cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác là cấu thành tội này được quy định tại Điều 134 BLHS năm 2015
Đương nhiên, muốn làm rõ các dấu hiệu của cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì ngoài quy định tại Điều
134 BLHS thì còn phải dựa vào các quy định khác ở Phần Chung và Phần các
tội phạm của Bộ luật hình sự Cụ thể: Điều 134 Tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật hình sự đối với cá nhân
đã thực hiện hành vi đó Như vậy, cơ sở thực tiễn của hoạt động ADPLHS đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chính là hành vi trái pháp luật của chủ thể gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Trang 25sự thông qua việc chi phối các giai đoạn của quá trình ADPLHS [29, tr.75]
Nhìn chung, những nguyên tắc của ADPLHS trước hết được quy định bởi chính pháp luật được áp dụng, bao gồm luật hình thức và luật nội dung Việc ADPLHS nói chung và đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người nói riêng được dựa trên những nguyên tắc của luật hình
sự và những nguyên tắc của luật tố tụng hình sự Cụ thể:
Thứ nhất, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế là việc tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh và triệt để
từ phía các cơ quan nhà nước, tổ chức, công dân [27, tr 26] Trong luật hình
sự, nguyên tắc này có nghĩa là chỉ có luật hình sự mới có thể quy định hành vi nào là tội phạm và hậu quả pháp lý có thể xảy ra đối với người phạm tội Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc “có luật, có tội; không có luật, không
có tội” Như vậy, nếu như chủ thể không cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác sẽ không bị coi là tội phạm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và cũng không phải chịu trách nhiệm pháp lý về tội phạm này
Trong hoạt động ADPLHS , nguyên tắc pháp chế XHCN đòi hỏi việc
xét xử đúng người, đúng tội; “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp
thời, xử lý nhanh chóng” (khoản 1, Điều 3, BLHS năm 2015) Để đảm bảo
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức xã hội và công dân trong quá trình giải quyết vụ án Việc tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh trong hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan Điều
Trang 2619
tra phải có khả năng độc lập trong nhận thực về quyền và nghĩa vụ của mình
mà không bị chi phối bởi các yếu tố khác Điều này được thể hiện rõ trong tố
tụng hình sự: “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật”
Như vậy, nội dung của nguyên tắc này là đòi hỏi mỗi chủ thể tham gia phải nhận thức được rõ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ Bất kỳ sự tùy tiện nào trong quá trình này cũng đều vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, nguyên tắc dân chủ và công khai
Nguyên tắc dân chủ và công khai là nguyên tắc của ADPLHS được hình thành từ nguyên tắc dân chủ của luật hình sự và nguyên tắc công khai của luật tố tụng hình sự Sự chuyển hóa của hai nguyên tắc này đã tạo thành một nguyên tắc hết sức đặc biệt của ADPLHS vừa chi phối nội dung vừa chi phối hình thức của quá trình chuyển hóa pháp luật hình sự vào đời sống xã hội [29, tr.82]
Dân chủ là sự làm chủ của nhân dân, sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào quá trình quả lý xã hội, quản lý Nhà nước [27, tr.28] Luật Hình sự
không phân biệt đối xử, không quy định đặc quyền, đặc lợi cho bất kỳ chủ thể nào Ngoài ra, Nhà nước còn đảm bảo cho người dân có thể tự mình trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tham gia vào hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật, chủ động thực hiện quyền làm chủ của mình vào quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm
Công khai chính là một biểu hiện của dân chủ, là điều kiện để thực hiện dân chủ trong đời sống xã hội Với nguyên tắc này, mọi người dân có thể giám sát, phát hiện sai sót, vi phạm của những chủ thể tiến hành tố tụng Hơn nữa, với nguyên tắc công khai là cơ sở xây dựng môi trường tin cậy của người
Trang 2720
dân vào hệ thống tư pháp, đây cũng là một hình thức tuyên truyền và giáo dục pháp luật tới cho người dân
Thứ ba, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa
Nhân đạo là đối xử nhân từ, độ lượng, khoan dung đối với con người, chăm lo cho con người, coi con người là vốn quý nhất của xã hội [27, tr.30]
Trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất bởi vì nó
có thể tước đi mạng sống của một con người hay nhẹ hơn làm mất đi tự do của một con người Cũng chính vì sự nghiêm khắc đó, nên nguyên tắc nhân đạo đặc biệt được thể hiện đậm nét trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự Chẳng hạn:
