1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Du lịch văn hóa, Sản phẩm du lịch, Thanh Hóa, Vùng ven biển

109 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 625,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thanh Hoá được mệnh danh là mảnh đất "Địa linh nhân kiệt", nơi phát tích của "Tam vương nhị chúa", là vùng đất có truyền thống lịch sử oai hùng trong chống giặc ngoại xâm, có nhiều danh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THÚY VÂN

KHAI THÁC SẢN PHẨM DU LỊCH VĂN HÓA

VÙNG VEN BIỂN THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC

Hà Nội, 2008 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THÚY VÂN

KHAI THÁC SẢN PHẨM DU LỊCH VĂN HÓA VÙNG VEN

BIỂN THANH HÓA

Chuyên ngành: Du lịch (Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN PHẠM HÙNG

Hà Nội, 2008

Trang 3

Mục lục

Trang

Trang phụ bìa

Mục lục…………

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu viết tắt

Mở đầu

Chương 1: Tài nguyên du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh Hóa ……….4

1.1 Một số khái niệm 3

1.2 Giới thiệu khái quát Thanh Hoá và vùng ven biển Thanh Hoá…….10

1.3 Tài nguyên du lịch văn hóa tiêu biểu vùng ven biển Thanh Hoá 23

1.3.1 Tài nguyên du lịch văn hóa truyền thống……… 23

1.3.2 Tài nguyên du lịch văn hóa mang tính hiện đại ……… 32

Tiểu kết chương 1 ……… 34

Chương 2: Thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh Hoá……… 36

2.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Thanh Hoá và sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh Hóa………36

2.1.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Thanh Hóa… 36

2.1.2 Khái quát sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển……….43

2.1.3 Các chương trình du lịch khai thác yếu tố tài nguyên DLVH… 49

Trang 4

2.2 Thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh

Hóa………52

2.2.1 Đặc điểm của hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa được khai thác trong kinh doanh du lịch……….52

2.2.2 Thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hoá……… 53

2.2.3 Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch……….62

2.2.4 Hệ thống dịch vụ trong khai thác sản phẩm du lịch văn hóa… 67

2.2.5 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 72

2.2.6 Hoạt động khai thác tài nguyên du lịch văn hóa thành sản phẩm

DLVH của các DNLH……… 74

2.2.7 Quảng bá xúc tiến ……… 76

2.2.8 An toàn du lịch………77

2.2.9 Văn hóa giao tiếp ứng xử……….79

2.3 Đánh giá về hoạt động khai thác các sản phẩm du lịch văn hoá… 81

2.3.1 Điểm thuận lợi……….82

2.3.2 Điểm hạn chế……… 82

Tiểu kết chương 2………… ……… 86

Chương 3: một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch văn hoá vùng ven biển Thanh Hóa…… 87

3.1 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa……… 87

3.2 Định hướng khai thác và phát triển sản phẩm du lịch văn hoá vùng ven biển ……… 89

Trang 5

3.3 Một số giải pháp tăng cường khai thác sản phẩm du lịch văn hoá

vùng ven biển………92

3 4 Một số khiến nghị……… 104

3.4.1 Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý………104

3.4.2 Khuyến nghị đối với các doanh nghiệp du lịch…… ……… 106

Tiểu kết chương 3……… ………107

Kết luận……….108

Tài liệu tham khảo……… 109

Phụ lục………111

Trang 6

Danh mục các chữ viết tắt

Mục lục bảng biểu: Bảng 2.1 38

Bảng 2.2 .39

Bảng 2.3 .52

Bảng 2.4 .61

Bảng 2.5 62

Bảng 2.6 .71

Biểu đồ: 2.1………52

Trang 7

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, du lịch văn hoá đã và đang trở thành xu hướng phổ biến của du lịch toàn thế giới Hơn nữa, du lịch văn hoá còn được xem là sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển Với nền tảng và qui mô phát triển không lớn, các nước đang phát triển không có thế mạnh xây dựng những

điểm du lịch đắt tiền, những trung tâm giải trí tầm cỡ và hiện đại, đồ sộ như các nước phát triển Du lịch ở các nước đang phát triển dựa vào nguồn du lịch

tự nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc Đối với nước ta, du lịch văn hoá cũng

đư-ợc xác định như một trong những loại hình du lịch có thế mạnh và tiềm năng phát triển lớn

Thanh Hoá được mệnh danh là mảnh đất "Địa linh nhân kiệt", nơi phát tích của "Tam vương nhị chúa", là vùng đất có truyền thống lịch sử oai hùng trong chống giặc ngoại xâm, có nhiều danh nhân văn hoá tiêu biểu cùng với những

di sản độc đáo - đó là những tài nguyên du lịch văn hóa hấp dẫn du khách đến tham quan, nghiên cứu

Cùng với những bước phát triển của đất nước, để lại cho Thanh Hoá nói chung, vùng ven biển Thanh Hóa nói riêng một lượng lớn các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh nổi tiếng làm say lòng những du khách tới thăm Ngoài ra, giống mỗi vùng trong cả nước, vùng ven biển Thanh Hoá có bản sắc văn hoá địa phương đặc sắc, đã tạo ra những nét riêng so với vùng khác được thể hiện qua lễ hội, phong tục tập quán, nghề, làng nghề Đây là nguồn tài nguyên du lịch khá phong phú và mang đậm nét văn hóa của ngư dân vùng ven biển, hiện đã và đang được khai thác thành sản phẩm du lịch văn hóa Đặc biệt, khi du lịch Thanh Hóa đang cố gắng đa dạng hóa các sản phẩm

du lịch nhằm thu hút khách du lịch và triển phát du lịch tỉnh nhà thành trọng

điểm du lịch quốc gia, mà phát triển sản phẩm du lịch biển là điểm nhấn mạnh của du lịch Thanh Hóa

Trang 8

Với nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng như vậy có thể tạo ra những sản phẩm du lịch biển (trong đó có sản phẩm du lịch văn hóa) đặc trưng của vùng ven biển Thanh Hóa làm hài lòng và thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của khách du lịch Tuy nhiên, hiện nay do chưa được qui hoạch, chiến lược trong khai thác và quản lý, cho nên sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển chưa thể phát triển xứng với tiềm năng vốn có của nó

Để nâng cao hiệu quả sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh

Hóa, cho nên tác giả đã chọn đề tài “Khai thác sản phẩm du lịch văn hóa

vùng ven biển Thanh Hóa” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hoá các tài nguyên có thể khai thác để phát triển sản phẩm du lịch văn hoá vùng ven biển Thanh Hoá

- Đánh giá thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hoá vùng ven biển Thanh Hoá

- Đưa ra một số đề xuất, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch văn hoá vùng ven biển Thanh Hoá

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Tài nguyên du lịch văn hóa và sản phẩm du lịch văn hoá vùng ven biển Thanh Hóa

- Phạm vi và không gian: Nghiên cứu thực tế họat động khai thác sản phẩm du lịch văn hóa trên địa bàn các huyện, thị xã vùng ven biển Thanh Hoá (Nga Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Quảng Xương, Tĩnh Gia, thị xã Sầm Sơn), và tại các doanh nghiệp lữ hành tại Thanh Hoá và Hà Nội

Phạm vi về thời gian: Số liệu, tài liệu sẽ thu thập từ thời điểm (2004 – 7/2008) Các định hướng phát triển sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh Hóa giai đoạn 2005-2010 và các giải pháp được đưa ra trong giai đoạn 2005-2010

Trang 9

Chương 1: Tài nguyên du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh Hoá

Chương 2: Thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hoá vùng ven biển Thanh Hoá

Chương 3: Đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch văn hoá vùng ven biển Thanh Hóa

Trang 10

Chương 1: Tài nguyên du lịch văn hóa

vùng ven biển Thanh Hóa

1.1 Một số khái niệm

1.1.1.Vùng ven biển ( Duyên hải)

Trước khi tìm hiểu và nghiên cứu về tài nguyên du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh Hóa, chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm vùng ven biển Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều tác giả đưa khái niệm này Theo các tác giả cuốn sách “Địa mạo bờ biển Việt Nam” thì khái niệm vùng ven biển là:“Là một đại lục địa ven biển rộng lớn Mà trên dải này tồn tại các đường địa hình

được tạo bởi biển, các mực nước biển có đường cao khác nhau Nếu như trên lục địa không có các diện tích nặng của địa hình thì ranh giới vùng ven biển

có thể là đường nối các đỉnh vũng vịnh ở các bờ biên giới phần ranh giới này

có thể trùng với mép vạch dọc “clif” hoặc mép trong bậc thềm biển Khi đó thuật ngữ vùng ven biển chỉ có ý nghĩa về mặt địa lý tự nhiên khái quát” 1

1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch văn hóa được hiểu là loại tài nguyên do con người tạo

ra hay có thể hiểu nó là những đối tượng, hiện tượng được tạo ra bởi con người Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch văn hóa

“Tài nguyên du lịch văn hóa gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể khác có thể sử dụng phục vụ mục đích du lịch 2

1 Lê Xuân Hồng, Lê Thị Kim Thoa (2007), “Địa mạo bờ biển Việt Nam”, nxb Khoa học TN và CN, tr 12

2

Trang 11

1.1.3 Du lịch văn hoá

Trong vài chục năm trở lại đây, với sự phát triển của kinh tế và khoa hoặc

kỹ thuật đã xuất hiện một số hình thức du lịch đặc thù và ngày càng trở nên phổ biến Trong đó phải kể đến du lịch văn hóa Đây là loại hình du lịch mà khách du lịch đến đấy nhằm mục đích thăm quan, tìm hiểu giá trị của các di tích lịch sử – văn hóa, lễ hội, phong tục tập và các làng nghề truyền thống, các sự kiện văn hóa

do cộng đồng taọ ra có sức thu hút đặc biệt với khách du lịch

Theo PGS TS Trần Đức Thanh: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa vào các giá trị văn hoá của một cộng đồng hay một nhóm dân tộc, một quốc gia hay một khu vực có tác dụng giáo dục và nâng cao hiểu biết, nhận thức của khách du lịch”

