1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sử dụng cây chuối hoa để xử lý nước thải sinh hoạt

14 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 382,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu sinh trưởng của chuối hoa (Canna generalis) trên các loại BLTC cũng như xác định các hệ số động học loại bỏ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt (BOD 5 , TN, TP,…) trê[r]

Trang 1

Nghiên cứu sử dụng cây chuối hoa để xử lý nước thải sinh hoạt

Tóm tắt: Bãi lọc trồng cây trong dây chuyền công nghệ XLNT sinh hoạt là giải pháp hữu hiệu

cho vùng ven các đô thị khu vực trung du và miền núi phía Bắc Nghiên cứu sinh trưởng của

chuối hoa (Canna generalis) trên các loại BLTC cũng như xác định các hệ số động học loại bỏ

các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt (BOD5, TN, TP,…) trên các các bãi lọc trồng loại cây này là mục tiêu của nghiên cứu trình bày trong bài báo Kết quả nghiên cứu trên mô hình thử

nghiệm cho thấy: trong điều kiện khí hậu miền núi phía Bắc Việt Nam, cây chuối hoa phát triển tốt trên cả bãi lọc ngầm (HF) lẫn bãi lọc ngập nước (FSW) Dùng Canna generalis làm thực vật trồng tạo cho bãi lọc trồng cây có hiệu suất xử lý các chất hữu cơ và dinh dưỡng trong nước thải sinh hoạt tăng lên

1 GIỚI THIỆU CHUNG

Trong những năm gần đây, cùng với cả nước, tốc độ phát triển kinh tế xã hội khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam tăng lên rõ rệt Các tác động này tạo nên sức ép đối với môi trường cũng như

hệ thống hạ tầng kỹ thuật các đô thị trong khu vực Hệ thống thoát nước (HTTN) và xử lý nước thải (XLNT) tập trung không kịp đáp ứng với quá trình đô thị hóa Vì vậy việc xử lý nước thải phi tập trung cho các vùng ven đô thị là phù hợp và cần thiết [1]

Khu vực miền núi phía Bắc có địa hình dốc với khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm quanh năm với hai mùa rõ rệt hè, đông Đồng thời hàng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Nhiệt độ tăng dần từ phía bắc xuống phía nam, trung bình hàng năm khoảng 250C Thời tiết mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 nóng ẩm và mưa cho tới khi gió mùa nổi lên Mùa đông

từ tháng 11 tới tháng 3 trời lạnh (nhiệt độ từ 15÷260C), khô, có mưa phùn Lượng mưa trung bình từ 1,700 đến 2,400mm [2] Điều kiện tự nhiên này phù hợp cho việc ứng dụng các công trình sinh thái để XLNT sinh hoạt Bãi lọc trồng cây (BLTC) trong dây chuyền công nghệ XLNT sinh hoạt là giải pháp hữu hiệu chovùng ven các đô thị khu vực trung du và miền núi phía Bắc [3], [4]

Dạng BLTC được ứng dụng phổ biến trong XLNT là BLTC ngập nước (FWS) và bãi lọc chảy ngầm (SSF) Ở Việt Nam có nhiều loại cây có thể sử dụng để làm sạch môi trường nước tìm thấy

ở Việt Nam [5] Các loài cây này hoàn toàn dễ kiếm tìm ngoài tự nhiên và chúng cũng có sức

sống khá mạnh mẽ Tuy nhiên cây chuối hoa (Canna generalis) là loài cây hợp nước của vùng

nhiệt đới và cận nhiệt đới, có thể tạo cảnh quan sinh thái cho các đô thị, nhất là vùng ven đô Nghiên cứu sinh trưởng của chuối hoa trên các loại BLTC cũng như xác định các hệ số động học loại bỏ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt (BOD5, TN, TP,…) trên các các bãi lọc trồng loại cây này là mục tiêu của nghiên cứu trình bày trong bài báo