- Mục đích của hình phạt chủ yếu hướng tới giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm là chủ yếu Mọi hình phạt hướng tới đều không nhằm trả thù người phạm tội Đối với hình phạt chung thân tử hình là hai loại hình phạt chính rất hạn chế được áp dụng Chỉ thực sự áp dụng đối với người phạm tội đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Điều 134 BLHS năm 2015 quy định loại hình phạt nặng nhất chính là tù có thời hạn Ngay cả trong trường hợp cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người thì mức phạt tù cao nhất là 14 năm tù Mục đích cuối cùng là giáo dục người phạm tội, cho họ một cơ hội để làm lại cuộc đời
- Bên cạnh đó, quy định loại hình phạt cao nhất cho tội này là tù chung thân Tuy nhiên mức án được coi là nghiêm khắc chỉ thua hình phạt án tử hình Do
đó, chỉ được áp dụng trong trường hợp làm chết hai người trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này BLHS quy định hệ thống các biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hình sự nhằm cụ thể hóa chính
Trang 2821
sách nhân đạo Trong quá trình quyết định hình phạt cho các tội phạm nói chung cũng như tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tòa án luôn phải cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Chẳng hạn như người phạm tội là phụ nữ mang thai, người già, trẻ
em, … đây là một trong những cơ sở quan trọng ảnh hưởng đến khung hình phạt
Thứ tư, nguyên tắc bình đẳng
Một trong những nguyên tắc của pháp luật được ghi nhận trong các bản
Hiến pháp là mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Trong luật nội
dung, nguyên tắc bình đẳng thể hiện ở chỗ việc vận dụng các dấu hiệu định tội danh về một hành vi phạm tội và quyết định hình phạt đối với tội phạm đó đều phải như nhau Sự bình đẳng được đề cập ở đây không phải là sự bình đẳng giữa chủ thể phạm tội với cơ quan tiến hành tố tụng mà là sự bình đẳng giữa các bị cáo với nhau, giữa các chủ thể có địa vị pháp lý ngang nhau Mọi tình tiết của vụ án, các mối quan hệ xoay quanh, tất cả mọi bằng chứng, biện pháp trách nhiệm hình sự mà các chủ thể áp dụng phải được đánh giá và áp dụng như nhau Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, nguyên tắc này không được tuân thủ sẽ phá vỡ đi tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật
1.2.3 Nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Áp dụng pháp luật là sự chuyển hóa quy định pháp luật thành các hành
vi trên thực tế Trong quy định pháp luật hình sự, hai nhóm đối tượng điều chỉnh được đề cập chính là tội phạm và hình phạt Như vậy, khi chuyển hóa vào thực tế cũng chính là chuyển hóa hai nội dung về tội phạm và hình phạt Trên cơ sở, chỉ được coi là tội phạm khi hành vi đó được quy định trong BLHS nên việc định tội danh phải dựa vào BLHS Cụ thể đối với đề tài tác giả đang nghiên cứu thì bắt buộc phải dựa vào Điều 134 BLHS năm 2015
Trang 2922
■ Định tội danh
Để có thể đưa ra khái niệm định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cần phải dựa trên
khái niệm định tội danh Theo GS.TS Võ Khánh Vinh thì: “Định tội danh là
việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự [32, tr.9-10]
Như vậy, định tội danh trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là việc xác định về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa dấu hiệu của hành vi này với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định của luật hình sự
Định tội danh là một vấn đề quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Đây là tiền đề cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách công minh, chính xác Định tội danh sai sẽ dẫn đến hậu quả rất lớn, đặc biệt là không đảm bảo được tính có căn cứ của hình phạt được tuyên, xét xử không đúng người đúng tội, không đúng pháp luật
Trang 3023
Theo quy định tại Điều 134 BLHS năm 2015, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có 05 khung hình phạt Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 còn có quy định về khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội Cụ thể như sau:
Thứ nhất, Tòa án quyết định khung hình phạt cải tạo không giam giữ
đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với các hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này
Thứ hai, Tòa án quyết định phạt tù từ 02 năm đến 06 năm đối với hành
vi phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định khoản 2 Điều 134 BLHS 2015
Thứ ba, phạt tù từ 05 năm đến 10 năm đối với hành vi phạm tội thuộc
một trong các trường hợp tại khoản 3 Điều 134 BLHS 2015
Thứ tư, phạt tù từ 07 năm đến 14 năm đối với hành vi phạm tội thuộc
