1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Lịch sử tư tưởng, Phong trào chấn hưng Phật giáo, Phật giáo, Triết học, Việt Nam

81 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu Phật giáo trong lịch sử dân tộc Việt Nam, không những để tìm hiểu về một tín ngưỡng, một hệ tư tưởng của quá khứ mà còn để biết và hiểu được đời sống tinh thần của con người V

Trang 1

Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN HÙNG HẬU

HÀ NỘI - 2003

Trang 3

MỤC LỤC

A.M ởđầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứ u 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp mới của luận văn 6

6 ý nghĩa thực tiễn của luận văn 6

7 Kết cấu của luận văn 6

B Nội Dung 7

Chương I : Phong trào chấn hưng phật giáo ở Việt nam đầu thế kỉ XX, Nguyên nhân và diễn biếncủa nó 7

1.1 Những nguyên nhân của phong trào chấn hưng phật giáo ở Việt Nam 7

1.1.1.Khái quát tình hình chính trị, xã hộ i và phật giáo Việt Nam thế kỉ XIX,đầu thế kỷ XX 7

1.1.2 Những nguyên nhân dẫn tới phong trào 15

1.2 Diễn biến của phong trào 20

Chương II : Một số vấn đề Triết học trong phong trào chấn hưng phật giáo 33

Trang 4

2.1.Một số vấn đề Triết học mà phong trào chấn hưng

phật giáo đặt ra 33 2.1.1 vấn đề Thượn g đế 33

2.1.2 vấn đề: “ linh hồn”, “Thi ên đường - Địa ngục”,

Niết bàn 44

2.1.3 vấn đề “có” và “không” 50

2.2 Vai tr ò và ý nghĩa của phon g trào chấn hưng phật

giáo đối với lịch sử tư tưởng Việt Na m 54

2.2.1 Vai trò của phong t rào chấn hưng phật giáo đối

vớilịchsửtưtưởngViệtNam 54

2.2.2 Ý nghĩa của phong trào chấn hưng phật giáo đối

vớilịch sử tư tưởng Việt Nam 62

C Kết luận 66

Danh mục tài liệu tham khảo 70

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến trước khi chủ nghĩa Mác du nhập và dần dần trở thành hệ tư tưởng chính thống, thì Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong hệ tư tưởng của dân tộc Lịch sử phật giáo Việt nam luôn gắn liền với lịch sử dân tộc Việt Nam Với lịch sử hơn 2000 năm, Phật giáo Việt Nam đã để lại cho dân tộc ta nhiều dấu ấn, từ tín ngưỡng đến Văn hoá, từ phong tục tập quán đến thế giới quan, nhân sinh quan, từ tư tưởng đến tình cảm Nhiều vấn đề trong lịch sử tư tưởng dân tộc sẽ khó được làm sáng tỏ nếu không hiểu được Phật giáo dân tộc Nghiên cứu Phật giáo trong lịch sử dân tộc Việt Nam, không những để tìm hiểu về một tín ngưỡng, một hệ tư tưởng của quá khứ mà còn để biết và hiểu được đời sống tinh thần của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, Phật giáo Việt Nam hiện nay Bởi vậy, nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và lịch sử phật giáo Việt Nam nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này chúng tôi không đặt vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu toàn bộ lịch sử phật giáo Việt Nam mà chỉ giới hạn trong một giai đoạn, với đề tài : “Chấn hưng phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỉ XX, một

số vấn đề Triết học và ý nghĩa của nó”

Chấn hưng Phật giáo Việt Nam là một phong trào Tôn giáo, tuy thời gian tồn tại của nó rất ngắn ngủi so với chiều dài của lịch sử tư tưởng dân tộc, nhưng nó có sức lan toả rộng lớn, có ảnh hưởng không nhỏ tới mọi mặt của đời sống xã hội Đặc biệt là ảnh hưởng của nó tới sự phát triển lịch sử tư tưởng Việt Nam Cuộc tranh luận về những vấn đề

tư tưởng mang tính chất Triết học trong phong trào diễn ra công khai trên báo chí hoặc trực tiếp giữa cá nhân với cá nhân, kéo dài hàng chục

Trang 6

năm Đây không chỉ là những cuộc tranh luận diễn ra lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, mà còn là cuộc tranh luận đề cập đến rất nhiều những vấn đề tư tưởng, lí luận Những cuộc tranh luận này đã thu hút nhiều người tham ra, kể cả người dân và giới phật tử, để lại rất nhiều giá trị nhận thức

Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX cũng đã có nhiều thay đổi so với lúc nó mới du nhập, nhưng dù có thay đổi như thế nào đi chăng nữa ,lúc này nó vẫn tỏ ra lạc hậu trước sự thay đổi đột biến của tình hình chính trị, xã hội, tư tưởng ,so với nhãn quan của người đương thời

Nghiên cứu phong trào chấn hưng Phật giáo nhằm làm sáng tỏ một giai đoạn hết sức quan trọng của lịch sử Phật giáo Việt Nam, đó là giai đoạn có sự gắn kết giữa Phật giáo Việt Nam hiện đại với công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta lãnh đạo Qua đây, chúng ta có điều kiện để làm rõ những vấn đề tư tưởng, triết học mà phong trào Chấn hưng phật giáo đặt ra Từ đó giúp chúng ta thấy được vai trò của phong trào đối với lịch sử tư tưởng dân tộc Thời điểm lịch sử Việt Nam lúc phong trào xuất hiện có rất nhiều luồng tư tưởng mới lạ xuất hiện, xâm nhập Nếu lúc này nhân dân ta không xác định rõ bản chất tư tưởng dân tộc, thì khi tiếp thu hệ tư tưởng mới rất dễ

Trang 7

Ngày nay, đất nước ta đang trên con đường đổi mới Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá tiên tiến trrên thế giới, thì vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc Văn hoá dân tộc, truyền thống và tinh thần của cha ông

ta là một nhiệm vụ quan trọng, có đóng góp không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và Văn minh Thực tế này đòi hỏi chúng ta cần tiến hành nghiên cứu nhiều vấn đề Đây cũng là lí do mà chúng tôi chọn Phong trào chấn hưng phật giáo ở Việt nam đầu thế kỉ XX, một số vấn đề Triết học và ý nghĩa của nó” làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu

cho tới nay ở nước ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về lịch

sử phật giáo Việt nam, mà điển hình là một số công trình sau đây :“ Lịch

sử phật giáo Việt nam” của nhiều tác giả, do GS TS Nguyễn Tài Thư làm chủ biên “ Lược sử phật giáo Việt nam” của Thượng toạ Thích minh Tuệ.“ Việt nam phật giáo sử lược” của Thích mật Thể “Phật giáo Việt Nam từ nguyên thủy đến thế kỉ XIII” của Thích Mật Thể, “ Việt Nam Phật giáo sử lược” (2 tập ) của Nguyễn Lang Ngoài ra còn một số bài viết đăng trên “ tạp chí Triết học” đề cập tới vai trò của Phật giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Chẳng hạn bài “ Thử tìm hiểu vị trí của

ba đạo : Nho, Phật, Lão trong lịch sử tư tưởng Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tài Thư đăng trên tạp chí Triết học, số1/ 1982, hoặc bài “ Thử bàn về một vài tư tưởng Phật giáo” của tác giả Nguyễn Hùng Hậu, đăng trên tạp chí Triết học số 1/ 3 – 1989 v.v

Trang 8

Trong các công trình này, các tác giả đều có những nhận định, đánh giá nhất định về vai trò của phật giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam trên một số phương diện khác nhau

Gần đây là cuốn “ Đại cương triết học phật giáo Việt Nam – Từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV ” của PGS.TS Nguyễn Hùng Hậu.Trong công trình này tác giả khẳng định : Triết học Việt Nam trong giai đoạn này chủ yếu là triết học Phật giáo Phật giáo với cái đích là cứu con người thoát khỏi nỗi khổ muôn đời, với cứu cánh là giải thoát; nhìn bề ngoài, nó chủ yếu bàn về nhân sinh, nhưng để cho những quan niệm nhân sinh này tồn tại một cách vững chãi, trải dài hơn 2500 năm thì chúng phải dựa trên một cơ sở triết học, một nền tảng lí luận vô cùng sâu sắc Trong Phật giáo có Triết học theo đúng nghĩa của nó, triết học phật giáo khác Triết học phương Tây ở chỗ, triết học Phật giáo đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan, còn Triết học phương Tây thường đi ngược lại, tức là đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan Chính vì vậy mà Phật giáo mang đậm tính chất Triết học hơn bất kì một tôn giáo nào khác

Bên cạnh các công trình khoa học nghiên cứu về lịch sử phật giáo Chúng ta còn thấy có những công trình khoa học nghiên cứu về phong trào Chấn hưng phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỉ XX Nhưng do mục đích, yêu cầu cụ thể của mỗi đề tài đặt ra, mà mỗi tác giả lại có các cách tiếp cận, hướng nghiên cứu riêng của mình về phong trào chấn hưng phật giáo Điển hình như một số công trình:

“ Tìm hiểu thêm về phong trào Chấn hưng phật giáo ở Việt nam những năm đầu thế kỷ XX” của tác giả Thích Thanh Duệ Trong công trình này tác giả đã tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn lịch sử Cụ thể là tác giả dành sự quan tâm chủ yếu đến việc trình bày :Nguyên nhân, diễn biến của phong trào, (theo trình tự thời gian và các sự kiện lịch sử).Còn việc đi sâu phân tích những vấn đề tưởng dưới góc độ triết học để thấy

Trang 9

đươc giá trị của nó và những đóng góp cũng như những hạn chế của phong trào đối với lịch sử tư tưởng việt Nam , thì công trình này chưa làm được

Một công trình nữa “ sự phát triển tư tưởng ở Việt nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng tám”, của GS.Trần Văn Giàu, ở đây tác giả đề cập đến rất nhiều vấn đề Khi trình bày về phong trào chấn hưng phật giáo, tác giả đã đề cập đến tình hình xã hội và phật giáo trước khi phong trào xuất hiện và người đương thời phê bình phật giáo, phê bình phong trào chấn hưng phật giáo Tác giả cũng đã đề cập tới những vấn đề tư tưởng mà cuộc vận động chấn hưng Phật giáo đặt ra Song phân tích trên bình diện triết học cũng chưa thật đi sâu Cho nên có thể nói, từ trước tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về phong trào này dưới góc độ triết học Nguồn tài liệu về phong trào chấn hưng phật giáo chưa được khai thác và sử dụng triệt để

Điểm qua tình hình nghiên cứu về lịch sử tư tưỏng Việt nam, cho thấy: 1/ phong trào chấn hưng phật giáo ở Việt nam đầu thế kỷ XX, đã

có một số công trình nghiên cứu, đề cập đến nhưng vẫn chưa đạt tới khảo cứu một cách toàn diện 2/ trong các công trình đó do mục đích và yêu cầu cụ thể của mỗi đề tài, mà mỗi tác giả lại có những cách tiếp cận rất khác nhau

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là phân tích những vấn đề Triết học được đưa ra tranh luận rất sôi nổi trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Để từ đó thấy được vai trò và ý nghĩa của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

Trang 10

+ Khái quát tình hình chính trị - xã hội và phật giáo Việt nam thế kỷ XIX và những thập niên đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở đó đi sâu phân tích sự ra đời và diễn biến của phong trào chấn hưng Phật giáo ở nước ta + Phân tích một số vấn đề Triết học được đem ra tranh luận trong phong trào chấn hưng phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỉ XX Từ đó thấy được vai trò và ý nghĩa của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lí luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - LêNin, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng và Tôn giáo

Luận văn được thực hiên trên cơ sở Phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác – LêNin Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp trừu tượng hoá

- khái quát hoá, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp lô gíc và lịch sử…

5 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn đi sâu phân tích một số vấn đề triết học mà phong trào chấn hưng Phật giáo đặt ra

Với kết quả đó, tác giả hy vọng luận văn này sẽ góp phần làm sáng

tỏ những đóng góp tích cực của phong trào chấn hưng phật giáo trong lịch sử tư tưởng Việt nam

6 ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Trang 11

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy môn lịch sử tư tưởng Việt nam trong các trường đại học và cao đẳng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Luận văn được kết gồm 2 chương và 4 tiết

Trang 12

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX: NGUYÊN NHÂN VÀ DIỄN BIẾN CỦA NÓ

1.1 Những nguyên nhân của phong trào chấn hưng phật giáo ở Việt Nam

1.1.1 Khái quát tình hình chính trị, xã hội và phật giáo Viêt Nam thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX

Nghiên cứu bất kỳ một hiện tượng xã hội nào, chúng ta không thể tách nó một cách siêu hình với những điều kiện Kinh tế, chính trị, xã hội

và tư tưởng nảy sinh ra nó Chỉ có đặt nó trong những điều kiện đó, xem xét đánh giá nó trong mối liên hệ, quan hệ tác động qua lại giữa chúng thì chúng ta mới thấy được tính khách quan, thấy được giá trị và ý nghĩa của nó

Vì vậy khi đặt vấn đề nghiên cứu phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Chúng ta không thể không phân tích tình hình chính trị - xã hội, đặc biệt là tình hình Phật giáo ở Việt Nam thế kỷ XIX

và những thập niên đầu thế kỷ XX

Triều Nguyễn, bắt đầu là triều đại của vua Gia Long, cuối Triều Nguyễn là triều đại của vua Tự Đức, nhìn chung chính sách của Nhà Nguyễn ở hai thời kỳ này là hạn chế Phật giáo Nhưng ở vào khoảng giữa của Triều Nguyễn, đó là Triều đại của vua Minh Mạng và Thiệu Trị, Phật giáo lại được quan tâm, phát triển

Như trên đã nói Triều Nguyễn bắt đầu từ năm 1802, năm thứ 2 của thế kỷ XIX, một thế kỷ với những biến cố lịch sử dân tộc sôi động, đây

Trang 13

là thời kỳ Nho giáo độc tôn, Phật giáo có những bước thăng trầm Nhà Nguyễn dành được quyền thống trị là dựa vào thế lực bên ngoài, đã khiến cho Nhà Nguyễn trở thành Triều đại thống trị hoàn toàn xa lạ, không gắn bó với dân tộc Trên thực tế Nhà Nguyễn không có khả năng

để ổn định đất nước Đối với nhân dân, Triều đình luôn sợ sệt bị chống đối, bị cô lập, bị lật đổ Vì thế Nhà Nguyễn lúc này phải thực hiện ngay một chế độ chuyên chế chưa từng thấy

Vua quan Nhà Nguyễn trực tiếp nắm quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Gia Long đặt ra lệ “bốn không” Trên thực tế Nhà Nguyễn rất cần một học thuyết, một tín ngưỡng có lợi cho chế độ chuyên chế cực đoan, cho sự tập trung quyền lực về một mối Nho giáo với hệ thống “Tam cương”, Ngũ thường,” với tư tưởng coi vua là con trời, vua là đại diện cho quyền uy và lẽ phải đã đáp ứng được yêu cầu đó Vì thế mà Nhà Nguyễn đã ra sức đề cao Nho giáo, tìm mọi cách đưa nho giáo lên vị trí độc tôn, đồng thời họ cũng ra sức đả kích, bài xích, cấm đoán các tôn giáo khác như Phật giáo, Lão giáo, Thiên chúa giáo… Triều đại Gia Long, Thiên chúa giáo có lúc bị cấm đoán, nhà thờ phải phá dỡ, giáo dân

bị cầm tù Còn Phật giáo là một tín ngưỡng truyền thống không có quan

hệ gì với kẻ ngoại xâm, hơn nữa nó không có ý tranh giành quyền lực nên đã tránh được cách xử lí theo hình luật của Triều đình Nhưng Phật giáo dưới con mắt của Triều đình là có ích hay không có ích, làm cách nào để điều khiển được nó, nên hạn chế nó hay để nó tự do phát triển… Tất cả những lẽ đó luôn buộc Nhà Nguyễn phải suy nghĩ, bởi Phật giáo

đã chiếm lĩnh được phần hồn của đại đa số nhân dân Phật giáo rất có thể làm cho nhân dân xa rời với những nguyên tắc sống, cách thức cai trị của Triều đình

Nhìn một cách tổng thể thì chính sách của Gia Long nói chung là hạn chế sự phát triển của Phật giáo Triều đình tăng cường chính sách

Trang 14

quản lí số tăng ni, phật tử, bắt họ tham gia nhiều vào công việc xã hội Chủ trương của Nhà Nguyễn thời kỳ này là thu hẹp nhà chùa Họ đặt ra những quy định ngặt nghèo nhằm giảm bớt việc xây chùa, tô tượng, đúc chuông, hạn chế tối đa số người dân thao đạo Phật Vua Gia Long còn cấm đoán việc xây chùa mới, cấm tô tượng đúc chuông, làm đàn chay Trong sách “ Đại nam Thực lục chính biên” có viết: “Gần đây có kẻ sùng đạo Phật xây chùa triền quá cao, lầu gác rất tráng lệ, đúc chuông, tô tượng rất đỗi đàng hoàng, làm đàn chay, mở hội hè, nuôi sư, cúng Phật phí tổn… không sách nào có thể chép hết, cầu phúc báo viển vông đến nỗi tiêu hao máu mỡ của dân vậy từ nay về sau chùa quán có đổ nát mới được tu bổ, còn làm chùa mới, tô tượng, đúc chuông, tổ chức hội chùa hết thảy đều cấm Sư sãi chân tu thì Lí trưởng sở tại phải nắm và khai rõ tính danh, quán chỉ, đem nộp ở quan chấn để biết rõ số lượng”[7,Tr.367] Song song với việc ban hành các chính sách hạn chế Phật giáo Nhà Nguyễn còn tiến hành phê phán gay gắt giáo lí Phật giáo, nhằm đánh đổ tôn giáo này Cả vua, quan, đình thần và nhiều nho sĩ tất thảy đều tham gia vào việc này Họ nhằm vào Thuyết "Nhân duyên báo ứng" của nhà Phật, mà cho rằng thuyết này là vô ích, là không thể thực hiện được Chiếu của vua Gia Long về “định tiền lệ hương đảng cho dân xã Bắc hà” nói: Người thờ Phật cốt để cầu phúc báo, sách nhà Phật nói: Người có duyên được Phật độ, người không duyên Phật chẳng độ Sách truyện nói: Thờ cha mẹ chẳng ra gì, ăn chay niệm Phật cũng vô ích, chung với Vua đến thế dẫu không cúng Phật cũng không sao Nhờ thế người có duyên được Phật độ, mà người không duyên Phật độ làm sao được Chuộng Phật giáo như Tiêu Diễn mà cũng không giữ được thân, huống chi là bọn bất trung, bất hiếu không biết Quân Vương là Phật hiện thời,

bỏ cả cha mẹ là Phật sinh thành mà đi cầu Phật vô hình ngoài muôn dặm

để mong cầu phúc Ngoài tư tưởng trên, Nhà Nguyễn còn cho Phật giáo

Trang 15

là một tôn giáo có hại cho đất nước, làm hại cho lễ giáo phong kiến, ảnh hưởng đến việc thực hiện các giáo điều của nhà Nho

Quan điểm này kéo sang thời Tự Đức, Tự Đức cũng cấm làm chùa,

tô tượng, đúc chuông, chùa quán có đổ nát thì mới được tu sửa, còn xây chùa mới, tô tượng, đúc chuông, lập đàn chay… hết thảy đều bị cấm Không những thế, Tự Đức còn bắt buộc tách mọi hoạt động của nhà chùa ra khỏi mọi hoạt động, sinh hoạt của Triều đình

Luận điểm của Vua Quan thời Gia Long – Tự Đức thì không có gì mới mẻ, cũng không phải là sự phân tích cặn kẽ sâu xa, nhưng đó là tư tưởng của những kẻ nắm quyền lực trong xã hội, nên nó cũng có tác động không nhỏ Luận điểm đó cùng với những chính sách hạn chế Phật giáo đã làm cho Phật giáo dưới Thời Gia Long- Tự Đức có phần suy giảm, mất vị trí trong xã hội, không có điều kiện phát triển Tăng ni không được đối xử như trước Vì thế mà lúc này có người nhận định rằng Phật giáo Việt Nam bước vào giai đoạn suy đồi

Nhưng không hẳn như vậy, Triều đại Nhà Nguyễn Vua Quan trong Triều đình không phải ai cũng bài bác Phật Vua Gia Long, Vua Tự Đức thì thường hoài nghi, xa lánh Phật giáo, còn Vua Minh Mạng, Vua Thiệu Trị thì lại sùng tín Phật giáo Tại sao lại như vậy?Sở dĩ có điều đó là do: Thời Gia Long là lúc Triều đại mới được dựng nên, còn gặp nhiều lực lượng chống đối, nên họ cần phải đề cao ý thức Tôn quân của Nho giáo Đến thời Tự Đức là lúc Triều đại suy thoái, nên họ phải quay về độc tôn Nho giáo để củng cố địa vị và quyền lực

Giữa thời Gia Long và Tự Đức là Triều đại của Minh Mạng và Thiệu Trị Lúc này xã hội tương đối ổn định, để mở mang văn hoá, để gần gũi trở lại nhân dân với Phật giáo Minh Mạng và Thiệu Trị đã phải vượt qua những trở ngại Trước hết là những thành kiến tông tộc như cho

Trang 16

Phật giáo là “dị đoan”, là “không hợp lẽ”, “cho xây chùa triền là tiêu hao máu mỡ của dân”, sau nữa là những băn khoăn về giáo lí nhà Phật như: giáo lí nhà Phật không nói tới “trung hiếu”, không đề cao uy quyền của Thiên tử Để khắc phục được những trở ngại này là cả một thử thách lớn đối với Họ Trong giai đoạn lịch sử dân tộc dưới Triều đại Minh Mạng

và Thiệu Trị, chúng ta thấy có những thay đổi dần trong lời lẽ của họ Nếu Minh Mạng đối với Phật giáo đôi lúc còn ngập ngừng, còn phải thanh minh về việc làm của mình, đến Thiệu Trị, ông đã xem việc chu cấp cho nhà chùa, tô tượng, đúc chuông, lập đàn chay là những việc làm tất yếu Hơn thế nữa Thiệu Trị còn làm thơ ca ngợi cảnh chùa Ngoài Vua ra, số Quan lại và Nho sĩ lúc này cũng tin tưởng vào Phật giáo ở những góc độ khác nhau Có những Đại thần cũng tự xưng mình là Bồ tát, là người tu tại gia, Họ cũng chú ý tới việc xây dựng chùa triền, tạo bia, khắc kinh Có người thì lấy cảnh chùa làm nơi thăm viếng để thoả lòng hoà nhập với thiên nhiên, chùa triền là nơi để tâm hồn thanh thoát Cũng có những người đồng cảm với giáo lí nhà Phật về cảnh ngộ con người, về sự giải thoát Trong số những người có sự đồng cảm với Phật giáo Họ đã thể hiện được suy tư của thời đại, tiêu biểu cho nhiều người

và để lại những dấu ấn sâu đậm trong quan niệm của họ về nhân sinh, về

tư duy của người đương thời

Trong Triều Vua- Quan và các Nho sĩ thời kì Minh Mạng, Thiệu Trị quan tâm đến Phật giáo như vậy, thì ngoài dân gian việc thay đổi Triều Đại đã không làm thay đổi tín ngưỡng, niềm tin của họ vào đạo Phật Có khi những quy định khắt khe của Triều Đình về việc xây chùa,

tô tượng, đúc chuông, lập đàn chay… đối với dân chúng chỉ có tác dụng trong thời gian ngắn, trong phạm vi hẹp Nhưng Sẵn lòng tin vào nơi cõi Phật, người dân coi việc đóng góp xây dựng chùa triền là một nghĩa vụ,

là sự tự tâm, tự nguyện Còn nhà chùa thì luôn ghi công của họ vào bia,

Trang 17

chuông, phổ hệ và sắm hương hoa cầu khấn khi họ qua đời Một quan hệ qua lại giữa niền tin và tín ngưỡng như thế nên tấm lòng từ bi, công đức của người dân vì thế mà ngày càng tăng thêm Chính vì những lẽ trên đây mà thời Minh Mạng, Thiệu Trị chùa triền phát triển thành một hệ thống đủ loại Đặc biệt là Kinh đô Huế – nơi tập trung nhân lực, tài lực của nhà nước, chùa tháp được tu sửa, xây mới rất đồ sộ, tráng lệ Lực lượng tăng ni đông đảo, mỗi ngày sư sãi tụng Chư kinh nhật tụng, vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ, A di đà, Diệu pháp liên hoa… ba, bốn lần (sáng, trưa, chiều, tối) Tình hình trên cho thấy, Phật giáo Thời kì Minh Mạng - Thiệu Trị là một giai đoạn có những nét riêng về hệ thống chùa tháp, về tổ chức, về hình thức nghi lễ, về tâm lí tôn giáo Nguyên nhân của sự khác biệt, nét đặc thù đó là sự tác động của tình hình chính trị xã hội và chính sách của Triều đình Phật giáo thời bấy giờ một phần vì không có ảnh hưởng trực tiếp đến chính trị, một phần vì có tinh thần dung hợp, không kì thị tôn giáo nên nó đã không phải là nguyên nhân đưa tới những “Cấm đạo” của vua Minh Mạng – Thiệu Trị Trong lịch sử của mình, Phật giáo Việt Nam thời kì nàyđã làm được nhiều việc, góp phần quan trọng vào lịch sử phát triển lâu dài của Phật giáo Việt Nam Nhìn một cách khái quát về tình hình chính trị - xã hội và Phật giáo Việt Nam thế kỷ 19 là như vậy

Đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam có những biến động lớn về chính trị, kinh tế, Văn hoá, tư tưởng Phật giáo Việt Nam lại có những nét đặc thù riêng Bởi vì, Việt Nam lúc này đã trở thành một nước thuộc địa thật sự của Pháp Dưới ách cai trị của thực dân Pháp, Việt Nam có những thay đổi quan trọng trong kết cấu kinh tế, xã hội và tư tưởng

+ Về chính trị : Cùng với những biện pháp đàn áp rã man, tàn bạo

các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng của nhân dân ta Thực

Trang 18

dân Pháp còn thực hiện chính sách “chia để trị”, cụ thể chúng chia đất nước ta thành 3 kỳ, với 3 hình thức cai trị khác nhau

Nam kỳ là chế độ trực trị, đứng đầu bộ máy công quyền là viên Thống đốc

Bắc kỳ là chế độ bảo hộ, đứng đầu là viên Thống sứ

Trung Kỳ thực chất cũng do người pháp nắm, đứng đầu là viên Khâm sứ Nhìn chung quyền lực do người Pháp thâu tóm trong cả nước

+ Về kinh tế : Tập đoàn tư bản Pháp ở Việt Nam hầu như không

chú ý đến việc mở mang, phát triển công nghiệp nói riêng, kinh tế nói chung Chúng triệt để khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của Việt Nam bằng nguồn nhân lực rẻ mạt người Việt Chúng biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp cho chính quốc Chúng duy trì hình thức bóc lột phong kiến, bằng nhiều thủ đoạn, bằng nhiều loại sưu thuế, để tăng cường vơ vét bóc lột nhân dân Việt Nam

+ Về Văn hóa : Chúng thực hiện chính sách “ngu dân” gây tâm lý

tự ti vong bản trong nhân dân, khuyến khích đồi phong bại tục, truyền bá Văn hoá phương Tây

Phật giáo Việt Nam lúc này ở vào hàng thứ yếu, thậm chí còn bị đả kích, đạo và đời tách biệt nhau Mỗi người từ đời đến đạo hay từ đạo trở

về đời là cả một chặng đường khó khăn, phải dũng cảm lắm mới vượt qua được, nhất là những Phật tử tiến bộ, có tinh thần yêu nước Người Phật tử hoạt động cho đời vì đạo, lúc này là phải đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược

Trước tình hình chính trị - xã hội, tư tưởng và Phật giáo Việt Nam thời kỳ này như vậy Với vị trí là người dân mất nước, mất tự do, mất quyền sống, quyền sáng tạo mọi giá trị Tăng ni, phật tử trước hết Họ là

Trang 19

người dân, nên Họ cũng có những nỗi đau như những người dân khác

Họ cũng phải đứng lên chống ngoại xâm dành lại những quyền thiêng liêng ấy Hệ quả tất yếu là hàng loạt các phong trào như: Đông du, Đông kinh nghĩa thục, phong trào Duy tân, phong trào truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào Chấn hưng Phật giáo…ra đời Trong số những chí sĩ lãnh đạo phong trào Đông du và Đông kinh nghĩa thục, chúng ta có thể thấy rằng : Phan Chu Trinh là người tin tưởng nhiều nhất ở sự đóng góp của một nền Phật giáo phục hưng Ông thường hô hào việc chấn hưng Phật giáo để hỗ trợ cho cách mạng Có lần trong một buổi họp, sau khi chuông mới rung, ông lên tiếng: “ Nước Đại nam chúng ta nay sở dĩ yếu hèn là vì thiếu tinh thần tôn giáo Tôn giáo luyện cho chúng ta đức

hy sinh, coi nhẹ tính mạng, phá sản vì đạo Không có tinh thần tôn giáo, chúng ta không biết cương cường xả thân vì nghĩa, chỉ bo bo giữ cái lối riêng của mình Nay bà con thử xét xem đời Trần sao dân tộc ta hùng dũng như vậy, quân Nguyên lấy cả á, cả Âu, nuốt trọn Trung Hoa mà qua đến nước ta thì bại tẩu, nào bị cướp sáo ở Chương Dương, Dương

Độ, nào bị bắt chói ở Bạch Đằng Như vậy chẳng phải là nhờ đạo Phật ở

ta thời bấy giờ rất thịnh ư, nhờ cái tinh thần tôn giáo của ta ư?" [31 , Tr

16 ] “Tinh thần tôn giáo” mà cụ Phan Chu Trinh nói ở đây không phải là tinh thần Nho giáo mà là tinh thần Phật giáo Bởi ông đã nhiều lần lên tiếng cho rằng: Chính Nho học đã làm cho đất nước Việt Nam suy nhược Ông có soạn một bài nói về cái tệ của Nho học, nhan đề là “Bất phế Hán tự, bất túc dĩ cứu Nam quốc”[31, Tr.16 ]: kết án chế độ khoa cử Ông kết luận là phải bỏ Hán tự, dùng chữ quốc ngữ Phan Chu Trinh không phải là nhà nho cố chấp, thấy sao ông nói vậy Sự tin tưởng của Ông vào Phật giáo không những bắt nguồn ở nhận thức về khả năng duy tân ở một xã hội Phật giáo như quốc gia Nhật Bản, mà bắt nguồn ở sự nhận thức về thời đại cực thịnh Lí - Trần

Trang 20

Bên cạnh các phong trào Đông Du, Đông kinh nghĩa thục là phong trào Duy tân đất nước Những người khởi xướng và nhiệt thành nhất trong phong trào Duy tân là các nhà nho tân tiến, tiêu biểu như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can, Đào Nguyên Phố, Nguyễn Quyền Họ là những nhà Nho không chỉ có kiến thức Hán học mà họ còn biết cả tiếng Pháp, đọc thông Văn bạch thoại,

có điều kiện đi khắp Trung- Nam- Bắc, có người sang cả Châu Âu tiếp thu được những tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây Phong trào yêu nước diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng nội dung chủ yếu là

hô hào,vận động, đoàn kết dân tộc, tuyên truyền tư tưởng tự do bình đẳng, dân chủ, bình quyền bài trừ những hủ tục lạc hậu Phong trào vận động duy tân đất nước đã đưa đến một kết quả có ý nghĩa quan trọng là thức tỉnh tinh thần dân tộc, tập hợp lực lượng tạo nên một luồng sinh khí mới

Một phong trào rất được chú ý, quan tâm xuất hiện vào thời kì này

đó là phong trào truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào Việt Nam dẫn tới việc thànhlập tổ chức “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội” tháng 6 năm 1925, một tổ chức tiền thân cuả Đảng cộng sản Việt Nam sau này Đứng đầu phong trào này là nhà cách mạng nhiệt thành, giàu kinh nghiệm, Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc Chủ nghĩa Mác – LêNin được truyền bá vào Việt Nam một cách có tổ chức, có hệ thống, đã ảnh hưởng tới mọi tầng lớp, giai cấp, đặc biệt là giai cấp công nhân, tầng lớp trí thức yêu nước Hệ tư tưởng Mác – Lênin dần trở thành hệ tư tưởng chính thống của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc

Như vậy, lịch sử dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX, đã có những thay đổi quan trọng về chính trị – xã hội, văn hoá, tư tưởng…các giai tầng xã hội phức tạp đan xen, các hệ tư tưởng mới, cũ cùng chung tồn

Trang 21

tại Sự thống trị của thực dân Pháp càng tạo điều kiện cho Thiên chúa giáo phát triển Tôn giáo này ngày càng lấn lướt muốn thay thế tôn giáo bản địa, Phật giáo có nguy cơ bị đẩy lùi và có thể mất chỗ đứng trong xã hội

1.1.2 Những nguyên nhân của phong trào Chấn hƣng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX

Những thập niên đầu của thế kỷ XX, Việt Nam có những biến động lớn trên mọi mặt của đời sống xã hội Nho giáo với tư cách là hệ tư tưởng dân tộc đã bất lực trước yêu cầu mới của sự nghiệp giải phóng dân tộc Nhiều Nho sĩ đã từng đỗ đạt cao bắt đầu lên tiếng phản đối Nho giáo Họ không chỉ phê phán, không tin tưởng ở từng cá nhân, mà còn tỏ

rõ thái độ phủ nhận Nho giáo Họ cho rằng một phần dẫn tới sự mất nước, sự yếu hèn của dân tộc là có phần trách nhiệm của Nho giáo Trước tình hình này, những Nhà Nho có đầu óc duy tân, kể cả tầng lớp tiểu tư sản, trí thức cũng hoang mang dao động Họ đã quay lại lục tìm trong kho tàng di sản tư tưởng truyền thống của dân tộc, của những Triều Đại huy hoàng trước đó xem cái gì còn dùng được, cái gì đã lỗi thời, lạc hậu cần bỏ đi Họ đặt ra câu hỏi, tại sao thời Lý – Trần Việt Nam thịnh vượng như thế? Phải chăng các Triều đại ấy Phật giáo được coi trọng; với hy vọng tìm ra cơ sở, nền tảng tư tưởng, đạo lí, phương thức vận động, thức tỉnh quần chúng nhân dân, đa số những Nhà Nho tân tiến đã tìm đến Phật giáo, coi Phật giáo như chỗ dựa tinh thần

Một nguyên nhân nữa phải kể đến ở đây Đó là vào cuối năm 1925 đầu năm 1926 đạo Cao Đài ra đời, hoạt động rầm rộ, thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân ở các tỉnh Nam bộ Đạo Cao Đài là sự kết hợp giữa Phật giáo với đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên chúa gọi tên là Đại đạo tam kỳ phổ độ Đạo Cao Đài ra đời làm cho ở nhiều địa phương, Phật giáo mất tín đồ, mất cả chùa triền, các nhà sư đều phản ứng, các nhà Phật

Trang 22

học bất mãn dữ dội Bên cạnh đó, đạo Cao Đài vừa như sự thách thức, vừa với tư cách như một tôn giáo thay thế sự chi phối xã hội của đạo Phật chính thống Đạo Cao Đài còn lớn tiếng khẳng định rằng: Các tôn giáo truyền thống (bao gồm cả đạo Phật) đều đã hư hỏng, nên “Đại đạo tam kỳ phổ độ” mới nảy sinh Theo đà này nếu đạo Phật không có sự thay đổi (chấn hưng) thì mất hết quần chúng, mất hết tín đồ và có nguy

cơ mất chỗ đứng trong xã hội Muốn đương đầu với đạo Cao Đài thì các Phật tử phải làm sao đây? Điều chắc chắn là có nhiều cái lâu nay lưu tệ trong cửa Phật không thể chối cãi được mà cần phải chỉnh đốn, cần phải chấn hưng Bên cạnh đó, nhiều tổ chức tôn giáo mới được tách ra từ đạo Phật truyền thống Có những tôn giáo mới ra đời trên cơ sở sử dụng một

số yếu tố của Phật giáo pha trộn với một số yếu tố của các tôn giáo khác như: đạo Tin Lành, đạo Phật Đường, đạo Minh Sử, đạo Phật Thầy Đây

là những tôn giáo mới xuất hiện ở Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế

xa, thử lật mặt trái của họ ra mà xem thì có khác nào người trần tục”[47, Tr.15] Còn cư sĩ Khánh Vân thì phải thốt lên rằng: “Có kẻ mượn Phật làm danh, cũng ngày đêm hai buổi công phu thọ trì, sóc vọng, xám hối như ai, nhưng lại thủ dị cầu kì, học thêm bùa ngải, luyện roi thần làm bạn với thiên linh, khi ông lên, lúc bà xuống, ngáp ngắn, ngáp dài thù phu niệm chú, gọi là cứu nhân độ thế Nhưng thực chất là lợi dụng lòng

mê muội của thiện nam, tín nữ mở lòng tham vơ vét – bảo sao chẳng suy đồi – làm tấm bia cho các nhà duy vật mỉa mai”[17, Tr.15] Tất nhiên

Trang 23

những lời lẽ trên đây có phần quá khích hoặc với mục đích nhằm thúc dục nhanh hơn nữa nhu cầu phải chấn hưng Phật giáo Nhưng thực tế trong thời kì này ở khắp 3 miền, Trung - Nam -Bắc vẫn có những vị cao tăng tiếp tục duy trì mạch Phật pháp với những đạo tràng lớn Ví dụ:

Ở trong Nam có Thiền sư Từ Phong duy trì đạo tràng Giác Hải ở Chợ Lớn Ông vẫn đều đặn mở lớp giảng dạy Phật pháp cho tăng ni trong vùng, tổ chức khắc ván, in kinh và khuyến khích việc phiên dịch Kinh Phật ra chữ quốc ngữ Chính Ông dịch ra quốc ngữ và cho xuất bản

bộ “ Quy nguyên trực chỉ ” Thiền sư Khánh Hoà trụ trì ở chùa Tiên Linh (Bến Tre), Ông đã xây dựng nơi đây thành một đạo tràng lớn, rất có uy tín ở vùng Tây Nam Bộ Dưới sự chỉ đạo của Thiền sư Chí Thành ở chùa Phi Lai (Châu Đốc), hàng năm có hàng trăm tăng ni theo học, còn có cả một trường riêng cho nữ giới, mỗi khoá có hàng trăm ni sinh

Ở miền Trung có Thiền sư Tuệ Pháp nổi tiếng uyên thâm giáo điển, Ông thường quy tụ những tăng già ưu tú của Kinh đô, về châu Thiên Hưng để đàm luận, giảng dạy Kinh luận Chùa Thập Pháp ở Bình Định

là một trung tâm Phật học nổi tiếng nhờ sự có mặt của Thiền sư Phước Huệ, học vấn uyên thâm về Phật pháp của ngài lừng lẫy cả miền Trung,

đã khiến cho dư luận quốc dân khắp nơi quy ngưỡng

Ở miền Bắc có Thiền sư Thanh Hạnh, một vị tôn túc được quốc dân sùng kính chủ trì đạo tràng Vĩnh Nghiêm Năm nào Ngài cũng quy tụ tăng sĩ về đây để giảng dạy Phật pháp Chùa Bà Đá ( Linh Quang Tự) cũng duy trì một đạo tràng lớn, mỗi năm đạo tràng này quy tụ hàng trăm tăng sĩ về kết hạ và học tập giáo điển Thiền sư Đỗ Văn Hưng chủ trương khắc bản, in thêm kinh sách, kể cả những Kinh lớn như Đại Bảo Tích Còn nhiều cao tăng và những đạo tràng khác nữa chưa kể hết được, đã tạo nên một nền tảng xã hội và giáo hội cần thiết cho một cuộc chấn hưng Phật giáo Những cao tăng ở những đạo tràng lớn, những bậc tôn

Trang 24

túc trong cả nước, cùng các Nho sĩ, các trí thức trẻ đều chung một chí hướng, mong muốn canh tân Phật giáo nước nhà trước những yêu cầu mới của đất nước

Một nguyên nhân nữa: Phong trào chấn hưng Phật giáo là một phong trào mang tính Quốc Tế Thời kì những thập niên đầu thế kỷ XX, phong trào Chấn hưng Phật giáo được khở đầu ở Ân Độ (nơi quê hương của Đức Phật) rồi lan sang Trung Quốc, Nhật Bản Đặc biệt ở Trung Quốc phong trào chấn hưng Phật giáo nảy sinh và phát triển mạnh mẽ ở: Nam Kinh, Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu Tiếng vang của nó vang ra khắp Châu á, sang tận Châu Âu với những khẩu hiệu “Cách mạng giáo lí - Cách mạng giáo hội” Nhiều viện nghiên cứu Phật học, nhiều trường đào tạo tăng đồ, nhiều sách báo được xuất bản Trong đó có tạp chí “ Hải triều âm” được rất nhiều học giả, các phật tử Việt Nam hâm

mộ ở Trung Quốc, những hoạt động sôi nổi của các nhà sư, nhất là Hoà Thượng Thái Hư, đã truyền sang Việt Nam làm nức lòng những người yêu thích đạo Phật Giới phật tử Việt Nam tìm được ở đó những lời động viên, những kiến thức mới, những lời giải thích mới, về kinh điển Phật giáo Đồng thời giới phật tử Việt Nam cũng lấy đó làm cơ hội để nhìn nhận lại mình, từ đó đi đến nhất trí, thống nhất quyết tâm đẩy nhanh những tư tưởng đã nung nấu bấy lâu nay thành phong trào công khai Phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ đã làm động lực thúc đẩy phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam

Nguyên nhân rất quan trọng thúc đẩy sự ra đời phong trào chấn hưng mà không thể không nói tới đó là, Việt Nam đầu thế kỷ XX, những đòi hỏi cải cách, đổi mới trong sinh hoạt Phật giáo đồng thời là sự vận động của dân tộc, là xu hướng đi tới của đất nước Nếu không thấy được điều này thì sẽ không hiểu được vì sao khi phong trào nổi lên đã diễn ra

Trang 25

một cách liên tục, trên nhiều phương diện, thu hút nhiều người tham gia, kéo dài nhiều năm và đưa tới những kết quả bất ngờ

Nhờ những động lực này mà ý kiến chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam được trình bày đi trình bày lại trên các báo và trên các diễn đàn từ 1926–1927 đến 1930–1931 mà vẫn chưa đem lại kết quả nào Tại sao lại như vậy? Bởi vì : Thực dân Pháp và triều đình Huế không muốn cho người Việt Nam tự tổ chức, dù là tổ chức một phong trào tôn giáo, nếu tổ chức ấy chúng không kiểm soát được một cách chặt chẽ

Vào những năm 1930-1931, trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, nổi lên cao trào cách mạng của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã làm điên đảo thực dân Pháp và triều đình Huế Trước tình hình này, thực dân Pháp nhận thấy, đồng thời với sự đàn áp phong trào cách mạng bằng vũ lực, còn có thể sử dụng thêm cả vũ khí tinh thần Vì vậy, Thống Đốc Nam Kỳ cho Commy Trấn đứng ra chủ chương thành lập “Hội nghiên cứu Phật học” và tờ tạp chí “Từ bi âm” ra đời từ tháng riêng năm 1932 Rồi tháng 6 năm 1933, tờ nguyệt san “viên âm” ra đời ở Huế là cơ quan nghiên cứu của Hội Phật học Trung kỳ Tháng 11 năm 1934, Hội Phật giáo Bắc kỳ được thành lập do Tổng đốc Hoàng Trọng Phu và Tổng đốc Nguyễn Năng Quốc đứng đầu Năm 1935 tạp chí “Đuốc Tuệ” ra đời, là cơ quan tuyên truyền của hội Nhưng dù ở đâu (Bắc, Trung, Nam) các hội Phật giáo vừa kể trên đều do Thống đốc, Khâm sứ, Thống sứ và một số quan chức của Pháp và của triều đình Huế làm chủ tịch hay hội viên danh dự Tuy nhiên, các hội Phật giáo ra đời từ

1932 đến 1934 ở cả ba kỳ không phải chỉ do ý đồ của Pháp và triều đình Huế, trên thực tế một số phật tử Việt Nam cũng đã “tương kế, tựu kế” để thực hiện việc Chấn hưng Phật giáo, tập hợp tín đồ Trong số những nhân vật kể trên, không phải ai ai cũng làm theo ý đồ của Pháp Nhưng lúc này, rõ ràng là ngay những người thật tâm huyết với Phật giáo cũng

Trang 26

không có ý nghĩ là dùng các hội Phật giáo để chống lại thực dân, mà họ chỉ có ý muốn truyền bá đạo Phật, cải hoá phong tục, nang cao nhận thức

Khi phong trào nổi lên, người đương thời gọi là phong trào “phục sinh Phật giáo”, “phục hưng Phật giáo”, “chấn hưng Phật giáo” Nhưng những khái niệm đó không nói lên được thực chất của phong trào Vì đây không phải là một phong trào muốn làm sống lại một tôn giáo đã tàn tạ, một tín ngưỡng đã bị lãng quên, mà lúc này tôn giáo ấy vẫn đang còn sống, chỉ có điều là làm sao để thay da đổi thịt cho nó, cải cách nó, làm sao cho nó mới cả về nội dung lẫn hình thức, cả giáo lí, giáo hội và cách thức tu hành, cả lối sống của nhà sư và phật tử Đây là phong trào cải cách một cách sâu sắc và toàn diện

1.2 Diễn biến của phong trào chấn hƣng phật giáo Việt Nam đầu thế kỉ XX

Trước tình hình thực tế Phật giáo Việt Nam đang trên đà suy đồi, nên ý muốn Chấn hưng được nói lên rải rác trên các báo chí quốc âm ngay từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1917 – 1924) Những năm

1923, 1924 trên tờ “Đông pháp thời báo”(ở Sài Gòn) có đến mấy chục bài viết về “Phật giáo lược khảo” Trong đó người viết đặt ra cho các nhà trí thức nhiệm vụ: góp phần chỉnh đốn Phật giáo trong xứ Từ đó Phật giáo được nói đến ngày càng nhiều, đặc biệt là từ năm 1926 đến năm

1931 Trong khoảng thời gian này, phong trào yêu nước phát triển mạnh, trong những phong trào ấy có cả những nhà sư tham gia, điều đó nói lên rằng, cao trào đấu tranh đòi dân chủ có ảnh hưởng sâu sắc đến những phật tử Cao trào đấu tranh dành độc lập dân tộc, đòi dân chủ ở nước ta những năm 1925, 1926 có ảnh hưởng đáng kể đến phật tử, đến nhà chùa, đến tầng lớp sư tăng trẻ tuổi Chúng ta còn nhớ lúc này ở Bắc kỳ và Trung kỳ, một số nhà chùa đã có ít nhiều những hoạt động tham gia vào

Trang 27

cuộc vận động đòi ân xá Phan Sào Nam Trên khắp đất nước nhiều sư sãi

dự cuộc đưa đám Phan Tây Hồ Sóng gió chính trị liên tiếp đập vào nhà chùa lâu nay êm đềm, tĩnh mịch, khiến cho chư Phật cũng khó bề mà nhắm mắt nhập định mãi được Ngoài đời thì dân đòi cải cách cái này, tự

do cái kia Trong giới Phật giáo thì một số đông người muốn sửa đổi những lề thói hủ lậu đã làm mất uy thế của đạo Phật, nhằm đưa đạo Phật vào cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, bảo thủ và chấn hưng Nhiều Phật Tử muốn đạo Phật có một vai trò nào đó trong sự tấn tới của dân tộc Việt Nam

Vấn đề đặt ra là tại sao, phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam lại nổ ra và phát triển mạnh mẽ ở Nam kỳ rồi lan ra Trung kỳ và Bắc Kỳ

Ngoài lí do Nam kỳ là nơi thực dân Pháp đặt quyền cai trị trực tiếp, sớm nhất, nên có phần nào nơi đây ảnh hưởng của nền tự do, dân chủ tư sản bên chính quốc Còn có các lí do khác như : đặc thù về nguồn gốc dân cư, về tổ chức xã hội, giáo hội có khác với các nơi khác Tất cả những lí do này chúng ta sẽ lần lượt phân tích, đánh giá dưới góc độ triết học để thấy được những diễn biến chính của phong trào nó có ý nghĩa như thế nào? xem ảnh hưởng của nó đối với hệ tư tưởng dân tộc lúc bấy giờ

Sài Gòn là nơi đi trước, mở đầu cho phong trào Chấn hưng Phật giáo lịch sử đã dành vị trí cho nơi đây,vì nơi đây các lề luật phong kiến

bị tấn công sớm nhất Ngay từ cuối thế kỷ XIX đã có các sách, báo in bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp với nội dung ít nhiều mang tính dân chủ, tư sản Điều đó khiến con người nơi đây sớm mang tư tưởng tự do, táo bạo, nhạy cảm với thời cuộc Họ dám đi đầu trong công cuộc cải tổ, chấn hưng một tôn giáo, một tín ngưỡng

Trang 28

Phong trào bắt đầu bằng sự vận động của Thiền sư Khánh Hoà ở chùa Tiên Linh (Bến Tre) và các đồng đạo của ông Năm 1923, nhân ngày giỗ Tổ tại chùa Long Hoa, quận Tiểu Cầu, tỉnh Trà Vinh (ngày 19/9 âm lịch năm Quý Hợi) Ông vận động mời tất cả những vị tôn túc khắp miền Tiền Giang và Hậu Giang về Tiểu Cầu để dự lễ, đồng thời để họp bàn về vấn đề Chấn hưng Phật giáo Kết quả sau đó “Hội Lục Hoà” được thành lập Tất cả những người có mặt trong buổi họp đó như : Huệ Giang, Chí Thiền, Từ Phong, Chánh Quả, An Lạc, Huệ Đình, Diệu Pháp đều đồng ý Mục đích của hội là đoàn kết, giúp đỡ nhau tìm hiểu tình hình Phật giáo trong nước và nhất là Phật giáo trên thế giới (đặc biệt

là tình hình Phật giáo các nước láng giềng phía Bắc) Cùng nhau cải tiến việc học Phật, cách thức tu hành và vận động thành lập một hội Phật giáo thống nhất trong trong toàn quốc

Nổi lên trong số các nhà sư tâm huyết với phong trào là hai nhà sư: Khánh Hoà và Thiện Chiếu Hai vị sư này là những người tiên phong trong việc tổ chức và tư tưởng Sư Khánh Hoà đã đi tới hết tất cả các chùa lớn ở Nam kỳ để vận động đổi mới Qua bốn năm đi khắp nơi từ tổ đình này đến tổ đình khác, Thiền sư Khánh Hoà vẫn không vận động thành lập được hội Trong khi đó ở miền Bắc, Thiền sư Tâm Lai cũng có

ý nguyện muốn Chấn hưng Phật giáo và Ông đã cho đăng ý nguyện này trên báo “Thực nghiệp” năm 1927 tại Hà Nội Được tin này, Thiền sư Khánh Hoà liền cử một người đồng đạo nhiệt tình và tin cậy của ông là

sư Thiện Chiếu ra Bắc để liên hệ với các Tổ Đình lớn ngoài Bắc, thảo luận và xúc tiến việc thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam Sư Thiền Chiếu ra tới chùa Linh Quang (chùa Bà Đá) vào yết kiến Thiền sư Đỗ Văn Hỷ và xin phép lên chùa Tiên Lữ để gặp Thiền sư Tâm Lai Sau một thời gian đi lại, vận động các Tổ Đình ngoài Bắc nhưng không có kết quả Sư Thiện Chiếu trở lại miền Nam, trên đường về Sài Gòn, Thiện

Trang 29

Chiếu ghé lại Quy Nhơn (Bình Định) để gặp Thiền sư Khánh Hoà, lúc này ông đang an cư và giảng kinh ở chùa Long Khánh Sau khi trình bày tình hình Phật giáo ngoài Bắc, sư Thiện Chiếu đưa cho sư Khánh Hoà xem chương trình cải tổ Phật giáo của Tổng hội Phật giáo Trung Hoa đăng trên tạp chí “Hải Triều âm” do Thiền sư Thái Hư chủ biên (Thiền

sư Huệ Quang lúc đó cũng có mặt tại chùa Long Khánh) Sau đó các ngài bàn nhau và thấy rằng lúc này chưa thể thành lập được một hội Phật giáo chung cho cả ba miền Cho nên Thiền sư Khánh Hoà và Thiền sư Huệ Quang nhất trí với nhau là sau khi mãn hạ, Họ sẽ trở về Nam ngay

để thành lập hội Phật học Nam kỳ Đầu năm 1928, hai nhà sư này đã thành lập một “Thích học đường” và một “Phật học Thư xã” tại chùa Linh Sơn (Sài Gòn) với sự tham gia của một số Thiền sư như: Thiện Niệm, Từ Nhãn, Chơn Huệ và một số cư sĩ có kiến thức tây học như: Phạm Ngọc Vinh, Trần nguyên Chấn, Nguyễn Văn Cần, Ngô Văn Chương Đây chính là tiền thân của hội “ Nam kỳ nghiên cứu Phật học” sau này Đồng thời với việc làm này, nhà sư Khánh Hoà cho ra mắt tạp chí “Pháp âm” Sư Thiện Chiếu cho ra mắt nội san “ Phật hoá tân Thanh niên” với những nội dung là tuyên truyền quan điểm nhận thức mới về Phật giáo, giáo lí, cách thức tu hành Đây là hai tạp chí đầu tiên trong lịch sử Phật giáo nước ta được in bằng chữ quốc ngữ, những quan điểm này nhanh chóng đến tay các phật tử trẻ

Gần như cùng thời gian với hai tờ tạp chí trên, vào những năm 1923-1924 tại Sài Gòn Trên tờ “Đông pháp thời báo”, bên cạnh những bài phản ánh về tình hình chính trị của Pháp ở Đông Dương, cũng có những bài viết về Phật giáo chuyên đề “Phật giáo lược khảo” Trong đó giới thiệu về nguồn gốc, nội dung giáo lí và lịch sử Phật giáo Những lời

lẽ mạnh mẽ và nhiệt thành của nhà sư Thiện Chiếu trong “Phật hoá tân Thanh niên”, những lời tâm huyết của sư Khánh Hoà trong “Pháp âm”

Trang 30

và những bài viết kêu gọi “góp phần chỉnh đốn Phật giáo trong xứ” của

“Đông pháp thời báo” đã làm nức lòng giới phật tử trẻ lúc bấy giờ Họ đòi hỏi phải có được nhận thức mới, cách giải thích mới, cách tu hành mới đối với giới phật tử, đồng thời họ yêu cầu phải được tham gia hoạt động chính trị, xã hội, yêu cầu phải đổi mới Phật giáo Nhưng đổi mới như thế nào? Để bảo vệ truyền thống tốt đẹp của Phật giáo Việt Nam, chúng ta phải đổi mới nó, thay da đổi thịt cho nó Bảo vệ và đổi mới Phật giáo Việt Nam có quan hệ biện chứng với nhau, không đối kháng nhau như một vài người đã lầm tưởng vì truyền thống mà không có sự đổi mới cho phù hợp với thực tế thì chỉ là truyền thống chết cứng Một truyền thống đã chết rồi thì chỉ còn tồn tại như một thứ đồ cổ, chỉ để nhìn ngắm chứ không còn tác dụng gì khác đối với cuộc sống, đối với xã hội Nhận thấy cần phải xúc tiến nhanh hơn phong trào chấn hưng Phật giáo trong nước, để khẳng định chỗ đứng của Phật giáo Việt Nam trong

hệ tư tưởng dân tộc Năm 1929, sư Thiện Chiếu cho ra mắt độc giả cuốn

“Phật học tổng yếu” Cuốn sách gồm một số bài kinh và luận với một tinh thần mới Một số bài giới thiệu “Hải triều âm” của hội Phật học Trung Quốc và một số bài viết của Thiện Chiếu, cuốn sách thể hiện nhiều tư tưởng khác lạ Không những thế, cuốn “Phật học tổng yếu” còn mang tính chất giới thiệu, giáo dục, tuyên truyền giác ngộ quần chúng và giới phật tử Chẳng hạn ông viết: “ Những kẻ giàu cái tính chất nô lệ, không biết trông cậy ở sức mình mà cứ ỷ lại ở sức người, không biết hoạ phúc đều do tự lòng tạo mà cứ tưởng thưởng phạt bởi thẩm quyền thì chẳng những không bao gìờ hiểu thấu được Phật lí mà lại chính là một giống độc” [17, Tr.435] Cuốn sách đã gây nên nhiều cuộc tranh luận trên các báo “Trung lập”, “Đông pháp thời báo”, “Đuốc nhà Nam” Có thể nói cuốn “Phật học tổng yếu” của nhà sư Thiện Chiếu cũng như các bài báo trước đó của ông và các cư sĩ tiên phong khác, là những bước

Trang 31

chuẩn bị để có những tổ chức Phật giáo rộng lớn, chính thức ra đời trong những năm sau, bảo đảm hoạt động thường xuyên và có những tiếng nói đều đặn, công khai trong xã hội

Sang thập kỷ 30, các hội nghiên cứu Phật học liên tục xuất hiện trong các năm từ 1930 đến 1935, đầu tiên là ở Nam kỳ rồi Trung kỳ và sau cùng là Bắc kỳ

* ở Nam kỳ: Năm 1931, Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học ra đời tại

chùa Linh Sơn (Sài Gòn) Ngày 1-3-1932 Hội đã xuất bản tạp chí “Từ bi âm” do Thiền sư Khánh hoà làm chủ bút Ngay sau khi thành lập, Hội đã tích cực chuẩn bị cơ sở vật chất, xây trường lớp, làm nhà nội trú cho tăng

ni sinh hoạt, lập pháp Bảo Phương, thỉnh kinh Tam Tạng và kinh Trung Hoa về nghiên cứu Cũng trong năm 1931, Thiền giáo Tông, Thiền hữu Hội được thành lập tại chùa Thiên Thai (Bà Rịa), Hoà Thượng Huệ Đăng chủ trì chùa Thiên Thai là người sáng lập hội Hội xuất bản tạp chí “Bát nhã âm”, đây là cơ quan ngôn luận và truyền bá giáo lí Năm 1933 các

vị hoà thượng chủ trì các chùa: Long Hoà(Trà Vinh), chùa Thiên Phước(Trà Ôn), chùa Viên Giác(Bến Tre) cùng nhau thành lập “Liên đoàn học xã” với mục đích để nghiên cứu giáo lí, đào tạo tăng tài

Năm 1934, hội “Lưỡng Xuyên Phật học” được thành lập ở Trà Vinh Do nóng lòng về việc đào tạo tăng tài, đẩy nhanh công cuộc Chấn hưng mà Thiền sư Khánh Hoà đã rời bỏ hội “Nam kỳ nghiên cứu Phật học” trở về Trà Vinh (chùa Long Hà) tổ chức Phật học Đường lưu động lấy tên là “Liên đoàn Phật học xã”, nhưng tổ chức này không tồn tại được bao lâu vì thiếu nguồn tài chính ổn định Ngày 13-8-1934 Hội

“Lưỡng Xuyên Phật học” được thành lập ở Trà Vinh, mục đích của Hội

là sưu tầm các tác phẩm Kinh Điển Phật giáo, dịch và in ra bằng chữ quốc ngữ, đào tạo tăng sư Năm 1935 hội đã mở “Phật học đường” và ra tạp chí “Duy tâm” cơ quan ngôn luận của Hội Tạp chí “Duy tâm” có

Trang 32

tiếng nói và ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhân dân lúc bấy giờ, tạp chí thường lên tiếng kêu gọi thành lập một Tổng hội Phật giáo để thống nhất các hội Phật giáo trong cả nước

Như vậy trong những năm 30 ở Nam kỳ, ngoài “Nam kỳ nghiên cứu Phật học”(Sài Gòn), “Phật học Kiêm Tế” (Rạch Giá- Kiên Giang) là những Hội phật học lớn, còn có rất nhiều Hội phật học được thành lập ở nhiều địa phương Nam Bộ

* ở Trung kỳ: Thấy trong Nam giáo hội làm được nhiều việc, Thiền

sư Giác Tiên họp bàn với các cộng sự của ông cùng một số cư sĩ khác như: Lê Đình Thám, Nguyễn Khoa Tâm bàn việc thành lập hội phật học

ở Trung kỳ

Năm 1932, “An Nam phật học hội” được thành lập tại chùa Từ Quang (sau rời về chùa Từ Đàm) ở Huế Thiền sư Giác Tiên làm chứng minh đạo sư và cư sĩ Lê Đình Thám được mời làm đội trưởng, lấy chùa Trúc Lâm làm trụ sở, năm 1933 Hội xuất bản tạp chí “Viên âm” là cơ quan ngôn luận của hội Hội “An Nam phật học” là Hội có uy tín quy tụ được nhiều cao tăng, được sự trợ giúp của của nhiều cây bút có đạo tâm, uyên thâm tâm học Tạp chí “Viên Âm” là một tạp chí kiên trì nhất trong

số các tạp chí phật học lúc bấy giờ trong việc trở về tìm hiểu, khai thác

tư tưởng của giáo điển, dịch những bộ Kinh lớn như Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Viên Giác, Kinh Hoa Nghiêm ra chữ quốc ngữ và chữ Pháp phổ biến cho quảng đại quần chúng Phương trâm hoạt động của “An Nam phật học hội” là hô hào phiên dịch, trú giải, diễn giải giáo lí, giáo điển, chỉnh lí tăng chế, đào tạo tăng tài Hội rất chú ý đào tạo thế hệ trẻ (trên

cả ba phương diện giáo dục, đức dục, thể dục), bảo vệ truyền thống đạo Phật Hội đề ra chương trình chỉnh lí tăng sĩ gồm hai điểm :

- Thành lập một hội đồng luật sư gồm những bậc tăng giả tinh thông giới luật để giám sát giới hạnh cuả tăng chúng

Trang 33

- Tổ chức riêng từng ban thầy cúng, chuyên lo việc cầu an, cầu siêu cho nhân dân Những người này phải ở chùa riêng hoặc nhà riêng của họ chứ không được ở trong Thiền viện(Thiền viện là nơi chỉ dành riêng cho tăng sĩ thực thụ)

Có thể nói “An Nam Phật học Hội” là một hội đã gây được tiếng vang lớn nhất trong phong trào Chấn hưng Phật giáo Với những cây bút sắc sảo như : Minh Tâm, Lê Đình Thám, Thiền sư Mật Khế Với những Thiền sư uyên thâm như: Tâm Tịch, Phước Huệ Tạp chí “Viên Âm” đã lôi cuốn được hàng triệu độc giả trong và ngoài giáo hội, ảnh hưởng của hội lớn tới mức tranh thủ được sự ủng hộ của cả Triều đình nhà Nguyễn (5-1935 đích thân Bảo Đại đến dự lễ Phật đản ở chùa Báo Quốc và nhận lời mời làm hội trưởng danh dự của hội)

thành lập tại chùa Quán Sứ (Hà Nội) Tuy hội Phật giáo Bắc kỳ thành lập muộn hơn so với Nam kỳ và Trung kỳ nhưng Hội Phật giáo Bắc kỳ phát triển rất nhanh chóng Bởi từ 5-1934 đến cuối năm 1935 ở khắp các địa phương miền Bắc đã thành lập được các chi hội

Năm 1935, hội xuất bản tạp chí “Đuốc Tuệ”, ngoài ra còn có các tạp chí “Bồ đề tân thanh” và “Tiếng chuông sớm” do một số cư sĩ, học giả nổi tiếng như: Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Văn Giáp, Lê Dư, Nguyễn Hữu Tiếng, Bùi Kỷ, Dương Bá Trạc, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Văn

Tố, Nguyễn Huy Xương, vũ Như Trác chung sức biên tập Hội mở trường Tăng tại chùa Quán Sứ, trường Ni tại chùa Bồ Đề (Hà Nội) Những người có nhiều đóng góp trong việc thành lập hội là các Hoà Thượng: Vĩnh Nghiêm, Thích Thanh Hạnh, Tuệ Tạng, Mật ứng, Tố Liên, Chí Hải Ngoài ra còn có các cư sĩ như: Nguyễn Năng Quốc, Bùi

Kỷ, Dương Bá Trạc, Trần Trọng Kim

Trang 34

Như vậy với việc thành lập các hội phật học ở cả 3 kỳ với các hoạt động như: ra tạp chí, sưu tầm kinh sách, mở trường đào táo tăng ni, thuyết giảng kinh pháp, đã tạo nên bước phát triển chưa từng có trong Phật giáo Việt Nam giai đoạn này

+ Nói về mặt tuyên truyền Phật giáo: Phật giáo Việt Nam thời gian

từ những năm 30 đến những năm 40 ta thấy có nhiều báo, tập chí, sách, tài liệu Phật giáo ra đời, đó là một hiện tượng lạ mà trước kia trong lịch

sử Phật giáo Việt Nam chưa từng có Sách viết, sách dịch ra chữ quốc ngữ chủ yếu là để phổ biến lịch sử Phật giáo nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng Những vấn đề quan trọng của Đạo Phật được đưa ra thảo luận, đó là những vấn đề triết lí cao siêu của nhà Phật, chưa kể là rất nhiều bài viết trên các báo như, báo Phật giáo tân thanh niên (Sài Gòn), báo Tiến hoá (Rạch Giá), báo Pháp âm (hội cư sĩ tịnh độ Chợ Lớn) + Về mặt đào tạo tăng đồ: “Hội Lưỡng Xuyên Phật học” đã thành lập một trường phật học rất lớn, trường Phật học của hội Phật giáo Bắc

kỳ cũng tập trung rất đông học trò Quy mô nhất là trường phật học Huế, trường gồm đủ 3 cấp (sơ, trung, cao), bên cạnh trường này là tạp chí

“Viên Âm” đó là những bước đầu tiên tạo đà cho sự xuất hiện Viện Đại học Phật giáo

+ Về mặt tập hợp lực lượng: Phật giáo Việt Nam lúc này cũng có nhiều thay đổi, phát triển Từ chỗ hầu như không có tổ chức gì cả, lúc này Phật giáo Việt Nam bắt đầu có tổ chức Tuy còn rời rạc ở cả 3 kỳ, nhưng trên lý thuyết thì phần đông đều tán thành thành lập “Tổng Hội Phật giáo” chung cho cả nước Việt Nam Nhưng đối với thực dân Pháp, chúng chưa muốn, Pháp mà chưa muốn thì cho dù ai có thiện chí mấy đi chăng nữa cũng không được làm công khai, hợp pháp Cho nên các hội Phật giáo ở cả 3 kỳ lúc này đều đứng riêng rẽ mà chỉ bí mật liên lạc với nhau trong hoạt động mà thôi Mối liên lạc giữa hội phật học Bắc kỳ (Hà

Trang 35

Nội) với Trung kỳ (Huế) có phần gần gũi, gắn bó với nhau hơn với Nam

kỳ Vì đứng đầu hai hội đều là hai vị đại thần của Triều Đình Trong Nam kỳ xảy ra cuộc xung đột gay gắt giữa “Lưỡng Xuyên phật học”(tức nhóm Duy Tâm) và “Nam kỳ nghiên cứu phật học”(tức nhóm Từ bi Âm) Nhưng dù thực tế có thế nào đi chăng nữa, thì ở mỗi kỳ giới phật tử cũng đã bắt đầu nhóm họp Kiến thức của hội viên về giáo lí, về lịch sử Phật giáo, về nhãn quan xã hội, về một số vấn đề chính trị - xã hội cũng đã được nâng cao rất nhiều Người phật tử lúc này đã có ý thức hơn

về một số vấn đề chính trị-xã hội, họ cũng trang bị cho mình một thế giới quan, nhận thức luận mới

Phong trào Chấn hưng phật giáo mặc dù thu hút được rất nhiều người trong xã hội tham gia, nhưng nó lại không diễn ra xuôi chiều Sự vận động của phong trào không phải lúc nào cũng đi theo một hướng, lúc phong trào còn đang trong giai đoạn chuẩn bị thì động lực thúc đẩy là ý trí và nguyện vọng của các phật tử thực thụ Song khi phong trào đã trở thành một làn sóng, một lực lượng xã hội thì nó lại bị tri phối bởi nhiều luồng tư tưởng, nhiều tổ chức xã hội cả trong và ngoài Phật giáo

Thứ nhất: Đối với thực dân Pháp và các thế lực phong kiến, phản

động tay sai Lực lượng này luôn có ý muốn điều khiển, quản lí, sự phát triển của phong trào phải theo hướng có lợi cho chúng Bằng chứng là: ở Nam kỳ, Thống đốc người Pháp cho Commy Trần Nguyên Trấn đứng ra thành lập hội nghiên cứu phật học và kiêm luôn chức phó hội trưởng Ông này tự đảm nhận việc điều hành và giám sát mọi hoạt động của hội Không những thế, viên Thống đốc này còn quy định: Những chủ trương lớn của Hội muốn thực hiện thì đều phải xin phép Thống đốc, Thống đốc

có đồng ý thì mới được thực hiện Trung kỳ, tuy tay sai của Pháp không

có chân trong ban lãnh đạo hội, nhưng mọi hoạt động của hội đều phải thông qua toà Khâm sứ Bắc kỳ, Hội trưởng là Tổng đốc về hưu Nguyên

Trang 36

Năng Quốc và đứng sau là Thống sứ Tô Lan Sơ và Tổng đốc đương nhiệm là Hoàng Trọng Phu Qua đó ta thấy thực dân Pháp luôn tỏ rõ ý đồ thâu tóm các hội, mọi hoạt động của các hội đều trong khuôn khổ, ý đồ của Pháp

Thứ hai : Vào các năm 1925-1926, Việt Nam thanh niên cách

mạng đồng chí hội ( một tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Đông Dương) ra đời Tiếp đến là sự ra đời của Đảng cộng sản Đông Dương đã thu hút chú ý, sự hưởng ứng của rất nhiều thanh niên và các tầng lớp nhân dân Đảng cộng sản Đông Dương ra đời đã lần lượt tổ chức các cao trào cách mạng như Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 làm chấn động dư luận trong nước, cao trào cách mạng 1936-1939 làm dạn nứt sự kìm kẹp của thực dân Pháp Cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật tiến tới tổng khởi nghĩa của Việt minh trong những năm 1941-1945 tạo nên khí thế sục sôi giành độc lập, giải phóng dân tộc.Tất cả những phong trào đó, đã thức tỉnh, hun đúc lòng yêu nước của nhân dân, chỉ cho nhân dân thấy con đường giải phóng dân tộc, giải phóng con người Trong đó, các Thiền sư, các phật tử cũng là một bộ phận nhân dân, xuất phát từ lòng yêu đạo đến yêu nước, tin tưởng vào Đảng, nghe theo lời kêu gọi của Đảng họ tự nguyện một lòng theo Đảng, họ đã có tác động đến những người lãnh đạo giáo hội Phật giáo, khiến những vị này ở những mức độ nhất định không thể không chấp nhận tư tưởng của họ, không thể không hoà nhập phong trào Phật giáo với phong trào yêu nước của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là chưa kể đến lí lẽ sắc bén của các cây bút lí luận là Đảng viên, hay có tinh thần hướng về Đảng, đã động viên, cổ vũ, khích

lệ về mặt tinh thần cho họ, khiến người dân và phật tử có phần sao nhãng với phong trào chấn hưng Phật giáo

Thứ ba : Động cơ thuần tín ngưỡng của một bộ phận khá đông các

nhà sư và phật tử Những người này với tư tưởng từ bi, cứu khổ, cứu

Trang 37

nạn, họ chỉ muốn hành động trong khuôn khổ Phật giáo cổ truyền, họ chỉ muốn cải cách những gì quá lạc hậu so với thời đại, còn hơn nữa thì họ không dám Họ mong sao tôn giáo chỉ là một lĩnh vực riêng biệt, không liên quan gì đến chính trị Họ né tránh chủ trương, ý đồ của Pháp, đồng thời giữ khoảng cách với xu hướng cách mạng Tư tưởng và hành động của họ đã lôi kéo được một số đông người trong giáo hội

Ba lực lượng trên cùng có tác động, ảnh hưởng đến phong trào, cùng ra sức tranh thủ sự ủng hộ của các phật tử Tình hình đó đã tác động không nhỏ đến phong trào Chấn hưng phật giáo, khiến phong trào vận động, phát triển theo những khuynh hướng khác nhau và tất nhiên không thể không dẫn tới sự phân hoá Thực tế cho thấy là một số tờ báo

và tạp chí thì kiên trì được khuynh hướng tiến bộ, cổ vũ, động viên, hướng phong trào Phật giáo hoà đồng với phong trào yêu nước như:

“Phật hoá tân thanh niên” (Sài Gòn), “Tiến hoá” (chùa Tam Bảo-Rạch Giá), “Pháp âm” (hội cư sĩ tịnh độ) Một số thì tỏ rõ thái độ thoả hiệp với

ý đồ của Pháp và tư tưởng Phật giáo cổ truyền Một số thì thái độ cầm chừng yêu đạo, ghét thực dân Pháp song không dám phản kháng, chống lại Một số người khác thì thì chỉ chú trọng đến mặt giáo lí, lễ nghi, thoát tục Bên cạnh đó thì có một số phật tử lại trở thành người cách mạng như phật tử Nguyễn An Ninh, Thiện Chiếu

Tình hình này gây nên giữa các tổ chức, các hội Phật giáo nảy sinh

sự hoài nghi, mâu thuẫn đưa tới chỗ giữa các hội, các tổ chức này phát sinh mâu thuẫn dẫn tới công kích lẫn nhau Thí dụ: sự công kích nhau giữa “ Lưỡng Xuyên phật học ”- tức nhóm Duy tâm với “Nam kỳ nghiên cứu phật học hội”- tức nhóm Từ bi Âm Bên cạnh đó còn có những hội Phật giáo cảm thấy bất lực mà tự giải tán như hội “Lưỡng Xuyên phật học” Có hội do sự phân hoá trong nội bộ, do bị đàn áp mà giải tán như

“Hội Phật giáo tương tế – Chùa Tam Bảo, Rạch Giá”

Trang 38

Sự phân tán giữa các hội Phật giáo càng sâu sắc khi tình hình đất nước tiến dần đến khả năng dành độc lập dân tộc Khi khả năng đó trở thành hiện thực thì các Thiền sư, các phật tử đến lúc phải xác định lập trường tư tưởng, thái độ chính trị rõ ràng, hoặc đi theo cách mạng, hoặc

ở lại vùng tạm chiếm Đây cũng là thời điểm phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam tạm lắng

Trang 39

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC TRONG PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GI ÁO

Phật giáo ra đời cách đây khoảng hơn 2000 năm, Tư tưởng Phật giáo thì muôn màu muôn vẻ, càng đi sâu nghiên cứu ta càng phát hiện ra nhiều tư tưởng uyên bác thâm sâu Trong khuôn khổ của đề tài, chương 2 chúng tôi tập trung phân tích, đánh giá những vấn đề triết học được đặt

ra trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam, vai trò của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

2.1 Một số vấn đề Triết học mà phong trào chấn hưng phật giáo đặt ra

2.1.1.Vấn đề Thượng đế

Thượng đế là một khái niệm của Thiên Chúa giáo, Thượng Đế là một hình tượng hão huyền, một ảo ảnh về đấng toàn năng, một đấng siêu nhiên, có khả năng siêu phàm Nhưng hầu hết các Tôn giáo đều nhìn nhận Thượng Đế có tính cách như một con người hoàn hảo, đấng sáng tạo ra thế giới, trị vì, cai quản thế giới theo ý nguyện riêng của mình Trong lịch sử nhân loại, khi khoa học kỹ thuật phát triển, nhận thức của con người có sự phát triển nhảy vọt về chất, được đánh dấu bởi hàng loạt các phát minh khoa học (đặc biệt là khoa học tự nhiên), làm cho vị trí, vai trò của Thượng Đế trong đời sống tinh thần của nhân dân bị hạ thấp Phật giáo muốn chứng tỏ là một Tôn giáo hiện đại, Phật giáo càng muốn chứng tỏ cho các Tôn giáo khác thấy rằng giáo lí của mình là hiện đại, là phù hợp với khoa học Vì vậy vấn đề đạo phật vô thần hay hữu thần, đạo phật thừa nhận hay phủ nhận sự tồn tại của Thượng Đế, có hay không có Thượng Đế sáng tạo ra vũ trụ, muôn vật và con mgười được người đương thời đem ra thảo luận sôi nổi.Vấn đề này ở Việt Nam trước những

Trang 40

năm 20 của thế kỷ XX chưa được nói tới Từ những năm 1930 – 1940 vấn đề này nổi lên là vấn đề thời sự, được người đương thồi bàn luận sôi nổi Đây là thời kỳ lịch sử đặc biệt Năm 1930 Đảng cộng sản Đông Dương ra đời, tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác – LêNin được truyền bá vào Việt Nam, đã lan rộng, ăn sâu trong tư tưởng của mọi tầng lớp nhân dân Phong trào cách mạng giải phong dân tộc phát triển rầm

rộ Trên cơ sở của những tư tưởng cách mạng, tiến bộ ấy đã khiến cho hệ

tư tưởng, đạo đức cũ phải được đem ra đánh giá lại.Trong bối cảnh đó, một mặt thì những người tiến bộ muốn tìm trong kho vũ khí tư tưởng của mình cái gì còn dùng được, cái gì đã lỗi thời, lạc hậu cần phải bỏ đi Mặt khác các thế lực phản động, thực dân, phong kiến đang ra sứclợi dụng những tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, cổ hủ làm vũ khí hiệu để ngăn cản sự tiến bộ trong trong tư tưởng người Việt nam Trong phong trào chấn hưng phật giáo, một trong nhiều vấn đề được đưa ra tranh luận đó là vấn đề: Đạo phật vô thần hay hữu thần? Có hay không có thượng đế sang tạo

vũ trụ và muôn loài? Vấn đề này thời kỳ trước chưa bàn tới, mà họ chỉ đi tìm lời giải thích xem: Đức phật ở đâu ? với câu hỏi này trước đây đã có những lời giải thích khác nhau của các tông phái :

- Thiền Tông cho rằng : Phật tại tâm

- Tịnh độ Tông, Mật Tông cho rằng : Phật ở Tây Phương, cực lạc, chốn Niết Bàn

Theo tinh thần thảo luận trong phong trào, thì có thể xem quan điểm cho rằng “Phật tại tâm” là quan điểm không thừa nhận phật Thích Ca là một Ông Thần Còn quan điểm của Tịnh độ Tông, Mật Tông là quan điểm thừa nhận phật Thích Ca là một Ông thần, có khả năng siêu phàm,

có khả năng chi phối vận mệnh con người

Những quan điểm, cách học hỏi và suy luận trên vào thời điểm lịch

sử này không còn phù hợp nữa Vấn đề là ở chỗ, phải nâng nhận thức

Ngày đăng: 07/02/2021, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w