Xây dựng vàban hành cơ chế, chính sách nhằm phát triển sản xuất các mặt hàng xuất khẩu cótiềm năng, có lợi thế cạnh tranh cấp quốc gia, có tốc độ tăng trưởng và giá trịgia tăng cao thuộc
Trang 1Kế hoạch ngoại thương của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020.
Ngày 25/7/2012, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã ký Quyết định
số 950/QĐ-TTg ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 - 2020, định hướng đến năm 2030 Chiến lược này đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2471/QĐ- TTg ngày 28/12/2011.
Mục tiêu của Chương trình hành động thực hiện Chiến lược xuất nhậpkhẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 (gọi tắt là Chươngtrình hành động) hướng tới mục tiêu gồm: Tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa bìnhquân 11% - 12%/năm trong thời kỳ 2011-2020; Tăng trưởng nhập khẩu hànghóa bình quân tăng 10% - 11%/năm trong thời kỳ 2011 -2020; Giảm dần thâmhụt thương mại, kiểm soát nhập siêu khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu vào năm
2015 và tiến tới cân bằng cán cân thương mại vào năm 2020 Phấn đấu cán cânthương mại thặng dư thời kỳ 2021 – 2030
Chương trình hành động gồm các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Một là, Phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Triển khai thực hiện Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm2020…; Xác định cụ thể các mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng Xây dựng vàban hành cơ chế, chính sách nhằm phát triển sản xuất các mặt hàng xuất khẩu cótiềm năng, có lợi thế cạnh tranh cấp quốc gia, có tốc độ tăng trưởng và giá trịgia tăng cao thuộc các nhóm hàng vật liệu xây dựng, sản phẩm hóa dầu, sảnphẩm cao su, sản phẩm chất dẻo, điện tử, điện thoại di động…Thường xuyênnắm tình hình áp dụng các biện pháp bảo hộ mậu dịch, hàng rào kỹ thuật củanước nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là các mặthàng nông, lâm, thủy sản…
Hai là, Phát triển thị trường, xúc tiến thương mại
Trang 2Khẩn trương xây dựng trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Chiến lượcđàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) đến năm 2020, tập trung cácnguồn lực để đàm phán FTA vào các thị trường, khu vực thị trường trọng điểm,nhiều tiềm năng; Xây dựng đề án phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu đối với từngkhu vực thị trường nhằm đa dạng hóa mặt hàng và thị trường xuất nhập khẩu,khai thác tốt tiềm năng và đặc thù của từng khu vực thị trường; Đẩy mạnh cáchoạt động đàm phán song phương, đa phương; rà soát các hiệp định, cam kếtquốc tế đã ký với từng nước, khu vực để có biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu vàocác thị trường này, đồng thời bảo đảm sự đồng bộ trong quá trình thực hiện cáccam kết; Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến xuất khẩu, tập trung phát triển sảnphẩm xuất khẩu mới có lợi thế cạnh tranh, không bị hạn chế về thị trường, xuấtkhẩu vào các thị trường còn nhiều tiềm năng; Rà soát, đánh giá kết cấu hạ tầngthương mại tại các khu vực cửa khẩu biên giới, nhất là các khu vực có lượnghàng hóa xuất nhập khẩu lớn, từ đó đề xuất cơ chế, chính sách nhằm hoàn thiện,phát triển kết cấu hạ tầng thương mại tại các khu vực này; tăng cường hợp tác,trao đổi thông tin với các nước có chung đường biên giới để bảo đảm xuất khẩu
ổn định, dự báo và chủ động phòng ngừa những bất ổn phát sinh; sửa đổi, bổsung cơ chế, chính sách thương mại biên giới theo hướng linh hoạt, khuyếnkhích tối đa cho xuất khẩu, bảo đảm nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu; Có giảipháp cụ thể để tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại giao phục vụkinh tế nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Việt Nam…
Ba là, Hoàn thiện chính sách thương mại, tài chính, tín dụng và đầu
tư phát triển sản xuất hàng xuất khẩu
Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đếnquản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập khẩu; Nâng cao vai trò của Ngânhàng Phát triển Việt Nam trong việc cung cấp tín dụng, bảo lãnh tín dụng xuấtkhẩu và đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; Rà soát, xây dựng các mứcthuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phù hợp với lộ trình hội nhập quốc tế và khu
Trang 3vực nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển sản xuất trong nước;Đánh giá tổng thể tình hình đầu tư nước ngoài của Việt Nam thời gian qua vàđịnh hướng chính sách đến năm 2020 Đề xuất những giải pháp thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài có chất lượng; Thực hiện điều hành chính sách tiền tệ,
tỷ giá và quản lý ngoại hối linh hoạt bảo đảm khuyến khích xuất khẩu…
Bốn là, Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ xuất nhập khẩu hàng hóa và đẩy nhanh xã hội hóa dịch vụ logistics
Đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông, kho tàng bến bãi tại các cảngbiển lớn và các địa điểm thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu để đáp ứng nhucầu xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Xâydựng và hoàn thiện khung khổ pháp lý, chính sách phát triển dịch vụ logistics,đồng thời chuẩn hóa quy trình dịch vụ, nâng cấp cơ sở hạ tầng và chất lượngnguồn nhân lực; Xây dựng cơ chế, chính sách nâng cao năng lực, hiệu quả cungcấp và phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu của Việt Nam
Năm là, Đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Xây dựng, cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp,hiệp hội ngành hàng đầu tư, tham gia vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực phục
vụ các ngành hàng sản xuất, xuất khẩu; Tăng cường đào tạo, phổ biến kiến thức
và chính sách, pháp luật thương mại của các nước cho các địa phương, doanhnghiệp để tận dụng các ưu đãi trong các cam kết quốc tế và có biện pháp tíchcực, chủ động phòng tránh các hàng rào trong thương mại để phát triển xuấtkhẩu các mặt hàng chủ lực, mặt hàng mới của Việt Nam…
Sáu là, Kiểm soát nhập khẩu:
Quy hoạch sản xuất nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu thiết yếu nhậpkhẩu phục vụ cho sản xuất và gia công xuất khẩu, tập trung các sản phẩm trongnước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu trong
Trang 4nước; Xây dựng lộ trình đàm phán, thỏa thuận về trao đổi thương mại cấpChính phủ nhằm cải thiện cán cân thương mại với các đối tác thương mại mộtcách hợp lý, phù hợp với nhu cầu, trình độ sản xuất trong nước và các cam kếtquốc tế, nhất là các nước mà Việt Nam có tỷ lệ nhập siêu cao; Tăng cường sửdụng hàng hóa trong nước đã sản xuất được để góp phần kiềm chế nhập siêu;đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại trong nước nhằm tạo cơ hội kếtnối giữa các doanh nghiệp sản xuất máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên phụ liệuvới các doanh nghiệp sử dụng các loại máy móc, thiết bị và vật tư này; xâydựng cơ chế khuyến khích sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trongđấu thầu các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; Tăng cường các biện phápquản lý nhập khẩu phù hợp các cam kết quốc tế, kiểm tra chất lượng, vệ sinh antoàn thực phẩm hàng hóa nhập khẩu; rà soát, ban hành các tiêu chuẩn, quy định
về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường đối với hàng hóanhập khẩu phù hợp với các quy định và cam kết quốc tế…
Bảy là, Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và vai trò của Hiệp hội ngành hàng
Phát huy vai trò của Hiệp hội trong việc liên kết các hội viên, đại diện đểbảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các hội viên trong thương mại quốc tế,thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với các doanhnghiệp; Tổ chức mô hình sản xuất, kinh doanh theo hướng chú trọng chấtlượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn, quy chuẩn theoquy định để đảm bảo uy tín của sản phẩm xuất khẩu và của doanh nghiệp xuấtkhẩu; Phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà hước, phản ánh kịp thời nhữngvấn đề khó khăn, vướng mắc để có biện pháp chủ động đối phó, nhất là để gópphần thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao hiệu quả xuất khẩu và giảm dần nhập siêu;Chủ động tìm kiếm, phát triển các thị trường mới để đa dạng hóa thị trường xuấtnhập khẩu…
Trang 53.1 Kế hoạch xuất khẩu một số mặt hàng ở Việt Nam trong giai đoạn 2020
2010- Ngành thủy hải sản:
Năm 2011, XK thủy sản của Việt Nam đã cán đích 6,1 tỷ USD, tăng 21%
so với năm 2010 và tăng gấp hơn 3 lần so với mức 2 tỷ USD năm 2002 Đây làthành tích đáng tự hào của ngành thủy sản Việt Nam, là kết quả nỗ lực phấn đấukhông mệt mỏi của nông,ngư dân, các cơ quan quản lý Nhà nước và đặc biệt làcác DN XK thủy sản Việt Nam, trong bối cảnh đầy khó khăn của nền kinh tếtoàn cầu cũng như ở trong nước, cộng với những tác động của biến đổi khí hậu,của thiên tai, dịch bệnh thủy sản xảy ra tại nhiều khu vực trên thế giới
Lần đầu tiên vượtqua mốc 2 tỷ USD XK vàonăm 2010, XK tôm củaViệt Nam tiếp tục đà tăngtrưởng mạnh với giá trịnăm 2011 đạt gần 2,4 tỷUSD, trong đó XK tôm súchiếm 59,7% tổng giá trị, XK tôm chân trắng chiếm 29,3%, còn lại là tôm cácloại khác
Giá trị XK cá tra năm 2011 đạt khoảng 1,805 tỷ USD, tăng gần 26,5%,với khối lượng XK trên 600.000 tấn, tăng 3% so với năm 2010 Năm 2011, đã
có hơn 230 DN XK cá tra đến hơn 130 thị trường trên thế giới, trong đó 10 thịtrường lớn nhất chiếm 73% về giá trị, tăng so với mức trên 70% của cùng kỳnăm ngoái
Giá trị XK cá ngừ năm 2011 đạt 379,4 triệu USD, so với cùng kỳ nămngoái tăng 29,4% so với năm 2010 Giá XK cá ngừ tăng khá mạnh và tăng
Trang 6mạnh nhất tại thị trường Nhật Bản với hơn 100%, các thị trường khác nhưCanađa, Ixraen, Mỹ, Thụy Sỹ cũng tăng từ 50 - 80%.