một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 134 BLHS năm 2015
Thứ năm, phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân đối với
hành vi phạm tội thuộc một trong các trường hợp tại khoản 5 Điều 134 BLHS năm 2015
Thứ sáu, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03
tháng đến 02 năm đối với người có hành vi chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (khoản 6 Điều 134 BLHS năm 2015)
■ Quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động
áp dụng pháp luật hình sự thể hiện qua thực tiễn xét xử của Tòa án, là việc
Trang 3124
Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong BLHS tương ứng với một cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội [31, tr.42]
Quyết định hình phạt là một giai đoạn quan trọng bởi lẽ nó quyết định mức hình phạt của người có hành vi phạm tội Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền đề, là điều kiện để đạt được mục đích của hình phạt Điều 31 BHLS năm 2015 quy định mục đích của hình phạt đó
là không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng
pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
Để đạt được điều này, Tòa án phải tuân theo các nguyên tắc quyết định hình phạt và các căn cứ quyết định hình phạt Theo quy định tại khoản 1 Điều
50 BLHS hiện hành, khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự
Sau khi đủ các yếu tố cấu thành tội phạm được xác định ở giai đoạn định tội danh, Tòa án sẽ quyết định hình phạt Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chỉ có hình phạt chính mà không có hình phạt bổ sung Điều 134 BLHS năm 2015 quy định nhiều loại hình phạt chính như cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thậm chí là tù chung thân và đối với mỗi loại hình phạt chính như cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn có nhiều mức độ Tòa án khi quyết định hình phạt chỉ được lựa chọn một loại trong các loại hình phạt chính này với mức hình phạt tương xứng
Áp dụng các biện pháp xử lý hình sự khác:
Trang 3225
Áp dụng các biện pháp xử lý hình sự khác như: miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, án treo, tha tù trước thời hạn có điều kiện, các biện pháp tư pháp, án tích cũng là nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.3 Các yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật hình sự tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Tòa án, VKS, CQĐT là những chủ thể tiến hành tố tụng hình sự, có trách nhiệm giải quyết các vụ án hình sự khách quan, thấu tình đạt lý Hoạt động ADPLHS đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đạt được hiệu quả hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn khách quan Khi những yếu tố này thay đổi sẽ tác động đến kết quả của hoạt động ADPLHS theo hướng tích cực hoặc tiêu cực
1.3.1 Chất lượng của quy phạm pháp luật
Hoạt động ADPLHS đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có mang lại hiệu quả hay không trước hết phụ thuộc vào chất lượng công việc của các nhà lập pháp hình sự Điều này có nghĩa là Nhà nước cần phải ban hành một hệ thống pháp luật đủ mạnh, là hành lang pháp lý vững chắc để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong suốt quá trình xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Thứ nhất, pháp luật hình sự phải đồng bộ, thống nhất, minh bạch và
phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội Nếu như hệ thống pháp luật từ Hiến pháp, các đạo luật, nghị định, thông tư cùng điều chỉnh về một vấn đề nhưng lại có nội dung mâu thuẫn và chồng chéo lẫn nhau Điều này dẫn đến tình trạng chờ đợi văn bản hướng dẫn và gây ra rất nhiều khó khăn cho các chủ thể trong quá trình ADPLHS
Trang 3326
Thứ hai, liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích, BLHS năm 2015
có quy định các tội phạm mà trong đó về mặt cấu thành rất dễ nhầm lẫn Chính vì có nhiều quy định liên quan đến hành vi này, Nhà nước cần phải xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng ban hành các quy phạm pháp luật phù hợp để điều chỉnh tùy vào từng trường hợp cụ thể Tránh trường hợp áp dụng tùy tiện không mang lại hiệu quả và kết quả thấu tình đạt lý Quy định của pháp luật thống nhất sẽ tạo điều kiện cho Hội đồng xét xử giải quyết vụ án nhanh chóng, khách quan Nhưng nếu không rõ ràng và thống nhất, chủ thể áp dụng
sẽ rất khó khăn trong việc lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp
Thứ ba, pháp luật về thủ tục có tác động khá mạnh tới hoạt động
