1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Lịch sử triết học, Nhân sinh quan, Triết học, Triết học phương Đông

84 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 695,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước đầu đi sâu tìm hiểu nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền để góp phần xác định đặc điểm tư tưởng Việt Nam truyền thống, và thấy được phần nào sự biến chuyển của trình độ tư duy lý luận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ QUỲNH

Nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn: GS.TS LÊ VĂN QUÁN

HÀ NỘI - 2003

Trang 2

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, rất cần phải tiếp nối, phát huy những giá trị truyền thống nhằm xây dựng chế độ xã hội mới, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trước yêu cầu thực tế như vậy, việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung, tìm hiểu tư tưởng của một nhân vật cụ thể trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể nói riêng như Nguyễn Thượng Hiền là một yêu cầu cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn Hơn nữa, nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp Nguyễn Thượng Hiền - một nhà nho yêu nước có vị trí đặc biệt - dấu nối giữa hai thế hệ nhà nho, giữa hai hệ

tư tưởng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, không thể xem nhẹ vấn đề nhân sinh quan Bởi nhân sinh quan chi phối mọi hoạt động của con người trong cuộc sống, nhân sinh quan đặt ra và giải quyết những câu hỏi như: sống để làm gì ? tại sao mà sống ? sống như thế nào cho xứng đáng là con người ? Thật sự vấn đề

Trang 3

nhân sinh quan đã và đang đặt ra đối với con người ở mọi thời đại Chính vì

những lý do trên, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi lựa chọn đề tài: "Nhân

sinh quan Nguyễn Thượng Hiền " Bước đầu đi sâu tìm hiểu nhân sinh quan

Nguyễn Thượng Hiền để góp phần xác định đặc điểm tư tưởng Việt Nam truyền thống, và thấy được phần nào sự biến chuyển của trình độ tư duy lý luận Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ; đồng thời rút ra những bài học lịch sử từ chính cuộc đời Nguyễn Thượng Hiền, cũng như biết phát huy những giá trị nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền trong quá trình đổi mới, hội nhập cùng cộng đồng quốc tế để xây dựng và phát triển đất nước, thiết nghĩ cũng là một việc vô cùng cần thiết

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHÂN SINH QUAN NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

Từ trước đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về Nguyễn Thượng Hiền Trước hết phải kể đến cuốn “Thơ văn Nguyễn Thượng Hiền”

do nhóm Lê Thước- Vũ Đình Liên dịch và biên soạn, nhà xuất bản Văn hoá

ấn hành vào năm 1959 Về lĩnh vực văn học, tên tuổi cũng như tác phẩm của ông được đưa vào các tổng tập văn học, tuyển tập văn học do các tác giả: Đặng Thai Mai, Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Đình Chú, Lê Trí Viễn biên soạn

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí văn học của các tác giả: Trần Thị Băng Thanh, Trần Lê Sáng

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập tới tư tưởng yêu nước, tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Thượng Hiền dưới góc độ nghiên cứu văn học Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện

hệ thống nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

Xuất phát từ tình hình đó, trong khuôn khổ luận văn này, với khả năng, điều kiện hạn chế của bản thân, dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học, các chuyên gia, chúng tôi xin đi sâu nghiên cứu nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

Trang 4

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Phân tích, đánh giá nguồn gốc, nội dung nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền, qua đó nêu lên những đóng góp và những hạn chế của ông cho lịch sử tư tưởng Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

3.2.1 Phân tích, lý giải nguồn gốc nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền 3.2.2 Hệ thống hoá và phân tích nội dung nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền( qua thơ văn và qua quá trình hoạt động cách mạng của ông )

3.2.3 Rút ra những nét riêng biệt, đặc sắc trong nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

3.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.3.1 Đối tượng: nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

3.3.2 Phạm vi nghiên cứu: Những yếu tố tư tưởng tạo nên nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền được thể hiện qua thơ văn và cuộc đời hoạt động cách mạng

Cơ sở tài liệu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở tài liệu chủ yếu từ cuốn “Thơ văn Nguyễn Thượmg Hiền”, do nhà xuất bản Văn hoá ấn hành năm 1959 và một

số tài liệu khác nghiên cứu về Nguyễn Thượng Hiền đã được công bố

Trang 5

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Cùng với các nguyên tắc phương pháp luận nghiên cứu lịch sử triết học, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật duy vật lịch sử: logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá… nhằm tái hiện một cách chân thực nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

5.1 Trình bày có hệ thống chuyên khảo về quá trình hình thành, biến chuyển và phát triển của nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

5.2 Xác định những nét riêng biệt đặc sắc và những giá trị, cũng như những hạn chế của nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần tìm hiểu, kế thừa, hệ thống hoá và làm sâu sắc hơn nhận thức về nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể được sử dụng trong nghiên cứu và giảng dạy môn lịch

sử triết học, lịch sử tư tưởng Việt Nam,…

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để các tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến đề tài

7 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm hai chương với bảy tiết

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH NHÂN SINH QUAN NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

Quan niệm về nhân sinh quan xưa nay có nhiều ý kiến khác nhau nhưng theo chúng tôi, nhân sinh quan là hệ thống những quan niệm chung nhất về cuộc đời, ý nghĩa mục đích cuộc sống của con người Nhân sinh quan đề ra và giải đáp những vấn đề như: con người sinh ra để làm gì? lẽ sống của con người là gì (sống để làm gì? sống vì cái gì? tại sao mà sống?) sống như thế nào cho xứng đáng là con người?…Tóm lại, nhân sinh quan nói lên quan niệm của người ta về bản chất, mục đích của cuộc sống, về thái độ và hành vi của người ta trong cuộc sống

Nhân sinh quan thuộc về ý thức, tư tưởng, cũng như bất cứ ý thức tư tưởng nào, mỗi nhân sinh quan đều có điều kiện, cơ sở nhất định Do đó, muốn giải thích nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền, trước hết cần phải tìm hiểu các điều kiện, tiền đề để hình thành nhân sinh quan của ông Đó là điều kiện kinh tế - xã hội, tiền đề chính trị tư tưởng, hoàn cảnh gia đình và bản thân con người Nguyễn Thượng Hiền

1.1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI THỜI NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

a Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ảnh hưởng đến Việt Nam

Khoảnh khắc giao thời giữa hai thế kỷ, trên thế giới nói chung và vùng Đông Á nói riêng đã diễn ra nhiều sự kiện trọng đại, ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam, đó là: cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc, cuộc duy tân của Nhật Bản, cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất

Giai đoạn này, các nước tư bản lớn đã phát triển lên hình thức mới, đó

là chủ nghĩa đế quốc và tiến hành chiến tranh xâm lược thôn tính thuộc địa

Từ cuối thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây đổ xô sang Viễn Đông tìm kiếm thị trường Đối tượng chính của chúng là Trung Quốc, một nước đông

Trang 7

dân, đất rộng, nhiều tài nguyên nhất châu Á Bước sang đầu thế kỷ XX, Trung Quốc từ một nước độc lập, trở thành một nước nửa thuộc địa Từ khi đế quốc chủ nghĩa xâm nhập Trung Quốc, nền kinh tế và xã hội Trung Quốc đã có những chuyển biến căn bản Sau năm 1894, với điều ước Mã Quan, Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục thực hiện biến pháp tạo nên chính biến Mậu Tuất (1898) Đồng thời, họ xuất bản nhiều sách báo tuyên truyền cho tư tưởng duy tân Đó là "Tân văn", "Tân thư"- sách dịch các tác phẩm của các nhà tư tưởng châu Âu như Voltaire, Rousseau, Spencer, Darwin ; sách giới thiệu phong trào duy tân ở Nhật Bản, sách truyền bá tri thức khoa học Tân thư cũng bao gồm cả các tác phẩm của các nhà cải cách ở Trung Quốc từ Nguỵ Nguyên đến Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng Phong trào duy tân tuy thất bại nhưng đã góp phần thức tỉnh tinh thần yêu nước, đề cao tư tưởng độc lập, mở đường cho tư tưởng dân chủ tư sản phát triển ở xã hội Trung Quốc

Trung Quốc vốn là nước có quan hệ chặt chẽ, gần gũi với Việt Nam nên các chuyển biến mạnh mẽ trong triều đình nhà Thanh, các phong trào duy tân với các tư tưởng cải cách đổi mới đều ảnh hưởng gần như trực tiếp, dội vào Việt Nam Thêm nữa, hoàn cảnh hai nước có những nét tương đồng cũng là điều kiện cơ bản thuận lợi cho sự du nhập, tiếp thu các tư tưởng mới của Trung Quốc vào Việt Nam Qua Tân văn, Tân thư trào lưu tư tưởng mới (chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản và văn minh phương Tây) được giới thiệu với các sỹ phu Việt Nam, gây nên những phân hoá, biến đổi về tư tưởng

Sau này trên báo “Thần Chung” (Sài gòn) ra ngày 25/1/1929 có đoạn “tập Ẩm băng (của Lương Khải Siêu tiên sinh) với sỹ phu Việt Nam lúc nọ chẳng khác chi thang thuốc hay với người mang bệnh “trầm kha”, còn “Trung Quốc hồn”

là một tập sách vài mươi trang mà thay đổi lòng người như chớp, một tập sách nói chuyện nước Tàu mà làm cho 20 triệu dân Nam phấn khởi” [ 15, tr 24 –

25] Cũng trên báo “Thần chung” ngày 8/1/1929 có đoạn viết : “Những Thanh

Trang 8

đánh thức đám sỹ phu ta, gần như trực tiếp, vì trong đó nói chuyện nước Tàu

mà có nhiều chỗ trùng bệnh với người mình lắm” [15, tr.25] Năm 1911, Trung Quốc làm cách mạng Tân Hợi thành công Ngay sau đó Trung Quốc trở thành đất dụng võ mới của Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền và các chiến

sỹ Đông du bị Nhật Bản trục xuất

Sự thắng lợi của công cuộc Minh trị duy tân tại Nhật Bản cũng ảnh hưởng rất lớn tới Việt Nam Nhật Bản trước năm 1868 là nước phong kiến Đông phương bế quan toả cảng như Việt Nam trước năm 1858 Nhờ có Duy tân, nhờ có Âu hoá mà phát triển lên tư bản chủ nghĩa, lại vẫn giữ được độc lập, sớm cường thịnh Cả thế giới, đặc biệt là Đông Á và Đông Nam Á thừa nhận: nhờ có duy tân, nước Nhật mới đạt được thành tựu rực rỡ như vậy Nhật Bản tiến lên thành một cường quốc, đánh thắng nước Nga vào năm 1905 Sự kiện đó đã gây tiếng vang lớn trên thế giới, dội vào trí óc của những người Việt Nam yêu nước cũng như của nhiều người yêu nước thuộc các dân tộc khác ở Á Đông bị thực dân đô hộ, và đã thực sự kích thích phương Đông thức tỉnh “Nhật Bản từ nay được coi như cứu tinh của các dân tộc da vàng Một

xu hướng thân Nhật phát triển ở Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ xu hướng này ít nhiều có tác động đến tinh thần chống đế quốc