Theo GS, TS Nguyễn Văn Đính: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa trên nền tảng của tài nguyên du lịch nhân văn, và hoạt động du lịch diễn

ra chủ yếu trong môi trường nhân văn hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên nhân văn, đặc biệt là các công trình kiến trúc văn hoá do cộng đồng tạo ra có sức thu hút đặc biệt với du khách”

Đây là loại hình du lịch có tác dụng giáo dục và nâng cao nhận thức của khách du lịch và hiện đang phát triển mạnh ở Việt Nam, đất nước có 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước

1.1.4 Du lịch làng nghề

Du lịch làng nghề là một khái niệm mới Tuy nhiên, cũng được hiểu một cách thông thường về “du lịch làng nghề”, đó là một loại hình du lịch thuộc nhóm các loại hình du lịch được phân loại theo môi trường tài nguyên

Theo tác giả Phạm Quốc Sử cuốn “Phát triển du lịch làng nghề, nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà Tây”: “Du lịch làng nghề là một loại hình du lịch sinh thái nhân văn được tiến hành tại các làng tiêu biểu, mà ở đó còn lưu giữ tương

Trang 12

đối nguyên vẹn những di sản văn hóa làng xã truyền thống (di tích lịch sử văn hóa, phong tục, lễ hội,…), đặc biệt là truyền thống công nghệ cổ, thông qua các nghệ nhân tài giỏi”

Đến với mỗi làng nghề, khách du lịch sẽ được khám phá và thẩm nhận những giá trị văn hóa vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc,vừa độc đáo, mang tính đặc thù địa phương Ngoài sự chứng kiến tận mắt những thao tác công nghệ do các thợ thủ công thực hiện, khách du lịch có thể tìm hiểu sâu thêm về truyền thống công nghệ ở các nghệ nhân Khách du lịch có thể mua đồ lưu niệm là các sản phẩm công nghệ với giá cả phải chăng, thậm chí có thể tìm kiếm các cơ hội đầu tư, hợp tác kinh doanh, đồng thời đó cũng là dịp để du khách lấy lại sự cân bằng về tinh thần sau những bức xúc, căng thẳng do nếp sống công nghiệp và cuộc sống đô thị gây ra Thông qua chuyến viếng thăm làng nghề, KDL sẽ thu lượm được nhiều những giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống và hiểu sâu sắc hơn về đất nước và con người Việt Nam

1.1.5 Sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch được hiểu là tập hợp các dịch vụ cần thiết như: lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và các dịch vụ khác thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch

Theo GS.TS Nguyễn Văn Đính: “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hoá cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yêú tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất ký thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó” 3

Theo Luật du lịch Việt Nam: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch

vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”

và “dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”

3 GS.TS Nguyễn Văn Đính và TS Trần Thị Minh Hòa, Kinh tế du lịch, Trường ĐHKTQD, khoa Du lịch, NXB

Trang 13

1.1.6 Sản phẩm du lịch văn hoá

Sản phẩm du lịch được hiểu là toàn bộ những dịch vụ và hàng hóa mà khách du lịch được hưởng thụ trong suốt chuyến đi Sản phẩm du lịch văn hoá

là việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn và các dịch vụ du lịch kèm theo

để hình thành các chương trình du lịch, các dịch vụ du lịch có dấu ấn văn hoá chủ đạo và cơ bản, phù hợp với việc xây dựng loại hình du lịch văn hoá và do

đó là sản phẩm trực tiếp từ loại hình du lịch văn hoá

Theo Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh công bố ngày 4/4/1984, di tích lịch sử văn hóa được quan niệm như sau: Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa – xã hội” 4

Theo luật DSVH của Việt Nam năm 2003: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị – văn hóa và khoa học

4

Trang 14

1.1.8 Nghề, làng nghề thủ công truyền thống

Nghề và các làng nghề thủ công truyền thống từ lâu đã trở thành đối tượng của hoạt động du lịch – nơi người ta hướng tới để khám phá, tìm hiểu và chiêm nghiệm sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những giá trị vật chất và giá trị tinh thần một cách hài hòa và sinh động nhất

Làng nghề được quan niệm:“ Làng nghề nông thôn Việt Nam là làng nghề có trên 30% tổng số dân tham gia sản xuất các sản phẩm phi nông nghiệp, tổng doanh thu do hoạt động sản xuất này chiếm trên 50% tổng doanh thu cả làng”.5

Tuy nhiên làng nghề thủ công truyền thống có thể được quan niệm:

Là những làng có các nghề sản xuất hàng hoá bằng các công cụ thô sơ

và sức lao động của con người đã được hình thành một thời gian dài trong lịch

sử, nghệ thuật sản xuất hàng hoá được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

ở trong làng” 6

Sản phẩm hàng hoá được sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu ở trong làng mà còn bán ở thị trường trong nước và quốc tế

1.1.9 Phong tục, lễ hội truyền thống

Theo chúng ta hiểu: Phong tục là những tập quán đã đi đến sự công

nhận của xã hội, được chuẩn mực trong những mức độ nhất định, được coi như

là một phần của luật lệ Nó ràng buộc hành vi và chi phối cuộc đời các cá nhân hay cộng đồng, là sự biểu hiện cụ thể bản sắc văn hóa của cộng đồng đó.

Theo từ điển tiếng Việt:“Phong tục là thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo”

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá tập thể của nhân dân sau thời gian lao động vả Lễ hội là dịp để mọi người thể hiện lòng nhớ ơn tổ tiên,

5 Đặng Kim Chi, Xử lý nước thải tại làng nghề, tạp chí du lịch Việt Nam, số/2007

6

Trang 15

những người có công với địa phương và với đất nước, có liên quan tới những nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng, ôn lại những giá trị văn hoá nghệ thuật truyền thống hoặc hướng về một sự kiện lịch sử-văn hoá, kinh tế trọng đại của đại phương, của đất nước hoặc là những hoạt động vui chơi giải trí là dịp để tăng thêm tinh thần đoàn kết cộng đồng.

“Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên – thần thánh và con người trong xã hội” 7

1.2 Giới thiệu khái quát Thanh Hoá và vùng ven biển Thanh Hoá

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 11.106,09 km2, nằm ở phía Bắc Trung

Bộ Việt Nam (ở phía Nam vùng Du lịch Bắc Bộ, tọa độ địa lý từ 19018' đến

20040' vĩ độ Bắc và từ 104020' đến 10605' kinh độ Đông), cách thủ đô Hà Nội trên150 km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km Phía Bắc giáp với các tỉnh Hoà Bình, Sơn La và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ

An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và phía

Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài 102 km Thanh Hoá nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ, có hệ thống giao thông

đường bộ khá thuận lợi

Thanh Hoá cũng có hệ thống sông ngòi phân bố đều với 4 hệ thống sông chính gồm Sông Mã, Sông Hoạt, Sông Yên, Sông Lạch với 5 cửa lạch chính thông ra biển thuận lợi cho khả năng phát triển giao thông vận tải biển

và việc giao lưu kinh tế của Thanh Hoá với các nước trong khu vực và Thế giới Ngoài ra, Thanh Hoá còn có nguồn nước khoáng nóng tuy chưa có điều

7

Dương Văn Sáu, Lễ hội VN trong sự phát triển du lịch, t35, Trường ĐHVHHN, 2004

Trang 16

tra quy mô lớn nhưng đây sẽ là một tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn du khách

đến nghỉ ngơi, chữa bệnh

Về hàng không, Thanh Hoá có sân bay Sao Vàng là sân bay quân sự nhưng có thể sử dụng vào mục đích dân sự, là những nhân tố mới thuận lợi trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế Thanh Hoá là tỉnh nằm trong vùng giao thoa chịu ảnh hưởng của khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và những tác

động của các vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ, Nam Bộ

Thanh Hoá là một miền đất có địa hình khá phức tạp Nhìn chung có thể chia ra các dạng địa hình sau: Địa hình miền núi và trung du; Miền đồng bằng; Địa hình miền biển, đặc biệt thuận lợi cho phát triển du lịch với đường biển dài 102km Tổng diện tích tự nhiên của Thanh Hoá là 11.106 km2, chiếm 3,37%/tổng diện tích tự nhiên cả nước Trong đó đất rừng là thế mạnh của tỉnh với 711.902ha, chiếm 63,7%, vùng bãi bồi (kể cả đất bồi ven sông, bãi bồi sinh thái biển) khoảng 12.790ha

Thanh Hoá là một tỉnh nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có sự phân hoá khí hậu giữa các vùng trong lãnh thổ và thay đổi theo độ cao Tài nguyên khí hậu kết hợp với biển đã tạo ra tính chất mùa vụ của du lịch Hiện nay, Thanh Hoá đang khắc phục tình trạng này bằng cách phát triển nhiều loại hình du lịch để khai thác điều kiện thuận lợi của khí hậu và sự đa dạng của tài nguyên du lịch trên địa bàn tỉnh

Tài nguyên động, thực vật rừng ở Thanh Hoá rất phong phú và đa dạng Tài nguyên rừng đã trở thành nguồn tài nguyên du lịch quan trọng hiện đang

được ưa chuộng trên thị trường trong nước và quốc tế, hấp dẫn du khách mỗi lần đến với xứ Thanh