ADPLHS Quy định về vai trò, trách nhiệm và địa vị pháp lý của người tiến hành tố tụng cần phải rõ ràng đặc biệt là tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử luôn được thể hiện rõ Độc lập ở đây không có nghĩa Thẩm phán được toàn quyền quyết định dựa theo ý chí chủ quan của mình mà độc lập ở đây có nghĩa là khi xét xử, HĐXX không phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan Công an hay cáo trạng của VKS Trách nhiệm của HĐXX phải đánh giá toàn diện dựa trên toàn bộ chứng cứ thu thập được xuyên suốt quá trịnh điều tra, tuy tố và xét xử HĐXX cũng độc lập với yêu cầu của những người tham gia tố tụng Quyết định cuối cùng của HĐXX được công khai tại phiên tòa Để đảm bảo tính độc lập của Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân đòi hỏi những người này phải có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cũng như đạo đức, khách quan và vô tư Phải có sự tự tin về phán quyết của mình, có ý thức trách nhiệm cao trong nhiệm vụ được phân công
1.3.2 Chất lượng của cán bộ áp dụng pháp luật
Hoạt động ADPLHS không những đòi hỏi chất lượng trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật hình sự mà còn đòi hỏi trình độ pháp lý của cán
bộ - là những chủ thể tiến hành ADPLHS Yếu tố con người trong trường hợp
Trang 3427
này được coi là yếu tố chủ quan tác động đến hoạt động ADPLHS đối với tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Tòa án, VKS và CQĐT là những chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự Hoạt động của những cơ quan này trong quá trình giải quyết vụ án phải thông qua con người cụ thể Đó là Thẩm phán, Hội Thẩm nhân dân, Kiểm sát viên…
1.3.3 Yếu tố kinh tế - xã hội
Ngoài những yếu tố mà tác giả đề cập trên thì điều kiện về kinh tế - xã hội đóng góp không nhỏ tới hiệu quả của hoạt động ADPLHS đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Xã hội phát triển, trình độ dân trí con người cao thì hoạt động ADPLHS sẽ theo chiều hướng tích cực và ngược lại Trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, mà văn bản pháp luật muốn được thực hiện trong thực tế đòi hỏi phải có một chi phí rất lớn về sức người và trang bị vật chất- kỹ thuật Vì thế kinh phí của hoạt động ADPLHS là một trong những yêu cầu quyết định đến thành quả của quá trình ADPLHS Trên cơ sở đó, để nâng cao hiệu quả khi giải quyết vụ án hình sự không thể không tính đến các yếu tố về kinh tế- xã hội
Trang 3528
Tiểu kết Chương 1
Trong nội dung Chương 1 của luận văn, tác giả đã nghiên cứu được một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Cụ thể về khái niệm, đặc điểm và vai trò của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Ngoài
ra, tác giả cũng làm rõ được cơ sở, nguyên tắc và về những nội dung cơ bản của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự Đồng thời trình bày được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Qua nội dung Chương 1, chúng ta nhận thấy rằng áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một dạng
của áp dụng pháp luật nói chung, được hiểu: Là một hình thức của áp dụng
pháp luật do người có thẩm quyền tiến hành và áp dụng những quy phạm pháp luật hình sự liên quan đến tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác để giải quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật hình sự quy định
Trang 3629
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Tội CYGTT hoặc GTT cho sức khỏe của người khác là một trong những loại tội phạm phổ biến, thường xuyên Đây là trường hợp đã được BLHS qua các thời kỳ cũng như các văn bản hướng dẫn cụ thể, thực tế cho thấy công tác phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm trong phạm vi
cả nước và tại TPHCM nói riêng còn gặp nhiều khó khăn và bất cập
Dựa vào tài liệu tác giả thu thập được từ VKSND TPHCM cho thấy trong thời gian từ khi BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực cho thấy sự nỗ lực của cơ quan bảo vệ pháp luật đã tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hình sự về tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác Dưới đây là số liệu thống kê của VKSND TPHCM từ năm 2017 đến năm 2019 như sau:
Bảng 2.1 Thực tiễn Kiểm sát điều tra các vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích từ năm 2017 đến năm 2019
Trang 3730
Qua bảng phân tích số liệu trên, có thể thấy con số VKSND TPHCM thụ lý qua các năm có chiều hướng tăng Chứng tỏ rằng, tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác càng ngày càng diễn ra nhiều trên địa bàn TPHCM Ngoài ra, bảng số liệu này cũng cho thấy sự nỗ lực giải quyết của CQĐT Bên cạnh đó, hồ sơ tồn đọng vẫn còn khá nhiều Cụ thể năm 2017: tổng số hồ sơ thụ lý vụ án 14 nhưng mới chỉ giải quyết 9 (chiếm 64%), còn 5
vụ án (chiếm 36%); Năm 2018: Tổng số vụ án thụ lý là 27, số giải quyết đc