ở các nước thuộc địa và bán thuộc địa ở châu Á” [ 36, tr.137] Nhật Bản đã thực sự là tấm gương có sức hút mạnh đối với các sĩ phu yêu nước Việt Nam lúc đó Do vậy, phong trào sang Nhật cầu học, phong trào Đông du rất sôi nổi kéo dài từ 1904 đến 1908 đã có một địa vị trọng yếu trong lịch sử cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX

Tiếp đó là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) bùng

nổ, tạo ra một thời cơ mới để cho các tổ chức yêu nước Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài hô hào nhân dân đứng dậy giành độc lập bằng vũ trang

Tất cả những sự kiện trên đã tác động trực tiếp, dữ dội đến Việt Nam và qua đó tới quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Thượng Hiền Đó cũng

Trang 9

là một trong những nguồn gốc, căn cứ xã hội của quá trình hình hành và phát triển nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

b Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam dần dần đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp trước sự bất lực của triều đình phong kiến nhà Nguyễn Với âm mưu lâu dài và liên tục, thực dân Pháp lăm le xâm lược nước ta từ lâu, bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XVII, và ngày càng được xúc tiến một cách mạnh mẽ, đặc biệt từ giữa thế kỷ XIX Năm 1858, thực dân Pháp trắng trợn

nổ súng xâm lược nước ta, chúng dự tính sẽ nhanh chóng đè bẹp Việt Nam, nhưng chúng đã vấp phải sức phản kháng mãnh liệt của nhân dân ta Đến năm

1896, với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng, phong trào chống Pháp dưới lá cờ Cần Vương rầm rộ hàng chục năm ở hầu khắp các tỉnh

đã chấm dứt Với các hiệp ước 1862, 1874, 1883-1884, triều đình nhà Nguyễn

đã trở thành bù nhìn, Việt Nam bị thực dân Pháp thôn tính hoàn toàn và trở thành một nước thuộc địa Vua chúa, quan lại Nam triều chỉ là bọn tay sai của thực dân Pháp, chủ quyền thực sự nằm trong tay chúng Lúc này chế độ chính trị ở Việt Nam là chế độ thực dân nửa phong kiến

Với kinh nghiệm lọc lõi, thực dân Pháp đã thực thi những chính sách thâm độc trên đất nước Việt Nam, nhằm biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ hàng hoá, cung cấp nguồn lao động rẻ mạt, vơ vét tài nguyên thu lợi nhuận tối đa cho tư bản Pháp Mặt khác, để dễ bề cai trị chúng vẫn duy trì tình trạng lạc hậu về mọi mặt ở Việt Nam Đặc biệt, chúng tận dụng triệt để triều đình phong kiến bất lực, thông qua bộ máy của nó để cấu kết với giai cấp phong kiến phản động điều khiển bộ máy thống trị tước đoạt mọi quyền lợi của nhân dân ta Thực dân Pháp còn tăng cường bộ máy bạo lực sẵn sàng rà soát đàn áp dã man tất cả những biểu hiện chống Pháp của nhân dân Việt Nam Chúng lại ra sức thi hành chính sách “chia để trị”, đặt ra chế độ chính trị, ban hành luật pháp khác nhau giữa ba kỳ Bắc, Trung, Nam ở nước ta

Trang 10

Nhằm thực hiện mục đích nô dịch về chính trị và bóc lột về kinh tế, đồng thời với việc duy trì các quan hệ kinh tế cũ, chúng đã tìm mọi cách để đem một cơ cấu kinh tế đế quốc bao trùm lên cơ cấu kinh tế cũ Chính sách kinh tế thực dân của chúng có thể được tóm tắt như sau: bán hàng hoá, khai thác nguyên liệu và cho vay nặng lãi Công nghiệp chỉ được phát triển trong giới hạn không hại đến nền công nghiệp chính quốc Thực dân Pháp cũng mở mang thêm một số hoạt động mới trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu,

tự cấp, tự túc, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ bé, phân tán của Việt Nam Do đó, giao thông được mở mang, một số ngành nghề mới xuất hiện, tình trạng “bế quan toả cảng” trước đây bị phá vỡ, Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với thế giới, trước hết là Đông Á và châu Âu Thế nhưng thực dân Pháp lại chăng một hàng rào thuế quan làm cho Việt Nam phụ thuộc vào Pháp, thành cái đuôi của tư bản Pháp Với chính sách kinh tế thực dân như vậy, kinh

tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chèn ép bởi kinh tế tư bản Pháp, bị hút vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa (nhưng là thứ tư bản chủ nghĩa sân sau), đích thực là một thị trường độc chiếm, là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ mạt, là nơi xuất các nguồn vốn thừa của tư bản Pháp

Thâm độc hơn nữa, ở thượng tầng kiến trúc xã hội ta, thực dân Pháp chủ trương duy trì chế độ vua quan với nền Nho học bảo thủ để mê hoặc dân trí Việt Nam Chúng thực hiện một nền giáo dục thực dân nửa phong kiến tại Việt Nam Một mặt chúng lợi dụng nền Nho học cũ với chế độ khoa cử lỗi thời, nhưng lại tìm mọi cách loại bỏ những ảnh hưởng to lớn của các trí thức văn thân có tinh thần yêu nước, có sức phản kháng chống lại sức mạnh tàn bạo của chủ nghĩa thực dân chuyên chế, loại bỏ ảnh hưởng của văn hoá cổ truyền tốt đẹp của dân tộc ta Mặt khác thực dân Pháp từng bước thiết lập nền giáo dục thực dân, mở nền giáo dục Tây học với một số trường tiểu học ở những nơi tối cần thiết cho chúng Sau khi bắt tay vào kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914), toàn quyền Đông Dương đã tiến hành kế hoạch “cải cách giáo dục” vào năm 1906 Cũng trong năm đó, triều đình Huế

Trang 11

đã ra chỉ dụ thừa nhận nền giáo dục Pháp – Việt của thực dân Pháp Đây là một nền giáo dục lai căng, què quặt, nô dịch nhằm mục tiêu: tuyên truyền cho chiêu bài “khai hoá văn minh”, truyền bá tiếng Pháp, giành ảnh hưởng với các trí thức văn thân, đào tạo đội ngũ thừa hành các nhiệm vụ và khai thác thuộc địa Thực chất cuộc “cải cách giáo dục” này chỉ nhằm tuyên truyền cho chính sách xâm lược thực dân, đào tạo tay sai Như vậy, mục đích của nền giáo dục thuộc địa chỉ là để duy trì vĩnh viễn ách thống trị của Pháp, chứ không phải để “khai hoá văn minh” cho dân tộc Việt Nam như chúng vẫn thường bô bô tuyên bố Giáo sư Trần Văn Giàu đã khẳng định: “ chính sách thực dân không bao giờ nhằm mục đích khai hoá mà bao giờ cũng là bóc lột, ngu dân, đầu độc và đàn áp” [16, tr 100] Chính vì thế mà trong báo cáo của viên Thống sứ Bắc Kỳ gửi toàn quyền Đông Dương ngày 1/3/1899 có đoạn:

“Thật không thể nào mà lại cho người An Nam được học lịch sử và đọc sách của chúng ta mà lại không gây cho họ lòng yêu nước, yêu tự do Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột”[ 27 tr 164]

Các chủ trương chính sách “văn hoá - giáo dục” đó của thực dân Pháp

từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vốn là nhằm “ bần cùng hoá” và “ngu dân hoá” nhân dân ta để dễ bề thống trị, để đảm bảo cho việc thực hiện mục đích chính của đế quốc Pháp Công cuộc "cải cách" này bị lực lượng nho sỹ yêu nước tẩy chay, phản đối, bị nhân dân Việt nam phản kháng quyết liệt Cuộc

“cải cách” không mấy kết quả đã chứng tỏ rằng mọi mưu toan can thiệp vào nền giáo dục truyền thống của dân tộc Việt Nam không phải dễ dàng Không thực hiện được ý đồ lợi dụng nền giáo dục phong kiến cũ để phục vụ cho công cuộc thực dân hoá, cuối cùng thực dân Pháp đã ra lệnh bãi bỏ các chế độ khoa

cử, bỏ thi Hương ở Nam Định(1916), Thanh Hoá(1918), và bỏ hẳn thi Hội ở Huế(1919) Do vậy, đại đa số nhân dân nghèo đói bị vây bủa trong vòng u tối, trì trệ, thất học

Trang 12

Trước thực trạng ấy, tất yếu đặt ra yêu cầu: phải thức tỉnh nhân dân

“khai dân trí”, “chấn dân khí” Điều đó làm bức xúc tầng lớp sỹ phu yêu nước đương thời Họ cho rằng, sự học quyết định dân trí, hễ học cổ hủ thì dân trí ngu muội, hễ học văn minh thì dân trí mở mang Vậy nên theo họ, việc chính phải làm để khai dân trí là thay đổi sự học Cương lĩnh của sự học mới được các sỹ phu tiến bộ trình bày trong “Văn minh tân học sách” cả một chương trình hành động

Từ tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá giáo dục cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho thấy, bối cảnh lịch sử - xã hội thời đại Nguyễn Thượng Hiền

là xã hội mang tính chất giao thời, phức tạp đầy biến động Sự thống trị của thực dân Pháp đã gây nên sự phân hoá giai cấp sâu sắc trong xã hội Việt Nam, ngoài các giai cấp cơ bản cũ của xã hội phong kiến là giai cấp địa chủ và nông dân, đã bắt đầu sự hình thành những giai cấp và tầng lớp mới như vô sản, tư sản, tiểu tư sản thành thị Nhưng những giai cấp, tầng lớp này đều không có hoặc chưa đủ khả năng lãnh đạo cách mạng

Đứng trước vận mệnh đất nước trong buổi giao thời giữa hai thế kỷ như vậy, một bộ phận có tinh thần yêu nước trong tầng lớp trí thức tiến bộ xuất thân từ Nho học, đã dám nhìn thẳng vào sự thật Họ thấy được sự hạn chế, bất lực của hệ tư tưởng phong kiến Nhờ sớm tiếp xúc với Tân thư, Tân văn, họ

đã hướng tới những giá trị văn minh mới Tầng lớp Nho sỹ tiến bộ này đã biết chọn lọc, tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nhưng cũng đồng thời tiếp thu những kiến thức mới góp phần vào mục đích canh tân đất nước Chính họ đã được lịch sử giao cho một số nhiệm vụ trong chức năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (nuôi dưỡng tinh thần yêu nước của nhân dân, tố cáo tội

ác của giặc, tiếp thu tư tưởng mới đưa ra đường lối cứu nước ) Bằng công tác tuyên truyền, giáo dục, bằng những hoạt động cụ thể, họ ra sức kêu gọi duy trì lòng yêu nước, giữ gìn phát huy truyền thống dân tộc, phổ biến những kiến thức mới mẻ đến cho nhân dân Vào thời điểm đầu thế kỷ XX, bộ phận

Trang 13

này của tầng lớp trí thức Nho học là những người có khả năng nhất trong việc vận động phong trào yêu nước và học hỏi tiếp thu những tư tưởng mới Vậy nên,

tự giác hay không thì trên thực tế họ đã đảm nhận sứ mệnh mà lịch sử đã giao cho

họ trong buổi giao thời của xã hội Tuy có những hạn chế về lịch sử, nhưng họ thực sự là những cầu nối cho sự chuyển đổi, tìm hướng đi lên của dân tộc