1.2.2 Điều kiện xã hội, nhân văn

Trong thời kỳ đổi mới nền kinh tế của Thanh Hoá đã dần đi vào ổn

định, công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, nền kinh tế nhiều thành phần phát triển với tốc độ nhanh

Trang 17

Hiện nay hệ thống giao thông của Thanh Hoá đã được cải thiện đáng

kể, cả tỉnh có trên 7.000 km đường bộ, trong đó nhựa hoá, bê tông hoá đạt khoảng 25% tổng số đường bộ toàn tỉnh; phương tiện giao thông công cộng, vận tải hành khách không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng, đặc biệt hiện nay Thanh Hoá đã đưa vào khai thác tuyến xe buýt nối Thành phố Thanh Hoá với các huyện, thị xã trong tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của người dân và du khách Hiện nay được sự đầu tư, quan tâm của tỉnh, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao với Theo thống kê năm 2007:

Về thông tin liên lạc: 3,7máy/100 dân, 100% xã, phường, thị trấn có

điện thoại

.Về văn hoá - Thể thao: Tính đến nay có 4.188 làng, bản, cơ quan văn

hoá .Y tế: 60% số xã có bác sĩ, 30% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 98,2%

xã có trạm y tế

.Cấp điện: 90% tổng số hộ trong tỉnh đã được cấp điện lưới quốc gia

Thanh Hoá là một miền đất cổ, có thể coi là cái nôi sinh ra những lớp người cổ đầu tiên trú ngụ trên lãnh thổ nước ta Đây cũng là thời điểm bắt đầu của lịch sử đất nước, của lịch sử định cư của các lớp cư dân Thanh Hoá Vào khoảng 6.000 - 5.000 năm trước đây họ đã tiến ra Đa Bút, Hoa Lộc để chinh phục vùng ven biển và vào khoảng 2000 năm trước họ đã làm chủ vùng đồng bằng và sáng tạo nên nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ nổi tiếng cả thế giới Đấy cũng là nền văn hoá thực chất của nước Văn Lang

Về địa danh thì cái tên Thanh Hoá có từ thời Lý gọi là lộ Thanh Hoá, trải qua các thời kỳ có đôi ba lần thay tên và đến năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1831) thì gọi là tỉnh Thanh Hoá Ai cũng biết Xứ Thanh là nơi sản sinh

ra biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt cho đất nước Là vùng địa linh nhân kiệt,

đất phát tích của nhà Lê, nhà Hồ, chúa Trịnh

Trang 18

Thanh Hoá là một trong những tỉnh đông dân của cả nước, chỉ sau thành phố HCM và thủ đô Hà Nội Tuy nhiên mật độ dân số trung bình ở Thanh Hoá không cao Mặc dù vậy mức tăng dân số tự nhiên của Thanh Hoá vẫn khá cao Cơ cấu dân số của Thanh Hoá khá trẻ Nhóm tuổi lao động chiếm khoảng 45% toàn bộ dân số Có tới 90,5 % cư dân sống ở vùng nông thôn, chỉ có 9,5% sống ở thành thị Tỷ lệ trên cho thấy nền kinh tế Thanh Hoá chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và nhịp độ đô thị hoá chưa cao

Theo thống kê có thể thấy Thanh Hoá là tỉnh có các dân tộc thiểu số sinh sống Trong cơ cấu dân tộc, dân tộc Kinh chiếm 84,7%; dân tộc Mường chiếm 8,7%; dân tộc Thái chiếm 6,0%; còn lại khoảng 0,4% là các dân tộc khác như: Hmông, Dao, Hoa Các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở các huyện miền núi phía Tây Thanh Hoá như: Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh

Các dân tộc này tuy với số lượng không nhiều, nhưng lại có một nền văn hoá đặc sắc, thể hiện trong tập tục, trong sinh hoạt văn hoá dân gian, trong

lễ hội và ngay trong các hoạt động canh tác, đặc biệt là dân tộc Mường Thanh Hoá đã được mệnh danh là thủ phủ của dân tộc Mường Dưới góc độ du lịch thì đây là một vốn quí, là nguồn tài nguyên đặc sắc được khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế quan tâm

Hiện nay toàn tỉnh có các loại đô thị gồm 1 thành phố loại II, 2 thị xã và

24 thị trấn Các đô thị đang được đầu tư phát triển, nâng cấp trở thành các trung tâm kinh tế, đầu mối giao thông, các trung tâm dịch vụ - du lịch thúc

đẩy sự phát triển của huyện và tỉnh Thị xã Sầm Sơn đang dần trở thành đô thị

du lịch tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động du lịch

Thanh Hoá là một tỉnh đông dân, đứng hàng thứ 3 sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, có nguồn lao động trong độ tuổi rất dồi dào với trình độ học vấn tương đối cao so với cả nước Hàng năm, con số tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao Đẳng, THCN và dạy nghề tăng nhanh đáng kể Đây chính là nguồn nhân lực quí giá cho các ngành kinh tế nói chung và du lịch nói riêng

Trang 19

1.2.3 Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Thanh Hoá

Lịch sử hình thành tỉnh Thanh Hoá là một lịch sử lâu dài, gắn liền với lịch sử hình thành và dựng nước của nước ta Đó cũng là lịch sử hàng ngàn năm với nhiều lần sát nhập, tách, đổi tên Có điều về cơ bản, địa giới của tỉnh không thay đổi nhiều so với ngày nay

- Thanh Hóa xưa là bộ Cửu Chân của nước Văn Lang

- Nhà Hán: Thanh Hóa thuộc quận Cửu Chân

- Thời thuộc Tam Quốc, nhà Đông Ngô tách quận Cửu Chân thành 2 quận: Cửu Chân và Cửu Đức Quận Cửu Chân thuộc đất Thanh Hóa ngày nay

và một phần phía Ninh Bình

- Thời nhà Lương: Lương Võ Đế đổi Cửu Chân thành ái Châu

- Nhà Tùy gọi là Cửu Chân quận

*Thời Đinh, Tiền Lê, Lý

- Nhà Đinh và Tiền Lêgọi là đạo Ái Châu

- Nhà Đinh và Tiền Lê gọi là đạo Aí Châu

- Nhà Lý thời kỳ đầu gọi là trại Aí Châu, về sau vào năm Thuận Thiên 1 thì gọi là phủ Thanh Hóa ( Thanh: trong sáng; Hóa: biến hóa)

Trang 20

*Thời Nguyễn

- Nhà Lê, Thanh Hóa là thừa tuyên Thanh Hóa, gồm phần đất tỉnh Thanh Hóa ngày nay và tỉnh Ninh Bình ( thời kỳ đó là phủ Trường Yên, trực thuộc)

và tỉnh Sầm Nưa của Lào ( thời kỳ đó gọi là Châu Sầm)

- Năm 1802 (năm Gia Long 1), gọi là trấn Thanh Hóa

- Năm 1831 ( năm Minh Mệnh 12), đổi trấn thành tỉnh, bắt đầu gọi là tỉnh Thanh Hoa ( Hoa: tinh hoa)

- Năm 1841 ( năm Triệu Trị 1), lại đổi thành tỉnh Thanh Hóa và không

đổi từ đó cho tới nay

Thời thuộc Pháp, tỉnh Thanh Hoá thuộc quản lý của triều đình Huế Ngày 1/5/1994, tại Nghị định số 07/CP, Chính phủ quyết định thành lập thành phố Thanh Hoá trên cơ sở hành chính thị xã Thanh Hoá

Ngày 18/11/1996, Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã ra Nghị định số 72/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện.Ngày 6/12/1996, UBND tỉnh Thanh Hoá đã có chỉ thị số 31 TC/UB thực hiện Nghị

định 72/CP Theo chỉ thị này, từ ngày 1/1/1997, các huyện chính thức hoạt

động theo đơn vị hành chính mới gồm 24 huyện, 2 thị xã, 1 thành phố

Từ khi Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa, được sự quan tâm và đầu tư của Chính phủ, cùng với sự đổi mới của đất nước Thanh Hóa đã dần phát trển mạnh về kinh tế – xã hội và đạt những thành tựu quan trọng: kinh tế tăng trưởng vượt với tốc độ khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, kết cấu hạ tầng được quan tâm đâu tư, nhiều dự án quan trọng đã và đang được xây dựng Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao, tiềm lực quốc phòng an ninh được củng

cố, trật tự an toàn xã hội có chuyển biến tích cực Thanh Hóa đã trở thành một

điểm phát triển kinh tế năng động của Nhà nước

Trang 21

1.2.4 Vùng ven biển Thanh Hoá

Thanh Hóa không chỉ là mảnh đất “ Địa linh nhân kiệt” mà còn tỉnh có

“ biển bạc, rừng vàng, ruộng đồng man mác, xóm làng liên miên” như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi người về thăm xứ Thanh

Nói đến Thanh Hóa không thể không nói tới vùng ven biển Vùng ven biển Thanh Hóa gồm các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia và thị xã Sầm Sơn Chạy dọc theo bờ biển gồm vùng sình lầy

ở Nga Sơn và các cửa sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông Bạng Bờ biển dài, tương đối bằng phẳng, có bãi tắm nổi tiếng Sầm Sơn

Mặc dù cả 5 huyện đều thuộc vùng ven biển nhưng mỗi huyện đều có những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế, xã hội riêng ảnh hưởng đến tình hình khai thác các sản phẩm du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh

*Huyện Nga Sơn

Huyện Nga Sơn nằm ở cực đông bắc tỉnh Thanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá 42km, phía bắc và đông giáp tỉnh Ninh Bình và thị xã Bỉm Sơn, phía tây giáp huyện Hà Trung, phía nam giáp huyện Hậu Lộc Với đường bờ biển dài 20km, mỗi năm Nga Sơn lấn ra biển từ 80 đến 100m do phù sa sông Hồng và sông Đáy bồi lắng

Nga Sơn là huyện mới thành lập do lấn biển mà thành Theo truyền thuyết Mai An Tiêm, thời các vua Hùng, đất Nga Sơn chỉ là hòn đảo ngoài biển khơi, gồm các dãy núi như: núi Thiết Giám, núi Vạn Sơn, núi Vân Nham, núi Thần Đầu, núi Song Ngư, núi Chích Trợ và các con sông như sông Hoạt, sông Báo Văn, sông Lèn Diện tích đất tự nhiên 15.617,95ha Trong những năm gần đây, Nga Sơn đã có những bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế: tốc

độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1996 - 2000 đạt 7,2%/năm, tăng 1,7% so với giai đoạn 1990 - 1995 Riêng năm 2002, tốc độ tăng trưởng bình quân GDP

đạt 9,5%/năm GDP tính theo đầu người đạt mức 2,94 triệu đồng/người/năm, tăng 16,2% so với năm 2000, lương thực (quy thóc) đạt 367 - 370 kg/người/năm

Trang 22

* Huyện Hậu Lộc

Hậu Lộc (Thanh Hóa) có bờ biển dài 12,4 km, 1 xã chuyên nghề biển, 5 xã có nghề khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản, 2 xã sản xuất muối Vùng biển Hậu Lộc rộng hơn 2.000 km2, có rất nhiều loài hải sản quý Bãi tôm he Hòn Nẹ có trữ lượng lớn trong số các bãi tôm trên Vịnh Bắc bộ Từ xa xưa, người dân Hậu Lộc đã có câu “nhất biển, nhất nghề” Sản lượng hải sản khai thác của huyện Hậu Lộc nhiều năm qua luôn chiếm vị trí cao trong tổng sản lượng của cả tỉnh, tuy nhiên so với tiềm năng vẫn đang ở mức hạn chế vì đa phần phương tiện đánh bắt, khai thác của ngư dân đã đã cũ kỹ, lạc hậu Những năm gần đây huyện đã chú trọng hơn đến việc tăng công suất các phương tiện khai thác nên hiện toàn huyện có 717 phương tiện đánh bắt hải sản (tổng công suất 47.035 CV, bình quân mỗi phương tiện đạt 65,6 CV) Bên cạnh nghề khai thác, đánh bắt trên biển, nghề nuôi trồng thủy sản ở Hậu Lộc đã có những bước phát triển mạnh Những năm 80, nghề nuôi trồng thủy sản nơi đây còn nhỏ lẻ, manh mún; đến nay, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện có gần 1.100 ha; trong đó diện tích nuôi nước mặn, nước lợ là hơn 400 ha; giải quyết cho 4.275 lao động có công ăn, việc làm, mang lại thu nhập bình quân hơn 9 triệu đồng/người/năm Khu nuôi tôm công nghiệp Đa Lộc, khu bãi triều ven biển nuôi nhuyễn thể Hải Lộc, Đa Lộc với diện tích hàng trăm ha đang dần phát huy tác dụng và bước đầu cho hiệu quả kinh tế cao

Tuy nhiên, do đặc điểm của vị trí địa lý, hàng năm Hậu Lộc phải hứng chịu nhiều hậu quả nặng nề do thiên tai, làm tụt giảm đáng kể tốc độ phát triển kinh tế của huyện trong nhiều năm Song mấy năm gần đây, GDP của Hậu Lộc luôn tăng trưởng trên mức 10%, mặc dù vẫn phải đối chọi với bão lụt

và tình trạng nhiễm mặn nặng nề Người Hậu Lộc đang cố gắng thoát nghèo

để vươn lên làm giàu, trong đó có phần đóng góp quan trọng từ kinh tế biển.

Trang 23

*Huyện Hoằng Hóa

Hoằng Hóa là một huyện đồng bằng ven biển, phía đông giáp biển, phía Bắc giáp huyện Hậu Lộc, phía Tây giáp huyện Thiệu Hóa, Yên Định và Vĩnh Lộc, phía Nam giáp huyện Quảng Xương, thành phố Thanh Hóa và một phần huyện Đông Sơn Với ưu thế về vị trí địa lý cùng tiềm năng về đất đai, tài nguyên và con người, trong những năm đổi mới, đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Hoằng Hoá đã phát huy truyền thống anh hùng cách mạng,

nỗ lực phấn đấu vươn lên, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phát triển công nghiệp, ngành nghề phát triển dịch

vụ du lịch

Hoằng Hoá được coi là một huyện đất rộng người đông, giàu tiềm năng

để phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy, trong những năm qua, cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ (tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm

là 9,8%) Hoằng Hoá có nhiều tiềm năng để phát triển mạnh mẽ công nghiệp, ngành nghề: sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản rất phong phú, đa dạng; trữ lượng tài nguyên thiên nhiên tương đối lớn (cát xây dựng có khả năng khai thác 200.000 m3/năm, sản xuất gạch, ngói 50 triệu viên/năm); kết cấu hạ tầng thuận lợi (hệ thống lưới điện quốc gia với 94 trạm tiếp áp hạ thế, hệ thống trung thế có dung lượng gần 9.000 kVA phủ kín 100%

số xã, thị trấn, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất trên địa bàn) Nhiều ngành nghề

có chiều hướng ổn định và phát triển Theo thống kê của uỷ ban nhân dân huyện Hoằng Hoá, ngành chế biến nông sản thực phẩm với quy mô sản xuất như hiện nay đã chiếm tỷ trọng 28,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp ngành nghề của huyện Ngành chế biến lâm sản như mây tre đan, hàng mộc dân dụng được duy trì và ngày càng mở rộng Nghề dệt may được khôi phục Bên cạnh đó, huyện còn mở thêm nghề dệt thảm, chiếu cói vì mặt hàng này có thị trường tương đối ổn định, có khả năng chiếm tỷ trọng tới 10% Ngành vật liệu xây dựng đã đáp ứng đủ nhu cầu xây dựng cơ bản Nhiều xã đã tạo điều kiện

Trang 24

thuận lợi để ngành nghề phát triển, từ việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, quy hoạch các điểm tập trung công thương, khôi phục nghề truyền thống, đến tìm kiếm thị trường tiêu thụ

*Huyện Quảng Xương

Là một huyện đồng bằng ven biển có diện tích đất tự nhiên 227,63 km2, Quảng Xương đã từ lâu được coi là trọng điểm lúa của tỉnh Với chiều dài bờ biển gần 18km, Quảng Xương là một trong những huyện có tiềm năng về thuỷ, hải sản Hơn nữa, nằm trên các trục quốc lộ 1A, quốc lộ 45, 47, tỉnh lộ

số 4, phía bắc là thành phố Thanh Hoá với khu công nghiệp Lễ Môn, phía nam

là Khu công nghiệp động lực Nghi Sơn - Tĩnh Gia, đồng thời là huyện có vị trí trọng yếu về an ninh - quốc phòng của tỉnh Đây là lợi thế đặc biệt quan trọng

để thu hút đầu tư phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng

Quảng Xương được xem là một huyện nghèo của tỉnh Thanh Hoá, đồng

đất không mấy thuận lợi, lại chịu nhiều thiên tai Song, hiện nay, kinh tế của huyện vào diện khá của tỉnh, GDP liên tục tăng qua các năm, thu nhập bình quân đầu người có mức tăng khá (498,7 USD năm 2006), đời sống nhân dân ngày càng cải thiện Thêm nữa, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại Sự đổi thay kỳ diệu đó có được là do Quảng Xương đã đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cánh làm

Trang 25

Nằm trên bờ vịnh Bắc Bộ, địa hình Sầm Sơn tương đối bằng phẳng, là vùng sơn thuỷ hữu tình với khí hậu trong lành, dải bờ biển cát vàng thoai thoải, nước trong xanh soi bóng núi Trường Lệ với những di tích văn hoá đã

được xếp hạng quốc gia (đền Độc Cước, đền Cô Tiên, hòn Trống Mái ) Hơn nữa, biển Sầm Sơn bao la là nơi trực tiếp cung cấp nguồn hải sản phong phú như tôm, cá mực, cua, các loại hải sản quý khác Mặt khác, Sầm Sơn có bề dày lịch sử, truyền thống văn hoá lâu đời, với các hoạt động văn hoá mang

đậm bản sắc quê hương như lễ hội bánh chưng - bánh dày (ngày 12-5 âm lịch hàng năm) Với những lợi thế này, Sầm Sơn có nhiều ưu thế trong sự phát triển của ngành du lịch và thuỷ sản Sầm Sơn là một trong những địa danh nổi tiếng,

là niềm tự hào của ngành du lịch Thanh Hoá và cũng là của ngành du lịch Việt Nam Ngay từ thời Pháp thuộc, làng núi Sầm Sơn cùng bãi biển chân núi Sầm

được coi là khu nghỉ mát cho các quan chức người Pháp, dần dần trở thành bãi tắm lý tưởng thu hút khách du lịch thập phương Sau năm 1960 và nhất là từ