Năm 2011, giá trị XK mực, bạch tuộc của cả nước đạt 520,3 triệu USD,tăng 31% so với cùng kỳ năm ngoái Thị trường NK mực, bạch tuộc Việt Namnăm 2011 tăng lên con số 76 so với 66 của năm 2010 Các thị trường NK hàngđầu là Hàn Quốc, EU, Nhật Bản và ASEAN không thay đổi thứ hạng so vớinăm ngoái và đều tăng trưởng khả quan từ gần 30% đến hơn 40%
XK nhuyễn thể hai mảnh vỏ cả năm 2011 đạt gần 82 triệu USD.Đây làmặt hàng duy nhất trong nhóm hàng hải sản giảm sút về giá trị XK so với nămtrước.Năm 2011, nguồn nguyên liệu nghêu (đặc biệt là nghêu trắng) bị thiệt hạinặng tại nhiều địa phương ở ĐBSCL, ảnh hưởng lớn đến hoạt động XK mặthàng này
Từ những kết quả đạt được trong năm 2011, tại Hội nghị Tổng kết thựchiện kế hoạch năm 2011 và triển khai kế hoạch năm 2012, Bộ NN và PTNT đặtmục tiêu năm 2012, cả nước phấn đấu đạt tổng kim ngạch XK thủy sản 6,5 tỷUSD Xa hơn nữa, cộng đồng DN thủy sản Việt Nam bắt đầu hướng tới mụctiêu nêu ra trong Chiến lược Phát triển XK thủy sản giai đoạn 2010 - 2020 củaChính phủ là đến năm 2020 đạt giá trị XK 10 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành 1trong 4 cường quốc đứng đầu về XK thủy sản trên thế giới Tuy nhiên, ngànhthủy sản Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt với 3 thách thức lớn, cần có nhữnggiải pháp thích hợp và tích cực, để đạt được mục tiêu 10 tỷ USD và cao hơnnữa Đó là thách thức về thiếu nguyên liệu cho chế biến XK, thách thức về chấtlượng, VSATTP và năng lực cạnh tranh và thách thức về phát triển thị trườngXK
Dự đoán năm 2020Việt Nam sẽ đứng đầu thế giới về xuất khẩu hải sản, đạt 10
tỷ đô la
(Nguồn: http://www.thutam.net/thuong-mai/ /198-xuatkhauhaisan2020.ht )
Ngành da giày:
Trang 7Thâm nhập và đứng vững trên thị trường nội địa: đây là một điểm nhấnđáng khen ngợi, từ chỗ bỏ quên thị trường nội địa cuối những năm 1990, đếnnay, người tiêu dùng Việt Nam đã biết đến nhiều thương hiệu như Biti’s, Bitas,Vina Giày, T&T, Hồng Thạnh, Long Thành Tuy thương hiệu giày dép chưanhiều như ngành dệt may nhưng giày dép Việt Nam đang dần khẳng định chỗđứng tại thị trường nội địa với tỷ trọng được đánh giá là chiếm lĩnh gần 40%.
Từ những giải pháp và nỗ lực đó, ngành da giày Việt Nam đã sớm có dấuhiệu phục hồi ngay từ đầu năm 2010, số liệu xuất khẩu trong các tháng đầu năm
2010 đều cho thấy có sự tăng trưởng từ 6-7% so với năm 2009 Cuối tháng 5vừa qua, toàn ngành đã xuất khẩu được 1.784 triệu đô la Mỹ, tăng gần 8% sovới cùng kỳ 2009 Có thể nói rằng đây là một nỗ lực rất lớn của ngành da giàyViệt Nam trong bối cảnh mà các nước nhập khẩu liên tục sử dụng các đònchống bán phá giá nhằm cản trở sự thâm nhập của giày dép Việt Nam
Mục tiêu chiến lược ngành da giày đặt ra đến năm 2020 là đạt kim ngạchxuất khẩu từ 13-14 tỷ USD sản phẩm giày dép các loại, chủ động đến 80%nguyên phụ liệu, chiếm lĩnh trên 60% thị trường nội địa Với những tiềm năng
và thuận lợi sẵn có, cùng với việc xóa bỏ rào cản thương mại của Liên minhchâu Âu, hy vọng trong tương lai, ngành da giày Việt Nam sẽ có diện mạo mới,kim ngạch xuất khẩu tăng, thị trường xuất khẩu mở rộng, góp phần tích cực vào
sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước./
Trang 8nhất vẫn đạt được kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong khi kim ngạch xuất khẩuchung bị sụt giảm Nguyên nhân chính là hàng dệt may Việt Nam vẫn đứngvững tại các thị trường xuất khẩu truyền thống (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) và mởrộng thêm nhiều thị trường mới (Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Đông, Singapore)cũng như thị trường trong nước Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) đã đặt ramục tiêu đầy tham vọng với kim ngạch xuất khẩu năm 2010 là 10,5 tỷ đô la Mỹ
Trang 9http://www.tinthuongmai.vn/gpmaster.gp-media.tin-thuong-mai-Ngành trồng trọt:
Đây là một trong những định hướng quy hoạch sử dụng đất và phát triểnsản xuất nông nghiệp theo ngành hàng đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030 vừađược Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt trong Quy hoạch tổng thể pháttriển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030
Cụ thể, về quy hoạch sử dụng đất, Quyết định định hướng khai hoang mởthêm đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản từ năm 2011 đến năm 2020khoảng 1,1 triệu ha; bao gồm cho trồng lúa 37 ngàn ha, cây hàng năm 60 ngàn
ha, cây lâu năm 100 ngàn ha, trồng rừng 930 ngàn ha
Đất sản xuất nông nghiệp năm 2020 là 9,59 triệu ha, giảm 580 ngàn ha sovới năm 2010 Đất lâm nghiệp đến năm 2020 là 16,2-16,5 triệu ha, tăng thêm
879 ngàn ha so với năm 2010 Đất nuôi trồng thủy sản 790 ngàn ha, tăng thêm99,7 ngàn so với năm 2010 Đất sản xuất muối ổn định ở 14,5 ngàn ha, trong đósản xuất muối công nghiệp 8,5 ngàn ha
Đối với lúa, bảo vệ quỹ đất lúa ổn định từ năm 2020 là 3,812 triệu ha,trong đó lúa nước 2 vụ trở lên là 3,2 triệu ha, áp dụng đồng bộ các biện phápthâm canh tiên tiến để đạt sản lượng 41-43 triệu tấn năm 2020 và 44 triệu tấnnăm 2030, bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu Chế biến lúa gạo, đầu tưcông suất chế biến công nghiệp đạt 25 triệu tấn/năm, đủ năng lực chế biến 60%tổng sản lượng thóc
Đối với cây chè, diện tích đất bố trí ổn định lâu dài 140 ngàn ha, tăng 10ngàn ha so với năm 2010 Áp dụng quy trình sản xuất chè sạch, đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm, sử dụng các giống chè mới năng suất và chất lượng cao để
Trang 10trồng mới và trồng tái canh Đồng thời, chuyển đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng55% chè đen và 45% chè xanh.
Bên cạnh cây chè thì diện tích đất bố trí cho cây cà phê là 500 ngàn ha,vùng sản xuất chính Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, duyên hải Bắc Trung Bộ.Định hướng phát triển cây cà phê bằng các hình thức kinh tế hợp tác giữa doanhnghiệp và nông dân, tăng tỷ lệ cà phê được chế biến ở quy mô công nghiệp từ20% năm 2010, lên đến 40% năm 2015 và 70% năm 2020
Đối với cây cao su, định hướng giữ nguyên mục tiêu ổn định diện tích
800 ngàn ha.Sau năm 2015, trên cơ sở đánh giá hiệu quả diện tích cao su đãtrồng và quỹ đất của các vùng để xem xét điều chỉnh quy mô diện tích cao suphù hợp, hiệu quả và bền vững
Về chế biến cao su, sẽ cải tiến công nghệ, tạo cơ cấu sản phẩm hợp lý đểnâng cao giá trị xuất khẩu Từ nay đến năm 2020, phải đầu tư tăng thêm côngsuất chế biến là 500.000 tấn mủ khô/năm Xây dựng các nhà máy sản xuất săm,lốp ô tô, xe máy… đưa tỷ trọng sử dụng mủ cao su trong nước lên tối thiểu 30%vào năm 2020
( Nguồn: lua-tu-2020/)
http://www.thiennhien.net/2012/02/06/giu-on-dinh-3-8-trieu-ha-dat-Ngành chế biến nhân điều thô:
Trong “Chiến lược phát triển bền vững ngành điều Việt Nam giai đoạn2010-2020”, ngành điều cũng hướng tới phát triển bền vững trong tất cả cáckhâu trồng, thu mua, chế biến, tiêu thụ trong và ngoài nước Ngành điều còn đặtmục tiêu giữ vững vị trí số 1 thế giới về xuất khẩu điều, đến năm 2015 chế biếnđược 190.000 tấn nhân điều thô, trong đó có 40.000 tấn chế biến sâu; xuất khẩu150.000 tấn nhân thô và 30.000 tấn chế biến sâu
Đến năm 2020, phấn đấu chế biến được 220.000 tấn nhân thô, trong đó có100.000 tấn chế biến sâu; xuất khẩu 120.000 tấn nhân thô, tiêu dùng trong nước
Trang 1135.000 tấn Để đáp ứng nhu cầu sản xuất này, Hiệp hội Điều Việt Nam cho rằng
sẽ giữ vững quy hoạch 3 vùng trồng điều Đông Nam bộ, Tây Nguyên, Duyênhải Nam Trung bộ
Được biết thời gian qua, xuất khẩu điều của Việt Nam luôn giữ vị trí caotrên thị trường thế giới Trong năm 2010, ngành điều đạt kim ngạch xuất khẩu1,135 tỷ USD và là năm thứ 4 giữ vị trí xuất khẩu hàng đầu thế giới, chiếm tỷtrọng 50% tổng sản lượng nhân điều xuất khẩu toàn cầu
Để đạt được mục tiêu đã đề ra và tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, trong thờigian tới ngành điều sẽ tiếp tục tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại,
mở rộng thị trường, hình thành quỹ bình ổn giá điều thô nhằm giúp nông dânvẫn có lãi khi sản xuất gặp khó khăn
(Nguồn: duoc-220000-tan-nhan-dieu-tho/45/6461706.epi)
http://www.baomoi.com/Phan-dau-den-nam-2020-che-bien-3.2.Giải pháp tương lai cho kế hoạch xuất khẩu trong giai đoạn 2020
2010-Bộ Công thương cho biết, thực hiện Chiến lược xuất khẩu giai đoạn 2010
- 2020, tầm nhìn 2025, trên cơ sở đó hình thành mới những sản phẩm, nhóm sảnphẩm xuất khẩu chủ lực của 5 năm 2011 - 2015
Theo đó, phấn đấu đến năm 2015, kim ngạch xuất khẩu đạt 133 tỷ USD.Kim ngạch nhập khẩu tăng khoảng 11,5%/năm, dự kiến là 146 tỷ USD vào năm
2015 Như vậy, nhập siêu năm 2015 khoảng 9,8% so với kim ngạch xuất khẩu
Để đạt được mục tiêu trên, trước hết phải tăng cường năng lực thiết kếmẫu mốt, kiểu dáng sản phẩm xuất khẩu và có chính sách đầu tư nhằm đáp ứngnhu cầu một số loại nguyên, phụ liệu chủ yếu cho sản xuất
Trang 12Đồng thời, khai thác mọi nguồn lực để đầu tư các dự án sản xuất hàngxuất khẩu và phát triển sản xuất sản phẩm xuất khẩu để tăng năng lực sản xuất
và chủ động nguồn hàng
Ngoài ra, ngành Công thương cũng phải xây dựng Chiến lược Xúc tiếnthương mại theo hướng tập trung cho các chương trình lớn, mang tầm quốc giatới các thị trường nhập khẩu lớn, có nhiều tiềm năng đối với hàng hoá của ViệtNam kết hợp thông tin, quảng bá thông qua các kênh truyền thông lớn của quốctế
Phát triển mạnh mẽ thương mại điện tử, đẩy nhanh các hoạt động thuậnlợi hóa thương mại, thương mại phi giấy tờ, hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩugiảm chi phí giao dịch
Đối với hoạt động nhập khẩu, phải đề ra các chính sách khuyến khíchmạnh mẽ để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu tận dụng các điều kiện thuận lợi từcác cam kết, thỏa thuận kinh tế - thương mại quốc tế nhằm đẩy mạnh xuất khẩuvào các thị trường hiện có mức nhập siêu lớn
Hơn nữa, phải đẩy nhanh quá trình xây dựng và sử dụng hợp lý, phù hợpcam kết quốc tế các hàng rào kỹ thuật
Một số mục tiêu cụ thể được đề ra trong giai đoạn 2010-2020 là: Phấnđấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân7-8%/năm; GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm
2010, GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD
(Nguồn:
http://dinhkhue.com/tintuc_ct.asp?Id_danhmuc=2&Id=59)
Trang 13A- NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ
I Kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển ở châu Á
Trên thế giới ngày nay, xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế là đàm phánđối thoại, hợp tác cùng phát triển.Viêt Nam cũng không nằm ngoài xu thếđó.Bước vào thời kì đổi mới, đất nước ta đứng trước những thách thức của thờivận mới, đòi hỏi có những chính sách ngoại thương phù hợp, nhạy bén và linhhoạt hơn Việc học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm ngoại thương của các nước trongkhu vực và trên thế giới đã mang lại những thành tựu to lớn Trong đó khôngthể không kể đến việc gia nhập ASEAN Ngày 28 tháng 7 năm 1995, sự kiệnViệt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á đã mở ra một trang mới không chỉ trong quan hệ với các quốc gia thành viên
mà còn ngay trong chính đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam Bỏ quanhững mâu thuẫn và bất đồng trước đây, Việt Nam đã ngày càng khẳng định vịtrí và tầm quan trọng của mình trong tổ chức Trong bài tiểu luận này, chúng tôichỉ tập trung phân tích những bài học kinh nghiệm ngoại thương của các nướcphát triển và đang phát triển ở châu Á như : Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc,ASEAN…
I.1 Asean
ASEAN đã tạo dựng được quan hệ hợp tác nhiều mặt với nhiều đối tácquan trọng trên thế giới, khởi xướng thành công và giữ vai trò chủ đạo trongmột số khuôn khổ hợp tác khu vực ở Châu Á-TBD Hợp tác ASEAN rất đadạng và phức tạp, không chỉ bó hẹp trong phạm vi khu vực Đông Nam Á và
10 nước thành viên ASEAN, mà còn kể cả quan hệ đối ngoại của ASEANthông qua các khuôn khổ hợp tác khu vực do ASEAN lập ra và giữ vai tròchủ đạo như ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đànKhu vực ASEAN (ARF) Ngoài ra, ASEAN còn là nhân tố quan trọng củacác khuôn khổ hợp tác khu vực và liên khu vực khác như Diễn đàn hợp tác
Trang 14Kinh tế Châu Á-TBD (APEC), Hội nghị Á-Âu (ASEM) và Diễn đàn Hợptác Đông Á-Mỹ Latinh (FEALAC).
I.1.1 Singapore
Singapore đã thực hiện thành công mô hình chính sách tự do hóathương mại và thúc đẩy xuất khẩu Điều đó được chứng minh qua nhữngthành tựu về TM mà Singapore đạt được
Hiện nay Singapore được xem như là trung tâm thương mại, đầu tưcủa khu vực Giá trị xuất khẩu của Singapore so với giá trị xuất khẩu củacác quốc gia khác chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu củacác quốc gia mà Singapore xuất khẩu sang, ví dụ: xuất khẩu sang các nướcchâu Á giai đoạn 1999 – 2007 chiếm 50%, sang TQ, Đài Loan, Hồng Kôngtrung bình 16% trong giai đoạn này Năm 2010, lượng hàng hóa XK tăng23% và tăng cao nhất trong 7 năm gần đây (theo Bloomberg) Trong bốnthập kỷ qua, tăng trưởng GDP bình quân của Singapore đã đạt 10%.Giá trịxuất khẩu cao gấp 3 lần GDP của Singapore Đó là những thành tựu vô cùnggiá trị của Singapore mà nhiều nước phải nể phục và cần học tập theo
I.1.2 Thái Lan
Thái Lan nước truyền thống sản xuất gạo do thời tiết khí hậu thuận lợiphát triển loại ngũ cốc này Tuy nhiên nhiều nước khác trong khu vực cũngđược trời đất ban cho thời tiết khí hậu tương tự, nhưng không làm được, cònThái Lan do có chiến lược đúng đắn với diện tích chỉ 513.100 Km2 đã trởthành nước chiếm lĩnh ngôi độc tôn trên thị trường gạo thế giới
Lợi thế vị trí địa lý của Thái Lan:
-Điều kiện khí hậu thiên nhiên của Thái Lan được trời ban tặng giốngnhư nhiều nước trồng lúa nước trong khu vực Xét về truyền thống canh tác,Thái cũng mang màu sắc thuần nông giống như các nước khác, nhưng vì saoThái Lan diện tích đất nước chỉ 513.100 Km2 lại bứt lên nhanh chóng trởthành nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thê giới Năm 2011 mặc dù bị thiên
Trang 15tai lũ lụt lớn nhất trong lịch sử, xuất khẩu gạo của Thái Lan vẫn đạt 10,6triệu tấn, thu nhập 200 tỉ Bạt Từ tháng 1 tới tháng 4/2012, cho dù nhiềunước khác bắt đầu xuất khẩu gạo như Ấn Độ, nhưng lượng xuất khẩu gạocủa Thái vẫn đạt 2,7 triệu tấn, đứng số 1 thế giới.
Theo như lịch sử trước thập kỷ 60 Thế kỉ 20, Thái Lan vẫn là nướcnông nghiệp lạc hậu, sản xuất lúa gạo vẫn bình thường như nhiều nướckhác, xuất khẩu gạo vẫn ở mức trung bình, nhưng từ đầu Thập kỷ 70 và nhất
là thời gian khi bước vào Thập kỷ 80 Thế kỷ 20 tới nay, Thái Lan bứt lên vàtrở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới với số lượng hàng năm trên
10 triệu tấn
Thành công này của Thái Lan trước tiên phải kể tới vai trò của nhànước do đã định hướng chiến lược phát triển kinh tế quốc dân đúng đắn,biết khai thác và khơi dậy tiềm năng về thế mạnh của đất nước Nhận thức
rõ thế mạnh của mình, Nhà nước Thái Lan xác định lấy ưu tiên phát triểnnông nghiệp làm chiến lược cơ bản cho phát triển toàn bộ nền kinh tế quốcdân Năm 1982, Chính phủ Thái Lan định ra “Chiến lược phát triển kinh tếquốc dân lấy hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp làm mục tiêu” Tiếp
đó, năm 1995, Nhà nước lại ban hành “Quy hoạch tăng cường phát triển cơgiới hóa nông nghiệp và ứng dụng kỹ thuật mới vào nông nghiệp”.Năm
2000, Nhà nước lại ban hành “Chiến lược nâng đỡ sản xuất nông nghiệp lấynăng suất cao, tăng phục gia sản phẩm nông nghiệp, tăng sức cạnh tranh sảnphẩm nông nghiệp làm mục tiêu phấn đấu
Đây là những văn bản mang tính pháp quy tạo hành lang pháp lý chophát triển sản xuất nông nghiệp Căn cứ vào quy định của nhà nước, các bộ,ban ngành đều thành lập các “Ban thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và sảnxuất lúa gạo” để hỗ trợ Chính phủ thực hiện các chính sách về ưu đãi, nâng
đỡ sản xuất nông nghiệp, nhất là sản xuất lúa gạo Những biện pháp như
Trang 16chính sách trợ cấp giá, đầu tư và cho vay, nhất là giải quyết tốt khâu vốn và
kỹ thuật nhằm phát huy tối đa tính tích cực sản xuất lúa gạo của nông dân
Bộ thương mại Thái Lan đặc biệt định ra “Chiến lược sản xuất xuất khẩugạo”, như làm thế nào hạ giá thành, điều chỉnh mạng lưới cung cấp trongnước, phát triển mạnh mẽ kỹ thuật gia công chế biến gạo tiên tiến và hiệnđại nhất
Cùng với văn bản pháp quy, Chính phủ Thái Lan đã đưa những chínhsách hỗ trợ vào cuộc sống thực tế của sản xuất lúa gạo, trong đó hết sức chútrọng xây dựng cơ sở thiết bị hạ tầng cho sản xuất nông nghiệp, như từ Thập
kỷ 60 tới nay, nhà nước đã đầu tư hàng trăm tỉ Bạt vào công cuộc này, nhất
là thủy lợi và giao thông nông thôn Hiện nay những cơ sở hạ tầng của nôngthôn Thái Lan vào loại bậc nhất ở Đông Nam Á
Áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp và sảnxuất lúa gạo được Nhà nước và chính quyền các cấp đặc biệt coi trọng.Trong khâu chọn giống, Thái Lan đặc biệt coi trọng loại giống tốt và đượcthị trường ưa thích như gạo tám thơm Loại lúa này được nhà nước đặc biệtcoi trọng như “quả đấm mạnh”, nên đã tập trung xây dựng thành một dâychuyền sản xuất hoàn chỉnh từ khâu chọn giống tới kỹ thuật canh tác, thuhoạch, chế biến và tiêu thụ trên thị trường thế giới Chính vì vậy mà giá gạocủa Thái Lan luôn cao hơn các nước khác, nhưng vẫn được khách hàng cácnước ưa chuộng
Cuối cùng là khâu tuyên truyền, quảng cáo Trong chiến lược tuyêntruyền hàng xuất khẩu thì “Gạo Thái” được đặt lên vị trí hàng đầu và Thái Lan
đổ nhiều công sức, kể cả tài chính vào công tác quảng cáo Tất cả các cơ hội,như Festival, Hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước đều được Thái Lan tậndụng tối đa “Festival gạo Thái lần thứ ba” tổ chức ba ngày từ 25/5 tới27/5/2012 vừa qua, Thái Lan đã trưng bày hơn 100 loại giống lúa tốt cùng các
Trang 17kỹ thuật sản xuất và chế biến gạo hiện đại vào bậc nhất thế giới hiện nay Ngoài
ra, Thái Lan còn hợp tác với các nước, nhất là các nước ASEAN lập ra các tổchức như Hiệp hội lúa gạo, Hợp tác đối tác trao đổi lúa gạo, Hiệp hội tiêu thụgạo nhằm tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm với các nước Chính vìvậy,” Gạo Thái trở thành thương hiệu nổi danh khắp thế giới.”
Một số kinh nghiệm và bài học rút ra cho Việt Nam
Thứ nhất, trong quá trình phát triển kinh tế Thái Lan luôn có chính sách ngọai
giao đa phương và mềm dẻo Là một nước chưa bao giờ bị các nước đế quốcxâm chiếm làm thuộc địa, Thái Lan đã sớm ký kết những hiệp định thương mạivới các cường quốc như: Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức
Và đến năm 1958, thủ tướng đương nhiệm lúc bấy giờ là Sarit Thanarat đã đưa
ra chính sách dựa vào Mỹ Chính nhờ quyết định này mà sau chiến tranh thếgiới lần thứ 2, Mỹ đã đầu tư rất nhiều cả về kinh tế lẫn chính trị vào Thái Lan
Thứ hai, song song với việc thực hiện các chính sách, Thái Lan cũng luôn coi
trọng sự ổn định kinh tế vĩ mô như duy trì tỷ giá hối đoái ổn định, đồng Bathđược cố định theo đồng đô la Mỹ cùng với tỷ lệ lạm phát thấp (5% trong vòngnhiều năm kể từ năm 1980)
Thứ ba, chính phủ Thái Lan cũng giành phần lớn vốn viện trợ ODA và vốn vay
cho phát triển cơ sở hạ tầng Đây là một chủ trương đúng đắn, có ý nghĩa trong dàihạn góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và cải thiện đời sống nhân dân
Thứ tư, trong thời gian này vai trò của Nhà nước trong quản lý phát triển kinh
tế vẫn luôn được coi trọng Chính phủ Thái Lan đã đề ra việc thực hiện 9 kếhoạch 5 năm, ban hành kịp thời các bộ luật để quản lý, kiểm tra và sửa chữa mọihoạt động trong nền kinh tế
Thứ năm, Chính phủ Thái Lan cũng hết sức mềm dẻo linh hoạt trong triển khai
chính sách kinh tế trong từng giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá hướng vềxuất khẩu Trong những năm 70, với mục tiêu tận dụng lợi thế giá nhân công vànguyên liệu rẻ, Thái Lan tập trung vào sản xuất và chế biến hàng nông sản, dệt
Trang 18may, da giày, Đây là các ngành công nghiệp nhẹ, đòi hỏi ít vốn, nhiều laođộng thủ công rất phù hợp với tình hình kinh tế Thái Lan lúc bấy giờ Còn trongnhững năm 80, khi lợi thế giá nhân công và nguyên liệu không còn nữa TháiLan lại chuyển sang đầu tư cho ngành lắp ráp đòi hỏi nhiều vốn hơn, trình độtay nghề cũng cao hơn Bước sang những năm 90, những ngành chế tạo có giátrị cao như điện tử viễn thông, máy vi tính, thiết bị điện, lại là những ngànhđóng vai trò chủ chốt trong nền kinh tế nước này.
Thứ sáu, một bài học tiêu biểu khác mà Việt Nam có thể học hỏi của Thái Lan
đó là nước này luôn tăng cường mở cửa, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốnđầu tư nước ngoài FDI
Thứ bảy, Chính phủ Thái Lan luôn coi khu vực kinh tế tư nhân là động lực phát
triển, đóng góp một phần quan trọng đáng kể trong sự phát triển của nền kinh tếnhờ đó nền kinh tế nước này có thể tận dụng được mọi nguồn lực tiềm ẩn trongnhân dân
Tập trung đầu tư cho các ngành có thể mạnh, đến nay, các ngành này đã
có những vị thế nhất định, là những mặt hàng được ưa chuộng trong thương mại(ôtô, sản phẩm viễn thông, máy điều hóa, đĩa cứng…) Thay vì xuất khẩu nhữngsản phẩm thô như trước kia thì nay đã xk đa số là mặt hàng đã qua tinh chế,công nghệ cao
Trang 19Mở rộng quan hệ thương mại với nhiều nước trên thế giới.Đến năm
2000, Malaysia đã ký hiệp định thương mại với 50 quốc gia trên thế giới.Thịtrường của Malaysia ngày càng được mở rộng nhờ vào sự tìm kiếm của các tổchức Xúc tiến thương mại Các đối tác thương mại hàng đầu của Malaysia hiệnnay đều là những thị trường lớn và phát triển như Mỹ, Nhật, Singapore, TrungQuốc, Hàn Quốc… Do vậy, qua đó cũng có thể trao đổi công nghệ cao, tiếtkiệm quá trình nghiên cứu Hay là tạo điều kiện cho việc thu hút đầu tu nướcngoài
Ngoài ra còn có bài học kinh nghiệm của một số nước ngoài khu vực Đông Á:
I.1.4 Nhật Bản
Với số dân 126.3 triệu người và tổng sản phẩm quốc dân GNP hàng nămđạt gần 500 nghìn tỷ USD và mức sống của người dân khá cao (GDP bình quânđầu người của Nhật Bản năm 2005 là 37.000 USD) Nhật Bản là một thị trườngtiêu dùng lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ và cũng là một thị trường nhập khẩuhàng hóa lớn
Ngoài ra, trong những năm gần đây, xuất hiện xu hướng chuyển giao nhàmáy ra nước ngoài sản xuất và nhập khẩu trở lại Nhật Bản Các công ty NhậtBản đang di chuyển các xí nghiệp sang các nước để tiến hành sản xuất và bánhàng hóa tại chổ hoặc xuất khẩ ngược lại Nhật Bản Các hàng thành phẩm hoặclắp ráp tại nước ngoài có sức cạnh tranh vì giá thành rẽ hơn lắp ráp, sản xuấttrong nước Nếu tranh thủ được xu thế này thì có thể thu hút đầu tư của Nhậtvào các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu Trường hợp điển hình tại Việt Nam
là công ty Fujitsu đặt nhà máy sản xuất mạch in tại Việt Nam đã tạo ra kimngạch xuất khẩu 300 triệu USD
Một số phương hướng kinh nghiệm để thúc đẩy việc xuất khẩu của Nhật Bản:
Trang 201 Tận dụng được kỹ thuật công nghệ nước ngoài để tăng cường khả năngcạnh tranh cho các sản phẩm công nghiệp trong nước.
- Hạn chế nghiêm ngặt đối với hàng nhập khẩu vào Nhật Bản, buộc họ phảicấp giấy phép kỹ thuật công nghệ còn hơn là bị loại trừ hoàn toàn khỏi thịtrường Nhật
- MITI can thiệp trực tiếp vào việc nhập khẩu công nghệ nước ngoài, làmgiảm giá thành đối với người mua Nhật Bản, tạo điều kiện thuận lợi chophát triển nghiên cứu và sản xuất cho các doanh nghiệp trong nước NhậtBản tập trung sâu vào lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng trong khi Mĩ và Tây
Âu dồn phần lớn chi phí cho nghiên cứu cơ bản.Nhờ nhập khẩu được côngnghệ tiên tiến trên thế giới, mà Nhật Bản nhanh chóng phát triển được hànhloạt các nhành công nghệ mới, làm cơ cấu công nghiệp và ngoại thươngthay đổi sâu sắc theo chiều hướng tích cực và đẩy nhanh tốc độ phát triểnkinh tế Rõ ràng nhờ việc tranh thủ tối đa công nghệ tiên tiến trên thế giới
mà Nhật Bản đã tiết kiệm được thời gian và tạo được bước nhảy vọt, từ mộtquốc gia lạc hậu lên một nước công nghệp phát triển
2 Áp dụng chính sách ngoại thương linh hoạt trên mọi lĩnh vực
Chính phủ Nhật Bản đã ban hành một hệ thống luật liên quan đến ngoạithương một cách chặt chẽ và hoàn chỉnh như “ Luật quản lí ngoại thương và cơchế quản lí ngoại hối”, “ Luật giao dịch xuất nhập khẩu”… nhờ vậy mà hoạtđộng ngoại thương được quản lí một cách hiệu quả và chính xác
3 Thực hiện những chính sách tự do hóa thương mại kết hợp với bảo hộ sảnxuất nội đại một cách hợp lí
Trong giai đoạn đầu của thời kì tăng trưởng cao, Nhật Bản đã thực hiệnkết hợp nhuần nhuyễn đồng thời cả hai chiến lược ngoại thương và đạt hiệu quảcao, với những chính sách thúc đẩy sản xuất trong nước thay thế hàng nhậpkhẩu và chính sách khuyến khích xuất khẩu một cách hợp lí Nhờ vậy mà khôngnhững sản xuất trong nước phát triển, mà cán cân thanh toán được cải thiệnđáng kể
Trang 214 Chọn lọc kỹ chủng loại hàng hóa xuất nhập nhẩu và xu hướng xuất nhậpkhẩu theo khu vực
5 Đa phương hóa chính sách đối ngoại và giảm sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ; tăngcường hợp tác với các tổ chức có ảnh hưởng sâu đậm đến nền kinh tế ngoạithương NB
6 Nhật Bản cũng lo ngại đầu tư ra nước ngoài làm rỗng nền kinh tế và làm giatăng nguy cơ thất nghiệp trong nước Chính vì thế, Chính phủ Nhật Bản đã sớm
có chính sách khuyến khích các DN Nhật Bản đầu tư ra nước ngoài sử dụng laođộng quản lý là người Nhật Bản Mặt khác, Nhật Bản có chính sách phân khúcthị trường thông qua việc thúc đẩy và hỗ trợ DN nghiên cứu, đổi mới côngnghệ, tập trung sản xuất ra các sản phẩm công nghệ cao và có chính sách đàotạo cho người lao động trong nước để phát triển những ngành công nghệ mới,sản xuất những sản phẩm công nghệ cao và xuất khẩu Việt Nam có thể thamkhảo kinh nghiệm này của Nhật Bản để có chính sách phù hợp giữa phát triểnkinh tế trong nước kết hợp với thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài
Kinh nghiệm học hỏi từ chính sách xuất khẩu của Nhật Bản:
Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chínhsách đối ngoại của mỗi quốc gia Mặc dù được điều chỉnh liên tục nhưng chínhsách ngoại thương vẫn luôn phải đảm bảo được mục tiêu: tạo điều kiện thuận lợicho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài nhằm tăngnhanh qui mô xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới trongkhi vẫn bảo đảm được thị trường nội địa, hạn chế được nhưng cạnh tranh bất lợi
từ bên ngoài
Nhật Bản là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên.Rừng núi chiếm 2/3 diệntích cả nước, diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm 15 %.Khoáng sản và các tàinguyên thiên nhiên hầu như không có gì ngoài đá vôi và khí sunfua Đối với cácnguyên liệu cơ bản như đồng, chì, kẽm, nhôm Nhật Bản đều phải phụ thuộc
Trang 22vào nhập khẩu từ nước ngoài.Thêm vào đó nền kinh tế đất nước lại bị chiếntranh tàn phá nặng nề Tài nguyên duy nhất của Nhật Bản để phục hồi kinh tế đó
là con người
Với những điều kiện hết sức khó khăn nhưng Nhật Bản đã biết phát huy hếtsức những lợi thế của mình để phát triển hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt
là hoạt động xuất khẩu.Ngày nay vị thế của Nhật Bản trên trường quốc tế là 1
cường quốc lớn mạnh Đó là lý do chúng tôi nghiên cứu phân tích chính sáchngoại thương của Nhật để là bài học kinh nghiệm cho hoạt động xuất khẩu củaViệt Nam
I.1.5 Trung Quốc
4.1.5.a Thành tựu
Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc chuyển thểchế ngoại thương truyền thống của nền kinh tế hiện vật trên cơ sở chế độ cônghữu đơn nhất sang một thể chế mới đa dạng, linh hoạt và phù hợp hơn với nềnkinh tế thị trường Trung Quốc đã xoá bỏ từng bước quyền lực kinh tế tập trungthống nhất, giành quyền tự chủ rộng rãi trong mậu dịch ngoại thương cho cácđịa phương, xí nghiệp và công ty ngoại thương, cải cách đồng bộ các thể chế cóliên quan Nhờ đó mà quan hệ mậu dịch đã phát triển với quy mô lớn, từng bướchoà nhập với xu thế phát triển ngoại thương thế giới.Mặt khác, thúc đẩy hoạtđộng sản xuất và xuất - nhập khẩu tăng trưởng mạnh mẽ, làm cho địa vị kinh tếcủa Trung Quốc ngày càng cao
Thành công lớn nhất của Trung Quốc phải kể đến là sự phát triển thần kì đểvươn lên vị thế là một nhà xuất khẩu đứng đầu thế giới với 1.898,5 tỷ USD vào
Bên cạnh việc mở rộng không ngừng kim ngạch xuất - nhập khẩu thì cơ cấuhàng xuất - nhập khẩu của Trung Quốc cũng ngày càng được cải thiện đáng kể.Trước đây, Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm sơ chế như thực phẩm,
Trang 23súc vật sống, nguyên liệu thô và dầu mỏ; tỉ trọng các hàng công nghiệp trong cơcấu xuất khẩu chiếm một lượng nhỏ.Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nhucầu thị trường thế giới thì các sản phẩm trên không còn phù hợp nữa Chính vìvậy, Trung Quốc đã chuyển sang xuất khẩu các sản phẩm gia công, tỉ lệ các mặthàng này khá cao, khoảng 74% năm 1998 nhờ tận dụng nguồn nhân lực dồi dào,giá nhân công rẻ nên các sản phẩm này có sức cạnh tranh cao trên thị trường thếgiới Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Trung Quốc hiện nay là hàng dệt,điện máy, hoá chất, quần áo, thực phẩm, nước giải khát, máy móc không dùngđiện… Ngoài ra, nhờ mở cửa mà Trung Quốc đã nâng cao được trình độ vềkinh tế - kĩ thuật, rút ngắn được khoảng cách so với các nước phát triển, thu hútđược một lượng lớn về vốn đầu tư của nước ngoài, làm tăng lượng khách dulịch, nâng cao vị thế của mình trong buôn bán toàn cầu.
GDP tăng trưởng nhanh : Theo bảng xếp hạng của Ngân hàng Thế giới(WB), Trung Quốc từ nước có mức thu nhập thấp được đưa vào danh sáchnhững nước có thu nhập thấp trung bình Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh vàphạm vi kinh doanh mở rộng đã giúp Trung Quốc nhanh chóng giàu có Số liệucủa NBS cho thấy thu nhập tài chính của Chính phủ Trung Quốc đã tăng gấp 45lần trong vòng 30 năm qua Giàu có khiến Trung Quốc cung cấp một cách cóhiệu quả nguồn tài chính để tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống xã hội chongười dân, giảm thiểu một cách có hiệu quả mọi rủi ro và thiên tai
Tăng khối lượng xuất khẩu: Ngoại thương trở thành cửa ngõ quan trọng đểTrung Quốc tham gia vào quá trình hợp tác và cạnh tranh kinh tế quốc tế Báocáo của Cục thông kê quốc gia Trung Quốc (NBS) cho thấy nước này đạt nhiềuthành tựu lớn về ngoại thương trong vòng 30 năm qua.Trong giai đoạn từ 1978-
1993, Trung Quốc luôn trong tình trạng thâm hụt thương mại Tuy nhiên, kể từnăm 1994, Trung Quốc bắt đầu có thặng dư trong ngoại thương với mức tăngthặng dư nhanh giúp Trung Quốc trở thành quốc gia có lượng dự trữ ngoại tệlớn nhất thế giới Nhờ chính sách buôn bán khôn khéo trong thời gian cải cách
Trang 24mở cửa, Trung Quốc đã nhanh chóng tích lũy được lượng dự trữ ngoại tệ dồidào.Chính phủ Trung Quốc chủ trương chú trọng khâu tái chế, nhanh chóngbiến Trung Quốc trở thành "công xưởng thế giới" Các nhà nhập khẩu nướcngoài hưởng phần lớn số lợi nhuận được tạo ra từ "công trường thế giới" nhưng
bù lại quá trình gia công chế biến đã giúp Trung Quốc gia tăng lượng dự trữngoại tệ Với số tiền dự trữ ngoại tệ lớn, Trung Quốc có thể đối phó với cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay
Hiện tại, Chính phủ Trung Quốc đã thông qua một loạt chính sách như nângmức hoàn thuế xuất khẩu nhằm khuyến khích xuất khẩu để đối phó với biên độdao động trong nền kinh tế Trung Quốc gây ra bởi tình hình tài chính toàn cầubất ổn định
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài : Trước năm 1992, Trung Quốc hầu nhưphải mượn tiền của nước ngoài, đặc biệt là thông qua các khoản vay Năm 1992,lần đầu tiên lượng tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc vượt
số tiền vay nước ngoài Kể từ đó, FDI trở thành kênh quan trọng nhất để TrungQuốc thu hút tư bản nước ngoài Kể từ năm 1993, Trung Quốc trở thành quốcgia hấp dẫn FDI nhất trong số các quốc gia đang phát triển
4.1.5.b Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ sự tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc có thể rút ra nhiều bài học cho ViệtNam
Để tăng cao và liên tục, Trung Quốc đã có tỷ lệ tích lũy rất cao, trong khicủa Việt Nam dù đã tăng lên nhưng cũng mới đạt 35%, còn thấp xa TrungQuốc Muốn tăng tích lũy thì phải tiết kiệm tiêu dùng Đành rằng, trong kinh tếthị trường, tiêu dùng cũng là động lực của tăng trưởng, nhưng tiêu dùng của một
bộ phận dân cư đã vượt xa cả số làm ra thì nền kinh tế nào cũng không thể chấpnhận được Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng cao, có dự trữ ngoại tệ lớn, nhưng
Trang 25có tỷ lệ tiêu dùng so với GDP mới đạt 54,1%, thấp nhất thế giới, nhờ vậy màhàng hóa của Trung Quốc tràn ngập thế giới; trong khi tỷ lệ tiêu dùng so vớiGDP của Việt Nam lên trên 70% Đáng lưu ý, tốc độ tăng tiền lương trong cácdoanh nghiệp nhà nước cao hơn tốc độ tăng của năng suất lao động.
Tăng lượng vốn là quan trọng, nhưng nâng cao hiệu quả đầu tư còn quantrọng hơn nhiều Lượng vốn đầu tư của Việt Nam thấp hơn Trung Quốc, nhưng
hệ số ICOR (suất đầu tư trên một đơn vị tăng trưởng) của Việt Nam tăng nhanh,
từ 3,4 lần năm 1995, trong 5 năm qua đã tăng lên khoảng 5 lần (nghĩa là có 1đồng GDP tăng thêm, cần có thêm 5 đồng vốn đầu tư), cao gần gấp rưỡi củaTrung Quốc Hệ số ICOR của Việt Nam cao chủ yếu do tình trạng lãng phí, thấtthoát và đục khoét vốn đầu tư còn rất lớn Tình trạng tham nhũng ở Trung Quốcdiễn ra phổ biến và nghiêm trọng, nhưng việc trừng trị tham nhũng tại đây cũngrất nghiêm Mỗi năm có hàng nghìn quan chức bị tử hình, trong đó có nhữngngười giữ chức vụ rất cao Để giảm độ nóng của tăng trưởng kinh tế, TrungQuốc đang điều chỉnh lại việc đầu tư, nhưng chủ yếu là giảm đầu tư vào cácngành phát triển quá nóng như sắt thép, nhôm, xi măng, năng lượng, giáo dục,giao thông,
Theo nhận xét của các chuyên gia kinh tế trên thế giới, những nước đangtrong quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ cơ chế kế hoạchhóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường cần phải rút ra những bài học kinhnghiệm cho mình từ sự phát triển của Trung Quốc Tính chất của tăng trưởng(phát sinh không phải từ đổi mới công nghệ trong sản xuất mà từ gia công làchủ yếu, khiến phụ thuộc nhiều vào sự đặt hàng từ bên ngoài); sức cạnh tranhcòn thấp do năng suất sản xuất còn yếu kém; thị phần trong xuất khẩu củadoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khá lớn (59%) Có một vấn đề quantrọng khác là sự phân bố và thụ hưởng kết quả của tăng trưởng giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn có chênh lệch lớn, mà Trung Quốccũng đang phải rút ra và có sự điều chỉnh, nhưng không dễ dàng
Trang 26 Trong quan hệ buôn bán với nước ngoài, Trung Quốc luôn luôn ở vị thếxuất siêu; mức xuất siêu ngày một lớn và thuộc loại nhất nhì thế giới Việt Namluôn ở vị thế nhập siêu, tăng liên tục từ năm 2000 đến 2004 với mức đỉnh điểmgần 5,5 tỉ USD; năm 2005 tuy đã giảm xuống nhưng vẫn còn trên 4,5 tỉ USD.
Mặc dù giá thế giới cao nhưng lạm phát ở Trung Quốc thuộc loại thấp(bình quân năm trong thời kỳ 2001 - 2005 chỉ vào khoảng 1,3%) nhờ cung hànghóa lớn hơn cầu, sức mua của dân cư, đặc biệt là nông dân và vùng sâu trongnội địa còn thấp Tỷ giá giữa đồng nhân dân tệ của Trung Quốc với USD gầnnhư cố định; gần đây, đồng nhân dân tệ có tăng giá hơn chút ít mặc dù Mỹ liêntục đòi Trung Quốc tăng giá đồng nhân dân tệ mạnh hơn nhiều
Cần phát triển kinh tế theo mô hình tăng trưởng cân đối giữa xuất khẩu vànhập khẩu, quan tâm vào chất lượng của hàng hóa xuất khẩu Bên cạnh đó cần
ưu tiên bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả các nguồn tài nguyênthiên nhiên
Trang bị kiến thức về thương mại quốc tế cho các doanh nghiệp xuấtkhẩu cũng như nhập khẩu Những biện pháp để nâng cao giá trị hàng xuất khẩu
từ đó tạo ta nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước Tạo điều kiện tối đa cho cácdoanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa
I.1.6 Hàn Quốc
Với dân số 47 triệu người, tổng kim ngạch nhập khẩu lên tới 150 tỷ USD,thu nhập bình quân đầu người gần 10.000 USD/năm, Hàn Quốc là một thịtrường tiêu thụ lớn Đây là thị trường có tiềm năng lớn cho hàng xuất khẩu củanước ta
Do những thay đổi của lối sống, xu thế tiêu dùng của người dân HànQuốc những năm gần đây có nhiều nét mới Điều dễ nhận thấy là sự gia tăngtiêu dùng gạo và lúa mỳ, tiêu dùng những sản phẩm lâu bền và đắt tiền, tăng
Trang 27nhu cầu về dịch vụ, đặc biệt rất nhạy cảm với vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm
và thực phẩm biến đổi gien
Bên cạnh các thị trường xuất khẩu chủ lực của Hàn Quốc là Trung Quốc,
Mỹ và EU, chính phủ Hàn Quốc cũng có các chính sách để mở rộng thị trườngnhất là khi kinh tế thế giới rơi vào suy thoái Hàn Quốc không thể thúc đẩy hoạtđộng xuất khẩu sang các thị trường lớn này khi mà người dân tại đây thắt chặthầu bao của mình Chính phủ Hàn Quốc đã có nhiều động thái như tổ chức cáccuộc điều tra, thăm dò sang các thị trường khác để quyết định mở rộng xuấtkhẩu
Một ví dụ điển hình là các doanh nghiệp Hàn Quốc đã nhắm tới các thị trườngmới như Châu Á, mà điển hình là ASEAN.Tính đến tháng 3 năm 2008, quy môxuất khẩu của Hàn Quốc vào các nước ASEAN đã nhiều hơn so với vào Mỹ,quốc gia vốn là thị trường xuất khẩu chủ yếu của Hàn Quốc Bộ Kinh tế và Trithức cho biết, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vào Mỹ đạt khoảng 5,5 tỷ USD,giảm 7,3% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 11% tổng kim ngạch xuất khẩucủa Hàn Quốc
Trong khi đó, xuất khẩu vào thị trường các nước Đông Nam Á đã tăng 35,4%đạt khoảng 6,3 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc.Theo Bộ Kinh tế và Tri thức, xuất khẩu của Hàn Quốc đã chịu ảnh hưởng tiêucực do sự xuống dốc của nền kinh tế Mỹ và việc suy giảm vị thế các sản phẩmtiêu biểu của Hàn Quốc trên thị trường Mỹ như chíp bán dẫn và ô tô Bên cạnh
đó Đông Âu và Nga cũng nổi lên như những thị trường mới của ô tô Hàn Quốc.Hiệp hội công nghiệp ô tô Hàn Quốc cho biết, tổng số ô tô xuất khẩu vào Đông
Âu và Nga đã tăng từ hơn 32.000 chiếc vào năm 2001 lên gần 450.000 chiếcvào năm ngoái Do vậy, tổng kim ngạch xuất khẩu ô tô đã tăng vọt từ 225 triệuUSD vào năm 2001 lên 4,8 tỷ USD vào năm 2007 Một quan chức của Hiệp hội
ô tô Hàn Quốc cho biết, nhờ sự tăng trưởng kinh tế khả quan, thị trường Đông
Âu và Nga đã mở rộng và phát triển mạnh
Trang 28I.1.7 Đài Loan
Đài loan hiện là bạn hàng xuất khẩu quan trọng thứ tư của Việt Nam sau
EU, Nhật Bản và Singapore Quan hệ thương mại trong những năm tới cóthể có mốt số thuận lợi làn sóng di chuyển sản xuất từ Đài Loan ra nướcngoài đang tăng lên do giá công nhân trong nước tăng và do chính sách tăngcường hợp tác với phía Nam của chính quyền Đài Bắc Ta có thể lợi dụng xuthế này để nâng cao năng lực sản xuất trong các ngành da giày, may mặc, cơkhí, chế biến gỗ, sản phẩm nhựa và đồ điện Ngoài ra, sau Trung Quốc, ĐàiLoan cũng gia nhập WTO với những cam kết về mở cửa thị trường rộng hơn
cả Trung Quốc.đau sẽ là một thuận lợi để đẩy mạnh việc thâm nhập thịtrường Đài Loan
Mục tiêu chủ yếu trong thời gian tới là đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàngnhư sản phẩm gỗ, hải sản, cao su, dệt may, giày dép, rau quả và chè, một sốmặt hàng cơ khi và điện gia dụng do cơ sở có vốn đầu tư của Đài Loan tạiViệt Nam
Từ phân tích chính sách đối ngoại của Đảng, nhà nước về mở rộng quan hệ Việt Nam – ASEAN từ sau năm 1995, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm.
Việt Nam đang trên đà phát triển với hàng loạt những bước tiến quantrọng: là thành viên chính thức của tổ chức WTO, tổ chức thành công hộinghị cấp cao Apec, Asean, là thành viên không thường trực của hội đồngbảo an liên hợp quốc Những nhân tố đó đã góp phần tạo điều kiện thuậnlợi cho Việt Nam thực hiện có hiệu quả hơn các chính sách thương mại quốc
tế Thông qua việc nghiên cứu các chính sách thương mại quốc tế của cácnước chúng ta có thể tự đúc rút cho mình nhũng bài học kinh nghiệm quýgiá dựa trên điều kiện hoàn cảnh của quốc gia mình:
Xây dựng cở sở hạ tầng
Hiện nay hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn yếu kém, lạc hậuchưa đủ điều kiện để thúc đẩy các hoạt động trao đổi buôn bán và sản xuất
Trang 29Trước tiên chính phủ nên tập trung đầu tư vào các ngành cơ sở hạ tầng cơbản nhằm tạo tiền đề cho sản xuất thông qua các nguồn vốn ODA hoặc cóthể khuyến khích các tổ chức cá nhân góp vốn đầu tư vào các công trình hạtầng có quy mô vốn lớn và thời gian thu hồi vốn lâu dài
Thành lập cục xúc tiến thương mại
Cục xúc tiến thương mại Việt Nam đã được hình thành từ năm 2000.Sau hơn 10 năm hoạt động tổ chức này đã tiến hành nhiều hoạt động nhằmquảng bá hình ảnh thương hiệu thì các mặt hàng của Việt Nam đã đượcnhiều bạn bè thế giới biết đến Tuy nhiên hiệu quả của tổ chức chưa đượckhai thác một cách triệt để do còn thiếu các hoạt động xúc tiến như chưa cónhiều các buổi hội chợ, giới thiệu sản phẩm, các hoạt động xúc tiến chưađược mở rộng ra trên thị trường thế giới Chúng ta có thể học tập Singaporethành lập mạng lưới các tổ chức xúc tiến trong và ngoài nước, có sự liên kếtchặt chẽ và hỗ trợ tích cực cho nhau ăn khớp tạo thành hệ thống
Thực hiện tự do hóa thương mại mại thông qua cắt giảm thuế quan
Việt Nam đã tham gia vào tổ chức WTO, ASEAN, APEC vì vậychúng ta nên dần dần gỡ bỏ các rào cản về thuế quan và hạn ngạch.Thay vào
đó từng bước hình thành hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật.Nhằm đảm bảo sự tự
do hóa và phát triển của thương mại, đồng thời vẫn đảm bảo nền sản xuấttrong nước
1 Kết hợp chặt chẽ yêu cầu, nhiệm vụ của thực tiễn nước ta với xu thế vận động của thế giới để bảo đảm tính hiệu quả và sự phát triển bền vững trong quan hệ Việt Nam với ASEAN.