Như vậy, điều kiện kinh tế - xã hội - văn hoá của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền Nguyễn Thượng Hiền đứng trên lập trường tư tưởng của bộ phận tiên tiến nhất (bộ phận đại biểu cho các lực lượng yêu nước và cách mạng) của tầng lớp sỹ phu yêu nước tiến bộ Việt Nam lúc bấy giờ Do vậy, hệ thống quan niệm nhân sinh của Nguyễn Thượng Hiền cũng phản ánh tinh thần yêu nước, cách mạng, truyền thống tốt đẹp của dân tộc

1.2 CÁC TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHÂN SINH QUAN NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

a Chủ nghĩa yêu nước và đạo làm người trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước, chống sự xâm lược, bành trướng của phong kiến phương Bắc và các đế quốc khác, đảm bảo

sự sống còn của dân tộc Do vậy, tư tưởng yêu nước và cao hơn là chủ nghĩa yêu nước, sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử tư tưởng Việt Nam Theo giáo sư Trần Văn Giàu: Chủ nghĩa yêu nước là đặc trưng cơ bản nhất của lịch sử tư tưởng Việt Nam “ Truyền thống lớn của ông cha ta là yêu nước, là chủ nghĩa yêu nước”[14, tr 8]; “ Chủ nghĩa yêu nước có sẵn trong nhân dân ta, xuất phát từ lịch sử dân tộc suốt nhiều ngàn năm” [14, tr 519] Nhìn chung, toàn bộ quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhằm phát hiện sợi chỉ đỏ - chủ nghĩa yêu nước - xuyên qua tất cả các giai đoạn từ cổ đại đến hiện đại Và theo giáo sư, chủ nghĩa yêu nước cũng là tiêu chí để đánh giá tất cả “ Ở Việt Nam, truyền thống lịch sử của dân tộc, ý thức phổ biến của nhân dân là đánh

Trang 14

giá mọi việc lớn nhỏ từ nhân vật đến biến cố, từ tác phẩm đến ý thức tư tưởng, đều chiếu theo tiêu chuẩn quang minh chính đại của chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước là hòn đá thử vàng chính của tất cả”[14, tr.543]

Ý thức về dân tộc Việt Nam và độc lập dân tộc được hình thành trong trường kỳ lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh chống lại sự xâm lược của nhiều

kẻ thù hùng mạnh, đã tạo nên một chủ nghĩa yêu nước độc đáo Nó là một hệ thống những lý luận, những quan điểm về đánh giặc giữ nước, về phát triển đất nước, là những nhận thức về con đường và biện pháp đấu tranh giải phóng dân tộc, về động lực và khả năng giành lại lãnh thổ và xây dựng đất nước…

Theo giáo sư Nguyễn Tài Thư: “ Chủ nghĩa yêu nước đó đã phát triển thành các quan niệm về nghĩa vụ đối với đồng bào, về nguồn gốc sức mạnh,

về các yếu tố cấu thành dân tộc, về phương pháp luận đánh giặc cứu nước” [88, tr.21]

Sinh trưởng trong hoàn cảnh đặc biệt, ở vào giai đoạn đầy biến động trong lịch sử cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, Nguyễn Thượng Hiền đã sớm cảm nhận, kế thừa và phát huy chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc Ngay từ nhỏ, Nguyễn Thượng Hiền đã được tiếp nhận truyền thống yêu nước quật cường của dân tộc Việt Nam Sau này ông đã từng “nếm mật, nằm gai”,

hi sinh tất cả cho cuộc đời hoạt động cách mạng, điều đó đã thể hiện lòng yêu nước thiết tha, nhiệt thành của Nguyễn Thượng Hiền Chủ nghĩa yêu nước của Nguyễn Thượng Hiền là nét chủ đạo trong tư tưởng, tình cảm, chi phối mọi hoạt động của ông Và đó cũng chính là xuất phát điểm của tư tưởng vì dân, vì nước của Nguyễn Thượng Hiền Lòng yêu nước, thương dân của Nguyễn Thượng Hiền hầu như xuyên suốt tất cả những tác phẩm thơ văn của ông, cũng như trong quá trình hoạt động cách mạng của ông

Một trong những vấn đề được các nhà tư tưởng Việt Nam trong lịch sử đặc biệt quan tâm là “đạo” làm người Bởi nó là cơ sở tư tưởng để hoạt động chính trị, để đối nhân xử thế Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, để tạo ra một

Trang 15

sự cân bằng và thoả mãn mọi mặt yêu cầu của đời sống tinh thần của người Việt Nam, đã có sự ảnh hưởng của ba đạo truyền thống Nho – Phật – Đạo Ba đạo ấy đã từng tồn tại cùng nhau, ảnh hưởng lẫn nhau trong suốt thời kỳ phong kiến và đã tạo ra tính chất hỗn hợp trong văn hoá, phong tục, tập quán

và nghi lễ Việt Nam Do vậy, quan niệm sống của người Việt Nam mang nội dung Tam giáo Người Việt Nam rất quan tâm đến “ đạo làm người” (sống như thế nào cho phải đạo, tức là muốn nói đến ý nghĩa, mục đích của cuộc sống) Nhìn chung, các nhà tư tưởng Việt Nam thời phong kiến đều lấy đạo Nho làm lẽ sống, song trong thực tế nhiều khi họ phải tìm tới đạo Phật, đạo Lão để giải quyết những vấn đề khó khăn mà đạo Nho không thể đáp ứng nổi trong cuộc sống

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, tuy hệ ý thức phong kiến trong các hình thái Nho, Phật, Đạo đã thất bại và bế tắc nhưng “đạo” vẫn được xem như quốc hồn, quốc tuý, được biến thành biểu tượng của truyền thống yêu nước, thương nòi Yêu đạo được xem là yêu nước, vì đạo mà chiến đấu, hy sinh Đã có biết bao tấm gương tử vì đạo, hy sinh để bảo vệ độc lập cho đất nước Nhưng vì “đạo” là thế giới quan cũ, không giúp hiểu được xu thế của thời đại, không hiểu rõ được kẻ thù của dân tộc, không chỉ ra được con đường hữu hiệu để cứu nước, vì vậy lúc bấy giờ yêu “ đạo” bao nhiêu thì càng ngậm ngùi bấy nhiêu Vấn đề đặt ra cho thời kỳ này là phải có một “đạo” khác ngang tầm với thời đại Để đáp ứng nhu cầu đó, lập tức xuất hiện một lớp sỹ phu tiến bộ, bắt đầu đi tìm những tiếng nói mới, những tư tưởng mới, những cách thức khác nhau để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh giành lại độc lập dân tộc, phát triển đất nước Đó là những nhà nho yêu nước cùng thời với Nguyễn Thượng Hiền như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Nguyễn Thượng Hiền cũng chịu ảnh hưởng lớn từ họ Quan niệm về đạo làm người của thời kỳ Nguyễn Thượng Hiền đang sống chính là phải thực hiện nhiệm vụ đấu tranh giành lại độc lập

Trang 16

b Những giá trị nhân sinh trong triết học phương Đông

Nhân sinh quan của người Việt nam nói chung và Nguyễn Thượng Hiền nói riêng đều chịu ảnh hưởng từ những giá trị nhân sinh trong triết học phương Đông, cụ thể trong phạm vi Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo Nền văn hoá Trung Hoa trong quá trình phát triển lâu dài đã lan truyền rộng rãi sang các nước phương Đông như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam… Nó không những sản sinh ra nhiều học phái bản địa khác nhau mà còn không ngừng tiếp thu những ảnh hưởng của văn hoá ngoại lai Những học phái, những nền văn hoá đó qua xung đột, đấu tranh đã hấp thu lẫn nhau, hoà nhập vào nhau Trong

đó một số phát triển lớn mạnh, phong phú lên, một số khác bị cải tạo, bị đồng hoá, mất đi Đại để từ thời Đông Hán đến Tuỳ Đường, nền văn hoá Trung Hoa dần dần hình thành thế cơ bản lấy Nho gia là chủ thể Ba nhà Nho, Đạo, Phật đều dựng ngọn cờ riêng, đồng thời bổ sung cho nhau, hợp lực với nhau trong đời sống xã hội Tình hình đó đã được duy trì cho đến cuối thế kỷ XIX, thậm chí đầu thế kỷ XX, suốt khoảng thời gian dài trên dưới 1600 năm Vì thế, có thể nói văn hoá truyền thống Trung Hoa là nền văn hoá đứng trên thế chân vạc, ba chân Nho, Đạo Phật hoà nhịp, bổ sung cho nhau Nhưng vì trong một thời gian rất dài được các triều đại phong kiến tôn vinh là chính thống, cho nên một số học giả thường chỉ nhấn mạnh Nho giáo là đại biểu cho văn hoá Trung Hoa mà chưa thấy hết tác dụng to lớn của Phật giáo và Đạo giáo Quan điểm đó quá thiên về bình diện chế độ chính trị, luân lý tông pháp trong văn hoá truyền thống Trung Hoa và đưa các hiện tượng văn hoá thuộc các bình diện khác vào trong cái khung chính trị, luân lý để quan sát và lý giải Như thế

là đã miêu tả nền văn hoá phong phú đa dạng, tràn đầy sinh khí của Trung Hoa thành một nền văn hoá khô khan, đơn điệu, thiếu sinh lực Cách làm đó

rõ ràng là phiến diện Vì vậy, bất cứ đứng trên góc độ nào mà quan sát, nếu gạt bỏ Phật giáo và Đạo giáo ra ngoài thì cũng không thể hiểu được tính chất

đa dạng, nội dung phong phú của nền văn hoá Trung Hoa, càng không nắm chắc được tinh thần chân chính của nền văn hoá đó

Trang 17

Cần phải nói thêm rằng, nhân sinh quan Nho, Đạo, Phật ở đây không phải là nhân sinh quan với ý nghĩa hình thái nguyên thuỷ của nó, mà muốn nói đến nhân sinh quan Nho, Đạo, Phật sau khi đã phát triển, không ngừng tiếp thu, dung nhập tư tưởng, tinh thần của các học phái khác nhau và mang đặc trưng rõ rệt của thời đại Vì thế, muốn nắm bắt được Nho, Đạo, Phật ảnh hưởng đến nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền, chúng tôi sẽ phân tích kỹ điều này ở phần: “ 2.1 Quá trình biến chuyển nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền” Nho, Đạo, Phật ảnh hưởng đến tư tưởng các nhà nho Việt Nam khá sâu sắc và đậm nét Hơn nữa, ở Việt Nam ba học phái này có quan hệ chằng chịt, xung đột, đấu tranh và điều hoà, dung nạp lẫn nhau tuỳ theo từng giai đoạn Chính vì những lẽ ấy, qua phân tích chúng ta sẽ thấy từng học phái ảnh hưởng đến nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền khá rõ nét Có thể nói hầu hết những yếu tố tích cực trong các quan niệm nhân sinh đó đều được Nguyễn Thượng Hiền tiếp thu, kế thừa Nhưng cũng có lúc ông lại tìm đến những yếu

tố tiêu cực, bi quan, yếm thế trong chính các học thuyết ấy Nhìn chung, do thành phần xuất thân, môi trường giáo dục, năng lực bản thân và do hoàn cảnh lịch sử thời đại Nguyễn Thượng Hiền mà dường như ông đã chịu ảnh hưởng sâu đậm hơn cả từ nhân sinh quan Nho giáo

c Văn hoá phương Tây

Nguyễn Thượng Hiền đã tiếp cận được các tư tưởng phương Tây chủ yếu qua Tân văn, Tân thư Tân văn, Tân thư là những sách, báo chứa đựng kiến thức mới(tân học), khác với kiến thức cũ(cựu học) trong kinh điển nhà Nho Những kiến thức mới này là nhưng kiến thức về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, từ toán, lý, hoá cho đến địa dư, lịch sử, kinh tế, chính trị, triết học… phần lớn dịch từ sách phương Tây, mục đích là giới thiệu văn minh phương Tây để mà bắt chước, đổi mới Tinh thần chung của Tân thư là phê phán sự hủ bại của xã hội phong kiến Trung Quốc và chế độ chính trị thối nát