1980 đến nay, Sầm Sơn thực sự trở thành thị xã du lịch, nghỉ mát nổi tiếng

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, chính quyền và nhân dân thị xã Sầm Sơn đã phát huy thế mạnh sẵn có, lấy du lịch làm ngành kinh tế trọng điểm trong phát triển kinh tế - xã hội Do vậy, kể từ năm 1996 trở lại đây, được sự hỗ trợ của Nhà nước, của tỉnh và sự đóng góp của nhân dân địa phương, Sầm Sơn đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng phát triển kết cấu hạ tầng như: khách sạn, giao thông, điện, nước và khu vui chơi giải trí, Hầu hết các khách sạn đều được đầu tư xây dựng khang trang với những trang thiết bị hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế đặc biệt, thị xã đã tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật, hoàn thiện và đưa vào sử dụng Khu du lịch văn hoá - vui chơi giải trí "Huyền thoại thần Độc Cước" và "Khu nhà luyện tập và thi đấu thể dục thể thao tổng hợp, Khu sinh thái Quảng Cư"; tiến hành quy hoạch: Khu du lịch văn hoá núi Trường Lệ Vì vậy, số lượng khách đến với Sầm Sơn ngày một tăng Nếu như năm 1996 là 506.740 khách/ngày thì đến

Trang 26

năm 2002 tăng 60%, đạt 815.500 khách/ngày, dự kiến năm 2003 đạt 880.000 khách/ngày Doanh thu từ ngành du lịch cũng liên tục tăng cao, từ 34 tỷ đồng (năm 1996) lên 77,058 tỷ đồng (năm 2002), đưa tỷ trọng ngành du lịch trong cơ cấu kinh tế từ 40% (năm 1996) tăng lên 46,33% (năm 2002) Năm 2005 số lượng khách đến Sầm Sơn là 650 nghìn lượt khách, phục vụ 1.379.000 ngày khách Đến năm 2007 thị xã Sầm Sơn đón 1,3 triệu lượt khách, phục vụ 2,2 triệu ngày khách, doanh thu từ dịch vụ du lịch ước tính là 310 tỷ đồng, tăng 7% so với kế hoạch và tăng 32,6% so với cùng kỳ

Kết quả nêu trên cho thấy, ngành du lịch ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế thị xã Sầm Sơn và phát triển theo hướng bền vững Vai trò đó được khẳng định bằng tác động tích cực tới sự phát triển kinh

tế - xã hội của Sầm Sơn như: thu hút hàng ngàn lao động tham gia kinh doanh dịch vụ du lịch; thay đổi tư duy, cách nghĩ cách làm của người dân trong cơ chế thị trường; góp phần nâng cao trình độ dân trí của người dân, đặc biệt là nhận thức về du lịch Bên cạnh đó, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, nguồn thu từ du lịch được đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi như: trạm y tế, trường học, đường điện, giao thông; tôn tạo các danh lam thắng cảnh và khu di tích, góp phần làm thay đổi nhanh diện mạo của thị xã Sầm Sơn

* Tĩnh Gia

Là huyện đồng bằng ven biển phía Nam tỉnh Thanh Hóa Với hệ thống

du lịch biển, du lịch sinh thái bốn mùa, trong đó phải kể đến khu du lịch Hải Hòa - huyện Tĩnh Gia Các khu du lịch này hiện đang được đầu tư để trở thành những khu du lịch sinh thái biển đẹp, tiện ích của khu vực miền Bắc

Là huyện đồng bằng ven biển phía Nam tỉnh Thanh Hóa, Tĩnh Gia hội

đủ điều kiện để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế du lịch, đó là Đảo Nghi Sơn - nơi tập trung nhiều dự án phát triển kinh tế trọng điểm của Tỉnh, có cảng cá Lạch Bạng - Đảo Mê, hang động Trường Lâm, Đền Quang Trung, Đền Đào Duy Từ… Nhưng thế mạnh lớn nhất để phát triển du lịch của Tĩnh Gia là bờ

Trang 27

biển dài 42 km nằm ven theo quốc lộ 1A, rất tiện lợi cho việc du lịch biển và

điều dưỡng Biển Hải Hòa nằm cách thị trấn Tĩnh Gia 2km, cách khu đô thị mới Nghi Sơn khoảng 15 km, có bãi rộng và thoải, đây là nơi có địa thế thuận lợi để đầu tư xây dựng thành một trung tâm du lịch- dịch vụ, thu hút du khách

về với vùng đất phía Nam Thanh Hoá Khu du lịch nghỉ mát Hải Hòa được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt quy hoạch chi tiết tại công văn số 2416 ngày 28 tháng 7 năm 2003 và phê duyệt điều chỉnh bổ sung mở rộng phạm vi

dự án về phía Bắc, thuộc xã Ninh Hải tại công văn số 665 ngày 13 tháng 3 năm 2006 (đổi thành khu du lịch nghỉ mát Hải Hòa - Ninh Hải), với tổng diện tích 154 ha, trong đó bao gồm các phân khu chức năng cụ thể: Khu các công trình công cộng; Khu khách sạn nhà nghỉ; Đất công viên, cây xanh, bãi tắm;

Đất dân cư Với mục tiêu xây dựng khu vực bãi biển Hải Hòa thành trung tâm dịch vụ công cộng, khu du lịch nghỉ mát, sinh thái, vui chơi giải trí, phục vụ khách thăm quan du lịch và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân khu vực đô thị mới Nghi Sơn, thị trấn Tĩnh Gia và vùng lân cận

Hiện nay, dự án khu du lịch Hải Hòa được đầu tư xây dựng đã mở ra một cơ hội phát triển mới cho Tĩnh Gia Dự án đó phù hợp với định hướng phát triển chung của Huyện là đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tập trung vào các ngành, các lĩnh vực mà Huyện có tiềm năng như kinh tế biển, nuôi trồng thuỷ sản, du lịch, dịch vụ thương mại… bằng việc phát huy tối đa nội lực, đồng thời luôn tạo môi trường thuận lợi nhất để tranh thủ triệt để các nguồn lực từ bên ngoài

1.3 Tài nguyên du lịch văn hóa tiêu biểu vùng ven biển Thanh Hoá

1.3.1 Tài nguyên du lịch văn hóa truyền thống

1.3.1.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể

Di tích lịch sử - văn hoá vùng ven biển Thanh Hóa chứa đựng những truyền thống tốt đẹp, tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá, kiến trúc, mỹ

Trang 28

thuật của mỗi địa phương Vì vậy, nhiều di tích lịch sử văn hoá ở đây đã được khai thác trở thành đối tượng phục vụ cho mục đích du lịch như: tham quan, nghiên cứu, thực hiện các nghi lễ tâm linh của nhiều du khách và đã trở thành tài nguyên du lịch văn hóa quý giá trong việc thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế

- Quần thể kiến trúc tôn giáo Diêm Phố-Ngư Lộc-Hậu Lộc: Nghè - miếu -

chùa - phủ Diêm Phố xã Ngư Lộc, một trong 6 xã ven biển huyện Hậu Lộc,

được xây dựng chung trong một quần thể kiến trúc, nhưng mỗi kiến trúc được cấu tạo riêng theo đặc điểm nghi thức từng tín ngưỡng riêng và biệt lập hoàn toàn cả về nội dung lẫn hình thức Hiện nay khu kiến trúc Diêm Phố đã được tỉnh cấp bằng xếp hạng di tích văn hoá Trong quần thể này gồm:

- Đền thờ An Dương Vương và Mỵ Châu công chúa: Tại xã Quảng

Châu, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá, có đền thờ Thục An Dương Vương- nhà quân sự tài giỏi, nhà kiến trúc sư lỗi lạc, đã có công dựng nước và giữ nước, cách ngày nay hơn 2 ngàn năm Bên cạnh là đền công chúa Mỵ Châu, người con gái ngọc vàng và duy nhất của vua Thục đã để “Nỏ thần” vô

ý trao tay giặc Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”, cũng được dân làng Bình Hoà lập ngôi đền thờ nàng ngay cạnh vua cha, gọi là đền “Ngọc công chúa”

- Đền thờ Mai An Tiêm: Thuộc xã Nga Phú huyện Nga Sơn Cách

huyện lỵ Nga Sơn 5km về phía Đông Bắc Ngôi đền nhỏ đơn sơ nép mình bên sườn núi nhưng chứa đựng cả một huyền thoại đẹp được lưu truyền từ bao đời nay Mai An Tiêm là người có công khai phá xây dựng đất Nga Sơn từ buổi bình minh của đất nước, dưa hấu Mai An Tiêm là sản vật rất nổi tiếng ở Nga

Trang 29

Sơn Hàng năm lễ hội Mai An Tiêm diễn ra tưng bừng náo nhiệt từ 12 - 15 tháng 3 âm lịch

- Đền Độc Cước: Nằm trên đỉnh núi mang tên Cổ Giải, thuộc dày núi

Trường Lệ ở thị xã Sầm Sơn Đền được xây dựng từ thế kỷ XIII, thờ thần Độc Cước (Một Chân), là huyền thoại được lưu truyền qua bao đời nay về chàng trai khôi ngô tuấn tú được Mẹ Núi sinh ra Vì sự bình yên của người dân làng Núi thân yêu, chàng tự nguyện xẻ thân mình làm đôi, một nửa theo dân chài ra biển khơi, nửa còn lại đứng trên hòn Cổ Giải nơi đầu núi để canh giữ không cho quỷ biển vào bờ quấy rối Cũng như các vị thần hoàng làng khác, thành hoàng Độc Cước là vị thần cai quản, bảo trợ, trợ giúp cho ngư dân làng biển

Đền được nhân dân thờ phùng 4 mùa cúng tế Nơi đây diễn ra lễ hội Bánh chưng – bánh dày hàng năm vào ngày 12/5 AL

- Đền Cô Tiên: Nằm ở một vị trí khá đẹp, thoáng đãng, phía Nam núi

Trường Lệ, thị xã Sầm Sơn Đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (theo truyền thuyết Bà chính là cô gái làm nghề hái thuốc, cứu nhân độ thế ) Ngôi đền vinh dự được Bác Hồ về nghỉ tại đó năm 1960 nhân dịp Người về thăm Thanh Hóa và Sầm Sơn Đứng ở đền có thể nhìn thấy đảo Hòn Mê, cả vùng biển Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, bãi biển các xã Quảng Vinh, Quảng Hùng, huyện Quảng Xương Ngôi đền đã được nhiều lần trùng tu, sửa chữa

- Đền Bà Triều: Đền được xây dựng trên đất làng Trấp, nay thuộc thôn

Công Vinh xã Quảng Cư ( trước đây đền tọa lạc trên đất làng Triều Ngoài, nay thuộc thôn Tiến Lợi, do sụt lở sông, ngôi đền được cha ông di rời đến địa điểm ngày nay) Ngôi đền thờ Bà Triều, tổ sư của nghề dệt Săm Súc, một phương tiện đánh bắt hải sản của ngư dân Sầm Sơn Đây là một làng nghề truyền thống đang được khôi phục và phát triển tại thôn Tiến Lợi, nơi Bà đã truyền nghề cho con cháu từ xa xưa Lễ hội truyền thống vào ngày 10/2 AL, với các hoạt động văn hóa thông tin cùng các nghi lễ như: Rước kiệu, tế lễ…Đền Bà Triều mới được nhân dân thị xã Sầm Sơn trùng tu, tôn tạo năm 2004

Trang 30

- Cửa Thần Phù: Thuộc huyện Nga Sơn Trước đây vua Trần dẹp giặc

phương Nam, đến đây sóng to gió lớn không tiến lên được, nhờ có một đạo sĩ La Viện người địa phương dẫn đường nên mới thoát hiểm Thắng giặc trở về La Viện đã mất, Vua cho lập miếu thờ và phong là ấp Lãng Chân Nhân Tôn Thần

- Di tích lịch sử Chiến khu Ba Đình: Chiến khu Ba Đình thuộc xã Ba

Đình, cách trung tâm huyện Nga Sơn 3 km về phía Tây - Bắc Đây là di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia Với lòng yêu nước và tinh thần quả cảm, chỉ với những vũ khí thô sơ mà tại đây nghĩa quân cần Vương và nhân dân ba làng là làng Mậu, làng Thượng, làng Mỹ Khê đã dũng cảm đánh bại nhiều đợt tấn công của giặc Pháp xâm lược Địa danh Ba Đình này đã vinh dự

được Bác Hồ đặt thành tên gọi của quảng trường Ba Đình (Hà Nội) lịch sử

- Chùa Khải Minh: Ngôi chùa thuộc địa phận phường Bắc Sơn, thị xã Sầm

Sơn Chùa có nhiều tượng Phật đẹp và xung quanh có các cây cổ thụ mọc kín, có cây hàng 2 người ôm không xuể Chùa đã bị phá và được xây lại năm 1994 với kiến trúc khá đẹp, toàn bằng gỗ, nhưng quy mô nhỏ hơn trước nhiều Trong chùa hiện có hàng chục bức tượng Phật, trong đó có 11 pho tượng cũ làm trước kia, nhân dân cất giữ được Một chiếc chuông đồng, nặng khoảng trên chục cân Đặc biệt, trước chùa có 2 chiếc khánh đá vào loại lớn Mỗi chiếc có chiều dài 3m, cao 1m dày gần 0,2m, có lỗ xâu chốt, đặt trên 2 cột trụ đá

- Đền Tô Hiến Thành: Đền được xây dựng ở xóm Tài, làng Núi, nay thuộc phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn Đền thờ Tô Hiến Thành, một Đại thần cuối thế kỷ XII, dưới triều nhà Lý Ông là một viên quan, được lịch sử ca ngợi rất thanh liêm, chính trực Vào năm 1161, ông được vua Lý Thánh Tôn

cử cầm quân vào dẹp loạn ở vùng ven biển Thanh Hoá, nhờ thế nhân dân địa phương mới được an cư lạc nghiệp Vì vậy nhiều nơi ở Thanh Hoá, nhân dân

đã lập đền thờ để tưởng nhớ công đức của ông Hàng năm cứ đến ngày 16/2

âm lịch hàng năm, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội thắp hương ở đền

Trang 31

- Đền thờ Quang Trung : Để tưởng nhớ công lao người anh hùng dân

tộc Quang Trung-Nguyễn Huệ, vị lãnh đạo kiệt xuất của phong trào khởi nghĩa nông dân thế kỷ XVIII, nhân dân đã lập đền thờ ông tại làng Do Xuyên, xã HảI Thanh, huyện Tĩnh Gia, cách thị trấn Tĩnh Gia 5km về phía

Đông Khi nhà Nguyễn lên ngôi, đền thờ bị phá huỷ hoàn toàn Đến năm

1978, nhân dân địa phương xây dựng một cung nhỏ để thờ trên dấu vết cũ, có kết cấu 2 gian hậu cung mái cuốn vòm, diện tích gian thờ khoảng 35m2 Đền thờ nằm trong hệ thống với chùa Đót Tiên và đền Lạch Bạng Hàng năm, vào các ngày mùng 5,6,7 Tết Nguyên Đán, lễ hội thờ vua Quang Trung được tổ chức rất trọng thể tại đền

- Đền Lạch Bạng – Hải Thanh - Tĩnh Gia: Đền Lạch Bạng thuộc xã Du

Xuyên – huyện Tĩnh Gia, là đền thờ Tứ vị Thanh Nương - những vị thần có tầm quan trọng của ngư dân vùng ven biển Thanh Hóa

1.3.1.2 Tài nguyên du lịch văn hoá phi vật thể

1.3.1.2.1 Phong tục tiêu biểu của vùng ven biển Thanh Hoá

- Tục hạ thủy ở Ngư Lộc – Hậu Lộc: Con thuyền mới đóng xong, trước

khi kéo xuống nước đều phải làm lễ hạ thủy để xin thần linh được nhập con thuyền vào biển cả Lễ này tùy thuộc điều kiện kinh tế của mỗi nhà, nhưng ít nhất cũng phải mâm xôi, con gà, trầu rượu, vàng hương và phải mời thầy cúng

về làm lễ Thầy cúng xong, đốt một bánh pháo, mọi người chung quanh đồng thanh hò dô đẩy thuyền, mừng con thuyền chạm nước Nhà khá giả phải sắm vài ba mâm cỗ, mời họ mạc, xóm giềng đến cùng vui mừng Cũng trong dịp này những người trong họ và thân tình đều có tiền gạo, rượu đến mừng, nhiều ít tùy từng người, nhưng đây là hình thức tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau rất

tình nghĩa của họ hàng làng xóm đối với những gia đình có công việc lớn

- Tục thờ Cá Ông (Đức Ông): Tục thờ cá voi là một tục lệ riêng và tiêu

biểu của cư dân miền biển Họ tôn vinh cá voi là vị “Thần hộ mệnh” nên xưng

Trang 32

hô một cách kính cẩn là " Ngài”, là “Ông”, là “ Đức Ông” Xây đền thờ gọi là

đền “Đức Ông”, nhằm thể hiện lòng tri ân sâu nặng của dân làng đối với cá voi Tục thờ này thể hiện rõ qua lễ hội Cầu ngư hàng năm của ngư dân vùng ven biển Thanh Hóa

1.3.1.2.2 Lễ hội tiêu biểu của vùng ven biển Thanh Hoá

- Lễ hội Mai An Tiêm: Truyền thuyết về Mai An Tiêm với quả dưa đỏ

thời vua Hùng đã đi vào sử sách và sống mãi đến ngày nay trong lòng những người dân Nga Sơn-Thanh Hoá Hàng năm, lễ hội Mai An Tiêm được tổ chức với quy mô cấp tỉnh kéo dài trong 3 ngày từ 13 đến15/4 Ngoài lễ rước kiệu, dâng hương tại đền thờ, sẽ có chương trình diễn lại sự tích Quả dưa hấu để tưởng nhớ người có công khai sơn phá thạch, mở mang bờ cõi, thủy tổ truyền nghề canh nông cho dân trong vùng, cùng các hoạt động văn hoá, liên hoan văn nghệ, trò chơi, trò diễn dân gian, hội vật Khách du lịch đến lễ hội còn

được tham quan những danh thắng của Nga Sơn, non nước Thần Phù

- Lễ hội Cầu Ngư - Diêm Phố- Ngư Lộc - Hậu Lộc: Cầu ngư là lễ hội

đặc sắc nhất của ngư dân vùng ven biển Thanh Hóa nhằm tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng dân gian của ngư dân Một trong những lễ hội được tổ chức với qui mô lớn phải nói tới lễ hội cầu ngư của

bà con ngư dân xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tổ chức trang nghiêm từ ngày 21

đến 24 tháng 2 âm lịch hàng năm Đây là lễ hội truyền thống, mang đậm bản sắc văn hoá vùng biển, thu hút hàng nghìn lượt người tham gia

- Lễ hội bánh chưng-bánh dày: Lễ hội bánh dày ở thị xã Sầm Sơn là lễ

hội truyền thống có từ xa xưa Lễ hội tổ chức vào ngày 12.5(âm lịch) hàng năm Lễ hội thi bánh chưng bánh dày là lễ hội cầu mưa Đây là lễ hội lớn của người dân thị xã Sầm Sơn, lễ hội này gắn với di tích đền Độc Cước Lễ hội bánh dày dã trở thành lễ hội truyền thống của người dân Sầm Sơn Thường thì dịp lễ hội này lại diễn ra vào lúc bắt đầu một mùa nghỉ mát Sầm Sơn, do vậy

Trang 33

có thể kết hợp tour du lịch lễ hội Lễ hội này làm tăng sự đa dạng, phong phú của tour du lịch biển

- Lễ hội đua thuyền: Đây là một trong những lê hội lớn của cư dân vùng

ven biển Thanh Hóa, lễ hội được tổ chức tùy thuộc vào điều kiện và thời gian

bố trí của từng huyện Nhưng một trong lễ hội đua thuyền được tổ chức với qui mô lớn đấy là lễ hội của xã Ngư Lộc – Hậu Lộc Để tham gia cuộc thi này các thôn trong xã cử ra những người đàn ông tuổi từ 18 – 40 tuổi, có thể lực và kinh nghiệm sông biển giỏi, đặc biệt gia đình không có tang cớ Địa điểm đua thuyền là đoạn biển từ đầu làng tới cuối làng khoảng 1000m Giải thưởng tùy thuộc vào qui định của Ban tổ chức mỗi năm một khác Sau cuộc đua, tất cả các thuyền đều được nhân dân rót rượu chúc mừng Sau đó cả làng mở tiệc khao quân, cuộc vui này kéo dài đến bất tận

- Lễ hội Quang Trung – Tĩnh Gia: Hàng năm, vào các ngày mùng 5,6,7

Tết Nguyên Đán, lễ hội thờ vua Quang Trung được tổ chức rất trọng thể tại

đền Quang Trung tại làng Du Xuyên – huyện Tĩnh Gia rất đông vui tấp nập, nhân dân trong làng và các bản hội trong vùng về dự trong không khí tưng bừng phấn khởi với niềm vui bất tận của ngày xuân Trong hội có nhiều nghi

lễ truyền thống như: rước kiệu rước võng, tế lễ, đánh cờ, đua thuyền, bơi chải… và các hoạt động văn hóa như văn nghệ, thể thao…thu hút đông đảo khách du lịch đến dự

1.3.1.2.3 Nghề, làng nghề truyền thống ven biển Thanh Hoá

- Làng nghề chiếu cói Nga Sơn : Cách trung tâm huyện Nga Sơn 3km

về phía Đông Nam là một vùng cói bạt ngàn chạy dài 8 xã với diện tích 4.998,5ha Vùng đất này nổi tiếng với “Chiếu Nga Sơn-gạch Bát Tràng” Chiếu Nga Sơn được ưa chuộng bởi những tính năng ưu việt: gọn nhẹ, thuận tiện, mát, rẻ, chất lượng sản phẩm, kiểu dáng, mẫu mã đa dạng Đến vùng quê chiếu cói xen lẫn giữa những xóm làng ngày đêm rộn rã tiếng máy dệt chiếu,

Trang 34

xe đay Các sản phẩm làm từ cói tập trung nhiều ở chợ Hói Đào- xã Nga Liên Khách hàng có thể lựa chọn, đặt hàng với bất kỳ số lượng nào

- Nghề dệt Săm Xúc-Sầm Sơn: Nghề dệt Săm xúc thuộc xã Quảng Cư,

thị xã Sầm Sơn Xúc là tấm lưới dệt bằng tơ tằm để bắt con moi, nhờ những tấm xúc này mà dân làng bắt được nhiều hơn Hiện nay, được sự đầu tư của tỉnh, chính quyền địa phương thị xã Sầm Sơn đang khôi phục lại nghề này để

đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân làng chài, đồng thời khai thác hoạt

động nghề dệt săm xúc vào kinh doanh du lịch với loại hình du lịch nghề, làng nghề truyền thống

- Nghề làm nước mắm ở Khúc Phụ (Hoằng Phụ) : Trong 5 xã biển

huyện Hoằng Hoá chỉ có làng Khúc Phụ (giờ đây có thêm Hoằng Trường) làm nước mắm Nước mắm Khúc Phụ loại nỏ đầu, loại đặc biệt, để lâu là một "tài sản quý" Uống một chén nhỏ sẽ tăng sức chịu rét cho người đi biển vào mùa

đông, tăng sức khoẻ cho người thợ lặn, chữa được bệnh đau bụng gió, đau bụng bão Hiện nay, nước mắn Khúc Phụ có mặt trên thị trường để đáp ứng nhu cầu sử dụng của nhân dân trong vùng và khách du lịch khi đến đây

- Nghề mây tre đan ở Quảng Phong-Quảng Xương : Làng nghề thuộc xã

Quảng Phong, huyện Quảng Xương, cách Thành phố Thanh Hoá 10km về phía Nam Ngoài sản xuất nông nghiệp Quảng Phong còn có nghề mây tre

đan, là nghề thủ công truyền thống của nhân dân trong xã từ lâu đời Sản phẩm

được làm từ nguyên liệu mây, tre, giang, nứa, lá qua bàn tay đan lát khéo léo của những người dân ở đây đã tạo thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ rất tinh sảo Hiện nay, sản phẩm của làng nghề đã có mặt trên thị trường trong và ngoài nước

- Nước mắn Ba Làng - Tĩnh Gia : Nước mắm là gia vị độc đáo không

thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam và đã trở thành món

ăn dân tộc Cũng như các vùng ven biển Thanh Hoá, Tĩnh Gia là nơi làm nước mắm nổi tiếng nhất, đặc biệt là nước mắm Ba Làng Ba làng: Tên gọi 3 thôn

Trang 35

theo đạo Thiên chúa giáo (xứ đạo Ba Làng) nay gồm 3 thôn: Thượng Hải, Quang Minh, Xuân Tiến thuộc xã Hải Thanh

- Nghề chế biến cá Diêm Phố Ngư Lộc -Hậu Lộc: Trong 6 xã vùng ven

biển của huyện Hậu Lộc thì nổi tiếng về khai thác và chế biến hải sản là xã Ngư Lộc, đây là một trong những xã nằm sát mép bờ biển, người dân ở đây sinh sống cách bờ biển là một con đê được xây bằng bê tông, bởi bờ biển ở

đây bị xói lở nghiêm trọng Là một xã không thể phát triển du lịch tắm biển nhưng lại có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa khá đặc sắc, trong đó có loại hình du lịch thăm quan làng nghề Đây là một xã nổi tiếng về khai thác và chế biến hải sản nổi tiếng không chỉ trong tỉnh mà còn được bán ở nhiều nơi trong cả nước

- Nghề thủ công mỹ nghệ ốc trai - Sầm Sơn : Trong những năm gần đây

khi khách du lịch đến Sầm Sơn để có những ngày nghỉ hè sảng khoái nô đùa tắm biển và thăm quan những di tích thắng cảnh nổi tiếng, thì giờ đây khách

du lịch còn được đưa đến một số khu sản xuất hàng lưu niệm bằng các nguyên liệu từ hải sản như: vòng ốc, bông tai vỏ sò, nhẫn đồi mồi… Đây không chỉ là những món quà độc đáo, lạ mắt của thiên nhiên, mà còn vì giá các mặt hàng

mỹ nghệ này khá rẻ

1.3.1.2.4 ẩm thực vùng ven biển

Nói tới tài nguyên du lịch vùng ven biển không thể không nói tới ẩm thực của vùng ẩm thực từ lâu đã là tấm gương phản ánh đời sống văn hóa của từng miền quê ẩm thực của Thanh Hóa nói chung, vùng ven biển Thanh Hóa nói riêng khá phong phú và rất được coi trọng Đây là những huyện, thị vùng ven biển khá nổi tiếng với những đặc sản như: tôm, cua, mực, sò, ghe…là những mặt hàng hải sản quý được đem đi bán ở các tỉnh trong cả nước và xuất khẩu sang nước ngoài

Trang 36

Đến đây khách du lịch sẽ được thưởng thức những món ăn đa dạng, đặc sắc mang hương vị riêng của vùng biển được chế biến từ những bàn tay của những đầu bếp nổi tiếng

1.3.2 Tài nguyên du lịch văn hóa mang tính hiện đại

Vùng ven biển Thanh Hóa là những địa phương có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng cả về tự nhiên và nhân văn Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ có điểm du lịch Sầm Sơn có tài nguyên du lịch văn hóa mang tính hiện đại

Cứ đến dịp đầu mùa du lịch hàng năm, khách du lịch từ mọi nơi nô nức kéo về Sầm Sơn - điểm du lịch biển nổi tiếng của vùng ven biển Thanh Hóa để tham dự khai mạc “Mùa du lịch Sầm Sơn” Đến với lễ hội khai mạc khách du lịch có điều kiện tham gia tìm hiểu các loại hình sinh hoạt văn hóa vừa mang tính truyền thống vừa có tính hiện đại như: ca múa nhạc, đi cà kheo trên biển, chạy môtô nước, tổ chức đá bóng, đánh bóng chuyền trên bãi biển …

Ngoài các hoạt động sinh hoạt thông qua việc tổ chức các sự kiện văn hóa ở Sầm Sơn thì khi tới đây khách du lịch còn có thể tới thăm quan khu du lịch văn hóa – vui chơi giải trí “ Huyền thoại Thần Độc Cuớc” nằm ở trung tâm bãi biển Sầm Sơn Với hệ thống hang động vừa tự nhiên và nhân tạo sẽ

đưa khách du lịch đến với xứ sở xa xưa của vùng ven biển Sầm Sơn Khu vui chơi giải trí này đã được xây dựng và đi vào phục vụ khách du lịch từ tháng 5/2003 Đây là tài nguyên du lịch văn hóa mang tính hiện đại đã được khai thác thành sản phẩm du lịch văn hóa một cách hiệu quả