1 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 2

Đối tượng nghiên cứu là bãi lọc trồng cây ngập nước (Free Water Surface wetland-FWS) và bãi lọc trồng cây chảy ngầm (Submerged Surface Flow -SSF) dạng dòng chảy ngang (Horizontal flow – HF) Nước thải sinh hoạt (NTSH) sử dụng cho các mô hình nghiên cứu là nước thải sinh hoạt sau khi qua bể tự hoại từ HTTN chung của khu dân cư ven đô phường Bách Quang thị xã Sông Công (tỉnh Thái Nguyên), thuộc vùng miền núi phía Bắc Việt Nam Trên cơ sở hai sơ đồ kết hợp hồ sinh học và BLTC đặt tại hiện trường, nghiên cứu hiệu quả xử lý trên các mô hình thí nghiệm (MHTN) FWS đặt sau hồ sinh học tùy tiện (Hình 1a) và HF đặt trước hồ sinh học hiếu khí (Hình 1b)

Sơ đồ MHTN nghiên cứu XLNT sinh hoạt khu dân cư ven đô thị xã Sông Công

Cây trồng trên BLTC là cây chuối hoa (Canna generalis), một loài thực vật thuộc chi dong riềng

(Cannas), sống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, có thể cao từ 75-300 cm [6] Đây là loài cây lâu năm, thân thảo, rễ chùm, một thân rễ phát triển thành bụi; lá phẳng rộng mọc ra từ thân; cây

ưa nắng và sống được cả trong môi trường đất ngập nước và đất khô [7] Cây có hoa mười hai tháng trong năm, hoa màu sắc sặc sỡ như trắng ngà, vàng, hồng, đỏ thẫm, đỏ,… thường được trồng làm cây cảnh ở đô thị [6] Do có tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu thụ nhiều nước, sinh khối

và hàm lượng N, P trên mặt đất lớn và phần lớn được miễn dịch với sâu hại nên cây chuối hoa được dùng làm thực vật XLNT trong các BLTC [7] [8]

Vật liệu (VL) của BLTC chủ yếu là sỏi và cát Kích thước các mô hình BLTC được xây dựng theo [9], [10] và [11] và thể hiện trong Bảng 1 đối với loại FWS thể hiện và trong Bảng 2 đối với loại HF

Bảng 1 Kích thước MHTN loại FWS

Trang 3

Lưu lượng nước thải Q m3/ngày 0,096

Diện tích bề mặt (As = 100Q/HLR) [10] As m2 0,96

Chiều cao lớp VL trồng cây (cát f=1÷2 mm) [10] h2 m 0,15

Chiều cao lớp VL đỡ (Sỏi f=4÷6 cm) [11] h4 m 0,1

Bảng 2 Kích thước MHTN loại HF

Trang 4

Diện tích của bãi lọc As = 100Q/HLR As m2 0,96

Chiều cao lớp VL lọc (sỏi f=2÷3 cm) [11] h1 m 0,6

Chiều cao VL trồng cây (cát f =1÷2 mm) [10] h2 m 0,15 Cây chuối hoa giống ban đầu nêu trên Hình 2 và VL lọc nạp trên bể mô hình nêu trên Hình 3

Trang 5

Cây chuối hoa chuẩn bị trồng.

MHTN khi mới nạp xong VL lọc

Cây trồng có chiều cao trung bình 20cm, có từ 2 đến 3 lá mầm Cây trồng cách nhau 20 cm theo

cả chiều dọc và chiều ngang Thời gian lưu nước (HRT) trên công trình BLTC xác định theo công thức: t = V/Q

Xác định sinh khối khô của thực vật: Thực vật sau khi thu hoạch được vận chuyển đến phòng thí

nghiệm, cân trọng lượng trước khi sấy, sau đó cắt nhỏ thành những đoạn dài khoảng 20 ¸ 30 cm, sấy khô đến khối lượng không đổi ở 1030C ¸ 1050C, để nguội trong bình hút ẩm và cân lại trọng lượng khô sau khi sấy Chênh lệch trọng lượng tươi và trọng lượng khô là độ ẩm của sinh khối Chênh lệch sinh khối khô ban đầu (trước khi trồng) và khi thu hoạch là độ tăng sinh khối của cây trên BLTC

Để xác định các hệ số động học phân hủy các chất ô nhiễm của các loại BLTC khi trồng Canna generalis, coi bãi lọc như là các bể phản ứng sinh học bám dính với mô hình dòng đẩy phản ứng

bậc 1 cho tất cả các chất ô nhiễm, trong đó có BOD5, TN, NH4+-N, NOx-N, TP, … Hằng số tốc

độ phản ứng bậc 1 ít nhạy cảm với những điều kiện khí hậu thay đổi và không phụ thuộc vào nhiệt độ [12]

Trang 6

trong đó: As: diện tích xử lý của BLTC (m2); Xe: nồng độ chất ô nhiễm ở dòng ra (mg/L); Xi: Nồng độ chất ô nhiễm ở dòng vào (mg/L); X*: nồng độ nền của chất ô nhiễm, mg/L; k: hằng số tốc độ phản ứng bậc 1 (m/ngày); q: tải trọng thủy lực (m3/m2.ngày hoặc m/ngày); và Q: tốc độ dòng chảy trung bình qua bãi lọc (m3/ngày)

Các thông số chất lượng nước như BOD5, NH4+-N, NO3--N, PO4 -P,… được phân tích trong phòng thí nghiệm của trường Đại học Xây dựng và Trung tâm Quan trắc môi trường Thái

Nguyên theo các phương pháp chuẩn như: TCVN 6001-1995 (ISO 5815-1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxi sinh hoá sau 5 ngày (BOD5) - phương pháp cấy và pha loãng [13], TCVN 5988-1995 (ISO 5664-1984) - Chất lượng nước - Xác định amoni - Phương pháp chưng cất và chuẩn độ [14], TCVN 6180-1996 (ISO 7890-3-1988) - Chất lượng nước – Xác định nitrat

- Phương pháp trắc phổ dùng axit sunfosalixylic [15]

2 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3 Sự sinh trưởng của cây trồng trên các mô hình thí nghiệm BLTC

Kết quả theo dõi sự sinh trưởng, phát triển của cây chuối hoa trong thời gian thí nghiệm cho thấy: Trong một tháng đầu sau khi trồng (ngày 7/12/2014) là thời gian để cây thích nghi với điều kiện môi trường, bén rễ Sang tháng thứ 2 và thứ 3 sau khi đã bén rễ, cây bắt đầu ra những lá non mới, nhưng mức sinh trưởng chậm Sang tháng thứ 4, cây bắt đầu phát triển mạnh và ra thêm nhiều lá non mới, cao nhanh, lá to và dài Thời điểm bắt đầu thu hoạch sinh khối là ngày

29/3/2015 (sau 3 tháng 22 ngày) Như vậy, thời gian khởi động mô hình cho cây trồng thích nghi

và sinh trưởng là khá dài Do thời điểm này vào mùa đông trời rét, nhiệt độ trung bình không khí thấp (18÷230C) nên cây trồng sinh trưởng chậm hơn so với điều kiện thời tiết nóng ấm của mùa

Trong khoảng thời gian vận hành MHTN đã tiến hành thu hoạch 19 đợt sinh khối cây chuối hoa tạo thành từ hai bãi lọc HF và FWS Cây chuối hoa thu hoạch được đo kích thước, cân sinh khối tươi, sinh khối khô và độ ẩm trong 6 đợt thu hoạch đầu tiên Từ đợt thứ 7 khi thu hoạch cây chỉ tiến hành đo chiều cao cây và cân sinh khối tươi, sau đó sinh khối khô được xác định dựa vào độ

ẩm trung bình của cây Sự tăng trưởng sinh khối của cây chuối hoa trong các BLTC thay đổi theo thời gian, được thể hiện trong các Hình 4 và Hình 5

Trang 7

Hình 4 Sinh khối thu hoạch được theo thời gian tại các bãi lọc HF và FWS

Trang 8

Hình 5 Sinh khối trung bình/cây theo thời gian thu hoạch tại bãi lọc HF và FWS

Đối với bãi lọc HF, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2015 sinh khối thu hoạch ở các thời điểm có xu hướng tăng dần sau đó giảm xuống trong tháng 6 và tháng 7 Sang tháng 8 và tháng 9 sinh khối lại tăng dần lên so với các tháng trước đó rồi lại giảm xuống ở tháng 10 và tháng 11 và lại tăng lên ở tháng 12 Trong năm 2016 sinh khối của các tháng biến động nhẹ và khá ổn định từ tháng 1 đến tháng 5 Sinh khối thu hoạch được đạt giá trị max là 526,15g vào ngày 17/5/2015 và đạt giá trị min là 95g vào ngày 29/3/2015 Sinh khối trung bình/cây dao động trong khoảng từ 12,53 – 42,76 g, trung bình đạt 29,81 g Chiều cao trung bình của toàn bộ cây đã thu hoạch của bãi lọc

HF đạt mức 1,44m Trong thời gian nghiên cứu cây chuối hoa ở bãi lọc HF phát triển khá ổn định, có nhiều mầm mới

Đối với bãi lọc FWS, sinh khối tăng nhanh từ tháng 3 đến tháng 4/2015 và giữ ổn định ở mức cao đến thời gian thu hoạch ngày 7/6/2015 Sau đó, sinh khối giảm dần và thấp nhất là 151,27 g trong đợt thu hoạch ngày 19/7/2015 Sau giai đoạn này, sinh khối tăng dần lên đến thời điểm thu hoạch vào tháng 8, giảm xuống ở thời điểm tháng 10 và tăng lên ở thời điểm tháng 12 Sinh khối giảm nhẹ ở thời điểm tháng 1, 2/2016 và sau đó tăng lên mức cao ở tháng 3, 4, 5/2016 Sinh khối

Trang 9

thu hoạch được ở bãi lọc ở các đợt dao động trong khoảng từ 22,84-1182,96 g, đạt giá trị cao nhất vào ngày 12/4/2016 và giá trị thấp nhất ngày 29/3/2015 Sinh khối trung bình/cây dao động trong khoảng từ 22,84 - 71,69g, trung bình đạt 41,49 g/cây Chiều cao trung bình của toàn bộ cây

đã thu hoạch của bãi lọc FWS đạt mức 1,58m Trong thời gian nghiên cứu cho thấy, cây chuối hoa ở bãi lọc FWS có sự phát triển khá ổn định, cây lên nhiều mầm mới

So sánh sự tăng trưởng cây chuối hoa ở hai BLTC thể hiện trong Bảng 3

Bảng 3 Tổng hợp sinh khối cây chuối hoa ở bãi lọc HF và FWS trong thời gian nghiên cứu

BLTC Tổng sinh khối

(g)

Độ ẩm trung bình (%)

Sinh khối trung bình/cây (g)

Chiều cao trung bình/cây (m)

FWS 11908,96 88,84±1,33 41,49±13,13 1,58±0,21

Các giá trị tổng sinh khối, sinh khối trung bình/cây và chiều cao trung bình/cây ở bãi lọc FWS luôn lớn hơn so với ở bãi lọc HF trong toàn bộ thời gian nghiên cứu, với các mức cao hơn tương ứng là 31,17%; 28,17% và 8,63% Cây chuối hoa có khả năng sinh trưởng trong cả bãi lọc FWS

và HF Tuy nhiên, nó phát triển tốt hơn trong điều kiện đất ngập nước của bãi lọc FWS Cây phát triển cao hơn và hình thành sinh khối lớn hơn nhiều so với điều kiện khô trong bãi lọc HF Khi sinh trưởng trong môi trường đất ngập nước độ ẩm của cây cũng cao hơn so với sinh trưởng trong môi trường khô hạn

1 Hệ số phân hủy các chất ô nhiễm đặc trưng trong nước thải sinh hoạt của các BLTC qua hai MHTN

Trên cơ sở số liệu thu được từ các đợt thí nghiệm, dựa vào phương trình (1) và (2), sử dụng phương pháp nội suy, xây dựng được phương trình động học phân hủy các chất ô nhiễm đặc trưng trong NTSH gồm các chất hữu cơ (theo BOD5) và các chất dinh dưỡng nitơ (NH4+-N,

NO3--N) của các BLTC trên MHTN Từ đó, xác định được các hệ số phân hủy các chất ô nhiễm

Các hệ số phân hủy chất hữu cơ (k BOD )

Kết quả xác định các hệ số phân hủy chất hữu cơ (k BOD ) trong NTSH của các BLTC trên MHTN

được tính theo (1), (2) và tổng hợp trong Bảng 4

Bảng 4 Hệ số tốc độ phân hủy chất hữu cơ trong NTSH của các BLTC trên MHTN

Trang 10

m3/m2/ngày kg/ha/ngày quan R 2

m/năm m/ngày

HF

FWS

Hệ số tốc độ phân hủy chất hữu cơ (kBOD) của bãi lọc HF ở các đợt thí nghiệm và có xu hướng tăng dần khi tăng HLR từ 0,05- 0,10 m3/m2/ngày với tải trọng chất hữu cơ vào bãi lọc HF dao động trong khoảng từ 41,73-81,95 kg/ha/ngày Hệ số kBOD của bãi lọc HF dao động trong khoảng

từ 0,073-0,131 m/ngày, đạt cao nhất ở HLR cao nhất là 0,10 m3/m2/ngày Giá trị này phù hợp với các kết quả đã công bố về hệ số kBOD trung bình đối với các bãi lọc HF của Kadlec R.H (2009), Jan Vymazal (2008), Ngô Diễm Thùy Trang và các tác giả của Đại học Cần Thơ (2010) với các giá trị tương ứng là 0,101; 0,123; 0,060-0,260 m/ngày (hay 37; 45 và 22-95 m/năm) [12], [16] và [17]

Hệ số kBOD của bãi lọc FWS dao động trong khoảng từ 54-69 m/năm (0,148-0,189 m/ngày) Giá trị này cao hơn so với kết quả đã công bố về hệ số kBOD trung bình đối với các bãi lọc FWS xử lý

Trang 11

bậc 2 và bậc 3 và của Kadlec R H (2009) là 41 và 33 m/năm (hay 0,112 và 0,090 m/ngày tương ứng)[16] HLR vào bãi lọc từ 0,05- 0,10 m3/m2/ngày với tải trọng chất hữu cơ dao động trong khoảng từ 39,47-60,80 kg/ha/ngày

-Các hệ số chuyển hóa NH 4 + -N, NO 3 - -N (k NH4+-N , k NO3 N ) ở các BLTC

Kết quả xác định hệ số phân hủy NH4+-N, NO3--N trong NTSH của các BLTC trong mô hình thí nghiệm được tính theo (1), (2) và tổng hợp trong Bảng 5 và Bảng 6

Bảng 5 Các hệ số chuyển hóa NH4+-N trong NTSH của các BLTC trên MHTN

BLTC HLR,

m3/m2/ngày

Tải trọng ô nhiễm,

g/m2/ngày

KNH4-N

Hệ số tương quan R 2

m/năm m/ngày

HF

FWS

Trang 12

Bảng 6 Các hệ số phân hủy NO3--N trong NTSH của các BLTC trên MHTN

BLTC

HLR,

m3/m2/ngày

Tải trọng ô nhiễm,

g/m2/ngày

KNO3-N

Hệ số tương quan R 2

m/năm m/ngày

HF

FWS

Hệ số kNH4+-N của bãi lọc HF có sự khác biệt không đáng kể ở các đợt thí nghiệm và có xu hướng giảm dần khi tăng HLR vào các bãi lọc từ 0,05-0,10 m3/m2/ngày, dao động trong khoảng từ 0,023÷0,040 m/ngày tương ứng Giá trị này phù hợp với kết quả công bố về hệ số kNH4+-N của bãi lọc HF của các tác giả Kröpfelová và Vymazal (2008), Kadlec R.H (2009) với các giá trị tương ứng là 0,024 và 0,031 m/ngày (11,4 m/năm) [7], [19] Tuy nhiên kết quả này thấp hơn so kết quả công bố của Kadlec and Knight (1996) với giá trị kNH4+-N = 0,093 m/ngày[12]

Hệ số kNH4+-N của bãi lọc FWS cao hơn nhiều so với bãi lọc HF và giảm dần khi tăng HLR vào bãi lọc từ 0,10-0,20 m3/m2/ngày, dao động trong khoảng từ 0,087÷0,216 m/ngày Giá trị này cao

Trang 13

hơn so với kết quả công bố về giá trị trung bình hệ số kNH4+-N của bãi lọc FWS của Kadlec R.H (2009) với giá trị là 0,0403 m/ngày (14,7 m/năm) [16]

Hệ số kNO3 N của bãi lọc HF không có sự khác biệt đáng kể ở các đợt thí nghiệm và có xu hướng giảm dần khi tăng tải trọng thủy lực vào các bãi lọc, dao động trong các khoảng 0,029÷0,071 m/ngày tương ứng Giá trị này phù hợp với kết quả công bố về hệ số kNO3 N của bãi lọc HF của các tác giả Kröpfelová and Vymazal (2008) với giá trị kNO3 N = 0,039 m/ngày [19] Tuy nhiên kết quả này thấp hơn so với giá trị kNO3 N theo công bố của Kadlec & Knight (1996), Kadlec R.H (2009) với các giá trị tương ứng là; 0,137 và 0,115 m/ngày (42 m/năm) [12], [16] Hệ số kNO3 N

của bãi lọc FWS cao hơn nhiều so với bãi lọc HF và giảm dần từ đợt 1 đến đợt 5, dao động trong khoảng từ 0,137-0,266 m/ngày và đạt giá trị cao nhất ở đợt 1 với HLR là 0,10 m3/m2/ngày Giá trị này cao hơn so với kết quả công bố về giá trị trung bình hệ số kNO3 N của bãi lọc FWS của R.H.Kadlec (2009) với giá trị là 0,074 m/ngày (27 m/năm) [16]

3 KẾT LUẬN

Cây chuối hoa Canna generalis là loại thực vật thân thảo, rễ chùm, có hoa sinh trưởng tốt trên đất ngập nước Khi trồng trên BLTC, Canna generalis đóng vai trò là loài thực vật chính tạo điều kiện chuyển hóa các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt Kết quả nghiên cứu trên MHTN các loại BLTC trong điều kiện khí hậu miền núi phía Bắc Việt Nam, thấy rằng cây chuối hoa phát triển tốt trên cả bãi lọc HF lẫn bãi lọc FSW Tuy nhiên sinh khối khô trung bình Canna generalis trên FSW là 41,49 g/cây lớn hơn so với 29,81 g/cây trên HF Là loại thực vật chịu nước, khả năng sinh trưởng và phát triển của Canna generalis trên BLTC cao Ngoài ra với hình dáng đẹp và có hoa nhiều màu, Canna generalis là loại thực vật thích hợp cho các công trình sinh thái để XLNT sinh hoạt phân tán ở vùng ven các đô thị miền núi và trung du phía Bắc Việt Nam

Khi trồng Canna generalis trên các loại BLTC, các hệ số phân hủy các chất ô nhiễm như: hệ số phân hủy chất hữu cơ (k BOD ), hệ số chuyển hóa NH4+-N(k NH4+-N ) và hệ số chuyển hóa NO3—N

(k NO3 N ) trên MHTN bãi lọc HF có giá trị tương đương như trong các BLTC theo nghiên cứu của

nhiều tác giả khác Tuy nhiên đối với MHTN bãi lọc FSW giá trị các hệ số này cao hơn so với các nghiên cứu trước đây ở nhiều vùng khí hậu khác nhau Dùng Canna generalis làm thực vật trồng tạo cho bãi lọc FSW có hiệu suất xử lý các chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng trong nước thải sinh hoạt tăng lên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Quyết định Số: 589/QĐ-TTg ngày 6/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Định hướng phát triển thoát nước đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm

2025 và tầm nhìm đến năm 2050

2 Nguyễn Khanh Vân Phân vùng khí hậu các tỉnh miền núi Bắc Bộ và Tây Thanh

Nghệ.Tạp chí Các khoa học về trái đất, số 37(3) năm 2015, 204-212

3 Trần Đức Hạ, Vi Thị Mai Hương Khả năng xử lý nước thải phân tán theo mô hình bãi

lọc trồng cây - hồ sinh học cho các đô thị và khu dân cư tỉnh Thái Nguyên, Tạp chí “Môi trường”, số 8/2012, trang 53-58

Ngày đăng: 07/02/2021, 01:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w