Nhiệm vụ của công tác đối ngoại ở bất kỳ thời đại nào của quốc giađều nhằm hướng tới các mục tiêu cơ bản: An ninh, Phát triển, Ảnh hưởng
Để hoàn thành các mục tiêu này, quan hệ đối ngoại phải phát huy được nộilực dân tộc và ngoại lực quốc tế.vì vậy, chính sách đối ngoại của Đảng vàNhà nước, trước hết phải xuất phát từ tình hình và yêu cầu của đất nước
Trang 30Trên cơ sở đó, phải lắm bắt đúng xu thế của thời đại, đánh giá và dự báochính xác chiều hướng phát triển của thế giới.Từ đó mới có thể xác địnhđược đường lối, chủ trương đối ngoại một cách đúng đắn.Việt Nam gia nhậpASEAN trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, diễn biến phứctạp.Trong nước phải đối phó với nhiều nguy cơ thách thức Nhận thức sâusắc về thực trạng và những yêu cầu của đất nước, Đảng ta đã đề ra đườnglối, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa mà việc gianhập ASEAN năm 1995 là một ví dụ điển hình.
Việc trở thành thành viên chính thức của ASEAN đã tạo điều kiện đểViệt Nam phát triển kinh tế trong hòa bình ổn định Một Việt Nam có tốc độtăng trưởng kinh tế cao, có quan hệ rộng rãi với nhiều nước trên thế giới làđóng góp quan trọng cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khuvực, đồng thời có ý nghĩa quan trong trong việc mở rộng quan hệ Việt Nam– ASEAN
2 Quán triệt đường lối đối ngoại độc lập tự chủ và rộng mở của Đảng là nhân tố bảo đảm thắng lợi việc mở rộng quan hệ Việt Nam – ASEAN.
Vấn đề giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạomôi trường quốc tế thuận lợi là nhiệm vụ quan trọng của hoạt động đốingoại.Xây dựng một nước Việt Nam ổn định và phát triển cũng chính là sựđóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực Hoạt động đốingoại phải chủ động và sáng tạo trong việc xử lý quan hệ với từng nướccũng như đối với khu vực, mọi sao chép, rập khuôn máy móc đều có thể dẫnđến sai lầm yếu tố độc lập, tự chủ và rộng mở trong quan hệ đối ngoại đốingoại chính là nhằm quán triệt tinh thần dựa vào sức mình là chính
Đại hội Đảng lần thứ VIII và các nghị quyết Trung ương Đảng tiếptục phát triển sâu sắc hơn quan điểm đối ngoại rộng mở, đổi mới tư duy vềtập hợp lực lượng – kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thêm
Trang 31bạn bớt thù.Đảng ta thực sự quan tâm và ưu tiên hàng đầu cho việc mở rộngquan hệ với ASEAN Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ và rộng mở củaĐảng đã trở thành cơ sở cho các bước đi đúng đắn trong quan hệ Viêt Nam– ASEAN, là nhân tố bảo đảm vị trí thành viên tích cực, tự chủ, có nhiềuđóng góp to lớn cho sự phát triển chung của hiệp hội.
3 Kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, linh hoạt và sáng tạo về biện pháp, khai thác tối đa các điều kiện thuận lợi, hạn chế các cản trở nếu có, là bài học quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam – ASEAN.
Hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước luôn là nhu cầu thường trựcđối với dân tộc ta Chính vì vậy Việt Nam luôn chủ động: “ khép lại quákhứ, nhìn về tương lai, sẵn sàng thiết lập quan hệ với các nước vị lợi íchchung Thời điểm bùng nổ“ vấn đề Campuchia” , Đảng ta đã thể hiện lậptrường: “mong muốn và sẵn sàng cùng với các nước trong khu vực thươnglượng để giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồntại hòa bình, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định vàhợp tác
Sự linh hoạt và sáng tạo về biện pháp trong chính sách đối ngoại củaViệt Nam đối với khu vực và quốc tế đã làm cho các nước ASEAN hiểu rõthiện chí và lập trường của ta trong việc giải quyết “vấn đề Campuchia”,giải tỏa sự nghi kỵ và những trở ngại trong quan hệ Việt Nam với các NướcASEAN, thúc đẩy quan hệ song phương lẫn đa phương giữa nước ta với cácnước ASEAN phát triển mạnh mẽ, góp phần phá vỡ thế bị bao vây, cô lậpvới bên ngoài, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế
Ngoài ra, để thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập, ASEAN cần tiếp tụcđẩy nhanh liên kết kinh tế nội khối, tích cực đàm phán với các đối tác bênngoài để hình thành các khu vực mậu dịch tự do rộng lớn hơn Nhưng đểliên kết kinh tế nội khối và việc đàm phán xây dựng các FTA với các nước
Trang 32ngoài khu vực được tiến triển nhanh, ASEAN cần giải quyết các vấn đề rấttrọng yếu sau:
- ASEAN cần nỗ lực thực hiện đầy đủ các cam kết đã có và tiếp tục đề
ra các sáng kiến mới nhằm đẩy nhanh tiến trình liên kết kinh tế nội khối,nhanh chóng thuhẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên, tiếntới hình thành AEC đúng tiến độ
- Xây dựng các FTA với các đối tác cần phải được tiến hành theo một
lộ trình phù hợp, cùng có lợi, cùng phát triển
- Sự tham gia của các doanh nghiệp cần được thúc đẩy ở cả hai phía.Một mặt, các chính phủ cần xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp để xâydựng các khu vực mậu dịch tự do; mặt khác, chính doanh nghiệp cũng cầnchủ động khai thác triệt để những cơ hội mà các FTA mang lại
Kế hoạch tổng thể cho tiến trình hợp tác kinh tế và hội nhập củaASEAN tới năm 2015 là thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) AEC
sẽ hội tụ những biện pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa tự do hóa thương mại, cảithiện hạ tầng kinh doanh, giảm chi phí giao dịch thương mại, tăng tính hấpdẫn cho môi trường đầu tư của ASEAN, củng cố hệ thống giải quyết tranhchấp nội bộ khối
Khi AEC trở thành hiện thực, sẽ tồn tại một khu vực kinh tế ASEANcạnh tranh, thịnh vượng và ổn định, ở đó có sự dịch chuyển tự do hàng hóa,dịch vụ và đầu tư, dịch chuyển tự do hơn cho các dòng vốn, phát triển kinh
tế công bằng và giảm đói nghèo cũng như bất bình đẳng kinh tế-xã hội
Hiến chương ASEAN sẽ giúp khu vực Đông Nam Á trở thành một tổchức có cơ cấu chặt chẽ hơn nhằm đáp ứng tốt hơn những thách thức đặt ratrong quá trình hội nhập khu vực, sự mở rộng các mối quan hệ đối ngoại vàtoàn cầu hoá nhanh chóng Trong khi thực hiện điều này, ASEAN phải duytrì một sân chơi hiệu quả trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực
Trang 33Hiến chương ASEAN sẽ thiết lập một khuôn khổ và nền tảng pháp lýcho ASEAN tái cơ cấu cơ chế hiện hành của nó, cải tiến quá trình ra quyếtđịnh nhằm củng cố hiệu lực và bảo đảm việc thực hiện đúng tiến độ các hiệpđịnh, quyết định của ASEAN Liên kết kinh tế ASEAN được coi là trụ cộtchính, là yêu cầu cấp bách để phát triển kinh tế khu vực.
Tuy nhiên, để đẩy nhanh quá trình này, ASEAN rất cần có sự thamkhảo tiến trình liên kết của các tổ chức khu vực, nhất là mô hình liên kết
EU Tuy hai mô hình liên kết này có những khác biệt, nhưng từ kinh nghiệm
EU và thực tiễn, ASEAN cần sáng tạo đưa ra hướng đi hợp lý cho AEC
Qua đó ta có nhận xét chung là: nếu khách quan nhìn nhận lại sự vậnđộng trong đường lối đối ngoại của Việt Nam với ASEAN từ khi gia nhậpcho đến nay, ta có thể thấy một đường lối vô cùng mềm dẻo và linh hoạt Bỏqua những mẫu thuẫn trong quá khứ, Việt Nam bước vào cánh cổngASEAN với một tâm thế mới, một niềm tin mới Để cho thấy vai trò và vịthế của mình trong tổ chức, Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại trongmối quan hệ với các nước một cách chân tình, hữu nghị trên nguyên tắc:
“Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không canthiệp vào công việc nội bộ của nhau…” Xu thế toàn cầu hóa và khu vựchóa ngày càng lan rộng cùng với đó là quá trình xâm nhập của nền kinh tếthị trường tự do cạnh tranh, Việt Nam đã chủ động mở rộng hợp tác với cácnước ASEAN một cách toàn diện, trên mọi lĩnh vực thông qua đối ngoạisong phương và đa phương, chủ động xây dựng mối quan hệ thân thiện, hữunghị cùng hợp tác và phát triển thông qua đối thoại và đàm phán Do nhữngảnh hưởng tiêu cực của tình hình thế giới tác động vào khu vực, cũng như
sự thay đổi trong đường lối và chính sách của các nước thành viên ASEAN,Việt Nam cần linh hoạt “uốn mình” theo dòng chảy, nhằm chủ động đónđầu mọi khó khăn và thách thức trong tương lai
Trang 34ASEAN là môi trường tốt cho Việt Nam thể hiện mình và Chính sáchđối ngoại là một trong những nhân tố quan trọng để xây dựng và thúc đẩymối quan hệ giữa Việt Nam với ASEAN.
II Thực trạng ngoại thương của Việt Nam
Trong giai đoạn 25 năm (1986-2011) đổi mới và hội nhập kinh tế nhà nước, tình hình chung về thương mại hàng hóa Việt Nam với thế giới đến nay luôn là nhập siêu, thâm hụt cán cân thương mại luôn ở mức âm.
Từ năm 1986, Chính Phủ Việt Nam đưa ra chính sách đổi mới nền kinh tế - xã hội, với mục tiêu chuyển đổi đất nước từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, nhà nước kiểm soát hầu hết các hoạt động kinh tế sang một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bắt đầu có xuất khẩu Đến giữa năm 1990, quá trình cải cách dựa vào khu vực kinh tế tư nhân như một động lực phát triển kinh tế và giảm bớt
sự quản lý của nhà nước, cho phép và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia trong nhiều lĩnh vực được triển khai thực hiện Cải cách kinh tế tạo ra những cơ hội thương mại và đầu tư mới, thống nhất tỷ giá hối đoái và thâm hụt tài chính, đói nghèo được giảm mạnh Từ khi đổi mới, Việt Nam trở thành một khu vực hấp dẫn cho các nhà đầu tư, từ một nước không xuất khẩu trở thành nước chú trọng xuất khẩu thể hiện qua tình trạng xuất khẩu tăng mạnh qua các giai đoạn mở cửa và hội nhập.
Đầu những năm 90, chính sách ngoại thương và mở cửa kinh tế quốc tế của Việt Nam với chủ trương tích cực, chủ động hội nhập kinh tế, quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam với các nước, các tổ chức trên Thế Giới ngày càng phát triển và mở rộng Năm
1994, Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận buôn bán đối với Việt Nam, năm 1995, Việt Nam gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN, thúc đẩy sự hợp tác giữa các nước trong khu vực về kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị Năm 1998, tham gia diễn đàn hợp tác kinh
tế Châu Á - Thái Bình Dương APEC Năm 2001, ký kết Hiệp Định Thương Mại Song Phương Việt – Mỹ (BTA), tạo cho Việt Nam một vị thế quan hệ thương mại bình thường và đóng góp quan trọng cho quá trình hội nhập WTO của Việt Nam Năm
2003, Liên minh Châu Âu và Việt Nam xây dựng một thỏa thuận song phương, công nhận Việt Nam là một nước đang phát triển và do đó được hưởng chế độ trong GSP Đến năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO,…Những cột mốc quan trọng đó
Trang 35đã góp phần làm cho ngoại thương Việt Nam phát triển mạnh, ngày càng đứng vững trên thị trường thế giới đồng thời mang lại động lực to lớn cho chính sách cải cách và đổi mới nển kinh tế được hoàn thiện tốt hơn, doanh nghiệp trong nước có môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu được chú trọng đẩy mạnh và kinh tế xã hội phát triển, nâng cao vị thế của Việt Nam trên thương trường
5.1.Tổng quan về thực trạng của Việt Nam năm 1986-2011
Từ Đại hội Đảng VI năm 1986, công cuộc đổi mới của Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn, nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao liên tục trong nhiều năm, trong giai đoạn này thì nhờ chính sách mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại và đến nay đã có quan hệ buôn bán với nhiều lĩnh vực và lãnh thổ thuộc các châu lục trên thế giới Năm 1987, Luật đầu tư nước ngoài là văn bản đầu tiên góp phần tạo ra khung pháp lý cho việc hình thành kinh tế thị trường tại Việt Nam và tiếp theo đó các đạo luật quan trọng ra đời phục vụ phát triển kinh tế - xã hội như Luật thuế, Luật lao động, Luật môi trường… Cùng với việc xây dựng luật, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng từng bước được hình thành, xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, nhấn mạnh quan hệ hàng hóa- tiền tệ, tập trung vào các biện pháp quản lý kinh tế, thành lập hàng loạt các tổ chức tài chính, ngân hàng, hình thành các thị trường cơ bản như thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thị trường đất đai…
Theo số liệu của Cục Thống Kê cho thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam qua các giai đoạn từ năm 1986 – 2011, giá trị nhập khẩu luôn lớn hơn giá trị xuất khẩu, dẫn đến cán cân thương mại thậm hụt tăng dần Chiến lược cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 được thúc đẩy nhằm nâng cao tính cạnh trạnh của nền kinh tế, tạo môi trường thuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực cho việc tăng trưởng kinh tế Cùng với việc trở thành thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) đã thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu, rộng hơn vào kinh tế thế giới thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam ra các khu vực trên thề giới, tranh thủ cơ hội các nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trang 36Nhìn chung, những cải cách kinh tế mạnh mẽ trong hơn hai thập kỷ đổi mới vừa qua đã mang lại cho Việt Nam những thành quả bước đầu rất đáng phấn khởi Việt Nam đã tạo ra được một môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh và năng động Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được khuyến khích phát triển, tạo nên tính hiệu quả trong việc huy động các nguồn lực xã hội phục vụ cho tăng trưởng kinh
tế Các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở nên thông thoáng hơn, thu hút được ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu và phát triển thêm một số lĩnh vực hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày càng lớn như du lịch, xuất khẩu lao động,…
Bảng 5.1: thống kê số liệu xuất nhập khẩu theo từng giai đoạn (1986-2011)
Giai đoạn Xuất Khẩu
Nhập khẩu
Cán cân thương mại
Tốc độ tăng/
giảm xuất khẩu (%)
Tốc độ tăng/giảm nhập khẩu (%)
1986- 1990 7031 12685 -5654
2001-2005 110830 130151 -19321 113.85 111.23 2006-2011 377266 449870 -72604 240.40 245.65
Trang 37Biểu đồ 5.1a: Kim ngạch xuất nhập khẩu, cán cân thương mại của Việt Nam qua
Trang 38Biều đồ 5.2.1.a
Đây là giai đoạn
mà nhà nước ta bắt đầu quan tâm đến ngoại thương cùng với chiến lược thay thế hàng nhập khầu bằng xuất khẩu, được thể hiện qua trị giá xuất khẩu năm 1986 đạt 789 triệu USD và đến năm 1990 đạt
2404 triệu USD, tăng 3.05%.
Các thị trường xuất khẩu của Việt Nam
Từ năm 1986, theo chính sách đổi mới thì nước ta bắt đầu mở cửa xuất khẩu Các nước thuộc hệ thống Xã Hội Chủ Nghĩa là những nước mà nước ta hướng đến, chủ yếu là các khối nước Đông Âu trong đó Liên Xô là thị trường xuất khẩu lớn nhất.
Triệu USD
xuất khẩu
Trang 391986 1987 1988 1989 1990 0.0
100.0 200.0 300.0 400.0 500.0 600.0 700.0 800.0 900.0 1000.0
Triệu USD
Biểu đồ 5.2.1.b: Thể hiện giá trị xuất khẩu giai đoạn 1986-1990
Theo số liệu thống kê ta thấy, giai đoạn 1986-1990 thị trường xuất khẩu chính của nước ta là Liên Xô với tổng trị giá xuất khẩu là 2843 triệu USD, chiếm 35,3% tổng giá trị xuất khẩu; theo sau đó là Nhật Bản (747,1 triệu USD), Trung Quốc (482,4 triệu USD), Singapore (447,6 triệu USD) Vì nước ta và Liên Xô đều là các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, trong bối cảnh vừa mới mở cửa chưa biết các thị trường bên ngoài là thế nào thì Liên Xô sẽ là lựa chọn an toàn nhất.
Cơ cấu hàng hóa theo nhóm ngành
Biểu đồ 5.2.1.c: Thể hiện tỷ trọng ngành hàng giai đoạn 1986-1990
Trang 40Qua biểu đồ thể hiện tỷ trọng trong 5 năm đầu tiên, ta có thể nhận thấy được rằng tỷ trọng của Hàng Nông Sản chiếm vị trí cao nhất Chỉ có năm 1988 tỷ trọng của Hàng Công Nghiệp nhẹ tăng cao hơn 3,4% so với hàng Nông Sản.
Ngoài ra, 4 năm còn lại tỷ trọng của Hàng Nông Sản luôn dẫn đầu, kế tiếp là hàng CN nhẹ.Với mặt hàng Thuỷ sản và CN nặng có sự thay đổi cho nhau qua từng năm.Riêng mặt hàng Lâm sản luôn ở vị trí thứ 5 khi tỷ trọng qua từng năm chỉ dao động từ 5% đến 9%.
Sau thời kì đổi mới cùng với thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế xã hội và giải phóng sức sản xuất Lúc bấy giờ Việt Nam tập trung vào xuất khẩu nhóm hàng Nông sản (gạo, tiêu, chè,…) hầu như đều chiếm tỷ trọng ngất ngưỡng so với các nhóm hàng khác khi 1986 hàng nông sản chiếm 40,0% , hàng CN nhẹ: 29%, hàng thuỷ sản: 14%, hàng lâm sản: 9,0%, hàng CN nặng: 8,0%
Tỷ trọng của mỗi ngành hàng vẫn tăng đều với vị trí như thế cho đến năm
1987 Trong giai đoạn từ 1986 – 1990, ngành hàng có tỷ trọng biến đổi nhiếu nhất đó chính là hàng Nông sản.
Nguyên nhân dẫn đến tỷ trọng của Hàng Nông sản giảm mạnh là do mặt hàng Gạo, với chủ trương phát triển hợp tác xã, đất đai của nông dân được tập thể hóa, nông dân không thể làm chủ sản xuất được.
Hậu quả chính là sản xuất gạo bị sa sút, nền nông nghiệp rơi vào khủng hoảng gây nên nạn đói cho 2 triệu người dân Lượng gạo chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước vì vậy tỷ trọng xuất khẩu đã giảm đáng kể từ 41,7% còn 33,6%
Sau hậu quả nặng nề đó, năm Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10, quyết định giao quyền tự chủ ruộng đất cho hộ nông dân và cho phép tự do hóa lưu thông nông sản hàng hóa Chỉ sau 1 năm mà tỷ trọng của hàng Nông sản tăng ổn định và đều đặn từ 33,6% (1987) tăng lên 36,3% (1988).
Trong giai đoạn 1986 – 1990, các mặt hàng xuất khẩu chính lúc bấy giờ là Dầu Thô, Gạo (Nhóm hàng Nông Sản)
5.2.2.Giai đoạn 1991-1995
Ở giai đoạn này cột mốc quan trọng ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam đó
là hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ vào năm 1991 điều này không những tác động đến xuất khẩu của Việt Nam, năm 1991 giảm còn 2087 triệu USD Nhà nước ta đã phải