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Thanh Hóa là một vùng đất được mệnh danh là “ Địa linh nhân kiệt”, với nhiều nguồn tài nguyên du lịch văn hóa cũng như tự nhiên rất phong phú

và đa dạng với các ưu thế nổi trội để phát triển các loại hình du lịch Hiện nay,

du lịch tỉnh nhà được phát triển mạnh dựa vào loại hình du lịch nghỉ biển Khi tới vùng ven biển Thanh Hóa ngoài mục đích nghỉ dưỡng thì khách du lịch còn có thể tham quan tìm hiểu về tài nguyên du lịch văn hóa Với nguồn tài nguyên mang đậm bản sắc văn hóa địa phương của ngư dân vùng ven biển sẽ

đem lại cho khách du lịch một sản phẩm du lịch văn hóa khác so với những vùng khác Đây chính là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng trong việc thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế Với những di tích lịch sử văn hóa quan trọng như : đền Độc Cước, Quang Trung, Tô Hiến Thành, Lạch Bạng ; những lễ hội truyền thống và phong tục tập quán Cầu ngư, Bánh chưng – bánh dày, Hạ thủy, Đua thuyền Đây là nguồn tài nguyên có ý nghĩa lớn

về mặt lịch sử, văn hoá có tác dụng tích cực trong việc giáo dục truyền thống yêu nước và khôi phục phát triển những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá cổ truyền nhằm đáp ứng một phần đời sống tinh thần, tâm linh của người dân

đồng thời còn trở thành một phần quan trọng của du lịch, nó có sự thu hút kỳ diệu đối với du khách trong và ngoài nước Vì thế hiện nay, các phong tục, lễ hội đang có xu hướng phục hồi và phát triển trở lại Ngoài ra, đến đây khách

du lich còn có thể đến thăm những khu sản xuất đồ thủ công truyền thống gắn với môi trường sống của cư dân Việc khai thác và khôi phục phát triển các làng nghề truyền thống có vai trò lớn trong việc phát triển du lịch Đây là một hướng đi đúng được triển khai tích cực để vừa giải quyết việc làm, tăng thu nhập và thu hút du khách đến tham quan và mua sản phẩm Đặc biệt với chiến lược phát triển du lịch Thanh Hóa thành trọng điểm du lịch quốc gia

Trang 38

Chương 2: Thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh Hoá

2.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Thanh Hoá và sản phẩm du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh Hóa

2.1.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Thanh Hóa

2.1.1.1 Tình hình phát triển KT-XH và ngành Du lịch

Những kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta nói chung và Thanh hoá nói riêng trong những năm đổi mới được thể hiện ở các khía cạnh khác nhau, trong đó rõ nét và đặc trưng nhất là từ góc độ cơ cấu ngành Theo phân ngành kinh tế ở nước ta cơ cấu kinh tế được chia làm ba nhóm ngành lớn: Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ Cơ cấu kinh tế phân theo ngành kinh tế của Thanh Hoá trong những năm qua đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng hàng năm

Đánh giá chung: Giai đoạn 1996 - 2000 tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 7%, giai đoạn 2001 - 2004 tốc độ tăng trưởng khá, tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 9,6%, trong đó cơ cấu ngành dịch vụ đạt 8,2% Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trong GDP năm 1999 là: 42,50% - 23,20% - 34,30% thì đến năm 2005 là: 32,6% - 34,3% - 33,1%, lần

đầu tiên tỷ trọng công nghiệp cao hơn tỷ trọng nông nghiệp Các hoạt động dịch vụ thương mại phát triển nhanh và đa dạng, đáp ứng được yêu cầu của kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, nhất là hoạt dộng du lịch và các ngành dịch vụ phục vụ sản xuất đời sống

Trong những năm qua, đặc biệt từ năm 1995 trở lại đây nhờ có chính sách đổi mới và sự quan tâm, đầu tư đúng mức của các cấp, các ngành liên quan, du lịch Thanh Hoá có sự khởi sắc đáng kể, hoạt động kinh doanh du lịch Thanh Hoá trong giai đoạn 2000 - 2005 đạt tốc độ phát triển khá cao so với

Trang 39

giai đoạn trước, là một trong 10 tỉnh đứng đầu cả nước về các chỉ tiêu phát triển du lịch với tốc độ tăng bình quân hàng năm của chỉ tiêu lượt khách là 14,25%, chỉ tiêu doanh thu là 16,24% Năm 2000 toàn ngành Du lịch Thanh hoá đã đón 482.257 lượt khách, phục vụ 736.489 ngày khách, doanh thu đạt 84.126 triệu đồng Đến năm 2005, toàn ngành đã tổ chức đón được khoảng 940.041 lượt khách du lịch, tăng gấp 1,95 lần so với năm 2000; tăng gấp 3 lần

so với năm 1995; doanh thu đạt 185.000 triệu đồng, tăng gấp 2,19 lần so với năm 2000 và gấp 3,46 lần so với năm 1995 Tổng doanh thu trong du lịch năm

2005 chiếm tỷ trọng 2,09% trong GDP của cả tỉnh và chiếm tỷ trọng xấp xỉ 6,3% trong GDP của ngành dịch vụ Riêng ngành dịch vụ khách sạn đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, năm 1995, giá trị GDP của ngành du lịch Thanh Hóa (bao gồm khách sạn, nhà hàng) đạt 126,72 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 1,98% trong GDP của tỉnh và chiếm tỷ trọng 5,9% trong GDP của ngành dịch vụ

Đến năm 2007 ngành du lịch tỉnh nhà đón được 1.750.000 lượt khách, phuc vụ 3.328.000 ngày khách, doanh thu đạt 523,5 tỷ đồng tăng 36,7% so với cùng kỳ năm 2006 Riêng 7 tháng đầu năm 2008, du lịch Thanh Hóa tổ chức đón được 1.608.500 lượt khách, phục vụ 3.022.820 ngày khách, doanh thu đạt 552 tỷ

đồng tăng 32,4% so với cùng kỳ năm 2007 Kết quả hoạt động kinh doanh của

7 tháng đầu năm có tăng, song mức tăng trưởng không cao, nguyên nhân do

ảnh hưởng của các yếu tố như: dịch bệnh, thời tiết, chỉ số tiêu dùng cao

Mặc dù trong những năm qua du lịch Thanh Hoá đã có tốc độ tăng trưởng khá nhanh song so với sự phát triển du lịch của vùng và cả nước còn rất khiêm tốn, các chỉ tiêu phát triển còn thấp

2.1.1.2 Tình hình cơ cấu sản phẩm, dịch vụ du lịch chủ yếu

Những năm gần đây, với chủ trương đa dạng hoá các sản phẩm du lịch, Thanh hoá đã chú trọng xúc tiến công tác đầu tư khai thác tài nguyên du lịch văn hóa nhằm nhanh chóng phục vụ khách du lịch Ngoài sản phẩm du lịch truyền thống như du lịch tắm biển tại điểm du lịch Sầm Sơn, còn những sản

Trang 40

phẩm khác như: chuyên đề du lịch văn hoá lịch sử tại khu du lịch Lam Kinh, thành nhà Hồ; du lịch sinh thái tại khu du lịch suối cá Cẩm Lương, VQG Bến

En, khu du lịch biển Hải Tiến, Hải Hoà, du lịch vui chơi giải trí tại khu du lịch văn hoá Hàm Rồng đã và đang được đầu tư khai thác, đưa vào sử dụng Tuy nhiên chất lượng dịch vụ, sản phẩm du lịch Thanh hoá còn thấp, một số sản phẩm truyền thống như: du lịch biển đang mất dần sức cạnh tranh, chậm khai thác, đa dạng hoá các sản phẩm du lịch

Mặt khác, ngoài dịch vụ lưu trú, ăn uống, các dịch vụ phục vụ khách du lịch khác như: lữ hành, vận chuyển khách, giải trí cũng đã được quan tâm đầu tư như tuy nhiên mức độ đầu tư chưa tương xứng với tốc độ đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh lưu trú

2.1.1.3 Tình hình tăng trưởng, đặc điểm nguồn khách

Khách du lịch đến Thanh Hoá trong những năm gần đây đã có những chuyển biến rõ nét Về khách quốc tế, thị trường đa dạng dần lên, bao gồm cả Châu á trong đó khách chủ yếu là các nước Asean, các nước Đông Bắc á, Nhật, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Châu Âu, Châu Mỹ và một số nước khác Về khách nội địa, không những tốc độ tăng nhanh mà còn tăng nhanh hơn hẳn so với các tỉnh lân cận Ngoài lượng khách từ các tỉnh phía Bắc mà trọng tâm là Hà Nội, khách ở các tỉnh miền Trung và phía Nam cũng đã chọn Thanh Hoá là điểm dừng chân Tốc độ tăng của khách du lịch đến Thanh Hoá bình quân hàng năm trong giai đoạn 1995 - 2005 là 13,2%, tương đương tốc

độ tăng của cả nước, trong đó đối với khách quốc tế là 9,4% và đối với khách nội địa là 13,25% Năm 1995, toàn tỉnh mới chỉ đón được 1.685 lượt khách quốc tế, 272.665 lượt khách nội địa thì đến năm 2001 đã đón được 3.234 lượt khách quốc tế, 479.152 lượt khách nội địa và đến năm 2005 đón được 6.500 khách quốc tế, 933.901 khách nội địa Năm 2007 đón được 14.000 lượt khách quốc tế, 1.736.000 khách nội địa, phục vụ 3.328.000 ngày khách, doanh thu 523,5 tỷ Riêng 7 tháng đầu năm 2008, du lịch Thanh Hóa tổ chức đón được

Ngày đăng: 07/02/2021, 08:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w