16 (59%), còn lại 41% tồn đọng chưa được giải quyết; Năm 2019: số vụ án thụ lý 39 nhưng chỉ giải quyết được 10 (25%) còn tới 75% số chưa được giải quyết Từ bảng 2.1 phản ánh lên hai thực trạng: một là tội phạm CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác trên địa bàn TPHCM càng ngày càng tăng; hai là vấn đề để số vụ án điều tra còn tồn khá cao
Bảng 2.2 Thực tiễn quyết định việc truy tố các vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích từ năm 2017 đến năm 2019
Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Qua bảng số liệu về tình hình quyết định truy tố vụ án và bị can từ năm
2017 đến năm 2019 có xu hướng tăng nhưng không nhiều, lượng án cũng như
bị can còn tồn chưa giải quyết chiếm tỷ lệ nhỏ không đáng kể Và một điều đặc biệt là về quyết định truy tố của cả ba năm 2017, 2018, 2019 không có một vụ án hay bị can nào bị đình chỉ và tạm đình chỉ Điều này chứng tỏ hoạt động truy tố của VKSND TPHCM đạt kết quả tương đối cao
Trang 38Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Về tình hình xét xử tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác của VKSND TPHCM qua các năm 2017 đến năm 2019 có sự tăng giảm không đồng đều Cụ thể từ năm 2017 đến năm 2018 xét xử vụ án cũng như bị can đều có xu hướng tăng Nhưng từ năm 2018 đến năm 2019 thì hoạt động xét xử vụ án và bị can lại có xu hướng giảm đáng kể Từ 12 vụ án với 32 bị can giảm xuống chỉ còn 5 vụ án với 22 bị can Điều này phản ánh hoạt động xét xử trong 03 năm không đồng đều nhau
Bảng 2.4 Số vụ án đưa ra xét xử về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác so với tội phạm chung từ năm 2017 đến
năm 2019 Năm Tội CYGTT Tội phạm
chung
Tỷ lệ % tội CYGTT/tội phạm chung
Trang 3932
Qua bảng số liệu 2.4 về số vụ án được đưa ra xét xử về tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác so với tội phạm chung từ năm 2017 đến năm 2019 có nhiều biến động Tỷ lệ xử lý tội này so với tội phạm chung
ở mức khá thấp và biến động theo từng năm Năm 2017 số vụ án tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác được xét xử chiếm 2.05% so với vụ
án được đưa ra xét xử của tội phạm chung Năm 2018 tỷ lệ này tăng thêm 1.27% so với năm 2017 và đây cũng là năm có tỷ lệ xét xử tội này cao nhất trong 3 năm Nhưng đến năm 2019 tỷ lệ số vụ án tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác so với số vụ án tội phạm chung được đưa ra xét xử giảm đáng kể chỉ chiếm 1.12%
Các số liệu về áp dụng pháp luật hình sự đối với tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy
áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội này có ý nghĩa quan trọng trong đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương, bảo vệ an toàn xã hội
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Thực trạng định tội danh tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Định tội danh là một trong những nội dung cốt lõi của quá trình áp dụng pháp luật hình sự nói chung và tội cố ý gây thương tích hoặ gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Đây là tiền đề cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình
sự và hình phạt đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách công minh, chính xác Thực tiễn xét xử các vụ
án hình sự trên địa bàn TPHCM cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Để thấy rõ
Trang 40P, Phường H, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh Lúc này, ông Tạ Văn T (là
xe ôm) đi từ bên kia đường P, Phường F, Quận O qua nói với anh Th và L là không cho bắt khách ở khu vực này, nên xảy ra cự cãi Ông T nói cho Sơn N (là nhân viên giữ xe quán “Nguyệt Hỷ”) biết sự việc, N liền dùng tay chỉ về phía anh Th và Lâm Sau đó, anh Th và L chạy xe bỏ đi Đến khoảng 20 giờ
00 cùng ngày, anh Th cùng một nhóm người chạy xe GrabBike quay lại chỗ ông T trước nhà số 271 đường P, Phường F, Quận O, anh Th cầm một nón bảo hiểm có chữ Grab đánh vào đầu ông T, ông T bỏ chạy; lúc này, Sơn N đứng gần đó thì anh Th nói “nãy mày chỉ chỏ gì” rồi anh Th dùng nón bảo hiểm đánh vào đầu N và dùng tay phải kẹp cổ N (theo N và ông T khai lúc này nhóm người chạy xe GrabBike cũng tấn công ông T và N, theo anh Th khai có một số nhân quán Nguyệt Hỷ xông vào đánh anh Th), N dùng tay phải lấy cây kéo để ở túi quần sau đâm vào bụng anh Th làm anh Th buông N ra, anh Th giơ hai tay đỡ thì bị N đâm nhiều nhát trúng tay phải anh Th, anh Th bỏ chạy
ra đường T thì N đuổi theo đâm trúng vào lưng anh, anh Th tiếp tục bỏ chạy
ra giao lộ đường P - T thì té ngã, N chạy đến dùng kéo đâm vào ngực và vai phải anh Th Sau đó mọi người can ngăn, anh Th được quần chúng nhân dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương