Tính cấp thiết của đề tài Tranh tụng là thành tựu của nền văn minh nhân loại, không chỉ thể hiện bản chất nhân đạo mà còn phản ánh xu hướng phát triển dân chủ và tiến bộ là một trong nh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ MINH CẢNH
HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – Năm 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐỖ THỊ PHƯỢNG
HÀ NỘI – năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Minh Cảnh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TOÀ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm về hoạt động tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 7 1.2 Cơ sở và các tiêu chí đánh giá về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 12
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TOÀ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN 24
2.1 Quy định của pháp luật về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 24 2.2 Thực trạng hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 30
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 51
3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác liên quan 51 3.2 Các giải pháp khác nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 59
KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra
ĐTV : Điều tra viên
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tranh tụng là thành tựu của nền văn minh nhân loại, không chỉ thể hiện bản chất nhân đạo mà còn phản ánh xu hướng phát triển dân chủ và tiến bộ
là một trong những nội dụng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, nhằm đảm bảo sự dân chủ, bình đẳng và công khai giữa những người tham gia tố tụng và kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, là căn cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án, là cơ sở để Hội đồng xét xử ra bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Trong hoạt động xét xử thì tranh tụng chiếm vị trí rất quan trọng Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã chỉ ra những quan điểm chỉ đạo và một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó có nêu: “…Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, Người bào chữa, và những người tham gia tố tụng khác , việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, Bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản
án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật
quy định…” [7, tr.3] Đây là lần đầu tiên thuật ngữ “tranh tụng” được chính thức
ghi nhận và là điểm nhấn trong tiến trình cải cách tư pháp, tạo sự đổi mới về
“chất” của công tác xét xử, góp phần nâng cao tính công bằng, khách quan và đúng pháp luật cho các phán quyết của Toà án
Trong chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã đề ra: “…nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà, coi
Trang 749-đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…” [8, tr.5] Rõ ràng các Nghị
quyết của Bộ Chính trị đã xác định tranh tụng tại phiên toà là rất quan trọng, quyết định và phải khẩn trương nâng cao chất lượng tranh tụng
Chủ trương mở rộng, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà
là chủ trương đúng đắn, nâng cao tinh thần trách nhiệm và chất lượng công việc của các cơ quan tư pháp Thực tiễn tranh tụng tại các phiên tòa sơ thẩm
vụ án hình sự nói chung và Tòa án nhân dân huyện Tuy An nói riêng cho thấy tranh tụng tại phiên toà còn mang tính hình thức Tranh tụng tại phiên toà hình như được hiểu là chỉ bó gọn trong phần tranh luận và ngay trong phần tranh luận này, chất lượng tranh tụng của các phiên toà cũng không đồng đều,
có phiên toà thực hiện tranh tụng tốt, nhưng cũng có nhiều phiên toà tranh tụng còn nghèo nàn, chưa đáp ứng được yêu cầu là các bản án, phán quyết của Toà án phải dựa trên kết quả tranh tụng dân chủ tại phiên toà như tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW đã nêu Từ thực trạng trên đặt ra việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề về tranh tụng trên cơ sở lý luận và thực tiễn hiện nay nhằm
đề xuất một số giải phù hợp với thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tranh tụng tại các phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự của huyện Tuy An nói riêng là hết sức cần thiết
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ Luật
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, đã có một số công trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến tranh tụng Các công trình đó tập trung giải quyết các vấn đề như: khái niệm
Trang 8tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng, so sánh để làm rõ ưu điểm, hạn chế của hai
hệ thống tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn trên thế giới, việc vận dụng tranh tụng trong tố tụng hình sự ở Việt Nam…
bàn những vấn đề cơ bản về hệ tố tụng tranh tụng, hệ tố tụng thẩm vấn và đưa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng theo tinh thần cải cách tư pháp
Đề tài khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành các quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến tranh tụng tại phiên toà”, Toà án nhân
dân tối cao, năm 2007 bàn về khái niệm tranh tụng, thực trạng của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa và một số giải pháp nâng cao chất lượng tại phiên tòa xét xử hình sự
Một số luận văn Thạc sỹ, như: “Thực hiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử hình sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Tiến Long, năm 2005; “Năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà xét xử án hình sự ở tỉnh An Giang”, Bùi Trí Dũng, năm 2008; “Chất lượng tranh tụng tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá hiện nay”,
Mai Thị Nam, năm 2008 bàn về một số vấn đề liên quan đến hoạt động
tranh tụng của KSV; “Tranh tụng của KSV tại phiên tòa hình sự sơ thẩm từ thực tiễn TAND quận Hoàng Mai, Hà Nội”, Đặng Hoàng Tú, 2015; “Hoạt động tranh tụng của KSV Viện kiểm sát viên nhân dân tỉnh Quãng Ngãi tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm”, Võ Thị Hồng Luyến, năm 2010
Trang 9Ngoài ra, có một số bài viết của các nhà khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành như tạp chí Tòa án nhân dân, tạp chí Kiểm sát, tạp chí Luật học, tạp chí Nhà nước và pháp luật viết về những vấn đề liên quan đến tranh tụng như: Mô hình tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng, tranh tụng tại phiên tòa… Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu tổng hợp về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên, cũng như chưa có công trình nào nghiên cứu về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về tranh tụng và đánh giá thực trạng hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân huyện Tuy An tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự, đề xuất những giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự, hướng tới xây dựng một phiên tòa thực sự bình đẳng, dân chủ, công bằng, góp phần thực hiện quá trình cải cách tư pháp
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự;
+ Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự từ
2015 đến 2019;
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Từ thực tiễn thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An, Phú Yên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự từ năm 2015 đến 2019
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu hoạt động tranh tụng ở các VKS địa phương khác, cũng như không đề cập đến tranh tụng trong lĩnh vực tố tụng dân sự, trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử phúc thẩm và hoạt động tranh tụng trong các cơ quan tư pháp quân sự
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, nhất là các quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Phương pháp cụ thể được áp dụng là: Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp kết hợp với khảo sát thực tiễn, tổng kết để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn, trong chừng mực, góp phần làm cơ
sở tham khảo cho việc nghiên cứu, phục vụ yêu cầu thực tiễn đánh giá, nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm
vụ án hình sự
Trang 116.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ cái viết tắt, nội dung luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2 Quy định của pháp luật về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn thi hành tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
Chương 3 Các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TOÀ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm và đặc điểm về hoạt động tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm
Tranh tụng hiểu theo nghĩa cơ bản nhất theo Từ điển tiếng Việt thì
chính là sự kiện cáo nhau [47, tr.1654] Đó là tranh luận giữa hai bên có lập
trường tương phản nhau, yêu cầu Tòa án làm trọng tài phân xử Tuy nhiên, đây là cách hiểu thông thường, và ở khía cạnh này, thuật ngữ tranh tụng được dùng để nói chung trong tất các các hình thức tố tụng như: dân sự, hình sự,
hành chính… [50, tr.10] Tranh tụng trong tiếng Anh là từ “Adversarial” có
nghĩa là đối kháng, đương đầu Xét về bản chất, tranh tụng là “cuộc đấu” giữa hai bên trong tố tụng hình sự (bên buộc tội và bên bị buộc tội) mà người đứng
ra phân xử trong cuộc tranh đấu này chính là Tòa án [50, tr.11]
Xét về mặt lịch sử, tranh tụng hình sự là một nội dung cụ thể của nền
tư pháp tranh tụng hình thành từ thời cổ đại mà tư tưởng của nó bắt nguồn từ
nhà triết học cổ đại nổi tiếng người Hy Lạp là Plato [53, tr.9] Ông cho rằng
“Bằng cách nói chuyện (đối thoại) về một điều gì đó trong một thời gian dài, một vài dấu hiệu hoặc hiểu biết sẽ xuất hiện, và cả hai bên sẽ cùng nhìn ra sự
thật” [53, tr.9] Ý tưởng này của Plato được các Luật gia Hy Lạp cổ đại phát
triển và xây dựng thành một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS ở Nhà nước Hy Lạp cổ đại Sau đó, nguyên tắc này được đưa vào áp dụng ở La Mã
và các quốc gia khác ở Châu Âu, với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục” [16, tr.3] Như vậy, vấn đề tranh tụng đã được đề cập từ rất lâu trong lịch sử tư
pháp, bản chất của nó là hoạt động đối đáp liên tục giữa các bên có lợi ích đối
Trang 13kháng nhau trước người trọng tài đóng vai trò phân xử để đi tìm chân lý
Bên cạnh đó, xét về khía cạnh thuật ngữ pháp lý, tranh tụng được hiểu theo ba nội dụng khác nhau: thứ nhất được hiểu là một mô hình tố tụng; thứ hai được hiểu là một nguyên tắc thuộc tố tụng hình sự; thứ ba được hiểu là phương thức, là giai đoạn thực hiện vai trò của các chức năng đối lập nhau và
có quyền ngang nhau trong tố tụng hình sự hay còn gọi là hoạt động tranh
tụng [49, tr.21] Dù hiểu theo nghĩa nào thì tranh tụng luôn có bản chất là
cách thức đi tìm sự thật khách quan của vụ án mà hoạt động tố tụng hình sự luôn muốn hướng tới Theo nhiều luật gia, phương thức tranh tụng là phương thức có ưu điểm nhất trong việc vừa có thể tìm ra sự thật khách quan của vụ
án vừa có thể bảo vệ hữu hiệu quyền con người của người buộc tội và chống
oan sai, có thể hiểu: “Tranh tụng là việc từng bên đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hay toàn bộ quan điểm của phía bên kia” [45, tr.8]
Với ý nghĩa là một nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, nguyên tắc tranh tụng là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho các chủ thể trong việc thực hiện quá trình tranh cãi bình đẳng dựa trên chứng cứ, quy định của pháp luật nhằm thực hiện chức năng buộc tội hoặc chức năng bào chữa, từ đó tìm
ra sự thật khách quan của vụ án [45, tr.8] Như vậy, tranh tụng trong tố tụng
hình sự thực chất là quá trình vận động tác động qua lại giữa hai chức năng cơ bản của tố tụng hình sự: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa [38, tr.9] Chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng này được tạo điều kiện “bình đẳng” với nhau trong việc bày tỏ ý kiến và bảo vệ ý kiến của mình trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án mà đỉnh điểm của quá trình này diễn ra tại phiên tòa sơ
thẩm vụ án hình sự [38, tr.9]
Nguyên tắc này được thừa nhận rộng rãi trên thế giới không chỉ ở những nước có mô hình tố tụng tranh tụng mà còn ở những nước có mô hình
Trang 14tố tụng pha trộn (ví dụ như ở Việt Nam) [38, tr.9] Tuy có sự thể hiện ở các
mức độ khác nhau, mặc dù có thể được thể hiện hoặc chưa thể hiện trong văn bản pháp luật cụ thể là BLTTHS thì nguyên tắc tranh tụng vẫn đang là cơ sở định hướng cho việc xây dựng quy định của BLTTHS cũng như thực hiện quá trình giải quyết vụ án để tìm ra sự thật khách quan
Mặc dù đã xuất hiện và được thừa nhận từ rất lâu trong lịch sử tư pháp
ở các nước phát triển khác, nhưng vấn đề tranh tụng cũng như nguyên tắc tranh tụng rất ít được nghiên cứu ở Việt Nam và đặc biệt cho đến trước năm
2013 thì nó chưa được thừa nhận trong các văn bản pháp lý chính thức của
Nhà nước [50, tr.12] Sự thừa nhận mang tính sơ khai đầu tiên về tranh tụng ở
Việt Nam trong các văn bản chính thức của Đảng đó chính là Nghị quyết 08/2002/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, xác định“…việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo …để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết
phục và trong thời hạn pháp luật quy định” [50, tr.13] Tiếp theo đó, vấn đề
tranh tụng tiếp tục được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” thể hiện, theo đó:
“Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt động đột phá của các cơ quan
tư pháp” [50, tr.13] Quan điểm, chủ trương của Đảng về hoạt động tranh
tụng tiếp tục được thể chế hóa ở Hiến Pháp 2013, tại khoản 5 Điều 103 quy
định” nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” [50, tr.11] Nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” được cụ thể hóa tại Điều 26 và Điều 322 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa
Trang 15ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hinh sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa… Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án” [36, tr.274]
Từ đó chúng ta có thể đưa ra khái niệm Hoạt động tranh tụng của KSV
tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự" đó là, quá trình tác động qua lại bằng việc tranh luận, đối đáp giữa KSV với các chủ thể khác từ khi khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phần tranh luận nhằm làm sáng rõ sự thật khách quan, làm rõ tất cả các tình tiết của vụ án, bảo vệ quan điểm của VKS trong Cáo trạng, giúp cho HĐXX ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Trang 16khi đó, Bị cáo, Người bào chữa, Bị hại, Nguyên đơn dân sự, Bị đơn dân sự, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Người đại diện hợp pháp và Người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người tham gia tranh luận với tư cách là cá nhân công dân, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân họ hoặc người họ đại diện mà thôi
Sự đặc biệt còn thể hiện ở chỗ sự bắt buộc có mặt tại phiên tòa sơ thẩm
vụ án hình sự của KSV Theo quy định của BLTTHS thì tại phiên tòa sơ thẩm
vụ án hình sự có mặt của những người tham gia tố tụng là không bắt buộc 100%, trong nhiều trường hợp tuy họ vắng mặt nhưng phiên tòa vẫn được tiến hành xét xử Nhưng sự có mặt của KSV là bắt buộc, nếu KSV vắng mặt thì trong mọi trường hợp phải hoãn phiên tòa
-Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, KSV không chỉ là chủ thể tranh tụng mà còn là chủ thể kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa Nhiệm vụ này xuất phát từ chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND Những chủ thể tranh tụng khác như Bị cáo, Người bào chữa, Người bị hại… là đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa KSV tiến hành kiểm sát việc tranh tụng theo các nội dung như: tư cách chủ thể, trình tự, nội dung và phạm vi tranh tụng theo quy định của BLTTHS Như vậy, khi tranh tụng tại phiên tòa, KSV là người áp dụng và tuân thủ pháp luật, đồng thời giám sát việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể khác
- Phải tôn trọng sự thật khách quan của vụ án Trong quá trình đối đáp tranh luận, Kiểm sát viên không nên tranh luận theo ý thức chủ quan của mình, mà phải dựa trên cơ sở, tình tiết, chứng cứ khách quan của vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở căn cứ quy định của pháp luật để đưa
ra quan điểm tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia
tố tụng khác
Trang 17- Phải bảo đảm quyền bình đẳng giữa KSV với người tham gia tố tụng HĐXX phải tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng trình bày đầy đủ ý
kiến của mình [50, tr.14] Khi tranh luận, Kiểm sát viên phải bình tĩnh, khách
quan và tôn trọng ý kiến của những người tham gia tố tụng, ghi nhận ý kiến đúng
đắn và bác bỏ những ý kiến, đề nghị không có căn cứ pháp luật [50, tr.14]
- Quá trình tranh tụng phải đề cao và tôn trọng nguyên tắc “thượng tôn pháp luật” Khi đối đáp tranh luận, đòi hỏi các bên phải căn cứ trên cơ sơ pháp luật Nhất là đối với Kiểm sát viên thực hiện chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, cũng là cơ quan bảo vệ pháp luật; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân, đảm bảo việc xử lý phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để oan, sai thì càng đòi hỏi việc tranh luận phải trên cơ sở các quy định của pháp luật Tuyêt đối không được tranh luận theo kiểu nể nang hay vì động cơ cá nhân khác mà suy diễn, áp đặt ý thức chủ quan của mình khi đối đáp tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên tòa
- Đảm bảo tính văn hóa trong đối đáp tranh luận Kiểm sát viên khi tranh luận sử dụng những ngôn từ có tính văn hóa, dễ hiểu Nghĩa là phương pháp đối đáp phải nhẹ nhàng, lịch sự, có sức thuyết phục cao đối với người nghe Không nên sử dụng ngôn từ mang tính đả kích, tự cao, xem thường người phát biểu tranh luận với mình, hay có thái độ cau có, gay gắt, quát nạt… Không được lợi dụng việc tranh luận để đã kích, cải vã tay đôi tại phiên tòa, làm ảnh hưởng đến vị thế của Kiểm sát viên và của Ngành
1.2 Cơ sở và các tiêu chí đánh giá về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
1.2.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Thứ nhất, về cơ sở lý luận
Hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là
Trang 18một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng hình
sự, là yêu cầu cấp bách trong việc đảm bảo tính công bằng dân chủ giữa người tham gia tố tụng với Viện kiểm sát, là căn cứ để xác định sự thật vụ án
và là cơ sở để Hội đồng xét xử ra bản án đúng đắn, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Xác định tầm quan trọng của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, tại các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp như Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/01/2002, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, Kết luận 79-KL/TW ngày 28/7/2010 v.v… đã xác định tầm quan trọng của tranh tụng trong xét xử, coi nội dung này là một trong những nội dung trọng
tâm của cải cách tư pháp, là khâu đột phá của cải cách tư pháp [8, tr.5]
Quan điểm, chủ trương của Đảng về hoạt động tranh tụng đã được thể
chế hóa ở Hiến pháp 2013 [50, tr.15] Tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp quy định“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” [50, tr.15] Như
vậy, lần đầu tiên, việc bảo đảm tranh tụng trong xét xử được ghi nhận thành một nguyên tắc, thể hiện bước tiến lớn trong hoạt động xây dựng pháp luật và
phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp của Nhà nước ta [50, tr.15]
“Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” được quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 và cụ thể hóa tại Điều 322
BLTTHS năm 2015 quy định: “Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng
cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hinh sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị
Trang 19của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa… Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án” [36, tr.274]
Như vậy, trên cơ sở chủ trương của Đảng về nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên tòa xét xử hình sự; các qui định của Bộ luật TTHS và qui định của Hiến pháp 2013, chúng tôi nhận thấy khái niệm tranh tụng xuất hiện đầu tiên và chính thức là từ các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, gần đây được Hiến pháp qui định Tranh tụng được hiểu với nghĩa không phải là một kiểu mô hình tố tụng mà là hoạt động tranh luận của KSV và những người tham gia tố tụng khác trong tố tụng hình sự, cụ thể là tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự Trong đó, KSV và người tham gia tố tụng dựa trên các tài liệu, chứng cứ; các qui định của pháp luật; trên cơ sở tư duy logic hình thức để đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng nhằm làm rõ
sự thật khách quan của vụ án [50, tr.16]
Từ khái niệm nêu trên, bản chất của khái niệm “tranh tụng” được nhìn dưới hai góc độ pháp lý và nhận thức; dưới góc độ pháp lý, bản chất của tranh
tụng gồm có các nội dung cơ bản sau đây [50, tr.16]:
- Tranh tụng là hoạt động tố tụng hình sự, do vậy hoạt động tranh tụng
phải tuân theo các qui định của Bộ luật TTHS [39, tr.5]
- Chủ thể của tranh tụng gồm có Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng khác; các chủ thể xuất phát từ những địa vị pháp lý khác nhau nhưng bình đẳng với nhau trong quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu, quan điểm
về giải quyết vụ án; Kiểm sát viên có thể tranh tụng với người bào chữa, với
bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ sự thật
khách quan của đối tượng tranh tụng [50, tr.19]
Trang 20- Hoạt động tranh tụng tại phiên toà diễn ra dưới sự điều khiển của chủ toạ phiên toà; Chủ tọa phiên toà có quyền yêu cầu các bên tiến hành tranh tụng hoặc chấm dứt tranh tụng, điều chỉnh nội dung cũng như phương pháp tranh tụng cho phù hợp với qui định của pháp luật và sự cần thiết làm rõ các
vấn đề của vụ án [50, tr.20]
- Mục tiêu của hoạt động tranh tụng là nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án; sự thật khách quan này bao gồm sự thật như nó đã diễn ra trên thực
tế và được nhìn nhận, đánh giá dưới góc độ pháp lý (dưói góc độ đánh giá
trên cơ sở pháp luật hình sự và TTHS) [50, tr.20]
- Đối tượng của hoạt động tranh tụng là các quan điểm, luận cứ và luận
chứng của các bên đưa ra trong việc giải quyết vụ án [53, tr.7]
- Cách thức tranh tụng là các bên chủ thể tranh tụng sử dụng các chứng
cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chứng cứ mới cung cấp đã được kiểm tra tại phiên tòa, các qui định của pháp luật hiện hành để làm rõ các đối tượng tranh
tụng [29]
Dưới góc độ coi tranh tụng là hoạt động tư duy, nhận thức; bản chất
của tranh tụng có các nội dung sau [50, tr.14]:
+ Tranh tụng được tiến hành trên cơ sở tư duy logic hình thức Các bên tranh tụng có thể sử dụng các kỹ năng tranh tụng khác nhau để khẳng định quan điểm của mình, bác bỏ quan điểm hoặc thừa nhận quan điểm của bên
tranh tụng đối lập [50, tr.14]
+ Tranh tụng không chỉ là quyền, là trách nhiệm của các bên tham gia tranh tụng mà còn là một phần của sự thật khách quan của vụ án Nói cách khác, tranh tụng không chỉ là phương tiện để đạt được sự thật khách quan mà tranh tụng còn là một phần của sự thật khách quan của vụ án Chân lý về vụ
án phải tìm thấy, có được thông qua tranh tụng Tất nhiên, thuộc tính này của tranh tụng là xét về nguyên tắc Với những vụ án mà bị cáo nhận tội và có đủ
Trang 21chứng cứ để khẳng định lời nhận tội của bị cáo là có cơ sở, tại phiên toà không có những quan điểm xung đột thì không phát sinh tranh tụng hoặc nếu
có thì chỉ ở mức độ nhất định [50, tr.14]
* Nguyên tắc tranh tụng
Nguyên tắc là tư tưởng có giá trị làm nền tảng, làm cơ sở cho những thiết chế và hoạt động Nguyên tắc trong một quan hệ pháp luật tố tụng là những tư tưởng pháp lý làm nền tảng, làm cơ sở cho việc xây dựng và thực thi
pháp luật trong lĩnh vực tố tụng đó [50, tr.14]
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, tranh tụng
được ghi nhận là một nguyên tắc [50, tr.15] Nội hàm của nguyên tắc tranh
tụng có các nội dung cơ bản sau:
+Hoạt động xét xử phải bảo đảm tranh tụng giữa KSV với những người
tham gia tố tụng khác; tranh tụng là trọng tâm của hoạt động xét xử [50, tr.15];
+Các bên tranh tụng bình đẳng với nhau về quyền đưa ra tài liệu, chứng
cứ, yêu cầu; đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng của mình; bình đẳng
trong đối đáp, tranh luận, chứng minh, bác bỏ quan điểm lần nhau [50, tr.15]
+ KSV và người tham gia tranh tụng phải tranh tụng với tinh thần trách nhiệm, trên cơ sở chứng cứ khách quan và qui định của pháp luật; với tinh
thần tôn trọng lẫn nhau, có văn hoá ứng xử [50, tr.15]
+Bản án và quyết định của Toà án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các luận điểm, luận cứ và luận
chứng của các bên tranh tụng [50, tr.15]
+Toà án có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện, thực thi các qui định
của pháp luật theo qui định của BLTTHS để các bên tham gia tranh tụng [50, tr.15]
Trang 22Với các nội dung trên thì phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc tranh tụng chủ yếu là tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự; bắt đầu từ khi Toà án mở phiên toà cho đến khi kết thúc phiên toà và tập trung trong phần tranh luận
của KSV với những người tham gia tố tụng…[50, tr.16]
* Hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
[50, tr.10]
KSV là chủ thể chính của tranh tụng Tranh tụng vừa là quyền, vừa là
trách nhiệm của KSV [50, tr.13] Mục đích của tranh tụng của KSV có mục đích trước mắt và mục đích cuối cùng [50, tr.13] KSV tranh tụng trước hết
nhằm mục đích bảo vệ tính đúng đắn, khách quan, tính hợp pháp và có căn cứ của quan điểm truy tố (thể hiện trong bản cáo trạng) Nói cách khác, xuất phát điểm của tranh tụng của KSV với những người tham gia tố tụng khác là nhằm
bảo vệ tính có căn cứ, hợp pháp của quan điểm truy tố [50, tr.29] Tranh tụng
của KSV suy cho cùng là nhằm bảo vệ sự thật khách quan của vụ án (chân lý
về vụ án) [50, tr.29] Khi tranh tụng, KSV xuất phát điểm là nhằm bảo vệ
quan điểm truy tố, do vậy các luận điểm, luận cứ và luận chứng là nhằm thực hiện mục đích này Tuy nhiên thông qua tranh tụng, KSV có thể phát hiện ra những nội dung bất hợp lý, thiếu căn cứ hoặc không phù hợp pháp luật của
quan điểm truy tố [50, tr.29] Nếu đủ cơ sở, KSV sẽ xử lý các tình huống phát
sinh nói trên theo qui định của pháp luật TTHS; cụ thể như: Có thể đề nghị HĐXX trả hồ sơ để điều tra bổ sung; rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; chuyển tội danh nhẹ hơn hoặc thay đổi khung khoản truy tố phù hợp
với thẩm quyền xét xử của HĐXX (ở cấp sơ thẩm) [50, tr.30]
Hoạt động tranh tụng của KSV chủ yếu thực hiện tại phiên toà, tập trung ở giai đoạn tranh luận Tuy nhiên để tranh tụng tốt thì KSV phải thực hiện đầy đủ và có chất lượng việc xét hỏi, vì xét hỏi chính là để làm rõ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, làm rõ cơ sở để bảo vệ quan điểm truy tố
Trang 23Nhìn chung, để đảm bảo tranh tụng có chất lượng tốt thì KSV phải đáp ứng được các điều kiện bắt buộc để tranh tụng, phải thực hiện tốt nhiều hoạt động mang tính chất chuẩn bị trước khi tham gia phiên toà, phải có các kỹ năng nghiệp vụ khi tham gia tranh tụng, có tinh thần trách nhiệm, có lương tâm và
danh dự nghề nghiệp [50, tr.30]
Cơ sở thực tiễn,
Để thực hiện tốt hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình
sự, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ các hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, nắm chắc các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, am hiểu kỹ năng nghiệp vụ, vận dụng linh hoạt vào việc xử lý tình huống tại phiên tòa Nội dung tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa chủ yếu phụ thuộc vào nội dung của những ý kiến, quan điểm, đề nghị của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và đối với việc giải quyết vụ án
Tuy nhiên, thực tiễn tại nhiều phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự ở huyện Tuy An thường xảy ra một số tình huống tranh tụng mà Kiểm sát viên phải xử
lý, đó là:
+ Trường hợp tranh luận đối với bị cáo và người bào chữa
Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, bị cáo, người bào chữa của bị cáo thường tranh luận để tự bào chữa hoặc bào chữa, bảo vệ lợi ích của bị cáo theo những hướng sau đây:
- Hướng thứ nhất: Bị cáo, người bào chữa đưa ra cơ sở chứng cứ và căn
cứ pháp luật để chứng minh bị cáo không phạm tội như Viện kiểm sát đã truy
tố trong bản Cáo trạng
Để đối đáp, tranh luận lại, Kiểm sát viên phải đưa ra được những chứng
cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa kết hợp với những tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án và những căn cứ pháp luật nhằm bác bỏ những chứng cứ,
Trang 24căn cứ pháp lý mà bị cáo, người bào chữa đã nêu ra, phải vận dụng kiến thức pháp lý về cấu thành tội phạm để phân tích, chứng minh bị cáo phạm tội như Viện kiểm sát đã truy tố Ví dụ: Để chứng minh bị cáo không phạm tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí (Điều 219 BLHS), người bào chữa đưa ra những chứng cứ chứng minh hành
vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản của bị cáo chỉ gây ra thất thoát dưới 100 triệu đồng và chưa từng bị xử lý kỷ luật về hành vi này Trong trường hợp này, Kiểm sát viên phải đưa ra những chứng cứ chứng minh hành
vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản của bị cáo đã gây ra thất thoát về tài sản (từ 100 triệu đồng trở lên)
- Hướng thứ hai: Bị cáo, người bào chữa đưa ra cơ sở chứng cứ và căn
cứ pháp luật để chứng minh bị cáo phạm tội khác nhẹ hơn hoặc bị cáo phạm tội như Viện kiểm sát đã truy tố nhưng ở khoản khác nhẹ hơn trong cùng một điều luật
Trong trường hợp này, Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ tài liệu buộc tội để kiểm tra, đối chứng ngay tại phiên tòa, nếu cần thiết, Kiểm sát viên có thể đề nghị Hội đồng xét xử quay lại phần xét hỏi để làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo và những tình tiết của vụ án Đồng thời vận dụng lý luận về cấu thành tội phạm, các tình tiết định tội, định khung để phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo hội đủ yếu tố cấu thành tội phạm, khoản của điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố Mặt khác, phải chứng minh rằng tội danh hoặc khoản của điều luật mà bị cáo, người bào chữa đã nêu ra có ít nhất một yếu tố cấu thành không được đáp ứng hoặc không được hiểu chính xác Ví dụ:
Để chứng minh bị cáo không phạm tội “Cướp tài sản” như Viện kiểm sát đã truy tố mà chỉ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, người bào chữa đưa ra chứng
cứ chứng minh bị cáo chỉ đe dọa dùng vũ lực chứ không phải là đe dọa dùng
vũ lực “ngay tức khắc” Đối đáp lại, Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ
Trang 25chứng minh các yếu tố liên quan đến hành vi của bị cáo như thời gian, không gian, địa điểm xảy ra vụ việc, thái độ, cử chỉ, lời nói của bị cáo khi đe dọa, tương quan lực lượng, trạng thái tâm lý của người bị hại để có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc làm cho người bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự được nên đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản
- Hướng thứ ba: Bị cáo, người bào chữa đồng ý với Viện kiểm sát về tội danh nhưng không thống nhất về cách đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và đưa ra một số tình tiết giảm nhẹ, tình tiết về nhân thân để được Hội dồng giảm nhẹ mức hình phạt, xin được hưởng án treo, giảm nhẹ trách nhiệm bồi thường dân sự Đối với tình huống này, Kiểm sát viên cần ghi chép các tình tiết giảm nhẹ, các tình tiết về nhân thân mà người bào chữa nêu
ra, đối chiếu với các quy định của pháp luật xem tình tiết nào được luật quy định, tình tiết nào chưa được luật quy định, tình tiết nào đã được Viện kiểm sát áp dụng để từ đó chấp nhận hay không chấp nhận lời đề nghị của bị cáo, người bào chữa
- Hướng thứ tư: Bị cáo, người bào chữa nêu ra một số sai sót về trình
tự, thủ tục trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử để đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung
Để xử lý tình huống này, Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ nội dung đề nghị của bị cáo, người bào chữa và đối chiếu với các tài liệu có trong hồ sơ vụ
án để xem xét đánh giá những sai sót được nêu ra có chính xác không? Có thuộc trường hợp phải trả hồ sơ điều tra bổ sung không? Từ đó có quan điểm chấp nhận hay không chấp nhận
+ Trường hợp tranh luận đối với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền lợi
của đương sự [57, tr.8]
Trang 26Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra nên khi tham gia tranh luận, người bị hại và người bảo vệ quyền lợi cho họ có thể đưa ra đề nghị yêu cầu cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý nghiêm khắc quá mức cần thiết đối với bị cáo (như đề nghị xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn, khung hình phạt nặng hơn ) hoặc có những yêu cầu đòi bồi thường vật chất cao hơn so với thiệt hại thực tế đã xảy ra Trong một số trường hợp, phía bị hại còn đưa ra lý lẽ để chứng minh cơ quan tiến hành tố tụng đã bỏ lọt người phạm tội hoặc bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo
Trong những trường hợp nêu trên, Kiểm sát viên phải xem xét kỹ nhưng lý do mà phía bị hại đã đưa ra, đối chiếu với các chứng cứ trong hồ sơ
vụ án và kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa để xác định các yêu cầu, đề nghị của phía bị hại là có cơ sở hay không để chấp nhận hay không chấp nhận
Đối với những người là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì thường đưa ra các lý lẽ nhằm làm tăng hoặc giảm quyền lợi hay nghĩa vụ của họ Trong trường hợp này, cách đối đáp, tranh luận của Kiểm sát viên cũng tương tự như trường hợp bị cáo hay người
bị hại đề nghị giảm nhẹ hoặc tăng trách nhiệm, mức bồi thường thiệt hại
Tóm lại, tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là một trong những nhiệm vụ, nhưng là một nhiệm vụ quan trọng và khó khăn đối với Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố tại phiên tòa Chính vì vậy, Kiểm sát viên phải có kiến thức pháp luật sâu rộng, nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, hiểu được bản chất của vụ án, nắm vững từng tình tiết, hành vi phạm tội của bị cáo, theo dõi sát diễn biến phiên tòa đồng thời phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phản ứng linh hoạt, nhanh nhạy, kịp thời ứng phó đối với mọi tình huống xảy ra
Trang 271.2.2 Các tiêu chí đánh giá về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự
Các tiêu chí đánh giá hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự bao gồm:
+ Về trình tự thủ tục và phương pháp tranh tụng phải nghiêm minh, dân
chủ, công bằng, có văn hoá, đúng qui định của pháp luật [57, tr.8] Các bên
tham gia tranh tụng với tinh thần trách nhiệm, có căn cứ, đúng pháp luật, tôn
trọng quyền và nghĩa vụ của nhau [50, tr.30];
+ Quan điểm, luận cứ và luận chứng của KSV được HĐXX chấp nhận
với tỷ lệ cao (chất lượng tốt) và ngược lại [57, tr.9];
+ Chất lượng giải quyết vụ án hình sự tốt, không oan, hạn chế sai Chất lượng giải quyết vụ án hình sự thể hiện qua các tiêu chí như: Không có bị cáo
bị truy tố, xét xử oan; hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp bị cáo bị truy tố, xét xử sai; tỷ lệ án bị tòa trả hồ sơ điều tra bổ sung thấp; tỷ lệ án sơ thẩm bị Toà án cấp phúc thẩm huỷ thấp.Tuy nhiên riêng với tiêu chí án huỷ này cần đánh giá theo hai góc độ: Tỷ lệ án sơ thẩm bị Toà án cấp phúc thẩm huỷ án là tiêu chí đánh giá chất lượng tranh tụng của KSV ở phiên toà sơ thẩm là kém chất lượng, bởi lẽ qua tranh tụng nhưng Kiểm sát viên cấp sơ thẩm không phát hiện ra các vi phạm trong việc truy tố của VKS để khắc phục; nhưng đồng thời đây lại là tiêu chí đánh giá tranh tụng của KSV ở cấp phúc thẩm có chất lượng tốt, bởi lẽ qua tranh tụng, KSV cấp phúc thẩm đã phát hiện ra vi phạm của VKS, Tòa án cấp sơ thẩm nên đã đề nghị và được
Toà án cấp phúc thẩm huỷ án để cấp sơ thẩm khắc phục vi phạm [57, tr.10]
+ KSV phải nắm vững và thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn xét hỏi, luận tội và đối đáp tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
+ KSV thực hiện tốt các hoạt động nghiệp vụ mang tính chuẩn bị cho tranh tụng tại phiên toà (nghiên cứu nắm chắc hồ sơ vụ án, xây dựng hồ sơ
Trang 28kiểm sát, xây dựng cáo trạng, xây dựng luận tội, xây dựng đề cương xét hỏi,
dự thảo những vấn đề có thể đối đáp tranh luận…Việc chuẩn bị tốt các công việc nói trên không những để thực hiện đúng, đầy đủ qui định của Viện trưởng VKSNDTC trong các qui chế nghiệp vụ mà còn thông qua đó góp phần bảo đảm chất lượng tranh tụng của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự được tốt
Trong tiến trình cải cách tư pháp của nước ta, hoạt động tranh tụng trong TTHS được sự quan tâm rất nhiều của Đảng, Nhà nước và của giới nghiên cứu luật Vì vậy, BLTTHS 2015 của nước ta cũng đã có sự thay đổi đáng kể về những quy định về hoạt động tranh tụng so với BLTTHS 2003 Trong tương lai những quy định về hoạt động tranh tụng chắc chắn sẽ có nhiều thay đổi tiến bộ hơn Chúng tôi là những người làm công tác thực tiễn, tuy với tư cách là chủ thể buộc tội nhưng chúng tôi vẫn mong muốn BLTTHS nước ta cần có nhiều quy định bảo đảm tranh tụng hơn, tạo điều kiện bình đẳng, dân chủ hơn trong hoạt động tranh tụng, đặc biệt là trong hoạt động tranh tụng của Kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội
Trang 29CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TOÀ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN
2.1 Quy định của pháp luật về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
2.1.1 Các quy định của pháp luật về bảo vệ cáo trạng
Theo quy định tại Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014 thì “ Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự: Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa; Xét hỏi, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về
việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; …[34, tr.10];
Điều 320, 321 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “ Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết luận bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết
định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội [36, tr.273] Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu,
đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia
tố tụng khác tại phiên tòa [57, tr.13].”
Điều 25 Quy chế số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác kiểm sát xét xử hình sự:”… Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày bản luận tội và kết luận
vụ án theo hướng sau: đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội
Trang 30dung bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; kết luận về khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật; kết luận về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố nếu có căn cứ và các nội dung khác theo
Mẫu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao [58, tr.6]
Luận tội của Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ
vật đã được kiểm tra tại phiên tòa [58, tr.6].”
Luận tội theo từ điển tiếng Việt là “phân tích, cân nhắc để xét tội” [50, tr.31] Theo từ điển Luật học thì luận tội là “lời trình bày của Kiểm sát viên
sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa hình sự chuyển sang phần tranh luận tại phiên tòa”
Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
là tiếp tục thực hành quyền công tố Nhà nước để bảo vệ quan điểm truy tố thể hiện trong bản cáo trạng
Mục đích của việc tham gia tranh luận của Kiểm sát viên là dựa vào các quy định của pháp luật và các chứng cứ khách quan để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ tính có căn cứ và tính hợp pháp của quan điểm truy tố Đây là một yêu cầu bắt buộc đối với Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố tại phiên tòa
Trường hợp Kiểm sát viên trình bày luận tội có tính thuyết phục cao
mà bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến trình bày và đưa ra đề nghị gì thêm thì Kiểm sát viên không phải đối đáp, tranh luận
Việc đối đáp, tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa thể hiện tính công khai, dân chủ trong các phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng và trong tố tụng hình sự nói chung Kiểm sát viên đối đáp, tranh luận tốt sẽ nâng cao vai trò, vị thế của người thực hành quyền công tố Nhà nước, góp phần
Trang 31nâng cao uy tín của VKSND
Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, sau lời luận tội của Kiểm sát viên, Chủ tọa phiên tòa sẽ điều hành việc tranh luận theo trình tự quy định tại Điều 319 và Điều 320 BLTTHS Trong suốt quá trình tranh luận, đối đáp, Kiểm sát viên phải có trách nhiệm bảo vệ quan điểm luận tội của
mình, bảo vệ quyết định truy tố của Viện kiểm sát [57, tr.9]
Trong hoạt động tranh tụng vai trò của Kiểm sát viên là rất quan trọng nhằm bảo vệ cáo trạng và giúp tòa án có được những nhận định đúng đắn để
ra một phán quyết theo ý kiến đề nghị của mình Nói cách khác, mục đích của tranh tụng của Kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng khác là nhằm
bảo vệ tính có căn cứ, hợp pháp của quan điểm truy tố [57, tr.9]
Bên cạnh đó thông qua tranh tụng, Kiểm sát viên có thể phát hiện ra những nội dung bất hợp lý, thiếu căn cứ hoặc không phù hợp pháp luật của
quan điểm truy tố [50, tr.31] Nếu đủ cơ sở, Kiểm sát viên sẽ xử lý các tình
huống phát sinh nói trên theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự như: đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung; rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; chuyển tội danh nhẹ hơn hoặc thay đổi khung khoản truy tố
phù hợp với thẩm quyền xét xử của Hội đồng xét xử [50, tr.31]
2.1.2 Các quy định của pháp luật về đối đáp với người bào chữa
Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra phương châm: “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”; khoản 5 Điều 130 Hiến pháp 2013 quy định: Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo; Điều 18 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 phần về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, tại khoản 2 quy định: Xét hỏi, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên
Trang 32tòa; Điều 322 BLTTHS năm 2015 có quy định quyền được bào chữa của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác, đồng thời quy định trách nhiệm của Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa; Chỉ thị số 09/CT-VKSTC, ngày 06/4/2016 của Viện trưởng VKSNDTC về tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Điều 26 Quy chế công tác Thực hành quyền công
tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định số VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSNDTC) quy định cụ thể về trách nhiệm tranh luận của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa
505/QĐ-Theo quy định của pháp luật về Tố tụng hình sự 2015, việc “đối đáp, tranh luận” được bắt đầu sau khi kết thúc giai đoạn thẩm vấn, xét hỏi công khai Đầu tiên, Kiểm sát viên phải trình bày “luận tội” (Điều 321); tiếp theo bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận về luận tội của Kiểm sát viên Dưới sự chủ trì của Chủ tọa phiên tòa, Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa nhằm làm rõ các tình tiết khách quan của vụ án (Điều 322)
Như vậy, tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, bao gồm: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với bị cáo; Kiểm sát viên đối đáp tranh luận với từng ý kiến, đề nghị của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, nếu họ có ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình
Đối đáp theo từ điển tiếng Việt là “trả lời lại” và tranh luận là “bàn cãi
để tìm ra lẽ phải” Như vậy, đối đáp của Kiểm sát viên là một phần trong giai
Trang 33đoạn tranh luận của quá trình xét xử do Kiểm sát viên tại phiên tòa trả lời lại, bàn cãi với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, nếu
họ có ý kiến và đưa ra đề nghị về luận tội của Kiểm sát viên Mục đích của đối đáp tranh luận là làm sáng tỏ những chứng cứ, tình tiết buộc tội, những chứng
cứ, tình tiết gỡ tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của bị cáo nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án
Điểm m khoản 1 Điều 73 BLTTHS quy định người bào chữa có
quyền “tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa” [36, tr.73]
Để đảm bảo cho người bào chữa thực hiện quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa, BLTTHS có nhiều quy định liên quan về sự có mặt của người bào chữa cũng như trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng tại phiên tòa Cụ thể như sau:
+ Tại Điều 291 BLTTHS yêu cầu người bào chữa phải có mặt tại phiên tòa sơ thẩm để bào chữa cho người mà mình đã nhận bào chữa Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý
xét xử vắng mặt người bào chữa [36, tr.258] Nếu người bào chữa vắng mặt
không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét
xử [36, tr.258] Đặc biệt, đối với các vụ án chỉ định người bào chữa, Hội đồng
xét xử phải hoãn phiên tòa nếu người bào chữa vắng mặt, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa Những quy định nêu trên của BLTTHS thể hiện sự đề cao vai trò của người bào chữa đối với hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, đánh giá đúng tầm quan trọng và sự cần thiết có mặt người bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
+ Điều 307, Điều 309 và Điều 310 BLTTHS quy định người bào chữa được tham gia hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến
Trang 34việc bào chữa và tình tiết khác của vụ án; hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ về những tình tiết của vụ án có liên quan đến họ; hỏi người làm chứng về những tình tiết của vụ án mà họ đã biết
+ Điều 320 và Điều 322 BLTTHS quy định người bào chữa có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội
và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; có quyền đưa ra đề nghị của
mình [36, tr.273] Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của người bào chữa [36, tr.273] Nếu những ý
kiến của người bào chữa chưa được Kiểm sát viên tranh luận thì Chủ tọa
phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến đó [36, tr.273]
Người bào chữa được tham gia tranh luận, trình bày ý kiến mà không bị hạn chế về thời gian (nhưng Chủ tọa phiên tòa có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại) Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án
[36, tr.273] Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án [36, tr.273]
Những quy định của BLTTHS về trình tự, thủ tục tại phiên tòa nêu trên thể hiện rõ nỗ lực của các nhà lập pháp nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử Theo đó, Tòa án được đặt vào đúng vị trí là người
“xét xử” – đưa ra phán quyết trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai giữa bên
Trang 35buộc tội là Kiểm sát viên và bên gỡ tội là người bào chữa và bị cáo Những quy định này cũng thể hiện rõ nét về quyền bình đẳng giữa người bào chữa và Kiểm sát viên tại phiên tòa, nhận thức đúng đắn hơn về vị trí, vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự
Việc đối đáp tranh luận của Kiểm sát viên đối với từng ý kiến, đề nghị của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác là rất quan trọng vì khi đối đáp tranh luận, Kiểm sát viên phải phân tích lý lẽ, phải lập luận, phải đưa ra được các quy định của pháp luật và các chứng cứ, tài liệu đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa để chứng minh phản bác lại những ý kiến không phù hợp của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đã nhận xét về luận tội để bảo vệ tính có căn cứ và tính hợp pháp quan điểm truy tố của Viện kiểm sát Thông qua việc đối đáp tranh luận, những chứng cứ, quan điểm về việc giải quyết vụ án do bên buộc tội và bên bị buộc tội đưa ra nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án, góp phần cùng Hội đồng xét xử giải quyết vụ án Một phiên tòa có thể hiện tính chất tranh tụng hay không, phụ thuộc phần lớn vào vai trò của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa thực hiện việc đối đáp tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác
2.2 Thực trạng hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
Trang 36đến 2019, tổng số vụ án hình sự Tòa án huyện Tuy An thụ lý 293 vụ /434 bị can VKS đã THQCT và kiểm sát xét xử sơ thẩm 285 vụ/426 bị cáo (đạt lỷ lệ
97,26%) [62, tr.2]
Do có sự phối hợp chặt chẽ giữa VKSND cùng với Toà án nhân dân (TAND) trong xét xử nên tỷ lệ án giải quyết đạt khá cao, số án xét xử của năm sau cao hơn năm trước, tình trạng án tồn đọng, kéo dài về cơ bản đã được khắc phục Bên cạnh đó, VKSND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên còn chủ động phối hợp với các cơ quan trong khối nội chính của huyện (Công an, Tòa án) mở nhiều phiên tòa lưu động Tính từ năm 2015 đến năm 2019 đã đưa ra xét xử lưu động
32 vụ, chủ yếu là án điểm đối với các tội về Ma túy; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người như, Cố ý gây thương tích, tội, làm nhục người khác ; các tội xâm phạm sở hữu như Cướp tài sản, Cưỡng đoạt tài sản, Cướp giật tài sản ; các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng như Gây rối trật tự công cộng, Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Chứa mại dâm… Đồng thời còn đưa ra xét xử nhiều vụ án trọng điểm, án nghiêm trọng, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị địa phương và góp phần trong công tác đấu tranh phòng
chống tội phạm [62, tr.3]
Ngoài ra, VKSND huyện còn phối hợp với Toà án huyện đưa ra xét xử
19 vụ/ 48 bị cáo = 19 phiên tòa rút kinh nghiệm sơ thẩm vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết 08 - NQ/TW Khi tiến hành xét xử các vụ án này, Lãnh đạo hai ngành có mời KSV, Thẩm phán tỉnh, huyện, thành phố tham dự phiên
toà để rút kinh nghiệm chung [62,tr.3]
Qua nghiên cứu và theo dõi hoạt động tranh tụng của KSV VKSND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên tại phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự, chúng tôi xin nêu khái quát một số kết quả đạt được sau đây:
Trang 37- Về nhận thức của KSV:
Từ khi có Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị và Bộ luật TTHS 2015 đến nay, ngành Kiểm sát nhân dân nói chung và VKSND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên nói riêng đã nhận thức thống nhất là việc tranh tụng của KSV tại phiên toà vừa là quyền hạn, vừa là nhiệm vụ bắt buộc đối với KSV khi THQCT tại phiên toà Trong thực tiễn, hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên toà đã dần dần đi vào nền nếp và thực sự có chuyển biến tiến bộ Tại nhiều phiên toà, các KSV đã thể hiện bản lĩnh chính trị, trình độ nghiệp vụ, chuyên môn vững vàng, đã đưa ra những chứng cứ, căn cứ pháp lý để phân tích, chứng minh hành vi phạm tội, thủ đoạn phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả
49-do hành vi phạm tội của Bị cáo gây ra để bác bỏ những quan điểm, căn cứ và những đề nghị không đúng của Bị cáo, Người bào chữa nêu ra nhằm làm sáng
tỏ sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật
- Về hoạt động tranh tụng của KSV trong từng giai đoạn cụ thể:
Một là, trong giai đoạn chuẩn bị tranh tụng:
Nhìn chung, các KSV làm tốt trách nhiệm THQCT và kiểm sát việc chấp hành thủ tục tố tụng tại phiên toà, đảm bảo phiên toà diễn ra theo đúng trình tự, thủ tục được quy định tại BLTTHS Trong 5 năm qua, số vụ án KSV
đề nghị hoãn phiên toà vì vắng mặt những người tham gia tố tụng là 51 vụ/ tổng số 285 vụ xét xử; trong đó: số vụ án KSV đề nghị hoãn phiên toà vì thành phần HĐXX không đúng với quy định của BLTTHS là 5 vụ
Ví dụ: Vụ Nguyễn Vương Long phạm tội “Vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” xảy ra tại xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Bị cáo Vũ là người chưa thành niên, theo quy định tại Điều 423 BLTTHS năm 2015 thành phần HĐXX phải có một Hội thẩm là giáo viên
Trang 38hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi Nhưng HĐXX vụ án trên không đúng theo quy định của BLTTHS, vì vậy KSV đã đề nghị hoãn phiên tòa, thay đổi Hội thẩm nhân dân Yêu cầu của KSV được HĐXX chấp nhận; số vụ
án KSV đề nghị hoãn phiên toà vì Bị cáo yêu cầu hoãn do chưa nhận được Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử là 9 vụ; số vụ KSV đề nghị hoãn
phiên tòa vì vắng mặt những người tham gia tố tụng quan trọng là 37 vụ [62, tr.2]
Ngoài ra, KSV đã phát hiện những vi phạm khác về thủ tục tố tụng như: Chủ toạ phiên toà giải thích quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng chưa đầy đủ; Chủ toạ phiên toà chưa giải quyết các yêu cầu của những người tham gia tố tụng hoặc Thư ký phiên toà không báo cáo sự có mặt của những người tham gia tố tụng Tất cả những yêu cầu khắc phục của KSV đều được HĐXX chấp nhận và nghiêm túc thực hiện theo
Hai là, trong giai đoạn kiểm tra công khai các chứng cứ về vụ án [57, tr.10]:
+ KSV đã chú ý làm tốt việc công bố Cáo trạng như: đọc trôi chảy, dứt khoát thu hút người tham dự phiên toà
+ Phần lớn KSV trước khi tham gia phiên toà đều đã chuẩn bị dự thảo
đề cương tham gia xét hỏi và những nội dung cần làm sáng tỏ tại phiên toà
+ Phần lớn KSV đã chủ động, tích cực tham gia xét hỏi Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác làm sáng tỏ hành vi của Bị cáo, xác định sự thật khách quan của vụ án Nội dung xét hỏi đi vào trọng tâm, toàn diện KSV đã chú
ý các mâu thuẫn và cách xét hỏi để giải quyết mâu thuẫn, theo dõi nội dung và hướng xét hỏi của Người bào chữa để chủ động chuẩn bị nội dung tranh luận
+Tại phiên toà, phần lớn KSV đặt câu hỏi rõ ràng, dể hiểu; theo dõi, ghi chép tương đối đầy đủ nội dung xét hỏi của HĐXX, của Người bào chữa, ý
Trang 39kiến trả lời của những người được xét hỏi và những tình tiết mới phát sinh để
bổ sung vào bản Luận tội
Ba là, trong giai đoạn thực hành tranh tụng:
+ Về nội dung bản Luận tôi:
Trước khi tham gia phiên toà hầu hết các KSV đều chuẩn bị bản dự thảo luận tội theo mẫu hướng dẫn của VKSND tối cao Phần lớn các bản Luận tội đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ; đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, hậu quả gây ra Việc đề nghị áp dụng về hình phạt, bồi thường thiệt
hại tương đối chính xác [57, tr.13]
Nếu như trước đây nội dung Luận tội của KSV chủ yếu là rập khuôn Cáo trạng, nặng nề phân tích và phê phán hành vi phạm tội của Bị cáo và đề xuất hình phạt thì nay do có sự chủ động chuẩn bị trước nên nội dung Luận tội đã phân tích những chứng cứ được xét hỏi và công bố công khai tại phiên tòa để chứng minh hành vi phạm tội của Bị cáo theo khoản và điều nào của BLHS rồi mới phân tích, phê phán những thủ đoạn, động cơ, mục đích, hậu quả, những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS, nhân thân của Bị cáo…
để đề xuất hình phạt
+ Về chất lượng tranh luận đối đáp của KSV:
Theo chúng tôi, tranh luận - đối đáp của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự có vai trò trung tâm trong toàn bộ hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự Vì vậy, để đánh giá những kết quả đạt được của hoạt động tranh tụng của KSV VKSND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự thì chúng ta chủ yếu đánh giá hoạt động tranh luận, đối đáp của KSV, cụ thể ở mặt sau:
* Theo số liệu thống kê, trong 5 năm qua, KSV THQCT tại phiên toà đã
bảo vệ thành công 221 Cáo trạng/285 vụ án đưa ra xét xử, đạt tỷ lệ 77.54% [62,
Trang 40tr.5] Số vụ án có Luật sư tham gia là 134 vụ/ 285 vụ án đưa ra xét xử, trong
đó, KSV bảo vệ thành công Cáo trạng là 115 vụ, đạt tỷ lệ 85.82% [13, tr.2]
* Đến nay đã cơ bản chấm dứt được hiện tượng KSV không đối đáp tranh luận đối với những ý kiến và đề nghị của Bị cáo, Người bào chữa và những người tham gia tranh tụng khác Các KSV tham gia phiên toà đã thể hiện tính tích cực, chủ động đối đáp tranh luận đối với từng ý kiến nhận xét về lời luận tội và những đề nghị của Bị cáo, Người bào chữa, đặc biệt là đối với những ý kiến nhận xét không đúng của Bị cáo, Người bào chữa làm cho người tham dự phiên tòa, dư luận xã hội hoài nghi, phân vân… đã được các KSV bình tĩnh lập luận, chứng minh bằng các chứng cứ của vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và các căn cứ pháp luật có tình, có lý để làm sáng tỏ sự thật của vụ án, bác bỏ những ý kiến, những lập luận không đúng của Bị cáo, Người bào chữa để bảo vệ quan điểm truy tố đúng đắn của VKS Bởi vậy, từ năm 2015 đến năm 2019 chưa có vụ án nào VKS truy tố mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không phạm tội
* Về phương pháp tranh luận, đối đáp: Khi luận tội, các KSV đã chú
ý thực hiện đầy đủ hai vấn đề của luận tội: Một là, luận chứng tức là phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa để chứng minh hành vi phạm tội của Bị cáo theo khoản và điều của BLHS Hai là, Luận tội tức là phân tích, phê phán tính chất hành vi phạm tội, thủ đoạn phạm tội, mục đích và động cơ phạm tội, hậu quả gây ra, nguyên nhân
và điều kiện phạm tội, nhân thân của Bị cáo… và đề xuất hình phạt KSV
đã gắn thực tiễn diễn biến của phiên tòa để bổ sung kịp thời những chứng
cứ, tài liệu đã được điều tra công khai tại phiên tòa vào dự thảo luận tội cho phù hợp với diễn biến thực tế tại phiên tòa, nhất là khi phát hiện có có tình tiết mới Bởi vậy, Luận tội của KSV tại phiên tòa ngày càng được sinh động và thuyết phục cao hơn