Trang 18

của nhà Mãn Thanh, ca ngợi văn minh Âu – Mỹ, hô hào học theo Âu - Mỹ, cải cách đất nước về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá…

Chính sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế và xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX là nền tảng vật chất cho các luồng tư tưởng mới của phong trào cách mạng thế giới dội vào Sự du nhập các luồng tư tưởng mới thông qua Tân thư vào Việt Nam lúc đó là một tất yếu lịch sử Sự xuất hiện của Tân thư

là do yêu cầu học hỏi văn minh, kỹ thuật phương Tây nhằm duy tân, tự cường

để bảo vệ độc lập và phát triển Đó cũng là yêu cầu chung của các quốc gia Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên trước họa xâm lược của thực dân phương Tây

Nguyễn Thượng Hiền là một trong những người Việt Nam tiếp xúc với Tân thư , Tân văn sớm nhất, và tích cực truyền bá Tân thư trong giới nho sỹ Điều này cũng góp phần tạo nên nét đặc sắc trong Nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền, làm cho ông vượt lên so với các nhà nho yêu nước đương thời Ông tiếp thu Tân văn, Tân thư qua nhiều con đường: từ người bạn vong niên Nguyễn Lộ Trạch và từ những người Trung Quốc buôn bán ở Việt Nam(ở Huế, Nguyễn Thượng Hiền đã nhờ chủ hiệu buôn Hoa kiều La Thiên Thái ở phố Gia Hội mua giúp sách báo Tân văn Tân thư - người mà sau này ông có làm câu đối tặng)

Năm 1897, khi Phan Bội Châu vào Huế, Nguyễn Thượng Hiền xem bài phú “ Bái thạch vi huynh” của ông, biết được chí nguyện của ông mới cho mượn một số sách Trung Quốc như “ Trung Đông chiến kỷ”, “ Pháp – Phổ chiến kỷ”, “ Doanh hoàn chí lược”… và bài “ Thiên hạ đại thế luận” của Nguyễn Lộ Trạch Ngoài Phan Bội Châu, những nhà nho quen biết với Nguyễn Thượng Hiền đều được ông cho mượn xem sách báo Tân văn, Tân thư Những người này về sau đều là chí sỹ cách mạng cả Nói về vai trò của Nguyễn Thượng Hiền trong việc truyền bá Tân thư đến với các nho sỹ đương thời, trong “Văn học Việt Nam 1900 – 1945” có nhận định: “ Nguyễn Thượng

Trang 19

Hiền lúc đó là nhà khoa bảng trẻ, có uy vọng lớn ở kinh đô Ông là bạn của Nguyễn Lộ Trạch – người mà trong nhà có nhiều Tân thư Tăng Bạt Hổ từ Nhật Bản về tìm ông, Phan Bội Châu từ Nghệ An vào cũng tìm ông Chính Nguyễn Thượng Hiền đã đưa Tân thư cho Phan Bội Châu đọc Những nhà khoa bảng trẻ sau này thành những yếu nhân của phong trào Duy tân như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn…đều gặp nhau ở Quốc tử giám, đều đi lại với Nguyễn Thượng Hiền” [11, tr 47]

Mặc dù nhân sinh quan nho giáo đã ngự trị và cản trở các nhà nho yêu nước đương thời, nhưng Nguyễn Thượng Hiền cùng một số sỹ phu yêu nước tiến bộ đã dần dần nhận ra sự lạc hậu của nền học vấn Nho học Họ đang có nhu cầu tìm hiểu các vấn đề có liên quan tới sự nghiệp giải phóng dân tộc và canh tân đất nước Vì vậy, họ hướng về Tân văn, Tân thư nhằm tìm đường cứu nước trong điều kiện chính quyền thực dân, triều đình phong kiến ra sức ngăn chặn Tân thư trở thành điểm tựa cho sự tập hợp của giới trí thức cấp tiến đương thời Họ đều là nhà nho như Nguyễn Thượng Hiền Tân thư trở thành căn cứ lý luận cho sự trao đổi về tư tưởng giữa họ, để rồi từ đó hình thành khuynh hướng mới của tư tưởng giải phóng dân tộc: từ bỏ chủ trương “ Cần Vương” chuyển sang lập trường yêu nước “phi quân chủ hoá” với nội dung vận động mới, kêu gọi duy tân tự cường Tác phẩm được các nhà nho yêu nước Việt Nam sử dụng chủ yếu lúc đó là “ Văn minh tân học sách” Tác phẩm toát lên tư tưởng chống bảo thủ, lấy việc mở mang dân trí làm nhiệm vụ quan trọng nhất, theo phương châm: khẳng định giá trị của di sản văn hoá dân tộc và khẳng định sự cần thiết phải học tập văn minh phương Tây

Do ảnh hưởng từ Tân văn, Tân thư, ở Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã xuất hiện phong trào Duy tân (giống phong trào Duy tân ở Trung Quốc) gồm ba mặt: giáo dân(giáo dục dân), dưỡng dân(làm cho dân giàu có) và tân dân(làm cho dân đổi mới) Biện pháp giáo dân là mở trường lớp, truyền thụ kiến thức mới, chống lại Nho học, giáo dục lòng yêu

Trang 20

nước, đạo đức công dân Thực hiện biện pháp này, từ năm 1906 – 1908 trở đi, tại nhiều nơi trên đất nước đã mọc lên hàng loạt trường mang tên là nghĩa thục, tại Hà Nội trường có tên trường Đông kinh nghĩa thục Nguyễn Thượng Hiền là một trong những người sáng lập và hoạt động sôi nổi trong phong trào này Để dưỡng dân thì phải mở mang, phát triển các hoạt động kinh tế, chấn hưng công nghệ, canh tân đất nước Muốn dân đổi mới cần tuyên truyền, khuyến khích đồng bào bỏ hủ tục tập quán, thực hiện phong tục mới tiếp nhận

từ phương Tây

Nền văn minh phương Tây qua văn hoá Pháp tới Việt Nam, về căn bản

đã bị biến dạng Hầu như các mặt trái của văn minh phương Tây mới được di chuyển vào Việt Nam thông qua con đường “ khai hoá văn minh” của Pháp Mặc dù chính quyền thực dân ra sức bưng bít, hạn chế sự du nhập của tư tưởng tiến bộ “ dân chủ, dân quyền, dân sinh, tiến hoá ” từ phương Tây, từ cuộc đại cách mạng tư sản Pháp 1789, nhưng rồi cũng bằng nhiều cách và từ nhiều con đường các tác phẩm nổi tiếng của Rousseau, Montesquieu,… cũng hiện diện ở Việt Nam Cố giáo sư Đặng Thai Mai đã từng nhận xét : “ Kể ra cũng có vẻ mỉa mai, nhưng thực sự là thế: giữa lúc bọn thực dân Pháp bô bô là chúng qua Việt Nam để “ khai hoá” cho nhân dân Việt Nam, thì cái tinh hoa của tư tưởng dân tộc Pháp – tư tưởng dân quyền và dân chủ lại phải đi vào Việt Nam qua sách báo của Trung Quốc !” [34, tr 217 –218]

Ảnh hưởng của tư tưởng mới từ Tân thư, Tân văn đã góp phần tạo nên một xu thế, một trào lưu văn hoá tư tưởng trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ

XX Hiện tượng đó rất có ý nghĩa, có nhiều đóng góp tích cực cho lịch sử văn hiến nước nhà nên lập tức chính quyền thuộc địa ra sức chống phá bằng nhiều biện pháp thâm hiểm và độc ác, nhất là khi những tư tưởng tiến bộ của Tân thư được các nhà yêu nước dùng để phát động thành những phong trào Duy tân, Đông du, Đông kinh nghĩa thục… hoạt động khá sôi nổi đầu thế kỷ XX

Trang 21

Qua đó, chúng ta thấy rằng các phong trào Duy tân, Đông du, Đông kinh nghĩa thục cũng như các nhà nho Việt Nam yêu nước tiến bộ nói chung

và Nguyễn Thượng Hiền nói riêng, đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tư tưởng mới qua Tân văn, Tân thư Tân thư thực sự đã làm Nguyễn Thượng Hiền “phục sinh”, đã đổi mới nhận thức và đời sống của ông Nguyễn Thượng Hiền và các nhà nho yêu nước dầu thế kỷ XX say mê Tân thư không phải là

để thoả mãn lòng yêu thích cái mới lạ, mà là để tìm phương sách giải quyết vấn đề dân tộc, vận dụng các học thuyết tiếp thu được từ Tân thư vào sự nghiệp cứu nước Với lòng yêu nước nhiệt thành, cùng với tư tưởng đổi mới, Nguyễn Thượng Hiền đã cố gắng tiếp thu và sử dụng những tư tưởng cần thiết cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, canh tân đất nước Đó là những

tư tưởng chấn hưng kinh tế, mở mang dân trí, cải cách lối sống, hợp quần lại

để kinh doanh sản xuất, làm cho dân mạnh, nước cường, để từ đó mà đứng lên giành độc lập dân tộc Theo ông, cả hai việc đánh đuổi thực dân dành độc lập cho nước nhà và chấn hưng kinh tế, khai thông dân trí có quan hệ mật thiết, có làm tốt được việc này thì mới làm thành được việc kia và ngược lại

Trải qua 18 năm hoạt động, bôn ba ở hải ngoại, Nguyễn Thượng Hiền càng được trau dồi kiến thức về văn minh phương Tây để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng Ông cũng là một trong những người tổ chức các phong trào Đông du, Duy tân Ông còn là một trong những yếu nhân của Việt Nam Quang phục hội Tất cả những điều đó được xác nhận bằng những hoạt động thực tiễn của Nguyễn Thượng Hiền

Do được giáo dục từ nền nho học và khi ra nước ngoài, Nguyễn Thượng Hiền hoạt động chủ yếu ở Trung Quốc nên ông chỉ biết chữ Hán Và ông cũng chỉ có thể tiếp xúc với các tư tưởng phương Tây qua các sách báo Trung Quốc Điều đó đã hạn chế ông rất nhiều trong việc tiếp thu cái mới, thực chất là tiếp thu các học thuyết của phương Tây đã bị “khúc xạ” qua lăng kính tư tưởng của các tác giả và dịch giả Trung Quốc Hơn nữa, lúc này xã hội

tư bản phương Tây không còn như trước nữa, nó đã phát triển lên chủ nghĩa

Trang 22

đế quốc rồi Tuy còn nhiều hạn chế như vậy, nhưng chính quá trình tiếp cận với tân thư này đã đưa lại cho Nguyễn Thượng Hiền một cách nhìn mới mẻ về cuộc sống, bổ sung cho ông một kiểu tư duy mới, góp phần tạo nên nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

Nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền không chỉ được quy định và mang dấu ấn của thời đại mà còn mang những nét riêng biệt, độc đáo xuất phát từ chính bản thân con người ông

1.3 HOÀN CẢNH XUẤT THÂN VÀ CON NGƯỜI NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

a Hoàn cảnh xuất thân của Nguyễn Thượng Hiền

Nguyễn Thượng Hiền hiệu Mai Sơn, tự Đỉnh Nam, sinh vào giờ Mùi ngày 17 tháng 7 năm Mậu Thìn( tức ngày 03 tháng 9 năm 1868) Nguyên quán Nguyễn Thượng Hiền ở làng Liên Bạt chùa, tổng Xã Cầu, phủ Ứng Hoà tỉnh Hà Đông(nay là xã Liên Bạt, huyện Ứng Hoà tỉnh Hà Tây) Nguyễn Thượng Hiền xuất thân từ gia đình khoa bảng Ông nội là cụ Phó đô ngự sử – Nguyễn Tụng Ông ngoại là Thượng thư bộ Lễ Phan Sài Phong Nguyễn Thượng Hiền là con trai thứ hai của cụ Nguyễn Thượng Phiên Cụ Nguyễn Thượng Phiên tư chất thông minh Năm 20 tuổi cụ đỗ cử nhân, năm 38 tuổi đỗ Hoàng Giáp và làm nhiều chức quan dưới triều Nguyễn Bất kỳ ở đâu và ở cương vị nào, Cụ cũng giữ vững phẩm chất nhân hậu và liêm khiết, song rất khảng khái và bất khuất Thuở thiếu thời Nguyễn Thượng Hiền chịu ảnh hưởng lớn từ cha

Mẹ Nguyễn Thượng Hiền là bà Phan Thị Túc, con gái Thượng thư Bộ

Lễ Phan Sài Phong, dòng họ Phan Huy ở chùa Thày (xã Sài Sơn huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây) Nguyễn Thượng Hiền còn là con rể Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết và Thượng thư Tôn Thất Phan Nguyễn Thượng Hiền sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh gia đình nội ngoại như vậy, cho nên ảnh hưởng rất sâu sắc đến sự hình thành nhân sinh quan của ông Hoàn cảnh gia đình đã hun

Trang 23

đúc, góp phần rất lớn hình thành nên một nhân cách lớn, một danh nhân sáng chói tinh thần yêu nước, thương dân, một nhà cách mạng đầu thế kỷ XX của Việt Nam

b Con người Nguyễn Thượng Hiền

Nguyễn Thượng Hiền xuất thân từ một gia đình có truyền thống khoa bảng Nhờ được gia giáo tốt lại có tư chất thông minh, nên ông học thông rất sớm Lên 6 tuổi Nguyễn Thượng Hiền đã nổi tiếng thần đồng Ông đọc sách rất nhanh, chỉ liếc mắt đã xong 10 hàng chữ nên được giới học sinh đương thời ca tụng và đặt cho danh hiệu “nhất mục thập hàng”

Năm Giáp Thân (1884), vào triều vua Kiến Phúc, triều đình tổ chức Ân khoa thi Hương tại Thanh Hoá, Nguyễn Thượng Hiền đỗ cử nhân, lúc này ông mới 17 tuổi Ngay từ bước đầu trên đường khoa danh, Nguyễn Thượng Hiền

đã gặp phải nhiều khó khăn trắc trở do hoàn cảnh khách quan đưa lại Theo lệ thường bấy giờ, “nhà nước ba năm mở một khoa”, cứ ba năm có một khoa thi Hương, mở vào những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu Thế nhưng, vào năm Nhâm Ngọ(1882), trường thi Hà Nội chưa kịp mở thì giặc Pháp gây chiến: “vừa năm Nhâm Ngọ tháng ba, rạng ngày mùng 8 mới qua giờ Thìn”, Hà Nội thất thủ Cuộc giảng hoà chưa xong nên không thể tổ chức khoa thi ở đó Năm 1883, lại xảy ra việc quân ta phối hợp với quân Lưu Vĩnh Phúc giết chết Đại tá Rivie ở mạn trên Cầu Giấy Khoa thi lại bị hoãn, buộc thí sinh Nguyễn Thượng Hiền cùng nhiều sỹ tử khác ở Bắc Kỳ phải sốt ruột chờ đợi hơn hai năm Đến tháng 8 năm đầu niên hiệu Kiến Phúc, vua mới lên ngôi mở Ân khoa để yên lòng sỹ tử, nhưng lúc đó, Hà Nội đã nhượng cho Pháp, trường thi Nam Định đã bị quân Pháp đốt phá năm 1883 Bất đắc dĩ, triều đình Huế phải cho thí sinh cả hai trường Hà Nội và Nam Định cùng thi với trường thi Thanh Hoá Những sỹ tử này phải tiền lương gạo túi, vác lều chõng trèo đèo lội suối hàng nửa tháng đường mới đến trường thi

Trang 24

Năm Ất Dậu(1885), Nguyễn Thượng Hiền 18 tuổi, triều đình mở khoa thi Hội vào đầu tháng 3 âm lịch Thi xong, Nguyễn Thượng Hiền đỗ đầu(Đình nguyên Tam giáp), nhưng chưa kịp xướng danh thì xảy ra cuộc chính biến kinh thành Huế vào ngày 23 tháng 5 âm lịch(tức mùng 5 tháng 7 năm 1885) Các ông Tiến sỹ hụt đành phải bỏ về Vì thân phụ có nhà riêng ở Gia Hội nên Nguyễn Thượng Hiền còn lưu lại Huế ít lâu

Sau khi kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi phải chạy ra Tân Sở Cuộc kháng chiến Cần Vương lan rộng khắp trong nước Lúc này Nguyễn Thượng Hiền cùng gia đình về ở ấp Liên Khê(sau đổi là ấp Lan Châu), huyện Nông Cống, Thanh Hoá, âm thầm liên kết với các bạn đồng chí trong đó có Tăng Bạt Hổ mưu đồ cứu quốc Lúc đó quân Cần Vương nổi lên trong hạt Nông Cống, có mời cụ thân sinh Nguyễn Thượng Hiền làm quân sư nhưng cụ không ra Sau đó, cụ Nguyễn Thượng Phiên cùng gia quyến về quê tại Liên Bạt, Ứng Hoà Hà Đông Năm 1887, Nguyễn Hữu Độ đang làm tổng đốc Hà- Ninh(Hà Nội, Ninh Bình) mời cụ ra giữ chức đốc học tỉnh Hà Nội Nguyễn Thượng Hiền theo cha ra Hà Nội, nhân dịp đó ông đã đi xem các nơi danh thắng ở Hà thành như đền Ngọc Sơn, miếu Linh Lang Đi đến đâu ông cũng đều có thơ ngâm vịnh

Năm 1889, cụ Nguyễn Thượng Phiên được gọi về kinh giữ chức cũ, Nguyễn Thượng Hiền cũng đi theo Năm ấy có khoa thi Hội, song vì có tang

mẹ nên ông không dự thi Đến năm Nhâm Thìn(1892), năm Thành Thái thứ

tư, triều đình lại mở khoa thi, Nguyễn Thượng Hiền đang ở Thanh Hoá được giấy triệu tập về kinh thi Đình Nguyễn Thượng Hiền đỗ đầu (Đình nguyên), nhưng rủi thay, khoa thi này bị xoá bỏ vì quan trường ra đề bài không hợp thời cuộc lúc bấy giờ, làm cho bọn cầm quyền Pháp không hài lòng, nên triều đình đã quyết định bỏ kỳ thi ấy và tổ chức một khoa thi Đình khác

Kỳ thi Đình lại này(cũng vào năm 1892), Nguyễn Thượng Hiền đậu Hoàng Giáp, lúc đó ông mới 25 tuổi Qua mấy kỳ thi, Nguyễn Thượng Hiền

Trang 25

đều đỗ cao, lại có thân phụ đang làm Đại thần trong triều Thành Thái, muốn làm Tổng đốc, Tổng vũ thật dễ dàng Nhưng ông nào phải hạng người “bất tri vong quốc hận”, đâu chỉ bám vào chút đỉnh chung phù phiếm Đỗ đạt cao trong khi đất nước đã mất chủ quyền, Nguyễn Thượng Hiền cảm thấy dửng dưng với công danh Thấy tận mắt cảnh vong quốc, chán cảnh khoa giáp từ chương, ghét phường danh lợi, nên ông xin cha dâng sớ lên vua xin nghỉ 10 năm để đọc sách và tu dưỡng Việc làm này của ông khác hẳn với các vị Tân khoa xưa nay, thi đậu xong hăm hở đón chờ ngày bổ nhiệm Hơn nữa, các vị lão thần trong triều như Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Trọng Hợp thừa biết thâm ý của ông là chưa thật sự tán thành chế độ mới, tức là cuộc “bảo hộ” của thực dân Pháp, không muốn phục vụ một triều đình quỳ gối đầu hàng bọn cướp nước Vì không có lý lẽ chính đáng để bác hẳn đơn của ông, nhưng cũng không muốn thả lỏng một người như ông ở ngoài vòng cương toả, nên triều đình chỉ cho ông nghỉ 3 năm Ông lui về làm một ẩn sỹ ở Na Sơn “ đọc sách

và tu dưỡng”, thực chất là để suy ngẫm về thời cuộc và làm một việc gì đó, tìm đường hướng để có thể cứu giang sơn, tổ quốc

Năm Thành Thái thứ 7(1895), hạn nghỉ 3 năm đã hết, ông phải vào kinh hậu bổ Ông chỉ xin một chức quan nhỏ “ quan bất phiền, dân bất nhiễu”- đó

là chức Toản tu quốc sử, biên chép sử nhà Nguyễn Song, không bao lâu ông lại xin nghỉ, và lần lui về này ông có thái độ hoàn toàn khác trước “ Ngày đêm ông miệt mài đọc sách Tân thư, tìm hiểu thời cuộc hoặc lấy cớ đi dạo chơi sơn thuỷ để tìm bạn đồng tâm” [ 91, tr 17] Thời gian này, ông kết thân với nhiều nhân sỹ, đặc biệt ông đã kết nghĩa đá vàng cùng Phan Bội Châu Triều đình nhiều lần mời ra làm quan, song ông đều từ chối Sau vì thân phụ già yếu, đạo làm con phải chăm lo phụng dưỡng, nên ông phải miễn cưỡng nhậm chức đốc học các tỉnh Ninh Bình(1901), Nam Định(1907)

Trang 26

Tháng 7 năm Đinh Mùi (1907), vua Thành Thái bị Pháp phế truất Để

tỏ rõ thái độ phản đối, Nguyễn Thượng Hiền đã từ chức đốc học Nam Định,

về nhà ở Liên Bạt, Hà Đông phụng dưỡng cha già, lúc này đã 80 tuổi Sau khi thân phụ qua đời, Nguyễn Thượng Hiền lo việc tang xong và ở nhà cư tang 3 tháng 10 ngày Sau đó, để che mắt bọn mật thám Pháp, ông ra Hà Nội làm thầy lang ở một hiệu thuốc Bắc, rồi bí mật cải trang thành phụ nữ trốn sang Trung Quốc, bắt đầu cuộc đời hoạt động cách mạng ở nước ngoài Gần 20 năm bôn ba hải ngoại, những hoạt động âm thầm của ông đã khiến cho nhiều nhân vật chính trị quan trọng của Trung Hoa cảm phục

“Bàn tay sắt” của Pháp sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914- 1918), càng trở nên hung hãn hơn bao giờ hết, nhất là sau cái chết hụt của viên toàn quyền Merlin ở Sa Diện, Quảng Châu, Trung Quốc Cơ sở Việt Nam Quang Phục Hội hầu như tan rã, nhiều nhà yêu nước Việt Nam ở Trung Quốc bị bắt,

bị giết

Xuất thân thư sinh, qua nhiều năm tháng bôn ba gian khổ với một tâm

tư lo nghĩ triền miên về tình dân, vận nước, lại sống xa gia đình, một mình trên đất khách, tuy mới ngoài 50 tuổi nhưng sức khoẻ Nguyễn Thượng Hiền

đã giảm sút Lại thêm tin dữ: Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt cóc ở Thượng Hải, giải về nước Đau thương ấy làm cho thể lực ông suy sụp hoàn toàn Nguyễn Thượng Hiền thất chí vào tu tại chùa Thường Tịch Quang trên núi Cô Sơn ở giữa Tây Hồ, thuộc tỉnh Hàng Châu, Trung Quốc

Không ngờ số trời đã định, vận nước khôn xoay, Nguyễn Thượng Hiền

đã từ trần tại nơi đây vào ngày 13 tháng 11 năm Ất Sửu (tức ngày 28 tháng 12 năm 1925), hưởng thọ 58 tuổi Thực hiên ý nguyện cuối cùng của ông lúc lâm chung, nhà chùa làm lễ hoả táng, lấy tro rải xuống sông Tiền Đường

Trang 27

Toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Thượng Hiền đã thể hiện một tư tưởng yêu nước sâu sắc, một ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, khát khao vươn tới lý tưởng cao đẹp Chính tư tưởng vì dân, vì nước ấy đã tạo nên nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

Trang 28

CHƯƠ NG 2 MỘT SỐ QUAN NIỆM NHÂN SINH CỦA NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

Nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền là hệ thống quan niệm về cuộc sống, về lý tưởng sống, về mục đích cuộc sống của ông; từ đó hình thành ý thức trách nhiệm cá nhân vì dân vì nước, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và canh tân đất nước, phát triển xã hội Nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền là

hệ thống quan niệm phong phú, phức tạp đầy mâu thuẫn, chính vì vậy trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu một số khía cạnh nổi bật trong

hệ thống nhân sinh quan của ông, và việc phân chia thành các quan niệm cũng chỉ mang tính chất tương đối

2.1 QUÁ TRÌNH BIẾN CHUYỂN CỦA NHÂN SINH QUAN NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

Nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền có một quá trình hình thành và biến chuyển phức tạp Nguyễn Thượng Hiền sống trong thời kỳ lịch sử đầy biến động, vì thế quá trình biến chuyển nhân sinh quan của ông là một tất yếu khách quan Mặc dù nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền là một khối mâu thuẫn nhưng chúng ta có thể chia làm bốn giai đoạn biến đổi căn cứ vào cuộc đời hoạt động của ông

* Giai đoạn 1868 – 1892

Đây là giai đoạn nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền có sự tiếp nối các giá trị nhân sinh quan truyền thống với tính chất khác nhau, đặc biệt là nhân sinh quan Nho giáo Nho giáo đặc biệt coi trọng giá trị đạo đức - nhân học Điều gọi là nhân tức là “yêu người” (Nhan uyên) Điều gọi là “yêu người” tức là “kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (Ung dã) Nghĩa là, nói mình muốn đứng vững thì cũng giúp cho người đứng vững, mình muốn thành đạt thì cũng giúp cho người thành đạt Khổng Tử nhấn mạnh “hiếu nhân giả vô dĩ thượng chi” (Lý nhân) - (Người yêu điều nhân, không có điều gì hơn điều nhân) “Nhân” là qui phạm đạo đức cao nhất Ở thời Chiến quốc, Nho giáo phân hóa thành hai học phái khác nhau, trong đó,

Trang 29

ảnh hưởng tương đối lớn là Mạnh Tử và Tuân Tử Mạnh Tử phát huy học thuyết đức “nhân” của Khổng Tử, đề xuất luận điểm “tính thiện” Mạnh Tử còn nhấn mạnh “nghĩa”, điều gọi là nghĩa là chỉ hành vi tư tưởng phù hợp với tiêu chuẩn nhất định Tuân Tử phản đối luận điểm “tính thiện” của Mạnh Tử Tuân Tử nói đến nhân, nghĩa, lễ và đặc biệt nhấn mạnh điều quan trọng của lễ Điều gọi là “lễ” là chỉ qui phạm hành vi và chế độ chính trị Rõ ràng, thời đại Tiên Tần Nho giáo chủ yếu đại biểu học thuyết tư tưởng nhân vật chủ yếu là vấn đề con người, giá trị con người Tuy sau này, ở các thời kì lịch sử khác nhau đã phát triển lý luận giá trị nhân sinh muôn màu muôn vẻ, nhưng các nhà nho vẫn luôn kế thừa tư tưởng đó Nguyễn Thượng Hiền vốn là nhà nho, học đạo thánh hiền, hấp thu đạo đức ấy cho nên ông sống với mục đích, lý tưởng của một nhà nho, một người quân tử của xã hội phong kiến

Khổng Tử - người sáng lập Nho giáo cho rằng, đạo đức là chí Thượng (tối cao), ông đề xuất mệnh đề “nghĩa là tối cao”, “người nhân yên với đức nhân” Điều “nghĩa” mà Khổng Tử nói, bên trong thực tế bao gồm “nhân”,

“nhân” được coi là phạm trù đạo đức tối cao Khổng Tử chủ trương “yên với đức nhân” (Cựu nhân) Nhà nho nhấn mạnh đạo đức tối cao, coi giá trị đạo đức là giá trị lý tưởng Nho giáo cho rằng, một cá nhân có đạo đức cao thượng, cũng tức là có nhân cách lý tưởng

Nho giáo từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và từ lâu đã bị Việt hoá thành Nho giáo Việt Nam Nho giáo vào Việt Nam được sử dụng như là vũ khí tư tưởng để xây dựng và tổ chức xã hội, để củng cố nhân, nghĩa, hiếu, đễ, luân thường đạo lý, ; củng cố nền kinh tế nông nghiệp; củng cố khối cộng đồng, gia đình, họ tộc, xóm làng; củng cố học hành khoa cử.… Do vậy không

có “nho giáo thuần tuý nho giáo” ở Việt Nam, ngay cả những phạm trù của nho giáo được hiểu và sử dụng ở Việt Nam cũng đã khác xa nghĩa gốc vốn có của nó, tuỳ từng thời kỳ và hoàn cảnh của mỗi giai đoạn lịch sử Nguyễn Thượng Hiền là người tiếp thu, tôn trọng, khẳng định và sử dụng những giá trị

Trang 30

nhân sinh của nho giáo, đặc biệt những giá trị tích cực trong Chu Dịch Đây cũng chính là ảnh hưởng góp phần tạo nên nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

Trong khi chưa tìm được một vũ khí tinh thần mới cao hơn, Nguyễn Thượng Hiền thấy Nho giáo có ưu thế hơn cả Vì ở Việt Nam, Nho giáo đã có tinh thần thân dân, lấy dân làm gốc và nó còn là phương tiện để thể hiện lòng yêu nước, thương dân Do vậy, về sau này, mặc dù có những chuyển biến mới

về tư tưởng nhưng những quan niệm nhân sinh của Nho giáo vẫn ảnh hưởng nhiều đến nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

Do xuất thân từ gia đình dòng dõi khoa bảng nên nhân sinh quan Nho giáo đã ăn sâu vào suy nghĩ và hành động của Nguyễn Thượng Hiền từ thưở thiếu thời Nó là tư tưởng chỉ đạo, là nguồn gốc của những suy nghĩ và hành động của ông ở giai đoạn này Mặc dù trên bước đường khoa danh gặp nhiều trắc trở do hoàn cảnh khách quan, song ông vẫn quyết tâm theo đuổi đến cùng Trong lúc chế độ khoa cử vẫn đang thịnh hành, ông cũng như bao sỹ tử khác đã không hề dửng dưng với công danh Ngay cả việc trở lại thi Đình, ông

đỗ Hoàng Giáp dưới Võ Phạm Hàm làm ông chưa thoả mãn, càng chứng tỏ Nguyễn Thượng Hiền còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi nhân sinh quan Nho giáo Nhóm Lê Thước – Vũ Đình Liên đã có nhận xét: “ Trong buổi khoa cử đang thịnh hành, việc đỗ đầu một khoa thi, nhất là khoa thi Đình là một vinh dự đặc biệt Việc Nguyễn Thượng Hiền đậu nhị giáp tiến sỹ mà chưa lấy làm thoả mãn chứng tỏ ông cũng chung một tâm lý với người đương thời” [91, tr.12]

Cũng do ảnh hưởng sâu đậm từ nhân sinh quan Nho giáo, nặng về chữ Hiếu mà sau khi đậu Hoàng giáp, việc “đại đăng khoa” đã xong, đường khoa danh như thế cũng vẻ vang, cái nợ đèn sách đến đây coi như cũng đã trả xong, Nguyễn Thượng Hiền vâng lời thân phụ tiến hành việc “tiểu đăng khoa” (cưới vợ) Lúc đó ông mới 25 tuổi

Trang 31

Hơn nữa, ông còn bị ảnh hưởng trực tiếp từ gia đình: cụ thân sinh ra ông tuy có lòng yêu nước, song không đủ nghị lực đi vào con đường đánh đuổi thực dân Pháp, cho nên có thái độ rụt rè, đứng trung lập một thời gian rồi

đi theo triều đình Đồng Khánh Thái độ ấy của cha đã làm cho Nguyễn Thượng Hiền sinh lòng do dự, hoang mang, chờ đợi cơ hội

Với hoàn cảnh và học vấn như Nguyễn Thượng Hiền, thời thế tác động trực tiếp và rất mạnh mẽ là điều không thể tránh khỏi Tuy còn ít tuổi nhưng Nguyễn Thượng Hiền cũng sớm cảm nhận được nỗi đau xót, thê thảm trước cảnh đất nước bị giặc ngoại xâm giày xéo Tình cảm ấy của Nguyễn Thượng Hiền đã được bộc lộ qua nhiều bài thơ - văn như “ Hương giang lão nhân từ”,

“Lời nói cảm động” và ông đã từng “ quyết chí thề rửa thẹn cho nước” [91, tr.163] Tuy nhiên, lời thề ấy Nguyễn Thượng Hiền chưa thể thực hiện ngay lúc bấy giờ được, vì ông chưa thoát khỏi ảnh hưởng nhân sinh quan Nho giáo Mặc dù lòng ông sôi sục nhưng ông chưa đủ dũng khí và nghị lực để làm khác

đi điều mà ông đã học được ở Nho giáo Thực sự, lúc đó ông chưa biết phải làm gì, vì ông không thể tự mình quyết định nên đành phải chờ đợi mệnh vua

và theo ý cha

Cuộc đời Nguyễn Thượng Hiền cũng là một minh chứng hùng hồn cho chúng ta thấy ông là tấm gương cho đạo lý Nho giáo Mặc dù tư tưởng, nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền là sự kế thừa Nho giáo ở Việt Nam trong hoàn cảnh mới, nhưng ông vẫn là một trong những nhà nho yêu nước tiến bộ nhất trong những năm đầu thế kỷ XX

* Giai đoạn 1892- 1895

Đây là giai đoạn Nguyễn Thượng Hiền chịu ảnh hưởng từ Đạo giáo về

tư tưởng và lẽ sống Giai đoạn này Nguyễn Thượng Hiền sống trong sự giằng

xé, do dự, bâng khuâng, ông tự cảm thấy mình không thích bước chân vào chốn quan trường yên hưởng ơn vua lộc nước trong cảnh mất nước, nhân dân

nô lệ lầm than Ông thi đậu không phải chỉ vì mục đích mượn văn chương để

Trang 32

bước lên thang sỹ hoạn như ông đã nói trong bài biểu tạ ơn vua cho đậu Hoàng Giáp: “ còn lấy văn chương nói là giúp nước, ấy không phải lòng người cha hy vọng ở đứa con; cần giữ trung hiếu để mà lập thân ấy mới xứng

ý vua lưu tâm đến kẻ sỹ” [91, tr.13] Vì vậy, Nguyễn Thượng Hiền làm đơn xin triều đình cho nghỉ 10 năm để đọc sách và tu dưỡng Những sách mà ông đọc không chỉ là sách của thánh hiền Nho giáo mà còn là những sách nói về Đạo Lão, Đạo tiên Tránh đám công danh mà ông cho là đầy cát bụi, ông muốn tìm một cuộc sống thanh cao, khoáng đạt, hoà hợp với thiên nhiên Chán cảnh khoa giáp từ chương, ông tìm về với nhân sinh quan Đạo giáo

Đạo giáo chủ trương lấy cuộc sống của con người dựa trên nguyên tắc thuận theo, phù hợp bản tính tự nhiên Đạo giáo cho rằng, sống ở trên đời là một việc vui sướng Nhưng Đạo giáo không phải lấy cuộc sống thế tục phổ thông làm vui, mà chủ trương siêu thoát cuộc sống hiện thực, bài trừ thế tục hưởng lạc, xuất gia vào núi tu đạo, thông qua những phương thức sinh hoạt tôn giáo đặc biệt, để cầu thành tiên, vĩnh hằng hưởng sung sướng

Đạo giáo thừa nhận sinh mệnh của con người là một thể tự nhiên, là điều có thực Lão Tử chủ trương “vô thân”, còn Trang Tử chủ trương “bảo thân”, tuy hai cách nói khác nhau nhưng cùng thể hiện tinh thần tránh lo, phòng họa Đạo giáo quý sự sống, theo đuổi lý tưởng sống lâu thành tiên Con người có thể trải qua tu luyện nhất định, sẽ trở thành thần tiên, trường sinh bất tử

Thêm nữa, vì trên ngọn núi cao nhất của Na Sơn (nơi ông cùng gia đình sống thời kỳ đó), còn có vết tích của ẩn sỹ Trần Tu (hiệu Hoàng My tiên sinh) Tương truyền rằng, Trần Tu học đạo tiên gặp thời loạn cuối đời nhà Trần, lên ẩn cư trên Na Sơn Sự tích cũng như những câu thơ của Trần Tu đề

ở vách Am tiên trên đỉnh núi Nưa đã gợi cho Nguyễn Thượng Hiền một mối cảm tưởng hơi giống với hoàn cảnh của mình Giặc Pháp cướp nước, ông không muốn ra làm quan, sớm nhìn mây trắng dưới gốc tùng, tối ngắm trăng

Trang 33

trong làn suối, thì nỗi lòng khoan khoái và tâm thần an nhàn, trong sạch hơn nhiều Tư tưởng làm một ẩn sỹ theo đạo tiên thường ám ảnh thần trí của ông

và đã thể hiện ra nhiều bài thơ nhan đề “ Nhớ Na Sơn, nhớ An sỹ Na Sơn” trong một bài thơ khác lấy đề mục “ Vọng Hoàng sơn hữu hoài”, ông nhắc lại một cách say sưa việc Từ Thức thổi sáo trên trời xanh

Thực tại ngày càng đen tối, nỗi buồn mất nước ngày càng thấm sâu vào tâm hồn ông Trên đường chạy loạn cùng gia đình từ Huế về Thanh Hoá, từ Thanh Hoá ra Hà Đông, những tiếng vượn, tiếng quốc kêu, những cảnh tro tàn luôn khêu gợi mối sầu thảm mất nước, đau đớn nhức nhối Nguyễn Thượng Hiền than với người xưa, cảnh xưa trong nhiều bài thơ hoài cổ, dằn vặt mình trước những tấm gương trung nghĩa Trong hoàn cảnh đất nước như vậy, chính tư tưởng trung nghĩa đã dẫn ông đến làm người ẩn dật Hơn nữa, vì nghĩa khí không chịu hợp tác với kẻ thù, không muốn sống chung với bọn hèn

hạ để giữ mình trong sạch, ông đành làm người ẩn dật Trong bài “ Quy Na Sơn biệt thự” ông viết:

“ Tùng bách tự cô trực

An năng lữ trăn gian”

( Cây tùng cây bách tự một mình ngay thẳng, Sao có thể bày hàng với loài cỏ lau” [91, tr.95]

Nguyễn Thượng Hiền muốn tránh đời, sống ẩn dật trong mộng ảo, ông tìm cách thoả mãn lòng trung nghĩa trong mộng ảo Ông đắm mình trong một cảnh chiến địa tưởng tượng có trăng mờ, có sương dày, có cỏ biên tái, có bụi bốc cao và mình quất ngựa vung gươm “ Nguyễn Thượng Hiền mang trong lòng một mối sầu mơ hồ nhưng thấm thía, mối sầu của thời đại, mối sầu lãng mạn của nho sỹ trước cảnh mất nước chưa tìm thấy đường đi Nguyễn Thượng Hiền muốn thoát ly lên tiên, nhưng dù có lên tiên cũng không tìm được hoan lạc, mối sầu vẫn theo đuổi đến đây” [91, tr.35] Trong bài “ Cửu chân đạo trung” Nguyễn Thượng Hiền viết:

Trang 34

“ Ngã dục bồng lai lãm phương quế,

Bích thiên hoa nguyệt nại sầu hà”

( Ta muốn tới bồng lai vin cành quế thơm,

Trời biếc trăng đẹp nhưng sầu thì làm sao?) [91, tr.65]

Vì Nguyễn Thượng Hiền là nhà nho yêu nước, nên dù ông có tìm đến với nhân sinh quan Đạo giáo thì vẫn không thể siêu thoát được cuộc sống hiện thực

* Giai đoạn 1895 – 1918

Có thể xem năm 1895 là mốc đánh dấu bước ngoặt quan trong nhất trong cuộc đời Nguyễn Thượng Hiền Vào thời điểm này, khi những nhận thức về thời cuộc đã bắt đầu thay đổi, lại được mắt thấy tai nghe thực tiễn xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nguyễn Thượng Hiền đã thực

sự bừng tỉnh Đây cũng là bước chuyển biến đặc biệt quan trọng trong nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền Bắt đầu từ đây, Nguyễn Thượng Hiền đi từ tiếp cận đến tiếp nhận những tư tưởng mới từ Tân thư, cũng từ đây ông hoạt động hết mình cho công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và canh tân đất nước

Năm 1895, hạn nghỉ 3 năm đã hết, Nguyễn Thượng Hiền phải về kinh nhậm chức Toản tu quốc sử Mang sẵn trong lòng tình cảm yếu nước thiết tha, căm thù giặc sôi sục, sau một thời gian làm quan, những cảnh đất nước bị giặc Pháp chà đạp đã làm xúc động mạnh tâm hồn ông Nguyễn Thượng Hiền cảm thấy không thể đi theo con đường của thân phụ ông và một số người khác được - con đường tuy không làm việc bán nước nhưng cũng không chống lại quân cướp nước Do họ không có một lập trường vững chắc, lại thiếu quyết tâm nên khi gặp khó khăn, chưa tìm được lối thoát đã sinh lòng bi quan chán nản

Nguyễn Thượng Hiền nhận thấy rằng, chức Toản tu quốc sử tuy nhỏ song cũng là mối ràng buộc với triều đình bất lực Mặc dù thân phụ không tán

Trang 35

thành, nhưng Nguyễn Thượng Hiền vẫn xin từ chức để được tự do thực hiện chí nguyện của mình Lui về nhà lần này, Nguyễn Thượng Hiền có một quyết tâm mới với thái độ hoàn toàn khác trước Một nhân sinh quan mới đã được định hình, nó không còn là nhân sinh quan Nho giáo nữa mà là nhân sinh quan cách mạng Mục đích, lý tưởng, ý nghĩa cuộc sống trong quan niệm của Nguyễn Thượng Hiền đã hoàn toàn thay đổi Ông đã dũng cảm từ chối danh

vị của một viên quan dưới triều đình phong kiến Giai đoạn này, với ông làm sao để cứu nước ra khỏi lao lung, cứu dân thoát khỏi vòng nô lệ mới là mục đích chính Để thực hiện mục đích ấy, ngày đêm ông miệt mài tìm đọc Tân thư, vào Nam ra Bắc tìm hiểu thời cuộc, tìm bạn đồng tâm Như trên đã nói, Tân thư thực sự đã làm ông “ phục sinh”, Nguyễn Thượng Hiền trở thành một nhà cách mạng tích cực hoạt động thay vì than khóc, sống trong ảo giác tiên cảnh Đây là bước chuyển biến thực sự, bước ngoặt cách mạng trong nhân sinh quan Nguyễn Thượng Hiền

Mặc dù vẫn mến cảnh siêu thoát ở Na Sơn, nhưng Nguyễn Thượng Hiền không còn nhìn đất nước với con mắt bàng quan mơ hồ như trước Ông không đi tìm cái nhàn “ sáng mở cửa dưới tùng; tối dựa giàn hoa trông” [91, tr.67] mà tìm cơ hội để thực hiện lý tưởng, mục đích cuộc sống của mình

Đây là giai đoạn Nguyễn Thượng Hiền tiếp cận tư tưởng mới từ Tân thư và cũng là giai đoạn hình thành và phát triển nhân sinh quan cách mạng của ông

* Giai đoạn 1918 –1925

Sau cuộc đại chiến thế giới thứ nhất(1914-1918) kết thúc, những hoạt động của cách mạng Việt Nam thất bại liên tiếp ở cả trong nước và ngoài nước, lúc này Nguyễn Thượng Hiền đã sức tàn lực kiệt, cái chí khí hừng hực cách mạng đã không còn được như xưa nữa Nguyễn Thượng Hiền vô cùng đau lòng trước sự bất lực của mình và sinh ra thất chí vào chùa đi tu cho đỡ phiền

Trang 36

Giai đoạn này Nguyễn Thượng Hiền tìm về với nhân sinh quan Phật giáo Đối tượng chủ yếu của Phật giáo nghiên cứu là con người, là giá trị nhân sinh Giáo lý cơ bản của Phật giáo nguyên thuỷ là “Tứ đế” , “Thập nhị nhân duyên”, “Tam pháp ấn” …

Phật giáo là một thuyết giáo giải thoát con người khỏi khổ nạn Tuy sau này Phật giáo không ngừng sản sinh tư tưởng mới, hình thành hệ phái mới, nhưng đạo Tứ đế, Tam pháp ấn, giải thoát cuộc sống đau khổ của con người trước sau đều được kiên trì giữ vững và được phát huy, luôn luôn là trọng tâm

tư tưởng của các phái Phật giáo

Về cuộc sống của con người, Phật giáo nói đến đau khổ chủ yếu là chỉ cái tinh thần bức bách Phật giáo xuất phát từ khái niệm triết học cơ bản của duyên khởi, vô thường, vô ngã, quan sát nhân gian và nhân sinh mà cho rằng thế gian thảy đều ở trong vô thường biến hóa Do đó, Phật giáo tuyên dương thuyết “Tam khổ”, “Tứ khổ”, “Bát khổ” Theo cách nhìn của Phật giáo, cuộc sống con người có sự đau khổ của sinh lý, tình cảm và tinh thần nên phải tìm cách để vượt qua cái khổ đó

Về sinh mệnh con người, Phật giáo một mặt cho rằng con người cũng là sản vật tự nhiên, nhưng mặt khác Phật giáo lại cho rằng con người không có thực thể, là “không”, gọi là “nhân vô ngã” Vì con người hợp thành bởi ngũ uẩn cho nên không có chủ thể thường hằng tự tại - “ngã” (chúa tể, linh hồn) Con người cần phải tích cực tu hành, vượt qua sống chết, chuyển phàm thường thành thánh, tiến vào một cảnh giới khác

Về mặt lý tưởng của con người, Phật giáo chủ trương phải tu dưỡng để diệt khổ, để tiến vào Niết bàn cảnh giới Niết bàn là lý tưởng cảnh giới tối cao của Phật giáo Ý nghĩa cơ bản của Niết bàn là trừ diệt đau khổ, phiền não, giải thoát tự tại

Về địa vị con người trong xã hội, xuất phát từ quan niệm chúng sinh bình đẳng nên Phật giáo nhấn mạnh giữa con người và con người là bình đẳng

Trang 37

(bình đẳng về quyền xuất gia học đạo, bình đẳng về nghiệp báo luân hồi, bình đẳng về phương diện thành tựu chính quả)

Phật giáo du nhập vào Việt Nam, đã gắn bó mật thiết với người dân Việt Nam và trở thành Phật giáo Việt Nam Trong con mắt của nhân dân, cửa Phật là chỗ thanh tịnh, từ bi, phúc thiện, ở đó nói chung ít điều xấu, điều tà, nhiều điều tốt, điều chính Phật giáo Việt Nam ở thời kỳ này nổi bật lên vai trò nhập thế – vì con người, cứu nhân độ thế Phật giáo được các sỹ phu yêu nước

sử dụng như một thứ vũ khí có sẵn của dân tộc để phát động nhân dân tiếp tục cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Vì vậy, vai trò của Phật giáo đối với sự nghiệp cứu nước thời kỳ này được nổi bật lên, mặc dù bản thân học thuyết Phật giáo nguyên thuỷ không nói gì đến chuyện yêu nước cả

Những quan niệm Nhân sinh của Phật giáo(kể cả Phật giáo nguyên thuỷ

và Phật giáo Việt Nam) đã ảnh hưởng sâu sắc tới Nguyễn Thượng Hiền, đặc biệt là giai đoạn cuối đời ông Nguyễn Thượng Hiền đã tiếp thu từ Phật giáo cách sống, cách suy nghĩ trên tinh thần : từ bi, bác ái, yêu thương con người,… khi cần phải buông xả, ông sẵn sàng buông xả hết Nguyễn Thượng Hiền sống và hoạt động cách mạng cũng trên tinh thần ấy vì mục đích giải phóng con người, vì sự nghiệp cứu nhân độ thế, cứu nước cứu dân

2.2 QUAN NIỆM NHÂN SINH VÀ TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN

Nguyễn Thượng Hiền mặc dù không có tác phẩm chuyên biệt nào về nhân sinh quan, nhưng những tư tưởng, quan điểm của ông về các vấn đề nhân sinh nằm rải rác ở hầu hết các tác phẩm thơ văn của ông

2.2.1 Quan niệm về cuộc sống

* Quan niệm về cuộc đời:

Các tôn giáo nói chung của nhân loại đều nói rõ chết không phải là hết Các tôn giáo ấy đều nói đến một viễn ảnh về cuộc đời sắp đến sau khi chết,

Trang 38

liêng…(Ki- tô giáo cho rằng đó là Thiên đường, Phật giáo cho rằng đó là cõi Niết bàn…) Ngược lại, đa số những người không theo tôn giáo đều cho rằng

sự sống ở cuộc đời này là tất cả

Trong câu đối đề ở trại núi (sơn xá), nguyễn Thượng Hiền có viết:

“Nhân thế như mộng, mộng nhi hữu giác, thục nhược giác nhi vô mộng ” (Đời người như mộng, mộng mà lại tỉnh, chi bằng tỉnh mà không mộng) [91,tr.167]

Có lẽ ông viết câu đối này trong thời gian ở ẩn trên núi Nưa (Na Sơn , Thanh Hoá) Quan niệm “đời người như mộng” bị ảnh hưởng sâu đậm từ nhân sinh quan Phật - Đạo, cho rằng cuộc đời người ta như mộng, như ảo Phật giáo cho rằng, đại thiên thế giới biến hóa vô thường và bản chất hư ảo, không thực “Mộng mà lại tỉnh”- tỉnh để mà thực hiện giấc mộng dài của đời người Thế nhưng, Nguyễn Thượng Hiền là nhà nho chân chính sống vì đời,

vì ý thức trách nhiệm của nhà nho đối với vua, với dân, với nước mà không thể “mộng” được lại đành “chi bằng tỉnh mà không mộng” Cho dù có ảnh hưởng từ Phật – Đạo thì cũng là Phật cứu đời, Lão – Trang giữ mình trong sạch, để làm một nhà nho ẩn dật chờ thời, để rồi đến lúc phải “tỉnh”, phải hành động, phải dấn thân “ Nguyễn Thượng Hiền dầu có tư tưởng theo đạo tiên, song vẫn không thoát khỏi ảnh hưởng của ý thức hệ Nho giáo Lòng ông vẫn không đoạn tuyệt được mối quan hệ giữa vua tôi, cha con, vợ chồng, anh

em và bè bạn Do đó, cái quan niệm về quốc gia xã hội của nho giáo không cho phép ông thoát ly trần tục như Trần Tu hay Từ Thức mà chắc ông cũng biết đó là những chuyện hoang đường Ngoài những giây phút hoang mang dao động trước thời cuộc rối ren, buộc ông phải gửi mình vào cõi mơ mộng cho dễ khuây khoả, ông vẫn nhớ đến việc vua Hàm Nghi bị bắt đưa sang Tây, nhớ đến nhạc phụ đang gửi mình nơi Bắc quốc, nhớ bạn hữu cũ ở chốn đế đô, nhớ cha già ở bên núi Ngự” [91, tr.15]

Sau khi tỉnh mộng, Nguyễn Thượng Hiền đã tự ý thức được trách nhiệm của một nhà nho chân chính, phải vì đời mà hành động Cuộc đời này

Trang 39

đã có, đã hiện hữu thì cho dù nó hay, dở thế nào cũng không thể trốn tránh được Vì vậy phải đem sức lực, trí tuệ của mình ra để góp sức giúp đời, cứu đời, phải tìm lấy một con đường để mà hành động cho đúng lẽ phải và khỏi uổng phí sự sống của mình Hơn nữa, hiện thực mất nước đau lòng trước mắt cũng làm ông “tỉnh mộng”:

“ Kim khuyết xuy giả nhật dạ thanh Mai hoa mộng doạn thỉnh trường anh Dịch nghĩa:

“ Ở chốn cửa vàng, tiếng kèn thổi suốt ngày đêm, Giấc mộng hoa mai chợt tỉnh muốn đi đầu quân” [91 , tr 78] Một nhà nho chân chính trước khi làm bất cứ việc gì đều có sự suy tính

kỹ và hành động một cách thận trọng Việc Nguyễn Thượng Hiền quyết định

“dấn thân” vào con đường cứu nước, cứu dân đã chứng tỏ ông đã tự phá vỡ được sự cô tịch khép kín của mình và đây là một sự mới mẻ với đương thời, cũng như với chính bản thân ông là một nhà nho nệ cổ

đã quá muộn để thay đổi trật tự xã hội Lúc này, Nguyễn Thượng Hiền cảm thấy cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì cả:

“ Thốt nhớ giấc mộng những đêm trước kia,

Trang 40

Đau buồn tấm lòng trăm năm đời mình” [91 , tr 71]

Nhưng cái thời điểm thương thân, trách phận của Nguyễn Thượng Hiền qua đi nhanh chóng Khi buộc phải ra làm quan(1895), tận mắt chứng kiến cảnh đất nước bị giặc ngoại xâm giày xéo, cuộc sống của nhân dân vô cùng cực khổ, ý thức trách nhiệm của nhà nho kéo ông trở lại với hiện thực bộn bề của cuộc sống Ông tìm lại được ý nghĩa của cuộc đời mình Đã được sinh ra

ở trên đời, sống phải cho ra sống, phải có chí khí, phải có trách nhiệm với cuộc đời, xã hội và với chính mình Vì vậy mà phải chủ động hành động, không thể nhờ cậy vào một lực lượng siêu nhiên nào:

“ Ví sinh ra ở đời này, Hẳn không chịu bó hai tay ngóng trời” [91, tr.173]

Cái ý chí quyết tâm “thề rửa thẹn cho nước” đã được Nguyễn Thượng Hiền nung nấu từ lâu: “Năm Ất Dậu, Hàm Nghi nguyên niên(1885), tôi 18 tuổi, đang trú ở kinh đô thì gặp lúc quân Pháp hãm thành Mắt tôi đã thấy bọn hung đồ tàn phá khắp nơi và cảnh núi sông tan vỡ dưới bàn tay tàn bạo của chúng Tôi khôn xiết đau lòng, quyết chí thề rửa thẹn cho nước” [91 , tr.162 - 163]

Trước hiện thực mất nước, mất vua ý chí quyết tâm “trả mối thù Hàn” của Nguyễn Thượng Hiền thật vô cùng mãnh liệt Người quân tử trong xã hội phong kiến sống là để thực hiện trách nhiệm “rửa thẹn cho sông núi” và đền

“ơn nghĩa vua cha”, sống phải xứng đáng là một trung thần, hết mình phò vua đánh giặc cứu nước, sống vẻ vang mà chết cũng quang vinh Có như vậy sự sống ở đời mới có ý nghĩa :

“Thân nam nhi đường đường bảy thước

Vì nước nhà trù tính mưu xa Chết thì làm Đặng tướng quân Sống thì làm Tế văn hầu” [91 ,tr.112]

Ngày đăng: 07/02/2021, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w